MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua việc thể chế hóa văn bản pháp luật thành các quy chế, các quy trình, quy định với mục đích làm căn cứ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước giao và đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với tất cả các hoạt động trong đó có ngành Công Thương. Văn bản hành chính đã thể hiện rõ vai trò và tầm quan trọng từ mục đích đến hiệu quả đối với các hoạt động quản lý của các tổ chức, sử dụng làm cơ sở pháp lý cho việc soạn thảo, xây dựng các quy định, quy chế sử dụng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và bộ Công Thương nói riêng. Bộ Công Thương là một trong hai hai Bộ và cơ quan ngang bộ thuộc cơ cấu của chính phủ. Bộ Công Thương thành lập do sáp nhập từ Bộ Thương mại và bộ Công nghiệp của nhiệm kỳ trước, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thương mại và công nghiệp. Với các ngành nghề và cơ cấu như trên, văn bản Bộ Công Thương ban hành để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình có khối lượng rất lớn và giữ một vai trò quan trọng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và kết quả hoạt động của Bộ nói riêng và của Nhà nước nói chung. Những điều này đòi hỏi Lãnh đạo Bộ Công Thương phải đặc biệt quan tâm đến công tác soạn thảo và ban hành văn bản, nhằm quản lý tốt các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình. Cải cách hành chính hiện nay đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy phát triển dân chủ, phát triển kinh tế và các mặt khác của đời sống xã hội. Đối với Việt Nam công cuộc cải cách hành chính trong những năm qua được Chính phủ đặc biệt quan tâm và thực hiện đồng bộ trên các mặt: Cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, kiện toàn đội ngủ cán bộ công chức. Công cuộc này đòi hỏi thực hiện cải cách cơ bản các thủ tục hành chính cả về thể chế và tổ chức thực hiện, loại bỏ các thủ tục bất hợp lý và gây phiền hà cho người dân. Để làm được điều này đòi hỏi đội ngũ công chức có trình độ nhất định trong công tác soạn thảo và ban hành văn bản và nhất là văn bản hành chính. Trong tiến trình thực hiện cải cách hành chính cần có một hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ có ý nghĩa quan trọng và trở thành một vấn đề cấp thiết. Công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính ở các cơ quan nhà nước nói chung và của Bộ Công Thương nói riêng cần được hoàn thiện và thực hiện tốt nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước, gió phần xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh và đồng bộ về pháp luật, tạo ra những văn bản có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính hiện nay. Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn đề tài để làm luận văn thạc sỹ quản lý Hành chính công là “Hoàn thiện công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính ở Bộ Công Thương, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay”. Lựa chọn đề tài này, tác giả mong muốn rằng với những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể ứng dụng vào việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng văn bản được ban hành ở Bộ Công Thương, đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính hiện nay.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua việc thể chế hóa văn bản pháp luật thànhcác quy chế, các quy trình, quy định với mục đích làm căn cứ để thựchiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước giao và đây là một trongnhững yếu tố quan trọng nhất đối với tất cả các hoạt động trong đó
có ngành Công Thương Văn bản hành chính đã thể hiện rõ vai trò vàtầm quan trọng từ mục đích đến hiệu quả đối với các hoạt động quản
lý của các tổ chức, sử dụng làm cơ sở pháp lý cho việc soạn thảo,xây dựng các quy định, quy chế sử dụng trong hoạt động của các cơquan nhà nước nói chung và bộ Công Thương nói riêng
Bộ Công Thương là một trong hai hai Bộ và cơ quan ngang bộthuộc cơ cấu của chính phủ Bộ Công Thương thành lập do sáp nhập
từ Bộ Thương mại và bộ Công nghiệp của nhiệm kỳ trước, thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về thương mại và công nghiệp
Với các ngành nghề và cơ cấu như trên, văn bản Bộ Công Thươngban hành để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình có khối lượng rất lớn
và giữ một vai trò quan trọng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và kết quảhoạt động của Bộ nói riêng và của Nhà nước nói chung
Những điều này đòi hỏi Lãnh đạo Bộ Công Thương phải đặcbiệt quan tâm đến công tác soạn thảo và ban hành văn bản, nhằmquản lý tốt các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình
Cải cách hành chính hiện nay đang là vấn đề mang tính toàncầu Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển xem cải cáchhành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy phát triển dânchủ, phát triển kinh tế và các mặt khác của đời sống xã hội
Đối với Việt Nam công cuộc cải cách hành chính trong nhữngnăm qua được Chính phủ đặc biệt quan tâm và thực hiện đồng bộtrên các mặt: Cải cách thể chế, tổ chức bộ máy, kiện toàn đội ngủ cán
bộ công chức Công cuộc này đòi hỏi thực hiện cải cách cơ bản cácthủ tục hành chính cả về thể chế và tổ chức thực hiện, loại bỏ các thủtục bất hợp lý và gây phiền hà cho người dân Để làm được điều này
Trang 2đòi hỏi đội ngũ công chức có trình độ nhất định trong công tác soạnthảo và ban hành văn bản và nhất là văn bản hành chính Trong tiếntrình thực hiện cải cách hành chính cần có một hệ thống văn bảnpháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ có ý nghĩa quan trọng và trở thànhmột vấn đề cấp thiết.
