Nhưng đối với HS khiếm thính mà nói, ngôn ngữ nói được chuyển đạt bằng các kí hiệu từ của người điếc nên việc biểu đạt ngôn ngữ nói cũng cần số vốn từ kí hiệu tương đương để biểu đạt.. V
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG TRẺ EM KHUYẾT TẬT GIAO THỦY
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
Biện pháp phát triển vốn từ kí hiệu cho học sinh khuyết tật nghe nói lớp 1DB
Ngôn ngữ kí hiệu (25)/TH
Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ: Giáo viên chủ nhiệm
Nơi công tác: Trường Trẻ em Khuyết tật Giao Thủy
Trang 2Nam Định, tháng 5 năm 2020 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
3 THỜI GIAN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN:
Từ ngày 06 tháng 9 năm 2019 đến ngày 03 tháng 7 năm 2020
4 TÊN TÁC GIẢ:
Họ và tên: Nguyễn Thị Mai
Năm sinh: 1994
Nơi thường trú: Giao Xuân – Giao Thủy – Nam Định
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường Trẻ em khuyết tật huyện Giao Thủy
Trang 3BÁO CÁO SÁNG KIẾN Biện pháp phát triển vốn từ cho học sinh khuyết tật nghe nói lớp 1DB
I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, là phương tiện giao tiếp giúp cho con
người thể hiện hiểu biết, kinh nghiệm, thái độ của bản thân về sự vật hiện
tượng của thế giới xung quanh Đồng thời, ngôn ngữ cũng giúp cho con ngườilĩnh hội các tri thức kinh nghiệm của xã hội loài người Muốn cho ngôn ngữ của trẻ phát triển thuận lợi, một trong những điều kiện quan trọng là trẻ được tích lũy nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó,
trẻ biết cách sử dụng “số vốn từ” đó một cách thành thạo.
Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển về trí tuệ của trẻ Vốn từ được sử dụng trong lờinói được coi là một phương tiện tác động mạnh mẽ tinh tế trong hệ thống xậy dựng môi trường sư phạm có định hướng, bởi ngôn ngữ nói không chỉ có thông tin mà còn có ý nghĩa tình cảm Ngôn ngữ nói có thể tạo nên hiện thực tâm lý có sức mạnh đặc biệt Nhưng đối với HS khiếm thính mà nói, ngôn ngữ nói được chuyển đạt bằng các kí hiệu từ của người điếc nên việc biểu đạt ngôn ngữ nói cũng cần số vốn từ kí hiệu tương đương để biểu đạt
Trong trường số lượng HS khiếm thính chiếm một nửa số HS, khi lên lớp HS khiếm thính thiếu thốn số vốn từ tạo nên hoàn cảnh khó khăn trong giảng dạy của giáo viên HS khiếm thính với số vốn từ ít ỏi, giáo viên đưa cáckiến thức cần có phù hợp với lứa tuổi của HS cần có, nhưng HS không hiểu được giáo viên đang nói gì Vì vậy việc thêm vốn từ kí hiệu cho HS khiếm thính là việc cần thiết phải làm để HS có thể tiếp thu các bài học tốt hơn nên tôi chọn đề tài “ Biện pháp phát triển vốn từ kí hiệu cho trẻ khiếm thính ” làm vấn đề nghiên cứu trong sáng kiến kinh nghiệm của mình
II Mô tả giải pháp:
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Trang 4Hiện nay với trẻ bình thường thì độ tuổi của trẻ 5 tuổi có thể sử dụng được từ 2500 đến 2600 từ, còn trẻ 6 tuổi có khoảng 3000 từ đến 4000 từ, trong đó tính từ và các từ loại khác đã chiếm một tỷ lệ cao hơn.
