Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm thực vật, hàm lượng geniposid của các giống Dành dành tại Việt Nam” được thực hiện với 2 mục tiêu: - Mô tả đặc điểm hình thái, đặc đ
TỔNG QUAN
Tổng quan về Dành dành
1.1.1.Các nghiên cứu về thực vật của Dành dành
1.1.1.1 Vị trí phân loại và tên khoa học
Theo hệ thống phân loại của Armen Takhtajan trong “Flowering Plants” (2009)
[32], Dành dành được sắp xếp theo thứ tự phân loại như sau:
Phân lớp Hoa Môi (Lamiidae)
Bộ Long Đởm (Rubiales (Gentianales))
Chi Gardenia Ellis Tên khoa học: Gardenia jasminoides J Ellis
Tên đồng nghĩa: Gardenia, Gardenia angustifolia Lodd., Gardenia grandiflora
Lour., Gardenia longisepala (Masam.) Masam., Gardenia maruba Siebold ex Blume, Gardenia pictorum Hassk., Gardenia radicans Thunb., Genipa florida (L.) Baill.,
Genipa grandiflora (Lour.) Baill., Jasminum capense Mill, Gardenia florida L [11], Fructus Gardeniae, Gardenia augusta [26]
Tên thường gọi: Chi tử, Mác làng cương (Tày) (Việt Nam), Cape-Jasmine (Hàn Quốc, Anh), Zhizi (Trung Quốc), Sanshishi (Nhật Bản) [1], [11]
Dành dành (Gardenia jasminoides Ellis) phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ ven biển đến độ cao 1800 m, có nguồn gốc từ Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Nhật Bản, Myanmar, Ấn Độ và Thái Lan Ở Trung Quốc, dành dành xuất hiện ở ít nhất 16 tỉnh, đặc biệt phía nam sông Dương Tử, gồm An Huy, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hà Bắc, Hồ Bắc, Giang Tô, Giang Tây, Sơn Đông, Tứ Xuyên, Đài Loan, Vân Nam và Chiết Giang; đồng thời được trồng nhiều ở Cam Túc, Hà Bắc, Sơn Tây, Giang Tây và Hồ Nam Ở Việt Nam, dành dành mọc hoang dã ven suối và được trồng phổ biến trên khắp các tỉnh đồng bằng và trung du miền Bắc, tập trung tại Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh Nguồn dược liệu dành dành ở Việt Nam tương đối phong phú.
1.1.1.3 Đặc điểm thực vật của Dành dành
Cây bụi cao 0,3–3 m, các cành hình trụ hoặc hơi thon, không có rãnh hoặc gờ đáng kể, hơi dẹt lại, lóng có xu hướng ngắn lại, thân non màu xanh, thân già nâu đen ngả màu xám đến xám trắng và có nốt sần Lá đơn mọc đối, hiếm gặp vòng 3, không cuống hoặc có cuống (cuống lá dài đến 0,2–1 cm); mặt trên phẳng, mặt dưới lồi, màu xanh, không lông hoặc có lông ngắn đến lông dày đặc Gốc phiến lá hình nêm đến nhọn, đầu lá nhọn đến thuôn dài mảnh Phiến lá khi khô mỏng như da hoặc giấy bìa cứng, hình mác thuôn dài, hình trứng thuôn dài, hình trứng, hình bầu dục hoặc hình elip, 3–25 × 1,5–8 cm; mặt trên lá sáng và bóng hoặc đôi khi có lông mềm mịn trên các đường gân chính, không lông hoặc có lông ngắn đến dày đặc, màu xanh đậm ở mặt trên, nhạt ở mặt dưới Gân lá hình lông chim, nổi rõ ở mặt dưới, gân giữa màu trắng, 8–15 đôi, ở nách lá thường có lông tơ Lá kèm của 2 lá mọc đối dính thành 1 ống cao 0,3 cm bao quanh thân, phía trên xẻ thành 1 miếng tam giác mỏng cao 0,5 cm, màu xanh nhạt, có các gân song song.
Hoa to, đơn độc, mọc ở ngọn cành hoặc chỗ phân nhánh của thân Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 6, rất thơm Cuống hoa nhẵn, 1–10 mm, có 6 cạnh lồi, không có lông hoặc có lông ngắn đến dày đặc, màu xanh Lá bắc thường là lá thường Lá đài 6, đều, màu xanh, hàn liền ở gốc tạo thành một ống cao 8 mm, thuôn dần về phía dưới, phía trên chia thành các phần.