Công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính ở các cơquan nhà nước nói chung và của Bộ Công Thương nói riêng cần đượchoàn thiện và thực hiện tốt nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước,gió phần xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh và đồng bộ về pháp luật,tạo ra những văn bản có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về cải cáchhành chính hiện nay Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn đề tài để làm luận
văn thạc sỹ quản lý Hành chính công là “Hoàn thiện công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính ở Bộ Công Thương, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay”.
Lựa chọn đề tài này, tác giả mong muốn rằng với những kếtquả nghiên cứu của đề tài có thể ứng dụng vào việc hoàn thiện vànâng cao chất lượng văn bản được ban hành ở Bộ Công Thương, đápứng được yêu cầu cải cách hành chính hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu vấn đề
Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu sau:
Lê Văn In Phương pháp soạn thảo văn bản hành chính kèm
theo mẫu các loại văn bản tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia, năm 1996;
GS, TSKH Nguyễn Văn Thâm Soạn thảo và xử lý văn bản trongcông tác của cán bộ lãnh đạo quản lý, Nhà xuất bản Sự thật, năm 1992;
Tạ Hữu Ánh Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản nhànước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 1999;
TS Lưu Kiếm Thanh, Hướng dẫn soạn thảo văn bản quản lýhành chính nhà nước, Nhà xuất bản Thống kê, năm 2000;
PGS Vương Đình Quyền Lý luận và phương pháp công tácVăn thư, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2007
Những công trình nói trên đề cập một cách có hệ thống và đầy
đủ những vấn đề chủ yếu liên quan đến việc xây dựng và sử dụng
Trang 3văn bản quản lý hành nhà nước như: Thẩm quyền ban hành, vai trò,chức năng của văn bản trong hoạt động quản lý nhà nước, quy trìnhsoạn thảo, mẫu văn bản….
Các bài viết, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm liên quan đếnsoạn thảo văn bản và ban hành văn bản được đăng trên các báo, tạp chítập trung nghiên cứu về một số nội dung cụ thể như: Cách trình bàycác yếu tố thể thức văn bản, trao đổi một số thuật ngữ chuyên môntrong văn bản, công tác văn bản…
Cho đến nay cũng đã có nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận vănthạc sỹ liên quan đến soạn thảo, đánh giá văn bản
Tác giả luận văn tiếp thu, kế thừa kết quả nghiên cứu của cáccông trình nghiên cứu trước đó, đồng thời mở rộng nghiên cứu đốivới loại văn bản hành chính được hình thành trong quá trình hoạtđộng của Bộ Công thương
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở phân tích, làm rõ những bấtcập đang tồn tại trong công tác soạn thảo và ban hành văn bản hànhchính của Bộ Công thương trong điều kiện cải cách hành chính, đánhgiá ưu điểm và hạn chế để đề xuất những giải pháp cụ thể nâng caochất lượng về công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chínhcủa Bộ Công thương, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay.Nhiệm vụ của luận văn:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về văn bản hànhchính và công tác soạn thảo, ban hành văn bản hành chính;
Nghiên cứu thực trạng công tác soạn thảo và ban hành văn bảnhành chính nhà nước ở Bộ Công thương;
Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả côngtác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính ở Bộ Công thương đápứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác soạn thảo và banhành văn bản hành chính của Bộ Công Thương
Trong điệu kiện nghiên cứu và thời gian có hạn, phạm vi đề tàichỉ tập trung đề cập vào một nội dung đó là công tác soạn thảo và
Trang 4ban hành văn bản hành chính của Bộ Công Thương giai đoạn từ năm
2008 đến năm 2012
