1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU MỘT ĐỀ TÀI KINH TẾ CHÍNH TRỊ

17 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 31,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và phân loại đề tài khoa học 2.1.1.1.Khái niệm Đề tài khoa học là một giả thuyết nghiên cứu hay một nhiệm vụ nghiên cứu được giao nhằm giải quyết một vấn đề của hiện thực khác

Trang 1

Chương 2

PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU MỘT ĐỀ TÀI KINH TẾ CHÍNH TRỊ

2.1 PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU MỘT ĐỀ TÀI KHOA HỌC

2.1.1 Khái niệm và phân loại đề tài khoa học

2.1.1.1.Khái niệm

Đề tài khoa học là một giả thuyết nghiên cứu hay một nhiệm vụ nghiên cứu được giao nhằm giải quyết một vấn đề của hiện thực khách quan

2.1.1.2.Phân loại đề tài khoa học

- Theo trình độ đào tạo có các loại: tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ…

- Theo cấp độ quản lý khoa học có các loại: đề tài cấp Bộ, đề tài cấp địa phương, đề tài cấp cơ sở…

- Theo lại hình nghiên cứu khoa học: đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài nghiên cứu triển khai

2.1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài

2.1.2.1 Khái niệm trung tâm - xuất phát điểm nghiên cứu

Khái niệm trung tâm chỉ rõ thuộc tính bản chất của đề tài cần khám phá gồm hai bộ phận: nội hàm và ngoại diên Nội hàm của khái niệm là tập hợp các dấu hiệu

cơ bản, đặc trưng của đối tượng nghiên cứu Ngoại diên của khái niệm là tập hợp các cá thể chứa những dấu hiện có trong nội hàm của khái niệm Mở rộng hay thu hẹp khái niệm trung tâm thực chất là mở rộng hay thu hẹp ngoại diên của khái niệm, bằng cách tước bỏ hay thêm vào nội hàm những dấu hiệu mới Trên cơ sở đó người nghiên cứu dựa vào mục tiêu chỉ đạo, vào năng lực trí tuệ của mình, vào thời gian và điều kiện vật chất khác để lựa chọn phạm vi khảo sát phù hợp

Trang 2

Như vậy, xác định được khái niệm trung tâm có ý nghĩa rất quan trọng: vừa

là xuất phát điểm để nghiên cứ đề tài, vừa là cơ sở để lựa chọn các yêu tố quan trọng khác, đồng thời cũng là yếu tố để nhận biết đâu là loại đề tài đơn giản, đâu là loại đề tài phức tạp Đề tài đơn giản thường hàm chứa một khái niệm trung tâm, đề

tài phức tạp thường có từ hai khái niệm trung tâm trở lên.

2.1.2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung bản chất cần được khám phá và được làm rõ trong nhiệm vụ nghiên cứu Mỗi đề tài có một đối tượng nghiên cứu

Đề tài có một khái niệm trung tâm thường dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu Ngược lại, đề tài có hai khái niệm trung tâm trở lên thì việc xác định đối tượng nghiên cứu sẽ phức tạp hơn Đòi hỏi người nghiên cứu phải có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn sâu mới xác định chính được xác đối tượng nghiên cứu

2.1.2.3 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu của đề tài là cái giới hạn chứa đựng nội dung bản chất cần nghiên cứu và đối tượng khảo sát Nói một cách khác, khách thể là cái vòng chứa đựng cái trung tâm mà đề tài không được phép vượt qua

- Đối tượng khảo sát: Là một bộ phận đủ đại diện của khách thể được người nghiên cứu lựa chọn để xem xét

- Phạm vi khảo sát: giới hạn nghiên cứu bảo đảm cho người nghiên cứu vừa sức, đi đúng trọng tâm, không lệch hướng, đồng thời được khống chế bởi thời gian

cụ thể

2.1.2.4 Mục tiêu, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Là tiêu chí chủ đạo để định hướng nỗ lực tìm kiếm và là cơ sở xác định nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu được chi tiết hóa bằng cây mục tiêu Cây mục tiêu phản ánh quan hệ giữa mục tiêu gốc và các mục tiêu nhánh

Đề tài phức tạp đòi hỏi nghiên cứu sâu rộng và quy mô nên thường có cây mục tiêu nhiều cấp độ khác nhau

