Vì vậy, xuất khẩu thủy hải sản đã trởthành một trong những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng nhất của nền kinh tế, manglại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước và tạo nguồn thu nhập đáng kể cho n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC
TẾ
=====000=====
TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG EU VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU
Giảng viên hướng dẫn : TS Vũ Thành Toàn
Lớp tín chỉ : TM301(GĐ1 – HK1 – 2021).6BS
Trang 2Sinh viên thực hiện : Lê Minh Ngọc - 2011510041
Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỦY HẢI SẢN VÀ XUẤT KHẨU
THỦY HẢI SẢN CỦA VIỆT NAM 6
1.1 Khái niệm và đặc trưng của ngành thủy hải sản 6
1.1.2 Một số đặc điểm của sản xuất kinh doanh thủy sản 6
1.2 Vai trò của ngành sản xuất thủy hải sản trong nền kinh tế quốc dân.
7 1.3 Thị trường xuất khẩu hải sản hiện nay của Việt Nam 9
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY HẢI SẢN CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG NHỮNG NĂM GẦN
2.2.3 Các sản phẩm có tiềm năng từ các quốc gia đang phát triển trên
2.3 Quy định của EU với hoạt động nhập khẩu thủy hải sản 25
Trang 42.3.2 Về vệ sinh an toàn thực phẩm 262.3.3 Về nguyên vật liệu đóng gói cho phép, bao bì và nhãn mác 27
Trang 51 Lý do chọn đề tài
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, với mọi quốc gia, dù trình độ phát triển kinh tế và khoa học kỹthuật đạt đến mức độ nào đi chăng nữa, dù tài nguyên thiên nhiên phong phú vàgiàu có đến đâu thì hoạt động xuất khẩu vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng Cóthể nói, xuất khẩu đã trở thành yếu tố sống còn và không thể thiếu của mỗi quốcgia Đối với Việt Nam, xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệpxây dựng và phát triển kinh tế Xuất khẩu là tiền đề vững chắc để công nghiệphoá đất nước và là mũi nhọn ưu tiên trong nền kinh tế quốc dân Đảng ta đã nhiềulần khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động xuất khẩu và coi đó là mộttrong ba chương trình kinh tế lớn Có đẩy mạnh xuất khẩu, mở cửa ra thị trườngthế giới mới có điều kiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế xãhội và ổn định đời sống nhân dân
Được thiên nhiên ưu ái với hệ thống sông ngòi dày đặc cùng với đường bờbiển kép dài, các khu đặc quyền kinh tế với diện tích 1 triệu km vuông, với nhiềuchủng loại thủy hải sản đa dạng, Việt Nam được coi là một nước có tiềm năng rấtlớn về thủy sản cả nước ngọt và nước mặn Vì vậy, xuất khẩu thủy hải sản đã trởthành một trong những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng nhất của nền kinh tế, manglại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước và tạo nguồn thu nhập đáng kể cho nông –ngư dân cùng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này
Theo Báo cáo của Tổng cục Thủy sản, 6 tháng đầu năm 2021, ước tính tổngsản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm đạt 4,1 triệu tấn (tăng 3% so với cùng kỳnăm 2020), trong đó sản lượng khai thác đạt gần 2 triệu tấn, tăng 1%, sản lượngnuôi trồng thủy sản là 2,1 triệu tấn, tăng 4%; giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sảnước đạt 4 tỷ USD, tăng 13,6% so cùng kỳ
Trong đó các thị trường xuất khẩu thủy hải sản chủ yếu của Việt Nam, thịtrường EU đóng vai trò rất quan trọng Thị trường này cùng với Mỹ và Nhật Bản
là ba thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam trong nhiều năm
Tuy nhiên, thị trường xuất khẩu thủy sản trên thế giới ngày càng xuất hiệnnhiều đối thủ mới và tính cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu thủy sản ngày càngtăng dưới tác động của xu hướng tự do hóa thương mại mặc dù nền thủy sảnnước ta đã đạt rất nhiều thành tựu tiến bộ song vẫn tồn tại những điểm hạn chếcần phải khắc phục như cơ sở vật chất lạc hậu, một số nhiệm vụ triển khai theo
Trang 6quy định của Luật Thủy sản còn chậm (cấp mã số cơ sở nuôi; đối tượng chủ lực)hay Tình trạng ngư dân, tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài chưachấm dứt,
…Thêm vào đó, những năm gần đây có rất nhiều vấn đề đặt ra với hoạt động xuấtkhẩu mặt hàng thủy sản Chúng ta đã được chứng kiến và bị lôi kéo vào những vụkiện bán phá giá, những tin đồn về chất lượng sản phẩm đồng thời phải đối mặtvới rất nhiều bất lợi của thị trường Các rào kĩ thuật và thương mại, nguồn gốcxuất xứ
Trang 7và hình thức điều kiện đánh bắt, … đang là thách thức lớn đối với ngành thủy sảnViệt Nam.
Vì vậy em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thực trang xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường EU và các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
a Mục đích
Tìm hiểu các thực trạng và các chính sách áp dụng cho xuất khẩu thủy sảnViệt Nam sang EU Từ đó đưa ra các giải pháp để thúc đẩy xuất khẩu thủy sảnsang thị trường EU
b Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu về thị trường và nhu cầu của người dân EU
- Các quy định của EU về việc nhập khẩu thủy hải sản
- Những cơ hội và thách thức với Việt Nam và đề xuất giải pháp thúc đẩyxuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thị trường EU, xuất khẩu thủy sản của Việt Namsang EU và ngành thủy sản của Việt Nam
4 Kết cấu tiểu luận
Chương 1: Tổng quan về thủy hải sản và xuất khẩu thủy hải sản của ViệtNam Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thủy hải sản của Việt Nam sang thịtrường
EU trong những năm gần đây
Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản Việt Namsang EU giai đoạn 2020 - 2030
Do năng lực còn hạn chế và thời gian có hạn, bài tiểu luận của em khôngtránh khỏi một vài sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỦY HẢI SẢN VÀ XUẤT KHẨU
THỦY HẢI SẢN CỦA VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và đặc trưng của ngành thủy hải sản
vụ trong hoạt động thủy sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản
1.1.2 Một số đặc điểm của sản xuất kinh doanh thủy sản
Mỗi một ngành, lĩnh vực đều mang những đặc điểm riêng biệt và ngành thủysản có những đặc trưng rất riêng Những đặc trưng đó có ảnh hưởng rất lớn đến
sự hình thành và phát triển của ngành Những đặc điểm đó là:
1.1.2.1.Đối tượng ngành thủy sản là những cơ thể sống trong môi trường nước.
Đối tượng sản xuất của ngành thủy sản là những cơ thể sống, là các loại độngthực vật thủy sản sinh trưởng, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh họcnên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng mới cóthể thúc đẩy khả năng sinh trường và phát triển của chúng
Đây là điểm hết sức khác biệt so với ngành công nghiệp vì đối tượng sản xuấtcủa chúng là những vật vô chi, vô giác nếu hỏng có thể thay thế được còn đối vớithủy sản nếu những sinh vật thủy sinh đó mắc bệnh hoặc chết thì cũng đồng nghĩavới việc vụ thu hoạch đó sẽ mất mùa Tuy nhiên, những động vật thủy sinh lại cógiá trị dinh dưỡng và kinh tế cao như: cá, giáp xác, rong tảo, cua, tôm, …
1.1.2.2.Trong sản xuất kinh doanh thủy sản, thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu
không thay đổi
Cũng như nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thay thếđược, trong thủy sản, thủy vực cũng là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu Thủyvực bao gồm các loại hình mặt nước, ao, hồ, sông, biển…
- Thủy vực có giới hạn tuyệt đối về không gian Đó là diện tích mặt nước(nội địa và biển) mà mỗi quốc gia có được nhưng sức sản xuất sinh học của
nó là vô hạn Ở Việt Nam, thủy vực có nhiều loại hình phong phú và tổng
Trang 9diện tích mặt nước sản xuất còn thấp kể cả chiều rộng và chiều sâu, trongnội địa và biển Vì vậy, chúng ta cần hết sức khai thác tiềm năng mặt nước
và lưu ý sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quí giá này để phát triển thủy sảnmạnh mẽ và bền vững
Trang 10- Thủy vực là loại tư liệu sản xuất gắn liền với các điều kiện tự nhiên, kinh tế
và xã hội của mỗi vùng, mỗi cộng đồng người…, khác với các tư liệu sảnxuất khác là chúng có thể di chuyển vị trí để phù hợp với các điều kiện sảnxuất nhưng thủy vực lại cố định nên cần thiết tiến hành qui hoạch các vùngnước canh tác (nuôi trồng và khai thác), bố trí kết hợp tối ưu các yếu tố đầuvào, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật và các hệ thống kết cấu hạ tầngthích hợp để sản xuất có hiệu quả Mặt khác, cần thiết cải tạo và khôngngừng nâng cao chất lượng vùng nước canh tác để đạt được năng suất caohơn
- Thủy vực là tư liệu sản xuất không bị đào thải khỏi quá trình sản xuất, nếubiết sử dụng hợp lý thì duy trì được chất lượng nước tốt cho việc canh táclâu dài Điều này không giống như các tư liệu sản xuất khác, sau một thờigian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình, hao mòn vô hình và cuối cùng bịđào thải khỏi quá trình sản xuất
1.1.2.3.Sản xuất thủy sản được tiến hành phân tán rộng khắp các vùng địa lý và
mang tính khu vực rõ rệt
Như chúng ta đã biết thủy sản là một phần của sản xuất nông nghiệp nên sảnxuất thủy sản chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên do vậy nó mang tínhkhu vực rõ rệt vì mỗi vùng địa lý có những đặc trưng riêng và thời tiết khí hậukhác nhau
Ở đâu có ao hồ, sông ngòi, biển thì ở đó có nghề nuôi trồng và khai thác thủysản Thủy vực được phân bố rộng khắp các vùng địa lý, ở mỗi quốc gia phụ thuộcvào lịch sử hình thành các loại đất, quá trình sử dụng và khai thác vào các mụcđích khác nhau Vì vậy, mỗi thủy vực có chế độ thủy lý hóa, thủy văn khác nhau
do đó các giống loài thủy sản cũng khác biệt về nhiều mặt
1.1.2.4.Sản xuất thủy sản mang tính thời vụ cao
Dựa trên quy luật sinh trưởng và phát triển của động thực vật thủy sinh, conngười tác động trực tiếp nhằm tạo ra sản phẩm cuối cùng có chất lượng và năngsuất cao, song các động thực vật nuôi trồng và khai thác còn phải chịu tác độngcủa tự nhiên Vì vậy, thời gian lao đọng và thời gian sản xuất không trùng khớpnhau tạo ra tính thời vụ của sản xuất thủy sản
1.2 Vai trò của ngành sản xuất thủy hải sản trong nền kinh tế quốc dân
Ở nước ta, thủy sản giữ cai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và làngành kinh tế mũi nhọn thể hiện ở 3 mặt:
Trang 11- Về mặt kinh tế:
Ngành thủy sản có đóng góp vô cùng to lớn trong việc giải quyết các vấn đề
an ninh lương thức, thực phẩm Ngày nay dân số tăng nhanh với một tốc độchóng mặt vì thế các quốc gia gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo an ninhlương thức cũng như giải quyết vấn đề việc làm cho thanh thiếu niên đến độ tuổilao động Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) dự báo tiêu thụ thủy sảntoàn cầu sẽ
Trang 12đạt mức 21,5 kg/người vào năm 2030 và theo số liệu đã thống kê ở Việt Nam,lượng tiêu thụ trung bình là 16,5kg/năm Mức sống của cộng đồng tăng lên làmcho nhu cầu đối với nhiều loại thủy sản mà Việt Nam có khả năng sản xuất đang
và sẽ còn tăng mạnh Quan hệ cung – cầu trên thị trường thế giới ngày càng thểhiện rõ sự thiếu hụt nguồn cung cấp Do đó, để đáp ứng nhu cầu của xã hội, vấn
đề đặt ra là cần phát triển thủy hải sản ở trình độ cao
Thủy sản là khu cung cấp nguyên liệu to lớn, cần thiết cho các khu côngnghiệp chế biến thủy hải sản Cũng từ đó, giá trị của thủy hải sản tăng lên nhiềulần làm tăng khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập cho doanh nghiệp và nhà nước.Phát triển sản xuất thủy sản sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ rộng lớn của côngnghiệp bao gồm cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Việc tăng cầu trong khuvực thủy sản và nông thôn sẽ tạo tác động trực tiếp đến khu vực phi nông nghiệp
và đạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp phát triển
Thủy sản là mặt hàng xuất khẩu rất quan trọng của Việt Nam hiện nay Mặc
dù ngành thủy sản là một ngành chứa đụng nhiều rủi ro nhưng giá trị sản phẩmngành mang lại là rất lớn, nhất là đối với quá trình sản phát triển đi lên để hộinhập với thế giới của nước ta, bởi hàng xuất khẩu thủy sản có đóng góp khôngnhỏ vào GDP hàng năm Đồng thời, nước ta có tiềm năng to lớn phát triển thủysản vì thế xuất khẩu thủy sản cũng là một nhu cầu rất cần thiết của bà con ngưdân để tăng giá trị sản phẩm mà họ làm ra
- Về mặt xã hội:
Ngành thủy sản tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, phần lớn là cácvùng nông thôn và ven biển Vì các quốc gia có dân số đông trong khi trình độdân trí lại thấp nên phát triển ngành thủy sản đang là hướng đi chủ yếu ở cácnước có điều kiện khí hậu thuận lợi, tạo ra việc làm thu hút một khối lượng lớnlao động, làm tăng thu nhập đảm bảo đời sống, góp phần giảm đi làn sóng di dânvào thành thị
Ở Việt Nam, phát triển thủy sản gắn liền với việc xóa đói giảm nghèo Sảnxuất thủy sản phát triển, việc tập trung sản xuất ở ven sông, suối, ao hồ còn giúpxóa bỏ tập quán du canh, du cư, tăng cường an ninh biên giới đất liền Ngoài ra,phát triển các hạng tàu khai thác biển cũng là góp phần tăng cường an ninh quốcphòng, bảo vệ lãnh hải chủ quyền, biên giới hải đảo
- Về môi trường:
Phát triển thủy hải sản hợp lý là điều kiện cơ bản để bảo vệ môi trường sinhthái Nước ta có tiềm năng lớn về sinh vật biển, diện tích mặt nước rộng lớn,
Trang 13những vấn đề đặt ra hiện nay là việc khai thác sao cho đảm báo cân bằng sinhthái, vì thế ngành thủy sản đóng góp vai trò to lớn trong công cuộc bảo vệ môitrường và sự phát triển bền vững.
Trang 141.3 Thị trường xuất khẩu hải sản hiện nay của Việt Nam
1.3.1 Tổng quan
Chúng ta có những tiềm lực mạnh mẽ về cả tự nhiên, xã hội và con người để pháttriển ngành Xuất khẩu hải sản như sau:
- Diện tích (Land area): 329.560 km2
- Chiều dài bờ biển (Coast line): 3.260 km
- Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ): 1 triệu km2
- Tổng sản lượng thủy sản (2020): 8,4 triệu tấn
● Khai thác: 3,85 triệu tấn
● NTTS: 4,56 triệu tấn
- Giá trị XK 2020: 8,5 tỷ USD
- Lực lượng lao động: Hơn 4 triệu người
- Thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia:
- Chiếm 4-5% GDP;
- 9-10% tổng kim ngạch XK quốc gia
- Đứng thứ 5 về giá trị XK (sau: điện tử, may mặc, dầu thô, giày dép)
1.3.2 Sản lượng thủy sản
Hình 1 Sản lượng thủy sản Việt Nam từ 1995 – 2020
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
Trang 15Từ số liệu thống kê, ta có thể nhận thấy được từ 1995-2020: Sản lượng nuôitrồng thủy sản của Việt Nam tăng gấp 11 lần, tăng trưởng TB hàng năm 10% từ
415 nghìn tấn lên gần 4,6 triệu tấn Nuôi trồng thủy sản phục vụ cho xuất khẩutập trung chủ yếu ở ĐBSCL (chiếm 95% tổng sản lượng cá tra và 80% sản lượngtôm)
Các loài nuôi chính ở Việt Nam:
Trang 16- Năm 2020: diện tích nuôi thủy sản của cả nước là 1,3 triệu ha và
10.000.000 m3 nuôi lồng (7.500.000 m3 lồng nuôi mặn lợ và 2.500.000m3 nuôi ngọt);
- Sản lượng nuôi 4,56 triệu tấn Trong đó, tôm nuôi 950.000 tấn (tôm súđạt 267,7 nghìn tấn, tôm chân trắng 632,3 nghìn tấn, tôm khác 50.000tấn), cá tra 1.560.000 tấn
- Cả nước có 2.362 cơ sở sản xuất giống tôm nước lợ (1.750 cơ sở giốngtôm sú và 612 cơ sở giống tôm chân trắng) Sản xuất được là 79,3 triệucon tôm giống (tôm sú 15,8 triệu con; tôm chân trắng 64,1 triệu con
- Riêng khu vực ĐBSCL có khoảng 120 cơ sở sản xuất giống cá tra bố
mẹ, gần 4.000 ha ương dưỡng cá tra giống; sản xuất được khoảng 2 tỷ cátra giống
- Diện tích nuôi biển 260 nghìn ha và 7,5 triệu m3 lồng; sản lượng đạt 600nghìn tấn Trong đó nuôi cá biển 8,7 nghìn ha và 3,8 triệu m3 lồng, sảnlượng 38 nghìn tấn; nhuyễn thể 54,5 nghìn ha, 375 nghìn tấn; tôm hùm3,7 triệu m3 lồng, 2,1 nghìn tấn; rong biển 10.150 ha, 120 nghìn tấn; cònlại là cua biển và các đối tượng nuôi khác: cá nước lạnh (cá hồi, cátầm…đạt 3.720 tấn, cao hơn 2 lần so với năm 2015 (1.585 tấn)
1.3.3 Khai thác
Từ 1995 – 2020: Sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam tăng gấp hơn 4lần, tăng trường trung bình năm 6% từ 929 nghìn tấn lên 3,85 triệu tấn
Trang 17Hình 2 Sản lượng khai thác thủy sản Việt Nam từ 1995 – 2020
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
Trang 18Năm 2020: Toàn quốc có 94.572 tàu cá Trong đó: 45.950 tàu cá dài 6-12m,18.425 tàu dài 12-15m, 27.575 tàu dài 15-24m, 2.662 dài >24m) Cả nước có4.227 tổ đội hoạt động với 29.588 tàu cá, 179.601 lao động trên biển.
Nghề lưới kéo 17.078 tàu, chiếm 18,1%; nghề lưới vây 7.212 tàu, chiếm7,6%; nghề lưới rê 33.538, chiếm 35,5%; nghề câu 16.043 tàu, chiếm 17%; nghềkhác
17.543 tàu, chiếm 18,5%; tàu dịch vụ hậu cần 3.158 chiếc, chiếm 3,3%
Đến năm 2018, Việt Nam có khoảng 544 doanh nghiệp chế biến thủy sản quy
mô công nghiệp, trong đó 410 cơ sở sản xuất, kinh doanh thủy sản đạt tiêu chuẩnngành về điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm, 414 doanh nghiệp đã áp dụng cácquy phạm GMP, SSOP, HACCP, ISO 14001…, đạt tiêu chuẩn sản xuất sạch hơn,được phép xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,Liên bang Nga… Từ 18 doanh nghiệp năm 1999, đến nay đã có 269 doanhnghiệp chế biến được cấp phép xuất khẩu vào thị trường EU
1.3.4 Xuất khẩu thủy hải sản
Hình 3: Xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ 1997 – 2020
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
Từ 1997-2020: XK tăng gấp 11 lần, tăng trưởng trung bình hàng năm 10% từ
Trang 19758 triệu USD lên 8,5 tỷ USD.
a Sản phẩm xuất khẩu
- Thủy sản nuôi để XK chủ yếu là tôm và cá tra:
● XK tôm chiếm tỷ trọng cao nhất, tăng trưởng cao nhất và ổn định nhất Từ1998-2020: XK tăng gấp hơn 8 lần từ 457 triệu USD lên 3,73 tỷ USD năm;
Trang 20tăng trưởng TB hàng năm 10% Tỷ lệ trong tổng TS ngày càng gia tăng: từ36% đến 50%.
● XK cá tra tăng gấp 162 land từ 9,3 triệu USD lên 1,5 tỷ USD; tăng trưởng
TB hàng năm 26% Tuy nhiên, tỷ lệ giảm từ 32% xuống 18%
- XK hải sản chiếm 30- 35% tổng XK thủy sản Từ 1998 – 2020: Kim ngạchtăng gấp 10 lần 315 triệu USD lên 3,2 tỷ USD; tăng trưởng TB hàng năm11%
b Thị trường xuất khẩu
Việt Nam XK thủy sản sang hơn 160 thị trường trên thế giới Trong đó top 10thị trường gồm: Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN, Australia,Anh, Canada, Nga, chiếm khoảng 92-93% tổng XK thủy sản của Việt Nam
Trong top 6 thị trường lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc vàASEAN), trong những năm gần đây, XK sang EU chững lại, sang ASEAN, HànQuốc ổn định, trong khi XK sang Trung Quốc tăng trưởng mạnh nhất, XK sang
Mỹ và Nhật Bản cũng duy trì tăng trưởng khả quan
Trang 21Hình 4: Thị trường nhập khẩu Thủy hải sản chính năm 2020
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
Thị trường Châu Âu ngày càng chiếm tỷ trọng khá lớn đối với sản phẩm thủysản Việt Nam Năm 1997, bình quân cả năm đạt khoảng 10% tỷ trọng kim ngạchxuất khẩu thì đến năm 1998 thị trường này tăng tới 13%, đây là thị trường khótính nhưng đầy triển vọng
Trang 22Sau 2 năm bị Ủy ban châu Âu (EC) cảnh báo "thẻ vàng" đối với hải sản khaithác của Việt Nam, xuất khẩu hải sản của Việt Nam sang thị trường EU đã bị tácđộng rõ rệt, giảm 6,5% còn gần 390 triệu USD trong năm 2018 Và tiếp tụcchững lại trong 8 tháng đầu năm 2019, với 251 triệu USD nhưng EU vẫn đượcxem là như miền đất “quả vàng” đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản củaViệt nam hiện nay nếu chúng ta cam kết chống khai thác hải sản bất hợp pháp,không khai báo và không theo quy định (IUU); tuyên truyền cho ngư dân đánhbắt hợp pháp, tuân thủ các quy định pháp luật thì khả năng phát triển lại xuấtkhẩu hải sản sang các nước châu Âu (EU) là rất cao.
Tóm lại, không thể phủ nhận rằng thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn cókim ngạch xuất khẩu ngày càng nâng cao, đồng thời đây cũng là một ngànhkhông ngừng đa dạng hoá cơ cấu sản phẩm, đa dạng thị trường Nhưng xét mộtcách tổng thể, hiệu quả xuất khẩu của thủy sản Việt Nam còn chưa cao, xuất khẩuchưa tương xứng với tiềm năng của ngành Phải thấy rằng, tiềm năng phát triểnngành thủy sản của nước ta là rất lớn với trữ lượng hải sản lớn, điều kiện đánh bắtthuận lợi Tuy nhiên, hiện nay lượng và giá trị nguyên liệu thất thu sau thu hoạchcòn cao, chi phí đánh bắt cũng cao Xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác nguồnlợi tự nhiên nên nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu vừa không ổn định, các loạisản phẩm thủy sản sau chế biến ít với chất lượng không cao làm giảm sức cạnhtranh của thủy sản Việt nam trên trường quốc tế
Về cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản thì chủ yếu vẫn tập trung vào hai thịtrường lớn là Nhật Bản và Mỹ Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sảncủa Việt Nam cũng đã bắt đầu tiến hành mở rộng xuất khẩu sang các thị trườngkhác nhưng mới chỉ là những bước đi thăm dò, tìm hiểu nên hiệu qủa chưa cóhiệu quả đáng kể EU một trong số các thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệpxuất khẩu thủy sản của Việt Nam hiện đang rất quan tâm Đây là một thị trườngrộng lớn, nhu cầu tiêu dùng mặt hàng thủy sản cao Tuy nhiên, đây cũng là mộtthị trường có các tiêu chuẩn rất khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm và các quyđịnh xuất khẩu Để giúp người đọc có thể hiểu rõ hơn về thị trường EU, chương IIcủa khoá luận này sẽ trình bày khái quát về thực trạng xuất khẩu của thủy sảnViệt Nam sang EU trong thời gian qua, những quy định của EU đối với hàng thủysản nhập khẩu, từ đó đưa ra đánh giá về tiềm năng to lớn của thị trường này trongthời gian tới
Trang 23CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY HẢI SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 2.1 Giới thiệu chung về thị trường EU
2.1.1 Về kinh tế, chính trị
Từ năm 1968, EU đã là một thị trường thống nhất hải quan, có định mức thuếhải quan chung cho tất cả các nước thành viên Ngày 07/02/1992, Hiệp ướcMastricht được ký kết tại Hà Lan mở đầu cho sự thống nhất chính trị, kinh tế, tiền
tệ giữa các nước thành viên EU Cho đến nay, EU đã là một thị trường rộng lớn,bao gồm 15 quốc gia với gần 400 triệu người tiêu dùng Thị trường EU thốngnhất cho phép tự do lưu thông người, hàng hóa, dịch vụ và vốn giữa các nướcthuộc Hiệp hội trao đổi tự do Châu Âu (AELE), tạo thành một thị trường gồm
380 triệu người tiêu dùng
Về kinh tế, hiện nay hàng rào buôn bán giữa 15 nước thành viên của EU đã bị
xóa bỏ, do vậy thị trường chung Châu Âu là thị trường lớn nhất thế giới Thịtrường chung Châu Âu không chỉ là thị trường xuất khẩu lớn nhất thế giới mà còn
là thị trường nhập khẩu hàng đầu thế giới Hơn nữa, buôn bán của EU với cácnước đang phát triển cũng năng động như với các nước công nghiệp trên thế giới.Trong thực tế, ĐôngNam Á là vùng hiện đang có nhịp độ tăng trưởng buôn báncao nhất với EU, cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu
Về chính trị, Liên minh Châu Âu (EU) không phải là một tổ chức đế quốc với
hệ tư tưởng chính trị cứng nhắc, sắp sẵn EU hiện nay gồm 15 chính phủ nhưngnhững chính phủ này không bao giờ được bầu cùng một lúc và cũng không baogiờ chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng chính trị cánh tả hoặc hữu Tất cả 15chính phủ đều tuân theo một đường lối chung về đân chủ Đặc điểm nổi bật củacác nước EU trong thời gian vừa qua là kinh tế của các nước đều tăng trưởng, tuy
có cao thấp khác nhau, nhưng ổn định
Trang 24Hiệp ước mở rộng EU lớn nhất từ trước đến nay đã được kí kết hôm16/4/2003 giữa 15 quốc gia thành viên và 10 nước xin gia nhập gồm: cộng hoàSéc, Síp, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Manta, Ba Lan, Slovakia Hiệp ước sẽ
có hiệu lực kể từ ngày 01/05/2004 và khi đó, EU sẽ trở thành khu vực kinh tế lớnnhất thế giới với 25 nước thành viên với khoảng 450 triệu dân
Trang 25Các nền kinh tế ở châu Âu tăng trưởng mạnh hơn dự báo trong quý 2 năm
2021, khi niềm tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp có sự cải thiện mạnh mẽnhờ các biện pháp hạn chế chống Covid-19 được nới lỏng
Số liệu do cơ quan thống kê của Liên minh châu Âu (EU) công bố ngày 30/7cho thấy tổng sản phẩm trong nước (GDP) của các nền kinh tế thành viên tăng13,2% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 1,9% so với quý trước Những số liệukinh tế gần đây của châu Âu đều cho thấy một triển vọng hứa hẹn
2.2 Các đặc điểm chung liên quan đến việc tiêu dùng mặt hàng thủy sản
2.2.1 Các đặc tính của thị trường EU
EU đã thông qua những quy định bảo vệ quyền của người tiêu dùng về độ antoàn chung của các sản phẩm được bán ra Tất cả các sản phẩm để có thể bánđược ở thị trường này phải được đảm bảo trên tiêu chuẩn chung của EU Hàngnăm EU chiếm tới 40% nhậpkhẩu thủy sản toàn thế giới Mức tiêu thụ bình quânđầu người là 17 kg/ năm và tăng dần hàng năm khoảng 3% Trong đó thị trườngchính là Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia, Hà Lan Do vậy nhu cầu nhậpkhẩu thủy sản của EU hàng năm là rất lớn Đây là thị trường khó tính và có chọnlọc, với những yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng và an toàn vệ sinhthực phẩm Chỉ thị 91/493/EEC ban hành tháng 6 năm 1993 quy định các doanhnghiệp tại nước xuất khẩu phải có điều kiện sản xuất tương đương như các doanhnghiệp của nước nhập khẩu và phải được cơ quan kiểm tra chất lượng của EUcông nhận Đối với hàng thực phẩm đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, thànhphần, trọng lượng, thời gian và cách sử dụng sản phẩm, nơi sản xuất, các điềukiện để bảo quản và sử dụng, mã số, mã vạch để nhận dạng lô hàng Đặc biệt cấmnhập những sản phẩm thủy sản bị nhiễm độc do tác dụng của môi trường hoặc docác chất phụ gia không được phép sử dụng như: hải sản có chứa khuẩnSalmonella, độc tố Lustamine, nhiễm V Parahacnoliticus, nhiễm V Cholerac hay
có chứa hàm lượng chất kháng sing Chloramphenicol cao Người Châu Âu ngàycàng ăn nhiều thủy hải sản vì họ cho rằng sẽ giảm béo mà vẫn khoẻ mạnh EU làmột thị trường có tính đa năng cao, với nhiều nhóm cư dân có yêu cầu rất khácnhau trong thói quen tiêu thụ các sản phẩm thủy sản Có thể tập trung vào hainhóm chính: sản phẩm thủy sản cho nhu cầu cao cấp của người Châu Âu bản địa
và sản phẩm thủy sản dùng cho nhu cầu cộng đồng người Châu Á trong đó cóViệt kiều
Theo dữ liệu mới nhất được EUMOFA công bố trong năm 2019, mức tiêu thụbình quân đầu người thủy sản ở châu Âu được ghi nhận ở mức 24,3 kg, 3/4 trong
Trang 26số đó là các loài đánh bắt tự nhiên, giảm so với mức tiêu thụ bình quân 24,9 kgtrong năm 2016 Tổng lượng tiêu thụ thủy sản ở châu Âu lên tới 12,77 triệu tấn.Châu Âu là thị trường đa dạng với các đặc điểm tiêu dùng khác nhau, từ mứctiêu thụ bình quân đầu người 5,2 kg ở Hungary đến mức tiêu thụ bình quân đầungười cao nhất ở Bồ Đào Nha là 57 kg (gấp đôi mức trung bình của châu Âu).Nhìn vào biểu đồ dưới đây, bạn sẽ thấy rằng hầu hết các quốc gia tiêu thụ thủysản hàng
Trang 27đầu trong năm 2017 là các quốc gia Nam Âu, cụ thể là Bồ Đào Nha, Tây BanNha, Malta, Pháp và Italia Các sản phẩm chính được tiêu thụ là cá ngừ (chủ yếuđóng hộp), cá tuyết, cá hồi, cá minh thái Alaska, tôm, vẹm và cá trích (EUMOFA,2019).
Hình 5: Mức tiêu thụ thủy sản bình quân của Châu Âu năm 2017
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
Một đặc điểm khác nữa trong thói quen tiêu dùng nói chung và mặt hàng thủyhải sản nói riêng của người Châu Âu là: họ thích sử dụng các sản phẩm có nhãnhiệu nổi tiếng Họ cho rằng nhãn hiệu nổi tiếng cũng đồng nghĩa với chất lượng
và an toàn cho người sử dụng Vì vậy, trong nhiều trường hợp, mặc dùnhững sảnphẩm này giá đắt nhưng họ vẫn mua và không thích chuyển sang tiêu dùng nhữngsản phẩm nhãn khác cho dù giá có rẻ hơn
Mặc dù có sự khác biệt trong tiêu thụ giữa các nước khác nhau nhưng các nhàhàng và dịch vụ ăn uống luôn là mảng thị trường lớn nhất Ở nhiều nước, mảngthị trường này chiếm tới 3/4 mức tiêu thụ Dù thủy sản được tiêu thụ tại nhà hànghay gia đình thì đều phải qua vài dạng sơ chế trước khi tới tay người mua Giữacác nước, thói quen ăn uống cũng rất khác nhau Mức tiêu thụ thủy sản theo đầungười dao động từ 15- 17 kg Việc thay đổi lối sống dẫn đến thay đổi cách ănuống và thói quen mua bán Nhiều phụ nữ ngày nay đi làm chứ không ở nhà nên
họ đánh giá cao sự tiện lợi của các thực phẩm ăn liền, thường là ở dạng đóng góiđông lạnh Cũng như vậy, mức tiêu thụ sản phẩm đông lạnh tại nhà hàng và dịch
vụ ăn uống càng tăng Người Bắc Âu không có truyền thống ăn thủy sản thì nay
Trang 28đang quen dần với nó Chính những chuyến nghỉ cuối tuần tới các nước khác gópphần cho các thay đổi trên Những khuynh hướng trên hy vọng sẽ đem đến nhữngthay đổi tích cực trong việc bán thủy sản.
Trang 292.2.2 Các thị trường chính của EU
Do ảnh hưởng của đại dịch, nguồn cung và thị trường chính ở Châu Âu bất
ổn, nhiều quốc gia tiêu thụ thủy sản chính ở châu Âu như Italia, Pháp và Tây BanNha đã bị ảnh hưởng Các công ty NK gặp nhiều khó khăn về mặt tài chính, nhiềudoanh nghiệp đóng cửa hoặc đối mặt với tình trạng nguy hiểm Ngành chế biếnthủy sản cũng bị ảnh hưởng vì các nhà máy giảm công suất do các biện pháp giãncách xã hội Trong bối cảnh bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, thật khó để đưa ranhững dự đoán hoặc kết luận chính xác về thị trường Tuy nhiên, Châu Âu vẫn làthị trường chính đối với sản phẩm thủy sản của những quốc gia đang phát triển.Bên cạnh đặc điểm tiêu dùng đa dạng, nhiều nước NK lớn của Châu Âu đồng thờicũng là những nhà chế biến có công suất chế biến lớn nên họ phải NK nguyên
liệu thô
Hình 6: Top những nước Nhập khẩu thủy sản từ các nước đang phát triển của EU
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
2.2.2.1.Nam Âu: Nơi tiêu thụ và sản xuất thủy sản lớn nhất Châu Âu
Nam Âu đem lại cơ hội cao nhất cho các nhà xuất khẩu muốn xuất khẩu sảnphẩm thủy sản đến khu vực này Ngoài tỷ lệ tiêu thụ thủy sản cao trong khối này,Tây Ban Nha, Italia và Pháp cũng là các quốc gia chế biến lớn ở Châu Âu Nam
Âu bao gồm các quốc gia ven biển Địa Trung Hải Trong nghiên cứu này, Nam
Âu bao gồm các nhà nhập khẩu hàng đầu là Tây Ban Nha, Pháp, Italia, Bồ ĐàoNha và Hy Lạp
Trang 30Hình 7: Xuất khẩu từ các nước đang phát triển sang thị trường chính Nam Âu
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
Nam Âu nhập khẩu 9,3 tỷ USD các sản phẩm thủy sản từ các nước đang pháttriển, chiếm 82% tổng kim ngạch NK từ bên ngoài Liên minh châu Âu (11,4 tỷUSD) Bốn nhóm sản phẩm NK chính của Nam Âu từ các quốc gia đang pháttriển bao gồm thủy sản thân mềm (chủ yếu là mực ống và mực nang) với giá trị2,3 tỷ USD, giáp xác như tôm (2,1 tỷ USD), thủy sản chế biến và bảo quản nhưthăn cá ngừ và cá ngừ đóng hộp với giá trị 1,8 tỷ USD và phi lê thủy sản như cátra (1,1 tỷ USD)
Tây Ban Nha, Italia, Pháp, Bồ Đào Nha và Hy Lạp là các quốc gia Nam Âu
NK nhiều nhất từ các quốc gia phát triển Năm 2019, NK của Nam Âu chiếm60,2% tổng NK của Châu Âu từ các quốc gia phát triển Tây Ban Nha dẫn đầuvới giá trị NK đạt 4,4 tỷ USD, tiếp theo là Italia với 2,2 tỷ USD và Pháp với 1,8
tỷ USD
Trong năm 2018, hầu hết các nước Nam Âu đều tăng giá trị NK từ các nướcđang phát triển Tuy nhiên, vào năm 2019 ta có thể thấy trên biểu đồ, 4 quốc giahàng đầu đã giảm giá trị NK Giá trị NK của Tây Ban Nha đã giảm từ 4,7 tỷ USDtrong năm 2018 xuống còn 4,4 tỷ USD năm 2019, giảm 6% trong khi Italia vàPháp đều giảm 8% trong cùng thời kỳ Biến động tỷ giá hối đoái đã giúp hạn chế
sự sụt giảm này, tính theo đồng EUR, giá trị NK của Tây Ban Nha giảm 1,6%, giátrị NK của Pháp và Italia giảm lần lượt 3,2% và 3,8%
Tây Ban Nha, quốc gia có ngành chế biến lớn, chủ yếu nhập khẩu thủy sảnthân mềm, giáp xác và đồ hộp (cá ngừ và cá thu) Đây là một thị trường quantrọng vì quốc gia này NK để chế biến và tái xuất một lượng lớn thủy sản Italia
Trang 31cũng là một quốc gia có nhu cầu lớn về cá cơm và cá ngừ, trong khi Pháp chủ yếu
NK tôm, thủy sản thân mềm và thủy sản đóng hộp như cá mòi và cá ngừ Như cácnước ở Tây Bắc Âu, Pháp cũng ưu tiên NK thủy sản bền vững và là thị trường lớnnhất Châu Âu về sản phẩm tôm hữu cơ
Năm 2019, hai nhà cung cấp hàng đầu cho Nam Âu là Ecuador (1,16 tỷUSD), chủ yếu cung cấp cá ngừ và tôm và Maroc (1,12 tỷ USD), chủ yếu XKthủy sản
Trang 32thân mềm Các nhà cung cấp thủy sản lớn khác cho Nam Âu là Trung Quốc (893triệu USD), Argentina (679 triệu USD) và Ấn Độ (466 triệu USD).
Vì ngành chế biến của Nam Âu cũng bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, đặcbiệt là ở Tây Ban Nha và Pháp, NK trong nửa đầu năm 2020 giảm, sự phục hồi
dự kiến chỉ bắt đầu vào nửa cuối năm
2.2.2.2.Tây Bắc Âu: Thị trường tiêu thụ đồng thời là nhà giao dịch
Ngoài Nam Âu, cũng có nhiều cơ hội ở thị trường Tây Bắc Âu Tây Bắc Âu,trong nghiên cứu này, bao gồm các quốc gia NK hàng đầu như Hà Lan, Bỉ, Đức
và Vương quốc Anh Nhìn chung, Bắc Âu NK hơn 5 tỷ USD các sản phẩm thủysản từ các quốc gia đang phát triển, chiếm 72,4% tổng kim ngạch NK từ bênngoài Liên minh Châu Âu (6,9 tỷ USD)
Tây Bắc Âu đã NK tổng cộng 5,1 tỷ USD từ các nước đang phát triển trongnăm 2019, chiếm 32% tổng NK của Châu Âu từ các nước đang phát triển Vươngquốc Anh và Hà Lan là hai quốc gia hàng đầu NK từ các nước đang phát triển,với tổng giá trị NK lần lượt là 1,54 tỷ USD và 1,52 tỷ USD So với năm 2018, giátrị NK tăng 2% đối với Vương quốc Anh và 1% với Hà Lan Các nhà NK lớn tiếptheo là Đức và Bỉ
Hình 8: Xuất khẩu những nước đang phát triển sang các thị trường chính Tây Bắc Âu
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
Bởi vì, Vương quốc Anh đã rời khỏi Liên minh Châu Âu sau một cuộc trưngcầu dân ý, nhưng quốc gia này sẽ vẫn là một phần của Liên minh về thương mạiquốc tế cho đến cuối năm 2020 và đây là một quốc gia NK, có chuỗi cung ứng
Trang 33riêng của mình Nếu các doanh nghiệp muốn xuất khẩu sản phẩm đến thị trườngnày thì sẽ phải chịu thêm các chi phí như như các quy định và kiểm tra bổ sung,làm cho sản phẩm của Việt Nam kém cạnh tranh hơn.
Tây Bắc Âu NK ba nhóm sản phẩm chính từ các nước đang phát triển, baogồm phi lê cá, thịt cá khác (1,5 tỷ USD), thủy sản giáp xác (1,2 tỷ USD) và thủysản chế
Trang 34biến và bảo quản như cá ngừ đóng hộp (1,07 tỷ USD) Năm 2019, Tây Bắc Âu
NK 22% tổng sản phẩm thủy sản của mình từ bên ngoài Châu Âu và các nướcđang phát triển
Các thị trường cung cấp chính cho Tây Bắc Âu bao gồm Trung Quốc (1,1 tỷUSD), Việt Nam (815 triệu USD), Ấn Độ (379 triệu USD) và Ecuador (371 triệuUSD) Trung Quốc là nhà cung cấp lớn nhất đối với cá phi lê đông lạnh tái chế,Việt Nam là nhà cung cấp tôm và phi lê cá đông lạnh lớn nhất, Ấn Độ là nhà cungcấp tôm lớn thứ hai, Ecuador là nhà cung cấp cá ngừ đóng hộp lớn nhất và ThổNhĩ Kỳ là nhà cung cấp phi lê cá lớn
Dịch COVID-19 tác động rất lớn đến các nhà NK và các nhà giao dịch, gây ranhững thách thức về hậu cần và cung ứng ở các nguồn cung Có một lượng lớnhàng tồn kho và hàng hóa di chuyển chậm chạp Ngành dịch vụ ăn uống ở châu
Âu bị đóng cửa và các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề Các nước ở khu vựcnày bắt đầu mở cửa trở lại các ngành dịch vụ thực phẩm của họ vào tháng 6/2020,nhưng áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội Phải mất một thời gian để lĩnhvực dịch vụ ăn uống có thể phục hồi
2.2.2.3.Đông Âu: một thị trường nhỏ hơn, nhưng đang phát triển
Đông Âu bao gồm 11 quốc gia: Bulgaria, Croatia, Cộng hòa Séc, Estonia,Hungary, Latvia, Lithuania, Ba Lan, Romania, Slovakia và Slovenia Các thịtrường lớn nhất ở Đông Âu bao gồm Ba Lan, Cộng hòa Séc, Romania, Croatia vàEstonia Các quốc gia này NK tổng cộng 458 triệu USD thủy sản từ các quốc giaphát triển Nhìn chung, Đông Âu NK các sản phẩm thủy sản trị giá 550 triệu USD
từ các quốc gia đang phát triển, chiếm 52% tổng kim ngạch NK từ bên ngoài Liênminh Châu Âu (1 tỷ USD)
Trang 35Hình 9: Xuất khẩu từ các nước đang phát triển sang các thị trường chính Đông Âu
Nguồn: Số liệu thống kê - http://vasep.com.vn/
Trang 36Ba Lan, nhà NK lớn nhất từ các quốc gia đang phát triển ở Đông Âu, tăng12% về giá trị NK từ các nước đang phát triển trong năm 2019, lên tới 281 triệuUSD (từ 250 triệu USD năm 2018) Ba Lan chiếm gần 50% kim ngạch NK củaĐông Âu từ các quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, Cộng hòa Séc (tăng 18%) vàCroatia (tăng 16%) cũng chứng kiến mức NK trực tiếp tăng trong năm 2019 Tuymức NK của các quốc gia ở khu vực này không đáng kể so với các quốc gia châu
Âu khác, nhưng sự gia tăng ổn định của các quốc gia này rất hứa hẹn
Sản phẩm NK của Đông Âu từ các nước đang phát triển chủ yếu bao gồm phi
lê cá đông lạnh, trị giá 292 triệu USD (chủ yếu là cá minh thái Alaska và cáhake), thủy sản chế biến và bảo quản (chủ yếu là cá ngừ) trị giá 104 triệu USD vàcác loài giáp xác (chủ yếu là tôm) với giá trị 48 triệu USD
Các nhà cung cấp chính của Đông Âu từ các nước đang phát triển là TrungQuốc (cá minh thái Alaska và cá hồi), Việt Nam (tôm và cá tra), Ecuador (cá ngừ)
và Argentina (cá ngừ) Trung Quốc là nước duy nhất XK hơn 100 triệu USD đếnĐông Âu Bốn quốc gia còn lại XK từ 25 đến 60 triệu đô USD mỗi quốc gia
NK thủy sản của Đông Âu có thể sẽ tiếp tục tăng bởi vì quan điểm coi thủysản như một phần protein tiêu thụ hàng ngày Tuy nhiên, khi khu vực này khủnghoảng kinh tế do dịch COVID-19, các nước Đông Âu như Cộng hòa Séc,Slovakia và Hungary là một số trong những quốc gia đầu tiên thực thi các biệnpháp phong tỏa để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh
Theo dự đoán của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu Âu (EBRD), Đông
Âu có thể được hưởng lợi từ chuỗi cung ứng chuyển dịch sau COVID-19, khinhiều công ty châu Âu làm cho hoạt động kinh doanh của họ ít phụ thuộc hơn vàoTrung Quốc Đối với các nhà XK của các quốc gia đang phát triển, đây có thể là
cơ hội để theo dõi khi các nước Đông Âu phục hồi chậm EBRD dự đoán các nềnkinh tế của Trung Âu và các nước Baltic sẽ giảm 4,3% trong năm nay, nhưng cóthể phục hồi với mức tăng 4,5% trong năm tới
2.2.3 Các sản phẩm có tiềm năng từ các quốc gia đang phát triển trên thị
trường thủy sản châu Âu
Trong năm 2019, các nhóm mã hàng quan trọng nhất mà Châu Âu NK baogồm HS0306 (giáp xác), HS1604 (thủy sản chế biến và bảo quản), HS0307(nhuyễn thể) và HS0304 (cá phi lê và thịt cá khác) Các sản phẩm này chiếm hơn80% tổng giá trị NK Trong các nhóm hàng này, các mặt hàng quan trọng nhấtbao gồm tôm, cá ngừ, mực nang, mực ống và nhiều loại cá phi lê khác
Giá trị NK các mặt hàng thủy sản đã giảm từ 15,8 tỷ USD năm 2018 xuống
Trang 37còn 15,1 tỷ USD năm 2019 Giá trị NK giảm nhẹ ở một số loài như HS0306 (giápxác), HS0307 (nhuyễn thể) và HS0304 (phi lê cá).
Như chúng ta đã biết, kể từ đầu năm 2020, thế giới đã phải đối mặt với cácvấn đề bắt nguồn từ đại dịch COVID-19 Điều quan trọng cần lưu ý là do tácđộng của
Trang 38đại dịch đến các thị trường lớn và các nguồn cung, hành vi tiêu dùng và mua hàng
đã thay đổi
Các quốc gia cung ứng bị ảnh hưởng nặng nề chỉ bắt đầu phục hồi sản xuấtvào tháng 4/2020, khi các nhà máy chế biến bắt đầu hoạt động sản xuất trở lại.Trong dài hạn, khối lượng sản xuất cũng có thể bị ảnh hưởng do người nuôi trìhoãn thả giống do nhận thấy nhu cầu không sớm tăng
Tuy nhiên, nhu cầu trên các thị trường chính tăng lên đối với các sản phẩmtiện lợi dễ chế biến và sử dụng trong hộ gia đình Mặc dù chưa có sẵn dữ liệu,chúng tôi dự đoán việc mua thủy sản đông lạnh sẽ tăng lên, cũng như các sảnphẩm chế biến và chế biến sẵn, vì người tiêu dùng không sẵn lòng mua các sảnphẩm thủy sản tươi trên thị trường
2.2.3.1.Giáp xác
Các loài giáp xác chiếm 24% tổng kim ngạch NK của châu Âu từ các nướcđang phát triển, với tổng trị giá lên tới 3,7 tỷ USD Trong tổng khối lượng NKgiáp xác của châu Âu, khoảng 87% có nguồn gốc từ các nước đang phát triển.Giáp xác XK sang châu Âu từ các nước đang phát triển bao gồm nhiều loại sảnphẩm đông lạnh Các mặt hàng quan trọng gồm tôm nước ấm (95%), tôm hùm đá(2,5%) và cua (1%)
Hầu hết các loài giáp xác mà các nước châu Âu thu mua là tôm nước ấm đônglạnh (3,5 tỷ USD) Tôm nước ấm bao gồm tất cả các loại tôm, nhưng phần lớn làtôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương từ Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Ecuador.Một loài tôm nước ấm khác được XK sang châu Âu với số lượng lớn là tôm sú,
có nguồn gốc chủ yếu từ Bangladesh, Việt Nam và Madagascar
Có hai cách chính để tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương được NK vào thịtrường châu Âu Các sản phẩm này có thể được bán qua các kênh bán lẻ hoặcdịch vụ thực phẩm hoặc các sản phẩm này có thể được chuyển đến các nhà chếbiến để tiếp tục chế biến trước khi được tiêu thụ
Tất cả các nước Châu Âu đều NK sản phẩm tôm thẻ chân trắng Thái BìnhDương lột vỏ, chủ yếu từ Ấn Độ và Việt Nam Tôm thẻ chân trắng Thái BìnhDương không chỉ được NK dưới danh mục động vật giáp xác (HS0306), mà cònđược NK theo danh mục giáp xác chế biến và bảo quản (HS1605) Tôm thẻ chântrắng Thái Bình Dương NK dưới dạng chế biến và bảo quản đã trải qua ít nhất 2bước xử lý Ví dụ, sản phẩm được luộc và bóc vỏ Tôm chế biến và bảo quảnchiếm khoảng 23% tổng NK tôm nước ấm của Châu Âu
Liên quan đến các sản phẩm tôm tái chế, các nhà chế biến Nam Âu ở Tây Ban
Trang 39Nha, Pháp và Italia mua tôm còn nguyên đầu, nguyên vỏ từ Ecuador và một sốquốc gia ở Trung Mỹ Họ luộc tôm tại các cơ sở của mình ở Châu Âu và bán sảnphẩm này dưới dạng các sản phẩm chín, làm mới sản phẩm trong thị trường nội
bộ của mình