Trẻ mẫu giáo bé có khả năng nắm được những từ mang ý nghĩa cụ thể như những từ là tên gọi các đồ vật trong gia đình ( bát, đĩa, bàn, ghế…) tên gọi động vật, thực vật ( lợn, chó, gà, vịt, cây chuối, quả na…)
Vật thể xung quanh thu hút sự chú ý của trẻ và nhận được tên gọi chỉ trong trường hợp trẻ được giáo tiếp với chúng: đụng đến, sờ mó đến vật, mân
mê trong tay,vuốt ve, sờ mó, nghe, ngửi, ăn…Ngay khoảng 2 tuổi, trẻ nhớ têngọi đối tượng khó khăn nếu chỉ nhìn nó
Quá trình nắm bắt ý nghĩa của từ đi từ các hình ảnh cảm giác đến sự kháiquát ý nghĩa Đầu tiên trẻ hiểu từ “bàn” có tính chất cảm giác ( nhìn, sờ, mó ) các cảm giác gắn với từ “bàn” chỉ một đối tượng duy nhất như một danh từ riêng Sau đó, trẻ làm quen với các bàn khác, khác về hình dáng, kích thước Cảm giác về chúng khác nhau nhưng có cái chung giống nhau, tất cả đều là “ bàn ” Từ này nhận được nghĩa rộng hơn, tách khỏi các cảm giác trực tiếp, trẻ hiểu được “ bàn ” nói chung, chứ không phải cái bàn cự thể Hoàn toàn xa rời các cảm giác trực tiếp là từ “ đồ vật ”, khái quát ở bậc cao hơn dùng để gọi các đồ gỗ ( giường, tủ, bàn, ghế ), đồ nấu bếp ( nồi, chậu, bát đĩa) v.v…Từ “
đồ vật ” có ý nghĩa trừu tượng, trẻ hiểu nó không bằng cảm giác mà bằng sự trừu tượng hóa Đến 6 tuổi, để nắm từ với ý nghĩa khái quát, trẻ không đòi hỏicác cảm giác trực tiếp nữa
Động từ đầu tiên là những dấu hiệu đơn giản kích thích những hành động cụ thể nào đó Đối với trẻ từ 1 năm 1 tháng “ đi ” có nghĩa là cầm lấy tay nó, đối với trẻ 1 năm 6 tháng “ đi ” được trẻ sử dụng trong ý nghĩa từ vụng của nó : đi chơi, đi vào bếp, đi vào nhà…Việc tiếp thu danh từ đối với trẻ dễ dàng hơn là việc tiếp thu tính từ Các khái niệm về tính chất của sự vật chứa đựng trong tính từ phải từ nhiều sự vật mà khái quát lên
Trang 5Nhưng ở đây với trẻ khiếm thính, đa số các em chưa được đi học ở nhà trẻ, mầm non Việc đến trường đối với các em là một việc khó khăn khi các
em không nghe, nói được các động từ đơn bình thường phù hợp với độ tuổi của trẻ Khi đến trường vào lớp, các kỹ năng bình thường trẻ em 6 tuổi đã biếtthì đối với các em nó lại là một điều hoàn toàn mới, em không biết nên biểu đạt điều đó như thế nào để người khác hiểu được ý nghĩ của mình Các em chỉgiống các em nhỏ bắt đầu học nói nhưng không phải nói bằng âm phát ra mà
em nói bằng ngôn ngữ của người điếc ngôn ngữ kí hiệu
Có đôi khi, chỉ một kí hiệu đơn giản, các em cũng nhớ rất khó khăn, các biện pháp thông thường chỉ giúp các em tiếp thu được một phần kí hiệu chỉ các hoạt động bình thường Nhưng không giúp được các em hiểu được các kí hiệu mở rộng, cũng như sử dụng kí hiệu đó phù hợp với ngữ cảnh
Ngoài ra kí hiệu ngôn ngữ được cộng đồng người điếc sử dụng rộng rãi Đây là ngôn ngữ sử dụng hình dạng của bàn tay, chuyển động của cơ thể, cử chỉ điệu bộ và sự thể hiện cảm xúc trên khuôn mặt để trao đổi với nhau, nói lên suy nghĩ, nhu cầu và cảm xúc Đây là hình thức giao tiếp thuận lợi và hiệuquả nhất đối với người khiếm thính Trẻ khiếm thính học được các từ vựng ngôn ngữ kí hiệu dễ dàng hơn nếu chúng được nhìn thấy trực tiếp nên ta cần rèn thêm cho trẻ phát triển trí tưởng tượng, kết hợp tay chân, thân thể, nét mặt, khẩu hình và cho trẻ thực hành nhiều hơn để trẻ có thể học và sử dụng ngôn ngữ kí hiệu không quá khó khăn
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
Để thực hiện được các yêu cầu về kiến thức kĩ năng khi dạy phân môn kíhiệu ngôn ngữ cho HS khiếm thính, tôi có biện pháp sau : Nắm vững nội dungchương trình, mức độ yêu cầu và từng đối tượng HS Trên cơ sở đó, xác định
và nắm rõ chủ đề bài học HS cần biết Từ đó tìm các kí hiệu , kiến thức có liên quan để vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho HS Với mục tiêu phát triển số vốn từ kí hiệu cho HS khiếm thính để
HS có thể vận dụng chúng vào trong giao tiếp một cách linh hoạt, thiết thực
Trang 6thì việc sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học trong một tiết học là cần thiết.
Cũng như các môn học khác, khi dạy môn kí hiệu ngôn ngữ việc dùng thiết bị tranh ảnh, đồ dùng dạy học để cho tiết học sinh động hứng thú cũng không kém phần quan trọng Ngoài ra giáo viên có thể sử dụng các phần mềmdạy học như powerpoint, hệ thống các câu hỏi gợi ý phù hợp, hay như cung cấp bài hát có sự vật hay sự việc liên quan để học sinh học thêm các kí hiệu
có trong bài
VD : Chủ đề thiên nhiên
- GV cho HS xem một số tranh ảnh liên quan đến các hiện tượng thiên nhiên (mưa, nắng, gió, bão, )
- HS nêu các hiện tượng trên bằng các kí hiệu tự phát, các cử chỉ điệu bộ
- GV cung cấp kí hiệu ngôn ngữ thống nhất chung, giải nghĩa từ cho trẻ hiểu sau đó GV cho HS lặp lại cá nhân, nhóm, cả lớp về kí hiệu vừa học GV cung cấp thêm cả chữ viết để HS đánh vần, tập viết các từ vừa học
(Hình minh họa 1, 2– Phụ lục)
- GV cho HS học hát bài “Trời nắng, trời mưa” để cung cấp thêm một số từ mới trong bài hát Và để HS nhớ được các từ mới trong bài hát tốt hơn, GV cóthể viết các từ, các kí hiệu từ đó, ảnh minh họa từ ra từng tấm giấy kết hợp với các hình ảnh thể hiện từ đó vừa đủ HS nhìn rõ, học và ghi nhớ được từ đó mọi lúc để tăng thêm vốn từ về kí hiệu cho HS
- GV gợi ý cho HS thảo luận về các hiện tượng trên, liên hệ với thực tế như đặt một số câu hỏi “ Ngày hôm nay trời thế nào?”, “ Trời nắng ta làm gì?”,
“Gió thổi làm sao?”
- Và thông qua các hoạt động trò chơi HS được khắc sâu thêm kí hiệu:
Trời nắng – Làm động tác “trời nắng” – “đội mũ”
Trời mưa – Làm động tác “mưa” – “che ô”
(Hình minh họa 3 – Phụ lục)
Trang 7Một số dạng bài cụ thể:
- Các kí hiệu đầu tiên
- Đối với HS khiếm thính thì việc học những kí hiệu đồ vật gần gũi và người thân là rất quan trọng Do đó việc dạy kí hiệu đầu tiên ta chú ý đến những người gần gũi nhất đối với HS
VD : ông, bà, cha, mẹ, anh, chị,
- GV cho HS xem các bức tranh, ảnh về người thân của HS
- Cho HS gọi tên những người thân đó bằng các kí hiệu tự phát
- GV cung cấp từ và kí hiệu thống nhất chung, sau đó cho HS thực hành theo
cá nhân, nhóm , lớp làm kí hiệu, đánh vần
(Hình ảnh minh họa 4 – Phụ lục)
- GV chuẩn bị các ảnh tương tự về gia đình, có ghi tên các từ, có hí hiệu chỉ ông, bà, bố, mẹ để cho HS cùng nhìn, ghi nhớ kí hiệu, nhớ từ để tăng them vốn từ về người thân trong gia đình
- GV đưa ra bài hát “Cả nhà thương nhau” hoặc “Cháu yêu bà” để cho HS biết thêm một số kí hiệu mới trong bài hát và ôn tập các kí hiệu vừa học
- GV cho HS chơi trò chơi “ Năm ngón tay ngoan”
Ngón tay thứ nhất – Làm kí hiệu “ông” – chỉ tranh ông
Ngón tay thứ hai – Làm kí hiệu “ bà” – chỉ tranh bà
Ngón tay thứ ba – Làm kí hiệu “bố” – Chỉ tranh bố
Ngón tay thứ tư – Làm kí hiệu “mẹ” – Chỉ tranh mẹ
Ngón tay thứ năm – Làm kí hiệu chỉ bản thân – Chỉ tranh của mình
(Hình ảnh minh họa 5 – Phụ lục)
- Các từ chỉ hành động, cảm xúc, mô tả
VD : vui vẻ, buồn, tức giận
- GV cho trẻ xem các bức tranh, ảnh hoặc biểu thị trên khuôn mặt của mình các cảm xúc vui vẻ, buồn, tức giận
Trang 8- GV gợi ý cho HS hiểu ý nghĩa của của từ và cho HS làm các kí hiệu tự phát.
- GV cung cấp từ và kí hiệu thống nhất chung GV cho HS thực hành theo cánhân, nhóm, lớp và đánh vần, làm kí hiệu các từ vừa học
(Hình ảnh minh họa 6, 7 – Phụ lục)
- GV cho HS kể các câu chuyện vui vẻ mà mình đã gặp phải, hay nhưng sự việc đã làm trẻ tức giận Để từ đó trẻ có thể nhớ và tăng thêm được số vốn từcần thiết để kể các sự việc mình đã gặp
Các khái niệm trừu tượng, không cụ thể hoặc từ tượng thanh
- Các khái niệm trừu tượng, không cụ thể và nhất là từ tượng thanh đối với
HS khiếm thính là các từ khó hình dung và khó tưởng tượng nhất Do vậy GVcần phải cụ thể hóa, hình tượng hóa các khái niệm sau đó dùng đồ dùng trực quan (tranh ảnh, đồ vật thật, phim ảnh) hoặc đóng vai kết hợp ngôn ngữ kí hiệu, cử chỉ điệu bộ để giúp các em hiểu khái niệm, ý nghĩa từ
VD : Với từ “yêu thương” để giải nghĩa được từ, GV làm cách sau :
- GV cho HS đóng vai theo bức tranh ảnh người mẹ ôm con có cử chỉ gần gũi
- GV làm kí hiệu “yêu thương” và cung cấp chữ viết GV cho HS làm kí hiệu, đánh vần theo cá nhân, nhóm, cả lớp
- GV thiết kế kết hợp tranh minh họa chỉ từ yêu thương kết hợp từ yêu
thương và kí hiệu từ để HS học tập Từ đó, HS nhìn thấy bức tranh hiểu, biết bức tranh đó là tranh thể hiện từ yêu thương và nhớ được kí hiệu của từ yêu thương là như thế nào
Trang 9- Với các khái niệm : hạnh phúc, đau khổ, tí tách, GV có thể dùng cách tương tự để cung cấp khái niệm cho các em Để HS hiểu và nhớ tốt khái niệm,
GV cũng cần phải nắm bắt được những tình huống xảy ra trong thực tế hàng ngày để nhắc lại khái niệm đã học
Các khái niệm về ngành nghề
- GV dạy 1 nghề nào đó giáo viên đưa ra thêm các công việc phải làm, các dụng cụ sử dụng, nơi làm việc, trang phục của ngành nghề đó để HS hiểu biết thêm về các nghề đó Từ đó tăng thêm được vốn từ của mình để trình bày, giới thiệu được về nghề nghiệp của bố mẹ mình cho các bạn và mọi người xung quanh biết
VD : Với nghề “bác sĩ”
- GV đưa ra các tranh về nghề bác sĩ, nơi làm việc là bệnh viện, quần áo của bác sĩ hay mặc, công việc của bác sĩ như thế nào Và bên cạnh đó cũng đưa
ra các từ , các kí hiệu thích hợp về các bức tranh đó
- Cũng tương tự như dạy các kí hiệu trên, GV cũng để HS đưa ra các kí hiệu
tự phát của mình, sau đó GV đưa ra từ, kí hiệu thống nhất phù hợp các tranh ảnh đó Và cho HS thực hành, luyện tập làm kí hiệu, đánh vần các từ đó
(Hình ảnh minh họa 9 – Phụ lục)
Dựa trên các kí hiệu từ đã cung cấp cho HS GV có thể cung cấp cho HS các câu hỏi đơn giản mà HS quen dùng hàng ngày để khắc sâu và nhớ hơn về các từ kí hiệu đã học Từ đó nâng cao số vốn từ kí hiệu cho HS sử dụng trong ngôn ngữ nói hằng ngày, để biểu đạt nhu cầu, mong muốn của bản thân để khi học tập HS sẽ hiểu được bài GV đang dạy một cách tốt hơn
Để áp dụng sáng kiến hiệu quả hơn ta nên sử dụng kí hiệu trong mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh trong cuộc sống và GV cũng không ngừng học hỏi, trau dồi thêm vốn kí hiệu cho bản thân, không ngại khi học hỏi thêm từ trẻ, sử
Trang 10dụng thành thạo kí hiệu ngôn ngữ Tổ chức các hoạt động với những hình thức phong phú để giúp trẻ học tập tốt và hứng thú hơn.