Trang 3

Đề tài đơn giản thường phân ra mục tiêu chính, mục tiêu phụ Trên cơ sở mục tiêu mà xác định nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu càng chi tiết thì nhiệm vụ nghiên cứu càng cụ thể hơn

- Nhiệm vụ nghiên cứu là những nội dung cụ thể để thực hiện mục tiêu nghiên cứu Như vậy, xuất phát từ mục tiêu của đề tài mà xác định nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu là cái đích nhằm hướng dẫn các bước đi để đạt tới mục tiêu nghiên cứu Mục đích nghiên cứu trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì?” hoặc “để phục vụ cho cái gì?”

2.1.2.5 Những nội dung nghiên cứu cơ bản

Dưới góc độ logic học, nội dung nghiên cứu cơ bản được gọi là luận đề

- Luận đề của đề tài là một dự đoán về nội dung bản chất nào đó của đối tượng nghiên cứu cần phải chứng minh là đúng hay không đúng Luận đề có chức năng chỉ đường để khám phá đối tượng nghiên cứu Thực chất, luận đề là giả thuyết nghiên cứu mà người nghiên cứu đưa ra và phải chứng minh Luận đề trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” Mỗi đề tài thường có hai hoặc ba luận đề Các luận đề này đều phản ánh những tư tưởng cốt lõi của đề tài cần được lý giải, nhờ

đó đề tài khoa học mới được thực hiện

Thực tế luận đề thường được biểu đạt bằng các chương nghiên cứu các nội dung chính của đề tài

- Luận cứ của đề tài là một dự đoán mà tính khách quan, tính xác thực đã được công nhận và được người nghiên cứu lựa chọn sử dụng làm căn cứ để chứng minh luận đề Kinh nghiệm cho thấy, luận cứ khoa học được chia là hai loại: luận cứ

lý thuyết và luận cứ thực tiễn Nó được xây dựng từ thông tin thu được nhờ đọc tài liệu hay quan sát, khảo sát thực nghiệm Luận cứ trả lời câu hỏi “chứng minh bằng cái gì?”

Trang 4

- Luận chứng của đề tài là những phương pháp suy luận, lập luận vạch rõ mối liên hệ giữa luận cứ và luận đề hay liên kết giữa các luận cứ với nhau nhằm giải thích, chứng minh các luận đề; chỉ rõ sự chuẩn xác của các luận cứ Luận chứng trả lời câu hỏi “chứng minh bằng cách nào?”

2.1.3 Triển khai nghiên cứu một đề tài khoa học

Lý luận và thực tiễn của hoạt động nghiên cứu khoa học cho thấy, thực chất quá trình nghiên cứu khoa học là quá trình nghiên cứu một giả thuyết nghiên cứu Một giả thuyết nghiên cứu khi chịu sự tác động của chủ thể quản lý khoa học thì giả thuyết đó được gọi là đề tài khoa học

Quy trình nghiên cứu một đề tài khoa học là một hệ thống có trật tự các

bước, từ việc chuẩn bị nghiên cứu; thu thập và xử lý thông tin; lựa chọn và sử dụng

hệ thống phương pháp chế biến thông tin; tiến hành viết, trình bày sản phẩm và công bố kết quả nghiên cứu Quy trình nghiên cứu đề tài được hợp thành bởi các

bộ phận:

2.1.3.1 Lựa chọn đề tài

Có hai tình huống lựa chọn đề tài nghiên cứu: chỉ định và tự chọn Loại đề tài chỉ định, người nghiên cứu phải thực hiện theo yêu cầu của người hướng dẫn, của cấp trên hay đối tác Trong trường hợp tự chọn, người nghiên cứu được chủ động chọn đề tài và các điều kiện nghiên cứu cần thiết

Căn cứ để lựa chọn đề tài dựa trên những tiêu chí sau đây:

Một là, đề tài có ý nghĩa lý luận, khoa học hay không?

Hai là, đề tài có ý nghĩa thực tiễn hay không?

Ba là, đề tài có tính cấp thiết (cần nghiên cứu) hay không?

Bốn là, để tài có đem lại hứng thú cho người nghiên cứu hay không?

Năm là, có đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài hay không?

2.1.3.2 Xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu

Trang 5

Đề cương là những định hướng chính cho quá trình nghiên cứu, là cơ sở để hợp tác với các cộng sự đồng thời là bằng chứng để trình người hướng dẫn, cơ quan, tổ chức quản lý, giúp đỡ, tài trợ và phê duyệt Nội dung đề cương cần thể hiện những điểm sau:

- Lý do chọn đề tài

- Xác định đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát

- Xác định mục tiêu và mục đích nghiên cứu

- Xác định phạm vi nghiên cứu

- Lập danh sách cộng tác viên (nếu có)

- Dự kiến tiến độ thực hiện đề tài

- Dự toán kinh phí nghiên cứu

- Chuẩn bị kế hoạch nghiên cứu

- Chuẩn bị phương tiện nghiên cứu

2.1.3.3 Thu thập và xử lý thông tin

Bản chất của nghiên cứu khoa học là quá trình thu thập và xử lý thông tin Tùy thuộc nội dung nghiên cứu, người nghiên cứu có thể sử dụng các phương pháp khác nhau trong thu thập, xử lý thông tin và sau đó lựa chọn các hình thức và phương tiện khác nhau để chuyển tải thông tin đến người sử dụng

Trong mỗi công trình nghiên cứu, nhiệm vụ trung tâm là tích lũy thông tin, tài liệu mang tính chất mới về mặt khoa học Trên cơ sở đó, phải xử lý, khái quát hóa chúng và quan trọng hơn là phân tích và làm sáng tỏ những sự kiện, nêu lên những kết luận và đề xuất những kiến nghị, giải pháp

2.1.3.4 Viết báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu

Báo cáo kết thúc đề tài nghiên cứu là cơ sở để hội đồng nghiệm thu đánh giá kết quả của quá trình nghiên cứu của tác giả Là một văn bản rút ngắn nội dung của công trình nghiên cứu (khoảng từ 10 - 15 trang in) Báo cáo tóm tắt phải thể hiện trung thực với nội dung của công trình nghiên cứu gồm những phần chính như phần

Trang 6

mở đầu, phần chính và phần kết luận nhưng được lược thuật tóm tắt rõ ràng, mạch lạc

2.2 PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH KTCT

2.2.1 Trình tự chuẩn bị khóa luận

Khóa luận tốt nghiệp đại học là một luận văn chuyên khảo tổng hợp sau khi kết thúc chương trình đại học Khóa luận thường được sử dụng trong những nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn, nghiên cứu khoa học kinh tế Khóa luận tốt nghiệp đại học do một người viết nhằm:

- Rèn luyện phương pháp và kỹ năng nghiên cứu

- Thể nghiệm kết quả của một khóa học

- Bảo vệ hoặc được hội đồng chấm khóa luận chấm

Trình tự chuẩn bị khóa luận gồm 3 bước sau:

Bước 1, lựa chọn đề tài khóa luận

Trường hợp đề tài được chỉ định: Sinh viên có thể nhận đề tài chỉ định từ thầy cô giáo hướng dẫn hoặc khoa, tổ bộ môn Đề tài loại này có thể mang tính giả định, không liên quan đến nhiệm vụ của đề tài mà thầy cô giáo hoặc khoa, tổ bộ môn đang thực hiện

Trường hợp được tự chọn đề tài: Sinh viên chủ động tìm hiểu hiện trạng của một lĩnh vực để lựa chọn và trả lời 5 câu hỏi đã nêu ở mục 1.3.1.1 (Lựa chọn đề tài)

Bước 2, xây dựng đề cương nghiên cứu

Đề cương được xây dựng để trình thầy cô hướng dẫn phê duyệt và là cơ sở

để thực hiện trong suốt quá trình làm khóa luận Nội dung đề cương cần thuyết minh một số điểm sau:

- Lý do chọn đề tài khóa luận

- Xác định đối tượng nghiên cứu, khảo sát

Trang 7

- Xác định mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.