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở phươngpháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.Phương pháp nghiên cứu khoa học: Phương pháp nghiên cứu
lý thuyết, phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp thống kê,phân tích, so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháptổng hợp
6 Đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cán bộ công chức cơ quan
Bộ Công Thương nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của công tácsoạn thảo và ban hành văn bản hành chính trong hoạt động quản lý,góp phần làm rõ thêm tính cấp thiết của việc đổi mới công tác soạnthảo và ban hành văn bản của Bộ trong điều kiện cải cách hành chính;
Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài, hệ thống hóa, mẫuhóa văn bản hành chính được ban hành ở cơ quan Bộ; Hoànthiện quy trình soạn thảo và ban hành văn bản hành chính ở Bộ,đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay
Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng để làm tài liệu phục
vụ cho việc giảng dạy về công tác văn bản trong các trường Caođẳng và Đại học
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nộidung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về văn bản hành chính
và công tác soạn thảo, ban hành văn bản hành chính;
Chương 2: Thực trạng công tác soạn thảo và ban hành văn bảnhành chính nhà nước ở Bộ Công Thương;
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quảcủa công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính ở Bộ CôngThương trong điều kiện cải cách hành chính
Trang 5Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH
VÀ CÔNG TÁC SOẠN THẢO, BAN HÀNH VĂN BẢN
HÀNH CHÍNH 1.1 Khái quát chung về văn bản hành chính
1.1.1 Khái niệm văn bản
“Văn bản là kết quả phản ánh các sự vật, sự kiện và các hiện tượng của thế giới hiện thực khách quan và tư duy của con người, nó được thành lập và biểu hiện bằng hệ thống các ký hiệu ngôn ngữ trên vật liệu bằng giấy, có giá trị pháp lý” (Dẫn theo Văn
Tất Thu – Nhận thức về văn bản và công tác văn bản trong cải cáchhành chính)
1.1.2 Khái niệm văn bản quản lý và văn bản quản lý nhà nước
1.1.1.1 Văn bản quản lý
Văn bản quản lý và văn bản được hình thành trong hoạt động quản lý của các cơ quan, tổ chức Đó là phương tiện để ghi chép và truyền đạt các thông tin quản lý.
1.1.1.2 Văn bản quản lý nhà nước
Văn bản quản lý nhà nước là văn bản quản lý do cơ quan nhà nước ban hành để ghi chép, truyền đạt các thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước, được trình bày theo thể thức và được ban hành theo thẩm quyền, thủ tục và trình tự luật định.
*Văn bản quy phạm pháp luật
*Văn bản hành chính
* Văn bản chuyên ngành
1.1.3 Khái niệm văn bản hành chính
Văn bản hành chính là các văn bản do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành để điều hành hoạt động của các hoạt động tác nghiệp hành chính trong việc thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hoặc triển khai, giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh
Trang 6tình hình giao dịch, trao đổi, ghi chép, kết quả công việc…của các
cơ quan nhà nước.
1.1.4 Phân loại văn bản hành chính
+ Văn bản quy phạm pháp luật
+ Văn bản hành chính
+ Văn bản chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật
1.1.5 Chức năng, vai trò của văn bản
1.1.5.1 Chức năng của văn bản
a Chức năng thông tin
b Chức năng pháp lý
c Chức năng quản lý
d Chức năng văn hóa
1.1.5.2 Vai trò của văn bản hành chính trong hoạt động quản lý
Văn bản đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý.
Văn bản và công tác kiểm tra, theo dõi hoạt động của bộ máy lãnh đạo và quản lý.
1.2 Công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính
1.2.1 Khái niệm về công tác soạn thảo văn bản hành chính
Công tác soạn thảo văn bản là căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức mình và những mục đích, yêu cầu nhất định để làm ra văn bản nhằm giải quyết một công việc cụ thể.