Để đánh giá được kết quả sau khi áp dụng sáng kiến trên ta sẽ đánh giá HS qua quan sát, các bài kiểm tra, qua các hoạt động giao tiếp hàng ngày với bạn
bè, người thân, qua việc tiếp thu bài học Hoặc có thể thực hiện kiểm tra qua hoạt động cho dịch đọc bài đọc, qua các trò chơi, hát các bài hát đã học
III Hiệu quả do sáng kiến đem lại:
1 Hiệu quả xã hội
Việc áp dụng sáng kiến này vào trong dạy học kí hiệu sẽ giúp cho trẻ có được số vốn từ nhiều hơn, dễ thực hiện và có thể mang lại cho HS hứng thú hơn khi học tập hằng ngày HS được tiếp thu nhiều từ, kí hiệu mới, học được các bài hát thể hiện tình yêu thương với người thân, đồ vật, sự vật xung
quanh Biết biểu đạt cảm xúc của bản thân, có các hành động phù hợp trong các tình huống ứng xử hàng ngày
2 Khả năng áp dụng và nhân rộng
Sáng kiến này áp dụng vào trong dạy học sẽ nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần hình thành và hoàn thiện nhân cách của học sinh Giúp học sinh có hứng thú trong học tập, sống có ý thức trách nhiệm với bản thân, sốngnhân văn và có lý tưởng cao đẹp
Sáng kiến này cũng có thể nhân rộng ra dùng trong các lớp khuyết tật nghe nói khác, cũng có thể áp dụng cho cả học sinh khuyết tật nghe nói lứa tuổi lớn hơn, giúp học sinh khắc sâu hơn về ý nghĩa của từ
IV Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm cá nhân của tôi Không sao chép và vi phạm bản quyền của người khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam kết của mình.
TÁC GIẢ VIẾT SÁNG KIẾN
Trang 11Nguyễn Thị Mai
Trang 12CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
(Xác nhận)
(Kí tên, đóng dấu) XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD & ĐT (Xác nhận)
(Kí tên, đóng dấu)
PHỤ LỤC Hình minh họa 1
Trang 13Hình minh họa 2
Trang 14Hình minh họa 3
Trang 15Trời nắng Đội mũ
Trời mưa Che ô
Hình minh họa 4
Trang 16Hình minh họa 5
Trang 17Hình minh họa 6
Trang 18vui
Hình minh họa 7
Trang 19buồn
Hình minh họa 8
Trang 20yêu thương
Hình minh họa 9
Trang 21CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Trang 22ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Khoa học cấp trường Trẻ em khuyết tật
Hội đồng khoa học phòng Giáo dục và Đào tạo
Tôi là:
STT Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Nơi côngtác
Chứcdanh
Trình độchuyênmôn
Tỷ lệ (%)đóng gópvào việctạo rasáng kiến
- Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “Biện pháp phát triển
vốn từ kí hiệu cho học sinh khuyết tật nghe nói lớp 1DB ”.
có ý thức trách nhiệm với bản thân, sống nhân văn và có lý tưởng cao đẹp
- Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụngsáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lầnđầu, kể cả áp dụng thử ( nếu có): Áp dụng cho các lớp có học sinh khuyết tậtnghe nói
Danh sách những người tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng lần đầu(nếu có):
Trình độ Nội dung