- Xác định phương pháp nghiên cứu

- Chuẩn bị các phương tiện nghiên cứu

Bước 3, thu thập, xử lý thông tin, tư liệu

Thu thập thông tin, tư liệu thường được bắt đầu bằng việc nghiên cứu các tài liệu để biết được những gì có thể kế thừa từ các công trình đã được công bố Tiếp

đó, thực hiện các phương pháp thu thập thông tin, xử lý kết quả và kết thúc quá trình nghiên cứu

2.2.2 Viết khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp đại học là kết quả của toàn bộ nỗ lực trong suốt thời gian học tập, là sự thể hiện toàn bộ năng lực của sinh viên

2.2.2.1 Trình bày kết quả nghiên cứu khóa luận

Kết quả nghiên cứu được trình bày theo trình tự các phần:

- Phần mở đầu

Trong phần này, lời mở đầu là quan trọng nhất Lời mở đầu trình bày lý do lựa chọn đề tài làm khóa luận tốt nghiệp, ý tưởng và nguyện vọng của tác giả Trong lời mở đầu, tác giả cần trả lời những câu hỏi: Vì sao phải nghiên cứu đề tài này? Đề tài thực hiện nhằm vào mục tiêu nào? Những phương pháp nào được sử dụng để đạt những mục tiêu đó? Nhiệm vụ được đặt ra, hướng giải quyết và đã đạt kết quả đến đâu? Nguyện vọng của tác giả sau khi đã nghiên cứu các công trình đã công bố?

- Phần nội dung chính

Phần này thể hiện những nội dung cơ bản, phản ánh những mặt, những thuộc tính cơ bản cấu thành bản chất của vấn đề nghiên cứu Tùy theo phạm vi, mức độ nghiên cứu, loại hình nghiên cứu, cấp độ của đề tài nghiên cứ mà hình thành luận

đề (giả thuyết khoa học) tương ứng số chương hợp lý Luận đề phản ánh các nội dung cơ bản của đề tài có độ đậm nhạt khác nhau, dẫn đến chương mục khác nhau

Trang 8

Xuất phát từ luận đề (giả thuyết) trong đề cương chi tiết mà xây dựng các chương Số chương nhiều hay ít tùy thuộc vào nội dung và yêu cầu của luận đề Mỗi chương được chia thành nhiều mục, nhiều tiểu mục, mỗi tiểu mục lại được chia thành nhiều ý lớn

Trừ những bài báo khoa hay tham luận khoa học có tính chất giới thiệu những ý tưởng nghiên cứu, hoặc lược thuật tóm tắt những kết quả nghiên cứu của một công trình nào đó, còn các loại hình thức thể hiện công trình nghiên cứu khác nhau như luận văn, luận án, đồ án, dự án hay báo cáo tổng luận của đề tài khoa học độc lập thường có ba nội dung trọng tâm:

+ Cơ sở lý luận, phương pháp luận của vấn đề nghiên cứu Tổng quan lịch

sử nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

+ Thực trạng của vấn đề nghiên cứu: Trình bày các bước tiến hành quan sát điều tra, khảo sát thực nghiệm cơ sở thực tế; khái quát và hệ thống tư liệu thực tiễn

đã qua xử lý bằng toán thống kê và những tư tưởng đã được tổng kết từ thực tiễn

+ Nguyên nhân và những giải pháp tác động giải quyết vấn đề nghiên cứu: nguyên nhân của các mặt mạnh, mặt yếu; xu hướng biến đổi; những giải pháp mới; những bài học rút ra từ các kết quả nghiên cứu khảo sát

- Phần kết luận

Phần này cần khẳng định những kết quả nghiên cứu đã đạt được; những đóng góp mới và những đề xuất mới; kiến giải ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn của những tư tưởng quan trọng mà đề tài đã nghiên cứu phát hiện; kiến nghị về hướng phát triển của việc nghiên cứu tiếp theo; các đề xuất ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài

2.2.2.2 Về hình thức trình bày của khóa luận

Khóa luận phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, sạch sẽ, không được tẩy xóa, có đánh số trang, đánh số bảng biểu, hình vẽ, đồ thị Tác giả khóa luận có lời cam đoan danh dự về sản phẩm khoa học của mình

Trang 9

Khóa luận đóng bìa cứng, in nhũ, đủ dấu tiếng Việt (theo mẫu).

Trang phụ bìa (trang title): đây trang thứ nhất của khóa luận, không đánh thứ

tự trang Trên trang này ghi như ở trang bìa, ngoài ra còn thêm tên chuyên ngành,

mã số (quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo) và tên người hướng dẫn khoa học (theo mẫu)

- Soạn thảo văn bản

Sử dụng chữ (font) thuộc mã UNICODE, kiểu chữ chân phương, dễ đọc Đối với phần nội dung (văn bản), dùng cỡ 13 hoặc 14 của loại chữ Times New Roman hoặc tương đương; mật độ chữ bình thường, không được nén hoặc kéo dãn khoảng cách giữa các chữ; dãn dòng đặt ở chế độ 1,5 lines; lề trên 3,5cm; lề dưới 3cm; lề trái 3,5cm; lề phải 2cm Số trang đánh ở giữa, phía dưới mỗi trang giấy, bắt đầu từ mở đầu Nếu có bảng biểu, hình vẽ trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang (chiều đọc là chiều từ gáy luận án đọc ra) nhưng nên hạn chế trình bày theo cách này

Khóa luận được in vi tính trên một mặt giấy trắng khổ A4 (210 x 297mm),

có số trang theo quy định, (không kể lời cam đoan, bảng chữ viết tắt, mục lục, danh mục các công trình nghiên cứu khoa học, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục)

- Tiểu mục

Tên chương, mục và tiểu mục cần được viết thống nhất cho mỗi loại về kiểu chữ, khổ chữ và độ đậm nhạt Sự thống nhất này được thực hiện trong suốt khóa luận Tên chương được viết trên đầu trang mới, dưới tên chương nên để trống 2 dòng Không để tên mục, tiểu mục ở cuối chân trang

Các tiểu mục của khóa luận được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số, nhiều nhất gồm bốn chữ số với số thứ nhất chỉ số chương (ví dụ: 4.1.2.1 chỉ tiểu mục 1 nhóm tiểu mục 2 mục 1 chương 4) Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có ít nhất hai tiểu mục (nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà không có tiểu mục 2.1.2 tiếp theo)

Trang 10

Cách trình bày và đánh số thự tự chương, mục và tiểu mục: Chỉ sử dụng hệ thống số Arập, đánh theo luỹ tiến (không dùng số La Mã, không dùng ký tự A,B,C )

- Bảng biểu, hình vẽ, phương trình

Đánh số thứ tự theo chương (ví dụ Bảng 3.10, bảng 3.11 nghĩa là bảng thứ

10 và 11 của chương 3), tên bảng để trên bảng, còn tên ảnh và hình, biểu đồ, đồ thị

để dưới ảnh, hình, biểu đồ hay đồ thị tương ứng Bảng biểu, đồ thị, ảnh được đánh

số thứ tự riêng theo từng loại Các số liệu trong bảng phải có đơn vị đo, các trục của biểu đồ và đồ thị cũng phải có tên và thang đo Các ảnh phải ghi rõ xuất xứ

Mọi đồ thị, bảng biểu lấy từ các nguồn khác phải được trích dẫn đầy đủ, nguồn được trích dẫn phải được liệt kê chính xác trong danh mục Tài liệu tham khảo Đầu đề của bảng biểu ghi phía trên bảng, đầu đề của hình vẽ ghi phía dưới hình Thông thường, những bảng ngắn và đồ thị nhỏ phải đi liền với phần nội dung

đề cập tới các bảng và đồ thị này ở lần thứ nhất Các bảng dài có thể để ở những trang riêng nhưng cũng phải tiếp ngay phần nội dung đề cập tới bảng này ở lần đầu tiên

- Viết tắt

Chữ cần viết tắt khi xuất hiện lần đầu trong khóa luận được viết đầy đủ và liền đó đặt ký hiệu viết tắt của chữ đó trong ngoặc đơn Ký hiệu viết tắt phải được dùng thống nhất trong toàn khóa luận Không viết tắt trong phần mục lục, đặt vấn

đề và kết luận; không viết tắt những cụm từ dài, những mệnh đề; không viết tắt những cụm từ ít xuất hiện trong khóa luận Nếu khóa luận có chữ viết tắt thì phải

có bảng danh mục các chữ viết tắt (xếp theo thứ tự ABC) ở phần đầu khóa luận

- Danh mục tài liệu tham khảo và cách trích dẫn

- Danh mục tài liệu tham khảo

+ Cách sắp xếp:

Ngày đăng: 22/08/2022, 12:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w