1.2.2 Yêu cầu và nhiệm vụ của công tác soạn thảo văn bản hành chính
1.2.2.1 Về nội dung
- Nội dung văn bản ban hành phải có tính mục đích
- Nội dung phải phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước
- Nội dung văn bản ban hành phải đảm bảo tính khoa học
- Nội dung văn bản phải đảm bảo tính phổ thông đại chúng
- Văn bản phải hợp hiến và hợp pháp
Trang 71.2.2.2 Về hình thức
Thể thức văn bản là các thành phần cần phải có và cách thức trình bày các thành phần đó đối với một thể loại văn bản nhất định
do cơ quan có thẩm quyền quy định [38, 131]
1.2.2.3 Quy trình soạn thảo văn bản hành chính
Trên cơ sở các tài liệu tham khảo và thực tiễn tìm hiểu về côngtác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính, có thể đưa ra quytrình soạn thảo và ban hành văn bản hành chính với 4 bước cơ bảnnhư sau:
Bước 2: Xây dựng đề cương và viết bản thảo
Bước 3: Trình duyệt và ký văn bản
Bước 4: Hoàn thiện thủ tục hành chính để ban hành văn bản
1.3 Bối cảnh CCHC nhà nước
Mục tiêu CCHC nhà nước nói chung và của cơ quan Bộ nói riêng
đó là nhằm tăng năng lực của cơ quan HCNN hướng đến có hiệu lực,hiệu quả, trong sạch, chuyên nghiệp, hiện đại, phát triển bền vững đảmbảo sự quản lý điều hành thông suốt, phục vụ người dân tốt hơn, đápứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo bước chuyểnbiến mới trong phát triển của đất nước, của ngành, tạo lợi thế cạnh tranhtrong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Mục tiêu của công cuộc cải cách nền HCNN của nước ta đangđặt ra cho các cơ quan HCNN nói chung nhiều nhiệm vụ cấp bách
mà mục tiêu chung là hướng tới việc hoạt động và điều hành có hiệulực và hiệu quả Trong đó, văn bản là công cụ điều hành quan trọng
Do vậy, cần có sự đổi mới tonh nhận thức về soạn thảo và ban hànhvăn bản quản lý hành chính nhằm đảm bảo cho các mục tiêu chungcủa công cuộc CCHC
Tiểu kết chương 1
Chương 1nghiên cứu vấn đề lý luận chung về văn bản hànhchính, công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính, cải cáchhành chính Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về văn bảnnói chung và văn bản hành chính nhà nước nói riêng, vai trò, chức
Trang 8năng của văn bản, luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở pháp lý luậnchung về công tác soạn thảo và ban hành văn bản hành chính Trongnội dung này luận văn đề cập tới khái niệm, yêu cầu và nhiệm vụ củacông tác soạn thảo, ban hành văn bản và làm nổi bật được tính chất,tầm quan trọng của công tác này Trên cơ sở đó tìm hiểu sâu về quytrình soạn thảo và ban hành văn bản hành chính và đưa ra các bướctrong quy trình soạn thảo văn bản hành chính
Chất lượng của văn bản quản lý nhà nước nói chung, văn bảnhành chính nói riêng – sản phẩm của hoạt động quản lý cao hay thấp
là tùy thuộc rất nhiều vào các yêu cầu cần đạt của công tác soạn thảo
và ban hành văn bản trong cơ quan đơn vị Nếu công tác này đượccác cơ quan đơn vị cụ thể hóa thành các quy định thì văn bản banhành ra sẽ đạt được kết quả cao và đáp ứng được yêu cầu của hoạtđộng quản lý
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN HÀNH CHÍNH Ở BỘ CÔNG THƯƠNG 2.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương
Bộ Công Thương là một trong hai mươi hai Bộ và cơ quanngang bộ thuộc cơ cấu của chính phủ Bộ Công Thương thành lập dosáp nhập từ Bộ Thương mại và bộ Công nghiệp của nhiệm kỳ trước,thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thương mại và côngnghiệp
Ngày 12 tháng 11 năm 2012, Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 95/2012/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương Nghị định có hiệu lực thihành kể từ ngày 26 tháng 12 năm 2012, thay thế Nghị định số189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 quy định chức năng,
Trang 9nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ công Thương và Nghịđịnh số 44/2011/NĐ-CP sửa đổi Điều 3, Nghị định số 189/2007/NĐ-CP.
So với Nghị định 189, Nghị định 95 giữ nguyên ba mươi lămnhiệm vụ, nhưng được bổ sung và làm rõ chức năng quản lý nhànước của Bộ Theo đó, được bổ sung nhiệm vụ về chỉ đạo phát triểnngành công nghiệp môi trường; về công nghiệp hỗ trợ; chi tiết hóanhiệm vụ về an toàn thực phẩm; về thương mại biên giới Và, làm rõnhiệm vụ về thương mại và thị trường trong nước; về xuất nhập khẩuhàng hoá; về thương mại biên giới; về phát triển thị trường ngoàinước; về Chương trình thương hiệu quốc gia; về phối hợp với BộNgoại giao quản lý công tác chuyên môn của bộ phận làm côngtác kinh tế, thương mại tại các Cơ quan đại diện của Việt Nam ởnước ngoài
Cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương có ba mươi lăm đơn vị
Ba mươi đơn vị thuộc nhóm giúp Bộ trưởng thực hiện chức năngquản lý nhà nước, trong đó có Cục xúc tiến thương mại, năm đơn vịcòn lại các đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước.Theo đó, để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xúc tiếnthương mại, có các nhiệm vụ về: Chương trình xúc tiến thương mạiquốc gia hàng năm; Về quảng cáo thương mại, thương hiệu, hội chợ,triển lãm thương mại, khuyến mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá,dịch vụ ở trong và ngoài nước; Quản lý nguồn ngân sách nhà nướccho các hoạt động xúc tiến thương mại hàng năm; Chương trìnhthương hiệu quốc gia Và các nhiệm vụ liên quan đến các lĩnh vực:Thương mại và thị trường trong nước; Xuất nhập khẩu hàng hoá,thương mại biên giới, phát triển thị trường ngoài nước; Hoạt độngcủa cơ quan văn phòng, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tạiViệt Nam, của thương nhân Việt Nam ở nước ngoài, của các tổ chứcxúc tiến thương mại, trung tâm giới thiệu sản phẩm hàng hoá ở nướcngoài; các cơ quan chuyên môn của bộ phận làm công tác kinh tế tạicác cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài, và các nhiệm vụ kháctheo yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới
Trang 102.1.1 Vị trí và chức năng
Bộ Công Thương là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm cácngành và lĩnh vực: cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, nănglượng tái tạo, dầu khí, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệpkhai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, côngnghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác, thương mại và thịtrường trong nước; xuất nhập khẩu, thương mại biên giới, phát triểnthị trường ngoài nước, quản lý thị trường, xúc tiến thương mại,thương mại điện tử, dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế,quản lý cạnh tranh, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá,chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quản lý nhà nướccác dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lýnhà nước của Bộ
2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn
Bộ Công Thương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quyđịnh tại Nghị định số 36/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2012 củaChính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụthể sau đây:
1 Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, các dự thảo nghị
quyết, nghị định, cơ chế, chính sách, dự án, đề án, văn bản quy phạm
pháp luật khác về các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhànước của Bộ theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
2 Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chứcthực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển tổng thể; chiến lược, quyhoạch ngành và lĩnh vực; quy hoạch vùng, lãnh thổ và các chương trìnhphát triển, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình kinh tế - kỹthuật, các dự án quan trọng thuộc phạm vi các ngành, lĩnh vực do Bộquản lý
Trang 113 Phê duyệt chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triểncác ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, các
dự án đầu tư theo phân cấp và ủy quyền của Chính phủ, Thủ tướngChính phủ; kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện sau khi được phêduyệt
4 Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác vềquản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực do Bộ quản lý; chỉ đạo, hướngdẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luậtthuộc phạm vi quản lý của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáodục pháp luật về công nghiệp và thương mại
5 Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, ban hành quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực thuộcphạm vi quản lý nhà nước của Bộ; tổ chức quản lý, hướng dẫn, kiểm trađối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện thuộc ngành công nghiệp
và thương mại theo danh mục do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyđịnh
6 Cấp, điều chỉnh, thu hồi, gia hạn giấy phép, giấy kinh doanh
có điều kiện thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ theo quy địnhcủa pháp luật
7 Phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan xâydựng kế hoạch dự trữ quốc gia về xăng dầu, vật liệu nổ công nghiệp
và các dự trữ khác theo quy định của Chính phủ
8 Về an toàn kỹ thuật công nghiệp và bảo vệ môi trường
9 Về cơ khí, luyện kim
Trang 1215 Về an toàn thực phẩm; công nghiệp tiêu dùng, côngnghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác
16 Về công nghiệp và thương mại địa phương
17 Về thương mại và thị trường trong nước
18 Về xuất nhập khẩu hàng hoá, thương mại biên giới và pháttriển thị trường ngoài nước
19 Về thương mại điện tử
20 Về quản lý thị trường
21 Về quản lý cạnh tranh, phòng vệ thương mại và bảo vệquyền lợi người tiêu dùng
22 Về xúc tiến thương mại
23 Về hội nhập kinh tế quốc tế
24 Hướng dẫn hoạt động thương mại của các thương nhân ViệtNam ở nước ngoài, các tổ chức xúc tiến thương mại, trung tâm giớithiệu sản phẩm hàng hóa ở nước ngoài có sự tham gia của thương nhân
và cơ quan nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật; phối hợpvới Bộ Ngoại giao quản lý công tác chuyên môn của bộ phận làm côngtác kinh tế, thương mại tại các Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nướcngoài
25 Tổng hợp, phân tích và cung cấp thông tin về công nghiệp,thương mại, thị trường, thương nhân trong và ngoài nước phục vụcác cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức kinh tế
26 Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp vàthương mại theo quy định của pháp luật; làm đầu mối tổng hợp vàbáo cáo về sử dụng nguồn vốn ODA và đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) vào ngành công nghiệp và thương mại, đầu tư của ngành côngnghiệp và thương mại ra nước ngoài
27 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kếhoạch, lộ trình phát triển khoa học công nghệ ngành Công Thương;tổ chức thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến