1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRONG bối CẢNH TOÀN cầu hóa và hội NHẬP KINH tế QUỐC tế của VIỆT NAM INDUSTRIAL DEVELOPMENT POLICY IN THE CONTEXT OF GLOBALIZATION AND VIETNAMS INTERNATIONAL ECONOMIC INTEGRATION

19 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 644,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyen Xuan Thanh Director of Fulbright Economics Teaching Program Bài viết đã giới thiệu một số thành tựu đổi mới và cũng nêu rằng thời gian qua nước ta đã có những thất bại về chính

Trang 1

CHÍNH SÁCH PHÁT TRI ỂN CÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH TOÀN

INDUSTRIAL DEVELOPMENT POLICY IN THE CONTEXT OF GLOBALIZATION AND VIETNAM’S INTERNATIONAL ECONOMIC

INTEGRATION

Dr Nguyen Xuan Thanh

Director of Fulbright Economics Teaching Program

Bài viết đã giới thiệu một số thành tựu đổi mới và cũng nêu rằng thời gian qua nước ta đã có những thất bại về chính sách công nghiệp đó là lấy DNNN làm công cụ chính yếu, chậm xây dựng các thể chế kinh tế thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong nước Bài viết phân tích việc phát triển cụm ngành công nghiệp Việt Nam và vấn đề chính sách trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế; trong đó, đã nhận diện các ngành công nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc gia

và vấn đề chính sách, sự hình thành và trỗi dậy của các cụm ngành công nghiệp ở Việt Nam; xem việc phát triển cụm ngành như một công cụ chính sách Bài viết đưa ra quan điểm tiếp cận chính sách công nghiệp gắn với chuỗi giá trị toàn cầu với 3 khu vực; khuyến nghị hạn chế dùng DNNN làm công cụ chính sách công nghiệp, khuyến khích sự hợp tác giữ khu vực tư nhân và FDI, trong mỗi cụm ngành, cần xác định cụ thể nhóm các hoạt động cung ứng phụ trợ cấp 2 và 3 rồi tập trung chính sách ưu đãi của nhà nước vào các doanh nghiệp trong nước tham gia các hoạt động này…

Abstract

This paper introduces some innovations and also points out that our country has suffered from industrial policy failures in recent years, i.e considering State-owned enterprises as a main tool, slowing down the development of market economy institutions to support private domestic enterprises The paper analyzes the development of Vietnam’s industrial clusters and policy issues

in the context of globalization and economic integration; in which, identifying industries with national competitiveness and policy issues, formation and emergence of industrial clusters in Vietnam; considering cluster development as a policy tool It also presents the view of approaching industrial policy in connection with the global value chain with three regions; recommends the limited use of State-owned enterprises as an industrial policy tool, encourages cooperation between private sector and FDI In each cluster, it is necessary to identify the group of secondary and tertiary auxiliary supply activities, then places the State’s incentive policies on domestic enterprises to participate in these activities, etc

I Gi ới thiệu

Trang 2

Nhìn lại gần 30 năm đổi mới kinh tế Việt Nam, hoạt động sản xuất công nghiệp nhìn

về lượng đã có sự tăng trư ng mạnh mẽ Tổng giá trị sản xuất (GTSX) công nghiệp c a Việt Nam đã tăng gấp 24 lần từ 1986 đến 2014 với tốc độ tăng bình quân là 12%/năm1 Perkins

và Tự Anh (2008) đã lập luận rằng những yếu tố chính sách dẫn tới sự tăng trư ng này là việc chính ph xóa bỏ các rào cản đầu tư và kinh doanh đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu từ đầu thập niên 1990 và sau đó là đối với các các nhà đầu tư dân doanh trong nước bắt đầu từ đầu thập niên 2000 Tuy nhiên, kinh nghiệm 30 năm đổi mới cũng có những thất bại về chính sách công nghiệp đó là lấy Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) làm công c chính sách công nghiệp chính yếu, chậm xây dựng các thể chế kinh tế thị trư ng

để hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân trong nước

Từ đầu thập niên 2000, những ngành công nghiệp phát triển năng động nhất Việt Nam có xu hướng phát triển theo hướng c m (cluster) đó các hoạt động sản xuất công nghiệp nòng cốt và các hoạt động liên quan cũng như hỗ trợ tập trung tại một địa phương hay một vùng, đồng th i tr thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, sự phát triển c a những ngành công nghiệp truyền thống hay mới nổi Việt Nam là dựa vào việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu để tiếp cận thị trư ng đầu ra, đầu vào, đầu tư và công nghệ, nhưng để có thể phát triển bền vững thì lợi thế đặc thù c a địa phương, vùng và quốc gia đem lại có vai trò vô cùng quan trọng Bài viết này

sử d ng một số nghiên cứu tình huống ngành công nghiệp để lập luận rằng trong giai đoạn tới một hệ thống chính sách phát triển công nghiệp cần tập trung vào việc xây dựng thể chế thị trư ng, phát triển cơ s hạ tầng vừa gắn với phát triển c m ngành (industrial cluster), vừa gắn với chuỗi giá trị toàn cầu (global value chain) để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa c a Việt Nam không chỉ về những con số về lượng như tổng vốn đầu tư, giá trị sản xuất(GTSX) hay kim ngạch xuất khẩu mà còn về chất như giá trị gia tăng, năng suất, năng lực sáng tạo – đổi mới và tính lan tỏa Những phân tích và khuyến nghị chính sách rộng hơn liên quan tới phát triển nguồn nhân lực, tài chính – ngân hàng hay tài khóa nằm ngoài phạm

vi c a bài viết

II Phát tri ển cụm ngành công nghiệpViệt Nam và vấn đề chính sách trong bối

c ảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế

1 Nhn din các ngành công nghip có năng lc cnh tranh quc gia và

vn đ chính sách

Nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (2013-2015) đã rất đa dạng Nền kinh

tế quốc gia không bị quá ph thuộc vào một hay một số lượng nhỏ các ngành kinh tế Tính chất đa dạng theo ngành kinh tế cũng là một đặc điểm chung c a các nền kinh tế mới nổi Đông Bắc Á và Đông Nam Á và khác với nhiều nền kinh tế những khu vực khác2 Trong

1 Tính toán từ số liệu trong Niên giám Thống kê Việt Nam các năm từ 1994 đến 2014

2 Như Bangladesh ph thuộc vào dệt may; Nga ph thuộc vào dầu khí; …

Trang 3

nhiều ngành công nghiệp (kể cả nông-công nghiệp) này, những ngành có năng lực cạnh tranh (NLCT) cao là những ngành cạnh tranh thành công trên thị trư ng toàn cầu

Bả ng 1: Các ngành kinh tế xuấ t khẩ u lớn củ a Việ t Nam

Kim ngạch XK, 2013 (triệu USD) Thị phần thế giới, 2013 Thay đổi thị phần, 2008-13

Ngun: Tác gi tính toán t s liu ca UN Comtrade Bảng 1 và Hình 2 xác định các ngành có NLCT là những ngành xuấu khẩu lớn c a nền kinh tế theo hai tiêu chí sau:

 Giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 1,5 tỷ USD

Trang 4

 Trong nhóm 15 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất toàn cầu

Trong những ngành kinh tế, sức mạnh cạnh tranh được thể hiện ba thước đo:

 Giá trị kim ngạch xuất khẩu (giá trị tuyệt đối)

 Tỷ trọng giá trị kim ngạch xuất khẩu trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn cầu (thị phần)

 Thay đổi tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu toàn cầu (trong 5 năm qua)

Nhìn vào Hình 1, ta có thể nhận ra trước nhất nhóm các ngành nông nghiệp như gạo, cao su, cà phê, trái cây và hạt (ch yếu là hạt điều) và th y sản Đây đều là những ngành có NLCT tạo dựng b i điều kiện tự nhiên và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới Một số ngành trong nhóm này có tiềm năng tăng trư ng chậm thể hiện thị phần suy giảm (như dầu thô, gạo) hay không tăng (như cao su) Ngược lại, những ngành th y sản, cà phê, trái cây và hạt vẫn đang tăng trư ng nhanh Có hai vấn đề về chính sách hiện nay: (i) xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp mới theo hướng bền vững về khai thác tài nguyênvà tạo lợi thế kinh tế theo quy mô; (ii) hình thành các chính sách công nghiệp có thể nâng cao NLCT cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm đối với các sản

phẩm nông nghiệp này

Hình 1: Các ngành kinh tế xuất khẩu lớn của Việt Nam

Ngun: Tác gi tính toán t s liu ca UN Comtrade

Thủy sản Gạo

Trái cây và hạt

Cà phê Cao su

Dầu thô

Sợi dệt

TB văn phòng

Máy tính

TB viễn thông

TB truyền điện

Nội thất

Túi xách May mặc

Giày dép

Camera

Du lịch Vận tải

-2%

0%

2%

4%

6%

8%

10%

12%

Thay đổi thị phần XK, 08-13 (điểm %)

