1 22 MBTH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC KINH TẾ PHÁT TRIỂN TÊN BÀI THU HOẠCH QUAN ĐIỂM CỦA.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II
BÀI THU HOẠCH
LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỆ TẬP TRUNG
TÊN MÔN HỌC: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
TÊN BÀI THU HOẠCH: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII – VẬN DỤNG VÀO CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ CHUYỂN
ĐỔI SỐ Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ
- NĂM 2022
Trang 21 Cơ sở lý luận về chuyển đổi số và vai trò của chuyển
đổi số đối với phát triểnkinh tế ở Việt Nam 2
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chuyển đổi số 31.3 Vai trò của chuyển đổi số đối với sự phát triển kinh tế 4
2 Chuyển đổi số theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng 52.1 Quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
2.2 Những vấn đề về chuyển đổi số cần quán triệt thực hiện
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng 6
3 Thực hiện cải cách hành chính và chuyển đổi số ở tỉnh
3.1 Khái quát thực trạng công tác cải cách hành chính và
chuyển đổi số ở tỉnh Bình Phước hiện nay 143.2 Những định hướng và giải pháp cải cách hành chính và
chuyển đổi số ở tình Bình Phước hiện nay 18
Trang 3Phần I: MỞ ĐẦU
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư (Cách mạng 4.0) cùng vớinhững thành tựu quan trọng như trí tuệ thông minh (AI), Internet kết nối vạnvật (IoT), điện toán đám mây… được dự báo sẽ làm thay đổi một cách cơ bảnlối sống, cách giao tiếp, phương thức làm việc của con người; tạo cơ hội pháttriển bứt phá ngoạn mục trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội trong đờisống nhân loại Tuy nhiên, dù tiềm năng và lợi thế do nó đem lại rất lớn, songvấn đề mấu chốt nhất là phải nắm được chìa khóa ứng dụng thành công côngnghệ số vào công tác quản lý, vận hành Trong đó, vấn đề được các nền kinh
tế và nhiều quốc gia quan tâm nhắc đến trong thời gian qua chính là quá trìnhchuyển đổi số
Trong những năm qua, kinh tế số Việt Nam đã phát triển nhanh chóng
cả nền tảng hạ tầng lẫn thị trường kinh doanh Với dân số gần 100 triệungười, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ pháttriển kinh tế số ở mức khá trong khu vực ASEAN Việt Nam đã ghi nhận sựxuất hiện xu hướng số hóa ở nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế, từ thương mại,thanh toán cho đến giao thông, giáo dục, y tế Phát triển kinh tế số sẽ nângquy mô và tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế, vì đây là cách thức tốt nhất đểtăng năng suất lao động - một yếu tố mà Việt Nam còn thấp so với các nướctrong khu vực Ngoài ra, kinh tế số cũng giúp tăng trưởng bền vững hơn, bởiphát triển công nghệ sẽ cho những giải pháp tốt, hiệu quả hơn đối với việc sửdụng tài nguyên, xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường Đồng thời, với chiphí tham gia thấp và dễ tiếp cận, kinh tế số cũng tạo ra cơ hội cho nhiều ngườihơn, cho mọi thành phần và khu vực, qua đó góp phần làm giảm khoảng cách
giàu nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội Do đó, nghiên cứu vấn đề “Quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chuyển đổi số trong văn kiện Đại hội XIII – Vận dụng vào công tác cải cách hành chính và chuyển đổi số ở tỉnh
Trang 4Bình Phước hiện nay” là đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu
sắc
Phần II Nội dung
1 Cơ sở lý luận về chuyển đổi số và vai trò của chuyển đổi số đối với phát triểnkinh tế ở Việt Nam
1.1 Khái niệm chuyển đổi số
Chuyển đổi số là một trong những mục tiêu được quan tâm hàng đầucủa các doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam Chính phủ Việt nam cũng đặcbiệt quan tâm đến vấn để chuyển đổi số trong cuộc cách mạng công nghiệp4.0 và giao cho Bộ Thông tin &Truyền thông xây dựng Đề án Chuyển đổi sốquốc gia và trình Đề án cho Thủ tướng ngay trong năm 2019
Tuy nhiên, để có thể định nghĩa một cách ngắn gọn và dễ hiểu thìchuyển đổi số (Digital Transformation trong tiếng Anh) là sự tích hợp cáccông nghệ kỹ thuật số vào tất cả các lĩnh vực của một doanh nghiệp, tận dụngcác công nghệ để thay đổi căn bản cách thức vận hành, mô hình kinh doanh
và cung cấp các giá trị mới cho khách hàng của doanh nghiệp đó cũng nhưtăng tốc các hoạt động kinh doanh Chuyển đổi số cũng là một sự thay đổi vềvăn hóa của các doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục thayđổi, thử nghiệm cái mới và thoải mái chấp nhận các thất bại
Tại Việt Nam, khái niệm “Chuyển đổi số” thường được hiểu theo nghĩa
là quá trình thay đổi từ mô hình doanh nghiệp truyền thống sang doanhnghiệp số bằng cách áp dụng công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data),Internet cho vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud)… nhằm thay đổiphương thức điều hành, lãnh đạo, quy trình làm việc, văn hóa công ty
Không chỉ có vai trò quan trọng tại các doanh nghiệp mà chuyển đổi sốcòn đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực khác của xã hội như chính phủ,truyền thông đại chúng, y học, khoa học
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chuyển đổi số
Trang 5Thuật ngữ chuyển đổi số chưa xuất hiện ở thế kỷ XVIII, XIX, tuynhiên, hơn một thế kỷ rưỡi trước đây, C Mác và Ph.Ăngghen đã dự báo rằng,trong nền văn minh mới của nhân loại, khoa học và công nghệ sẽ phát triểnnhư vũ bão, nó sẽ tạo ra những đột biến đáng kể trong lực lượng sản xuất; cácthế hệ máy móc mà nền công nghiệp cơ khí tạo ra sẽ không còn chỗ đứng bởi
sự xuất hiện những loại máy móc đặc biệt tinh khôn, có thể thay thế sức laođộng của hàng trăm con người và những dây chuyền được coi là hiện đại nhất
để làm ra khối lượng sản phẩm hàng hóa khổng lồ với giá thành rẻ nhất,nhưng chất lượng tốt nhất
Theo C Mác và Ph.Ăngghen, những phát minh mới do con người tạo ra
và chính nó đưa loài người bước vào kỷ nguyên mới, mà ở đó, sẽ xuất hiệnnhững điều khác biệt đến mức đặc biệt phức tạp, mà ngay những người phátminh ra nó cũng không thể đoán định, lường hết những ưu thế, sức mạnh vàtác hại do nó tạo ra [1, tr.189]
Thực tiễn sản xuất xã hội sản sinh ra những công cụ lao động mới nhờ sựphát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật và công nghệ; song nó cũng đặt ranhững vấn đề mới đòi hỏi các nhà triết học - khoa học tự nhiên phải có cáchnhìn mới và sự giải thích cặn kẽ nguyên nhân xuất hiện các vấn đề mới trênlập trường duy vật biện chứng - không có cách nào khác; bởi lẽ, đứng trướcphép biện chứng duy vật thì mọi sự vật, hiện tượng đều vận động và phát triểntheo quy luật vốn có của nó và do đó, khoa học và công nghệ đang trở thànhlực lượng sản xuất trực tiếp, thay thế sức mạnh của con người trong khámphá, chinh phục thế giới, cũng là một lẽ đương nhiên Điều đó buộc chúng taphải nhận thức đúng và có lời giải đáp
Với cách nhìn như vậy, sự xuất hiện cuộc cách mạng công nghiệp lầnthứ 4 (4.0) với sự thay đổi mang tính bước ngoặt, làm đảo lộn tất cả quanđiểm, cách nhìn nhận cũ của con người về thế giới đương đại và những điềutất yếu mà nó tạo ra với những chuyển biến, những xáo trộn chưa từng thấytrong lịch sử nhân loại cũng là một lẽ đương nhiên Vấn đề là chúng ta nhận
Trang 6thức quy luật vận động, phát triển của nó đến đâu và cách ứng xử như thế nàocho phù hợp.
1.3 Vai trò của chuyển đổi số đối với sự phát triển kinh tế
Trước hết, chuyển đổi số thực sự mang lại rất nhiều lợi ích cho mọi mặthoạt động của doanh nghiệp: từ điều hành quản lý đến nghiên cứu, kinhdoanh…đó là cắt giảm chi phí vận hành, tiếp cận được nhiều khách hàng hơntrong thời gian dài hơn, lãnh đạo ra quyết định nhanh chóng và chính xác hơnnhờ hệ thống báo cáo thông suốt kịp thời, tối ưu hóa được năng suất làm việccủa nhân viên những điều này giúp tăng hiệu quả hoạt động và tính cạnhtranh của tổ chức, doanh nghiệp được nâng cao Mục đích cuối cùng mà cácdoanh nghiệp chuyển đổi số hướng đến bao gồm: Tăng tốc độ ra thị trường;Tăng cường vị trí cạnh tranh trên thị trường; Thúc đẩy tăng trưởng doanh thu;Tăng năng suất của nhân viên; Mở rộng khả năng thu hút và giữ chân kháchhàng
Hai là, đối với xã hội, chuyển đổi số làm thay đổi cách chúng ta sống,làm việc và giao dịch với nhau Còn đối với nhà nước, chuyển đổi số dùng dữliệu và công nghệ số để thay đổi trải nghiệm người dùng với các dịch vụ donhà nước cung cấp, thay đổi quy trình nghiệp vụ, thay đổi mô hình và phươngthức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước
Ba là, chuyển đổi số còn góp phần gia tăng năng suất lao động Nghiêncứu của Microsoft cho thấy, năm 2017, tác động của chuyển đổi số tới tăngtrưởng năng suất lao động ở vào khoảng 15%, đến năm 2020, con số này là21%
2 Chuyển đổi số theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
2.1 Quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về chuyển đổi số
Tại các văn kiện Đại hội XI, XII, khái niệm kinh tế số chưa được nhắcđến, thay vào đó là khái niệm kinh tế tri thức Thế nhưng ở các Dự thảo Văn
Trang 7kiện trình Đại hội XIII, kinh tế số đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong cảmục tiêu lẫn chiến lược Từ kinh tế tri thức tới kinh tế số là một bước chuyểnđổi mang tính rõ ràng, cụ thể hơn, dễ định lượng và dễ thực hiện, phù hợp với
xu thế hơn
Với ý nghĩa đó, Đại hội Đảng lần thứ XIII đã nhất trí thông qua Nghịquyết của Đại hội, khẳng định rõ “đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứngdụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thànhtựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi sốquốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sứccạnh tranh của nền kinh tế là một khâu đột phá trong phát triển kinh tế - xãhội” [2, tr.189] Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cáchmạng công nghiệp lần thứ tư, đặt mục tiêu đến năm 2025, nền kinh tế số ViệtNam sẽ đạt 20% GDP, phát triển được một cộng đồng doanh nghiệp côngnghệ số Việt Nam lớn mạnh Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc giađến năm 2025, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu Việt Nam thuộcnhóm 50 nước dẫn đầu về chính phủ điện tử, liên quan đến phát triển kinh tế
số, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mục tiêu đến năm 2025 làkinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạttối thiểu 10%; đến năm 2030, kinh tế số chiếm 30% GDP
Chỉ thị 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 14/1/2020
về “Thúc đẩy phát triển công nghệ số Việt Nam” đã đưa ra nhận định: Dựatrên nền tảng của nhiều công nghệ mới mà cốt lõi là công nghệ số (trí tuệnhân tạo, học máy sâu, dữ liệu lớn, chuỗi khối, điện toán đám mây, internetvạn vật, ), chuyển đổi số đang tạo ra không gian phát triển mới - kinh tế số,
xã hội số, Chính phủ điện tử Đặc biệt, chuyển đổi số mở ra cơ hội to lớn choViệt Nam phát triển đột phá, nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển cũngchỉ mới bắt đầu quá trình chuyển đổi số
Trang 82.2 Những vấn đề về chuyển đổi số cần quán triệt thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Thực hiện mục tiêu phát triển 2030 và tầm nhìn 2045, một trong nhữngquan điểm phát triển được Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Phát triển nhanh vàbền vững, dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyểnđổi số Phải đổi mới tư duy và hành động Chủ động nắm bắt kịp thời, tậndụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn vớiquá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xãhội số, coi đây là nhân tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệuquả và sức cạnh tranh” [2, tr.214] Đại hội cũng khẳng định, cùng với sự pháttriển mạnh mẽ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là mộttrong ba trụ cột để thực hiện phát triển nhanh, phát triển bền vững; đồng thời
là một trong những khâu đột phá lớn, góp phần “tạo bứt phá về năng suất,chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh” [2, tr.221] Quán triệt quan điểm củaĐại hội, cần nắm vững một số vấn đề sau:
Trước hết, phải đổi mới tư duy phát triển, nhận thức đúng về vai trò của chuyển đổi số trong tiến trình sự nghiệp đổi mới
Chuyển đổi số là thay đổi thói quen hoạt động từ môi trường thực sangmôi trường ảo (môi trường số), là vấn đề chưa có tiền lệ, nên phá vỡ thói quen
và nhận thức đúng về chuyển đổi số là việc khó Vì vậy, chuyển đổi số là vấn
đề nhận thức chứ không phải là vấn đề công nghệ, là chuyện dám làm haykhông dám làm của người lãnh đạo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10năm 2021-2030 của Đại hội XIII nêu rõ: đứng trước bối cảnh đầy khó khănthách thức, phải “đổi mới tư duy phát triển, thay đổi cách làm việc, cách sống,đẩy mạnh cải cách thể chế, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mớisáng tạo; thực hiện quyết liệt chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số, xã hội
số, kích cầu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng quy mô lớn, thúc đẩy tiêu dùngnội địa, giải quyết việc làm”[2, tr.221]
Trang 9Có thể thấy, sau khái niệm kinh tế tri thức được đề cập trong các vănkiện Đại hội XI, XII, đến Đại hội XIII, kinh tế số đã được nhắc đi nhắc lạinhiều lần trong cả mục tiêu lẫn chiến lược Kết quả bước đầu trong triển khaiứng dụng công nghệ số đã góp phần tối ưu năng suất làm việc của người laođộng; tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp; giảm chi phí vận hành; rút ngắnthời gian ra quyết định của các lãnh đạo nhờ vào hệ thống báo cáo kịp thời,chính xác; giúp tăng trải nghiệm của người dân đối với dịch vụ hành chínhcông, cải tiến quy trình cung cấp dịch vụ theo hướng chuyên nghiệp…
Trong thực tiễn, chuyển đổi số đã được các doanh nghiệp lớn và một sốquốc gia phát triển trên thế giới áp dụng và gặt hái thành công trong quá trìnhtạo lập nền kinh tế số, góp phần tạo ra những chuyển biến lớn cho nhiều nềnkinh tế Nghiên cứu của Microsoft tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương năm
2017 chỉ ra chuyển đổi số giúp năng suất lao động khu vực này tăng 15% và
dự đoán đến năm 2020 là 21%; đồng thời, tác động của chuyển đổi số mangđến cho GDP ở khu vực này khoảng 6% trong năm 2017, năm 2019 là 25%
và dự đoán năm 2021 là 60% Nghiên cứu do McKensey thực hiện cho thấymức độ tác động đến GPD tại Mỹ là 25%, Brazil là 35% và các nước Châu
Âu khoảng 36%[5]
Theo nhận định của các tổ chức uy tín trên thế giới: quyết tâm chuyểnđổi số mạnh mẽ sẽ giúp Việt Nam tăng năng suất lao động lên từ 30 đến 40%,đóng góp từ 20 đến 30% vào tăng trưởng GDP, tránh được bẫy thu nhập trungbình Thống kê cụ thể cho thấy: năm 2015 kinh tế số ở Việt Nam đạt quy môkhoảng 3 tỷ USD, đến năm 2019 giá trị đó đạt khoảng 12 tỉ USD, gấp 4 lầnnăm 2015, đóng góp 5% vào GDP của quốc gia Báo cáo của Google vàTemasek (Singapore) dự báo đến năm 2025, nếu giữ vững đà tăng trưởng quy
mô nền kinh tế số tại Việt Nam sẽ đạt con số 30 tỷ USD Còn theo báo cáo
“Nền kinh tế số Đông Nam Á 2019”, giá trị đó sẽ chạm mốc 43 tỉ USD vớicác lĩnh vực: thương mại điện tử, du lịch trực tuyến, truyền thông trực tuyến
và gọi xe công nghệ [4]
Trang 10Thương mại điện tử hiện nay là một mô hình kinh tế số có đóng góplớn cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân của nhiều quốc gia Ở ViệtNam, tuy hình thành muộn hơn nhiều so với mô hình kinh doanh truyềnthống, nhưng mức tăng trưởng của thương mại điện tử trong 4 năm qua luônđạt trung bình 30%/năm: từ xấp xỉ 3 tỷ USD năm 2015, tăng lên khoảng 7,8
tỷ USD năm 2018 Nếu tiếp tục giữ vững “phong độ”, quy mô thương mạiđiện tử ở Việt Nam có thể đạt 13 tỷ USD - cao hơn khoảng 30% so với mụctiêu được nêu trong Kế hoạch phát triển Thương mại điện tử giai đoạn 2016 -
2020 của Việt Nam [3]
Thực tiễn trên đặt ra vấn đề cần phải chuyển đổi một cách cơ bản, toàndiện phương thức quản lý, vận hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế,chính trị, xã hội, mà chuyển đổi số là mắt khâu đóng vai trò cực kỳ quantrọng, không thể thiếu Trên cơ sở những đánh giá, phân tích thực tiễn, nhậnthức đúng thời cơ, vai trò quan trọng của Cách mạng 4.0 đối với sự nghiệpđổi mới, Đại hội XIII của Đảng đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 kinh tế
số dự kiến đạt khoảng 20% GDP, ngang bằng với đóng góp của công nghiệpchế biến, chế tạo, tạo thành các mũi nhọn của nền kinh tế Đồng thời, Đại hộiXIII xác định thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số là một trong những trọng tâmchính của nhiệm kỳ tiếp theo: “Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụngtiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu củacuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để khoa học và công nghệ thực sự làđộng lực chính của tăng trưởng kinh tế Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số đểtạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh củanền kinh tế” [2, tr.46]
Chuyển đổi số đòi hỏi quá trình chuyển đổi cả tư duy và hành động.Trong xu thế phát triển hiện nay, để thay đổi mạnh mẽ diện mạo đất nước vàbắt kịp sự phát triển của thời đại cần phải có tư duy mới về phát triển Lựachọn và quyết tâm thực hiện chuyển đổi số, nhằm tiến tới xây dựng nền kinh
tế số, xã hội số theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng là lựa chọn
Trang 11sáng suốt, đúng đắn và là sự vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào thực tiễn phát triển Việt Nam.
Thứ hai, chuyển đổi số phải được tiến hành đồng bộ, toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
Ứng dụng khoa học và công nghệ sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đổimới, sáng tạo như là cầu nối để khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp pháttriển kinh tế - xã hội Cùng với đó là thúc đẩy phát triển và nâng cao hiệu quảhoạt động của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, tạo thành giải pháp tổngthể nhằm thay đổi diện mạo của một quốc gia Do đó, để phát triển nền kinh
tế số, xã hội số, phải thực hiện chuyển đổi số một cách đồng bộ, toàn diện trênmọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội Đại hội XIII đã nêu lênđịnh hướng lớn đó là: “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh
mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềmnăng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng
và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới” [2, tr.115] Theo đó,cần lựa chọn những lĩnh vực ưu tiên, những khâu trọng yếu mang tính quyếtđịnh để triển khai theo lộ trình cụ thể, đó là:
Trước hết, cần tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật phù
hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để tạo môi trường thuận lợi pháttriển nền khoa học Việt Nam và khuôn khổ pháp lý cho việc ứng dụng côngnghệ số vào hoạt động hành chính và kinh tế Phương hướng đầu tiên đượcĐại hội XIII xác định đó là: “Xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý, thửnghiệm cơ chế, chính sách đặc thù để thúc đẩy quá trình chuyển đổi số, kinh
tế số, phát triển các mô hình kinh tế mới, khởi nghiệp sáng tạo…”[2, tr.223]
Thực tế cho thấy, việc chuyển đổi sang nền kinh tế số, xã hội số ở ViệtNam cần có những điều kiện cần thiết về thể chế, bộ máy thực hiện và cácnguồn lực để triển khai các đột phá chiến lược Muốn vậy, cần phải thiết lậpsớm, đầy đủ và đồng bộ các điều kiện về thể chế, bộ máy thực hiện, môi
Trang 12trường kinh doanh, các nguồn lực và con người để tạo “môi trường thuận lợithúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triểnkinh tế số” [2, tr.132] theo những mục tiêu đề ra
Hai là, phải hình thành nền tảng công nghệ số đồng bộ, thống nhất
mang tính quốc gia, làm cơ sở để kết nối, liên thông dữ liệu giữa các ngành,các lĩnh vực và các vùng, địa phương Một trong những khâu mang tính độtphá lớn được Đại hội XIII xác định là: “phát triển mạnh hạ tầng xây dựng vàphát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia, vùng, địa phương kết nối đồng
bộ, thống nhất, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số” [2, tr.222], nhằmnhằm tối ưu chi phí đầu tư, xây dựng bộ cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc sửdụng chung giữa các ngành, “sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực đểnâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh…”, tránh đầu tư dàn trải,lãng phí trong sử dụng nguồn lực và nguồn tài nguyên số hóa
Ba là, lựa chọn phát triển kinh tế số, là một trong những khâu đột phá
quan trọng để phát triển nền kinh tế Việt Nam trong tình hình mới, góp phầnlàm giảm bớt khoảng cách tụt hậu của nền kinh tế Việt Nam so với các nềnkinh tế trên thế giới Đại hội XIII xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới môhình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởngdựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo,nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nângcao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh…” [2, tr.120] Thực tiễn nhữngnăm qua đã chỉ rõ, kinh tế số Việt Nam đã và đang có sự phát triển mạnh mẽtrên nhiều lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội Đảng và Chính phủ cũng đã banhành nhiều chủ trương, chính sách, tạo hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy pháttriển kinh tế số Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế số còn chưa đồng đều giữacác lĩnh vực kinh tế, các vùng miền khác nhau, nhận thức về kinh tế số chưatương xứng trong xã hội và chủ thể kinh doanh
Bốn là, để số hóa nền kinh tế thành công, chuyển đổi số không chỉ tiến
hành trên lĩnh vực kinh tế, mà còn phải tiến hành chuyển đổi cả trong bộ máy