15,7%

Diện tích = Kim ngạch xuất khẩu 2 tỷ USD

20,5%

-3,3%

Tổng XK Việt Nam/

Thế giới = 0,72%

Thay đổi thị phần XK = 0,33%

Trang 5

Nhóm ngành kinh tế thứ hai là công nghiệp khai thác như dầu thô Hình 2 cho thấy ngay cả về giá trị tuyệt đối thì kim ngạch xuất khẩu c a dầu thô cũng không còn lớn so với các ngành khác, thị phần nhỏ và tốc độ tăng trư ng thấp Vấn đề chính sách công nghiệp đối với ngành này là thu hút đầu tư phát triển hoạt động chế biến khâu sau như (i) lọc hóa dầu ven biển Bắc và Nam Trung bộ, (ii) công nghiệp luyện kim từ quặng kim loại Bắc Trung bộ, (iii) công nghiệp khí điện đạm Đông Nam bộ và Tây Nam bộ, (iv) luyện nhôm

từ quặng bô-xít Tây Nguyên

Trong hoạt động sản xuất công nghiệp chế biến, nhóm các ngành có NLCT là các ngành thâm d ng lao động dựa vào lợi thế c a Việt Nam có lao động với mức lương cạnh tranh và dễ đào tạo tay nghề bao gồm dệt may, giày dép, túi xách Đây là nhóm ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn hiện nay, chiếm thị phần thế giới đáng kể và vẫn duy trì tốc độ tăng trư ng cao Các hiệp định tự do hóa thương mại mà Việt Nam đang đàm phán (như EU-VN FTA và TPP) nếu tr thành hiện thực sẽ không chỉ là cơ hội m rộng thị trư ng mà là động lực thúc đẩy đầu

tư vào các khâu tăng giá trị gia tăng nội địa

Về công nghiệp chế tạo, thiết bị điện tử/viễn thông với gần 100% là các doanh nghiệp FDI đã tr thành nhóm ngành có tốc độ tăng trư ng cao nhất và hướng vào xuất khẩu mạnh nhất hiện nay Với thị phần thế giới vẫn thấp, tiềm năng tăng trư ng cao trong nhiều năm tới là hoàn toàn có thể đạt được Nhưng đây cũng là nhóm ngành có tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa thấp nhất Thách thức về chính sách là tạo môi trư ng khuyến khích cho phát triển công nghiệp ph trợ

2 S hình thành và tri dy ca các cm ngành công nghip Vit Nam

C m ngành (industrial cluster) là một nhóm các doanh nghiệp và định chế hỗ trợ cùng tập trung gần nhau tại một vùng địa lỦ, được kết nối với nhau b i các giá trị chung và sự tương hỗ Cấu thành c a một c m ngành bao gồm các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng; các ngành khâu trước – khâu sau, các doanh nghiệp cung ứng chuyên biệt, các đơn vị cung cấp dịch v , các ngành khác có chia sẻ về hoạt động sản xuất, công nghệ và quan hệ khách hàng và các định chế tài chính, giáo d c, nghiên cứu và cơ s hạ tầng

Việc thu hút đầu tư phải vào đúng c m ngành có lợi thế cạnh tranh địa phương còn nếu nằm ngoài thì cơ hội thành công sẽ giảm xuống đáng kể Đó là b i vì đầu tư trong c m ngành sẽ tạo ngay được động lực thúc đẩy năng suất và hiệu quả, thúc đẩy đổi mới và gia tăng thương mại hóa, từ đó làm cho việc đầu tư nằm ngoài c m ngành sẽ không thể có tính cạnh tranh (Porter, 1998)

Trang 6

Xét về năng suất, đầu tư trong c m ngành tăng khả năng tiếp cận với thông tin, dịch

v và nguyên liệu chuyên biệt, tăng tốc độ và giảm chi phí điều phối cũng như giao dịch giữa các doanh nghiệp trong c m ngành, tăng khả năng truyền bá các thông lệ và kinh nghiệm kinh doanh hiệu quả, và tăng cạnh tranh trong đó tập trung vào việc cải thiện chất lượng trên cơ s so sánh với các đối th trong c m ngành Về thúc đẩy đổi mới, c m ngành tăng khả năng nhận diện cơ hội đổi mới công nghệ với sự có mặt c a nhiều luồng thông tin, giảm chi phí và r i ro thử nghiệm công nghệ mới trước sự sẵn có c a nguồn lực tài chính

và kỹ năng, dịch v hỗ trợ và các doanh nghiệp khâu trước – khâu sau Về thúc đẩy thương mại hóa, các doanh nghiệp trong c m ngành có thể m rộng cơ hội phát triển sản phẩm mới và/hoặc thành lập doanh nghiệp mới và giảm chi phí thương mại hóa khi có sẵn nguồn lực

về tài chính và kỹ năng

Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010 c a Viện Nghiên cứu Quản lỦ Kinh tế Trung ương và Trư ng Chính sách Công LỦ Quang Diệu, phân tích rằng: “các loại hình

c m ngành đều đã xuất hiện và tồn tại tại Việt Nam, nhưng quá trình hình thành dư ng như xảy ra tự nhiên nhiều hơn là kết quả c a các chính sách c m ngành c a Chính ph ”

Hình 2 dưới đây minh họa sự tiến triển c a các c m ngành Việt Nam.Vào năm 1990,

cả nền công nghiệp quốc gia c a Việt Nam tạo được một giá trị sản lượng là 14.011 tỷ VNĐ (giá cố định 1989), tương đương 3,11 tỷ USD3 Kim ngạch xuất khẩu lúc đó là 2,4 tỷ rúp-đôla, trong đó khoáng sản (ch yếu là dầu thô) chiếm 25,7% và nông sản (ch yếu gạo) chiếm 32,6% Điều kiện tự nhiên sẵn có là yếu tố thúc đẩy công nghiệp khai thác với hoạt động dầu khí Bà Rịa - Vũng Tàu Cải cách trong nông nghiệp cũng đã khai phá tiềm năng

tự nhiên bắt đầu từ gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xuất khẩu ra thị trư ng thế giới Cũng với điều kiện tự nhiên ưu đãi, c m ngành cà phê và điều tập trung Tây Nguyên, nuôi - chế biến th y sản tại ĐBSCL

Từ giữa thập niên 1990, m cửa và hội nhập kinh tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thúc đẩy kinh tế tư nhân là làm trỗi dậy c m ngành may mặc, giày dép, nội thất mà về căn bản là khai thác lợi thế chi phí lao động thấp Mặc dù phát triển nhiều địa phương, nhưng vùng Đông Nam bộ (ĐNB) là nơi hội t c a c m ngành mà tính tại th i

Cũng từ yếu tố vị trí địa lỦ, c m ngành vận tải – logistics được tập trung hai cảng

3 Theo tỷ giá chính thức năm 1989 là 4.500 VNĐ/USD

4 Tính toán từ Niên giám Thống kê cả nước và 3 tỉnh/TP

Trang 7

biển quốc tế là Hải Phòng và TP.HCM C m ngành du lịch các địa điểm ven biển Nhưng phải đến giữa thập niên 2000 thì thực sự mới có sự tập trung lớn và phát triển mạnh c a các doanh nghiệp trong c m ngành

Ngun: Tác gi

CB thực phẩm

TB văn phòng

Laoàđộ g tàkỹà ă g, lươ gàthấp

Điềuàkiệ àđịaàlý tựà hiê

Gạo

May mặc

Cà phê

Cao su Điều

Thủy sản

Giày dép thất Nội

Dầu khí

Ch hàs h

h à ướ

FDI

TB viễn thông Máy ảnh

Máy tính

Vận tải

Du lịch

Phụ tùng ô-tô

Xe máy

TB điện

VLXD

Hóa chất

Xe máy

Du lịch Điện tử

Cà phê Điều

Du lịch

Đồ gỗ ngoài trời

Tôm Gạo

Du lịch Cá

May mặc Thiết bị điện

Logistics

Thức ăn gia súc

Da giầy

Logistics

Trang 8

Gia tăng đầu tư xây dựng cơ s hạ tầng, nhà và thị trư ng bất động sản trong đầu thập niên 2000 cho đến 2007 đã thúc đẩy c m ngành vật liệu xây dựng mà các doanh nghiệp

tư nhân trong nước chiếm ưu thế Các c m ngành hóa chất khác cũng hình thành trong giai đoạn này với sự đầu tư lớn c a doanh nghiệp nhà nước (DNNN)

Các c m ngành công nghiệp cơ khí nổi trội nhất là xe máy và ph tùng ô-tô được tập trung Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Dương Dẫn đầu trong c m ngành này là các doanh nghiệp FDI nhưng một mạng lưới các doanh nghiệp ph trợ bao gồm FDI và tư nhân trong nước cũng đã và được hình thành

Gần đây nhất (2010-2015), nền kinh tế Việt Nam đã thu hút được các dự án FDI lớn

về sản xuất thiết bị điện tử và viễn thông Các dự án sản xuất thiết bị điện thoại di động (ĐTDĐ), máy tính, thiết bị văn phòng được tập trung các tỉnh Đồng bằng sông Hồng bao gồm Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hà Nội và Hải Phòng (ngoại trừ Intel và sắp tới là một dự án

c a Samsung TP.HCM, và một số dự án quy mô trung bình Bình Dương, Đồng Nai) Mặc dù có giá trị xuất khẩu lớn, nhưng c m ngành này có giá trị gia tăng nội địa rất thấp (khoảng 10% tổng giá trị sản xuất) và gần như là hoàn toàn thiếu vắng các doanh nghiệp sản xuất đầu vào hỗ trợ

3 Cm ngành như mt công c chính sách

Vai trò c a nhà nước có thể được thực hiện bằng nhiều cách và trên nhiều phương diện Nhà nước có thể ch động nhận diện những c m ngành mới manh nha hay đang trỗi dậy để có chính sách hỗ trợ thích hợp Đối với những c m ngành hiện hữu, nhà nước cần đảm bảo các điều kiện cần thiết yếu, đồng th i giải quyết những tr ngại để chúng có thể tiếp t c phát triển - chẳng hạn như thông qua việc đảm bảo khả năng tiếp cận các nguồn lực

và nhân tố sản xuất, tích cực thu hút đầu tư (trong và ngoài nước) vào các hoạt động nòng cốt và ph trợ c a c m ngành

Như chúng ta đã thấy, sự phát triển c a một c m ngành không chỉ ph thuộc vào các

bộ phận trong c m ngành đó mà có thể còn dựa trên và đòi hỏi sự phát triển c a những c m ngành khác có liên quan Vì vậy, trong chính sách phát triển c m ngành c a mình, nhà nước nên hướng vào những chính sách hỗ trợ rộng rãi (chứ không nhất thiết chỉ hỗ trợ cá biệt cho một vài bộ phận c a c m ngành), chẳng hạn như thông qua việc tạo ra môi trư ng kinh doanh hấp dẫn, xây dựng cơ s hạ tầng thích hợp, nâng cao chất lượng giáo d c và đào tạo nghề, cải thiện chất lượng và mức độ bao ph c a các chính sách y tế và an sinh xã hội v.v

Trang 9

mức độ ch động cao hơn, nhà nước không chỉ dừng lại việc nâng đỡ các c m ngành mới hình thành hay trợ giúp các c m ngành đang tồn tại, mà còn sử d ng c m ngành như một công c chính sách và lấy c m ngành làm trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế

Đối với từng c m ngành, hình thành một diễn đàn giúp khuyến khích sự hợp tác giữ khu vực tư nhân và FDI với các hiệp hội thương mại, cơ quan chính ph , trư ng đại học, viện nghiên cứu Trong một c m ngành, nhà nước không còn là cơ quan duy nhất làm quy hoạch Vai trò này thuộc về một y ban bao gồm hiệp hội doanh nghiệp, trư ng đại học/viện nghiên cứu, cơ quan QLNN trung ương và chính quyền các địa phương nơi DN trong c m ngành có sự tập trung cao y ban này không chỉ là đầu mối làm quy hoạch mà còn là nơi tổ chức diễn đàn đối thoại chính sách giữa chính ph và doanh nghiệp

Quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp (KCN) và khu kinh tế (KKT) phải gắn với c m ngành Nhìn vào các tỉnh/thành phố Việt Nam, chúng ta có thể thấy xét về mặt quy hoạch tất cả các KCN và KKT sẽ được kết nối với cơ s hạ tầng quốc gia Tuy nhiên, chính sách dàn trải nguồn đồng vốn khan hiếm hiện nay c a nhà nước cho nhiều tỉnh để phát triển các tiện ích giao thông giống nhau và không gắn với c m ngành lại làm giảm đi năng lực cạnh tranh quốc gia cấp trung ương, một kế hoạch chiến lược quốc gia cần được xác định

để đặt ưu tiên cho một số dự án qui mô lớn nhưng khả thi mang tính tr c quốc gia có tác động tích cực đến tất cả các c m ngành Đối với từng địa phương, việc phát triển cơ s hạ tầng để tạo lợi thế cho các KCN-KTT trong thu hút đầu tư cần được thực hiện từng bước phù hợp với đúng hiện trạng và tiềm năng c a c m ngành

III Chu ỗi giá trị toàn cầu và một nền công nghiệp Việt Nam với ba khu vực

Để có thể xây dựng một bức tranh tổng quát nhất về tăng trư ng công nghiệp Việt Nam trong 30 năm đổi mới kinh tế, tôi sử d ng số liệu thống kê chính thức về giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) theo giá cố định hàng năm Sau khi điều chỉnh cho bốn loại giá so sánh 1982, 1989, 1994 và 2010, Hình 3 biểu diễn tăng trư ng GTSXCN c a ba khu vực kinh tế với xuất phát điểm vào năm 1986 c a khu vực kinh tế nhà nước bằng 100 Chúng ta có thể thấy những thay đổi chính sách đầu tiên theo hướng thị trư ng có tác động “c i trói” mạnh nhất đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Trong vòng 10 năm (1986-1995), khu vực này có tốc độ tăng trư ng cao hơn hẳn khu vực kinh tế tư nhân trong nước Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài 1988 đã giúp hình thành khu vực kinh tế FDI và đến năm 2000 đã chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Và Luật Doanh nghiệp 1999 đã khơi thông một phần việc gia nhập thị trư ng c a các doanh nghiệp dân

Trang 10

doanh, dẫn đến sự bùng nổ hoạt động phát triển công nghiệp tư nhân với tốc độ tăng trư ng theo sát khu vực FDI cho đến 2010

Hình 3: Tăng trưởng giá trị sả n xuấ t công nghiệ p Việ t Nam

(Khu vực kinh tế nhà nước năm 1986 = 100)

Ghi chú: Số liệ u 1986-1990 tính theo giá so sánh 1982, 1990-1995 tính theo giá so sánh 1989, 1995-2010 theo giá so sánh 1994, và 2010-2013 theo giá

so sánh 2010

1994-2014

1 Hn chế dùng DNNN làm công c chính sách công nghi p

Đồ thị trong Hình 3 đã cho thấy tăng trư ng công nghiệp trong khu vực DNNN đã thực sự chững lại từ giữa thập niên 2000 Chương trình cổ phần hoá các DNNN dẫn đến sự

ra đ i c a các DN cổ phần không còn sự chi phối c a vốn nhà nước là một trong những nguyên nhân Nhưng nguyên nhân lớn nhất vẫn là kinh doanh và sử d ng nguồn lực không hiệu quả c a DNNN dẫn tới tốc độ tăng trư ng chậm (Vũ và cộng sự, 2015)

Theo xu thế, các nền kinh tế trên thế giới đều dần chuyển mình từ một nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh tế công nghiệp theo hướng hiện đại hơn Nhà nước thư ng muốn đẩy nhanh quá trình này bằng cách thành lập các DNNN để theo đuổi m c tiêu công nghiệp hóa Để các DNNN này có thể sống sót và cạnh tranh được trong th i kỳ đầu, chính

Ngày đăng: 22/08/2022, 12:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w