Hoa có 6 thùy thuôn nhọn, kích thước 10–12 × 2–3 mm; mỗi lá đài có một sóng giữa chạy dọc xuống bầu noãn và cuống hoa, đài tồn tại và có thể không lông hoặc có lông ngắn đến dày đặc; cánh hoa 6, đều, hợp nhất ở gốc tạo thành ống tràng hình đinh dài 30–50 × 4–6 mm, ở cổ họng có lông tơ và nhẵn, màu xanh nhạt, phía trên chia thành 6 thùy, mỗi thùy hình bầu dục, đầu trắng với kích thước nhỏ, đỉnh mặt dưới mỗi thùy màu ngà vàng, tiền khai vặn theo chiều kim đồng hồ Nhị 6, đều, rời, đính trên miệng ống tràng, xen kẽ với các thùy cánh hoa, chỉ nhị dạng sợi rất ngắn 1 mm, màu trắng ngà Bao phấn thuôn dài 17–18 mm, mặt bụng màu vàng, mặt lưng màu trắng, đỉnh màu trắng; khi hoa nở bao phấn cong queo, ép sát vào các thùy của cánh hoa Hạt phấn rời, màu vàng, chia 3 thùy, kích thước 37,5–50 μm Lỗ noãn 2, vị trí trước sau, bầu dưới 2 ụ, mỗi ụ nhiều noãn, đỉnh noãn trung trụ, bầu noãn màu xanh nhạt có 6 sóng dọc Vòi nhụy hình trụ, màu trắng, nhẵn, đính ở đỉnh bầu, dài gần 40 mm; đầu nhụy hình chùy màu vàng nhạt, chia 2 thùy, trên đầu nhụy có các đường gân dọc Đĩa mật dạng khoen màu vàng nhạt bao quanh gốc vòi nhụy [1], [3], [11], [26], [37], [44].
Quả mọng có nhiều hình dạng, gồm hình thoi, hình trứng hẹp, hình cầu phụ hoặc hình elip, với kích thước khoảng 1,5–7 cm dài và 1,2–2 cm rộng Quả có 5–9 gờ dọc và các thùy đài hoa dài tới 40 × 6 mm, màu từ vàng cam đến đỏ nâu, đôi khi nâu xám hoặc đỏ xám, bề mặt hơi bóng Đỉnh quả lõm, có 5–8 lá đài tồn tại thường bị gãy ngắn Gốc quả hẹp và có vết cuống, vỏ quả mỏng, giòn và hơi bóng.
Quả có vỏ màu vàng ngà đục, bóng và dày hơn so với các mẫu phổ biến Vỏ quả rất mỏng và có 2-3 vách ngăn giả bên trong, tạo nên cấu trúc phân tầng bên trong quả Cuống ngắn chỉ khoảng 0,3 cm và dường như không dài thêm, đồng thời quả còn có 6 sóng dọc màu xanh chạy trên bề mặt, giúp nhận diện đặc trưng của loại quả này.
Hạt dẹt, nhiều, 3 × 2 mm, màu vàng cam, nâu đỏ hoặc nâu đen nhạt, mặt vỏ hạt có rất nhiều hạt mịn Mùi nhẹ Vị hơi chua và đắng [1], [3], [11], [26], [37], [44]
Hình 1.1 Đặc điểm hình thái của Dành dành [37]
1 Cành mang hoa; 2 Tràng hoa, cánh hoa và bao phấn; 3 Mặt cắt dọc của bầu noãn và nhụy; 4 Bao phấn; 5 Quả
Đến nay, dành dành chứa khoảng 162 hoạt chất đã được phân lập và xác định Các nghiên cứu trước đây về dành dành cho thấy cây có phổ hợp chất hóa học đa dạng, gồm iridoid glycosides, sắc tố vàng của cây, flavonoid, monoterpenoid, sesquiterpenoid, triterpenoid, axit hữu cơ và các dẫn xuất của chúng.
Iridoid glycosid là thành phần đặc trưng của Dành dành và là chất chính chịu trách nhiệm cho các tác dụng dược lý của các loại thuốc dược liệu cũng như các chế phẩm từ Dành dành Đến nay đã có 48 iridoid glycosid được phân lập từ Dành dành [9].
Some iridoid glycosides identified include gardoside, shanzhiside, geniposide, geniposidic acid, genipingentiobiodsid, scandoside methyl ester, desacetylasperuloside methyl ester, and gardenoside (Figure 1.2) In 2021, Cao Yan Gang and colleagues isolated four iridoid glycosides, one lignan glycoside, and two lignans that had not been previously reported.
Trong tổng số 48 iridoid glycosid được phân lập từ quả, geniposid và genipin (aglycon của geniposid) là hai hợp chất quan trọng nhất với các tác dụng dược lý riêng biệt Geniposid thể hiện hoạt tính sinh học đáng chú ý và đóng vai trò quan trọng trong dược liệu, trong khi genipin được công nhận như một chất tạo liên kết chéo sinh học nổi bật, góp phần vào cơ chế tác dụng của nhiều chế phẩm từ quả [11], [26].
Những sắc tố vàng của Dành dành là chất màu tự nhiên, quý hiếm, được chiết xuất và tách chủ yếu từ quả Dành dành Đây là một hỗn hợp gồm các carotenoid và các thành phần liên quan, mang lại sắc vàng đặc trưng cùng giá trị dinh dưỡng và ứng dụng tự nhiên trong thực phẩm, làm đẹp và sức khỏe.
Có 5 hợp chất liên quan, ví dụ như crocin và crocetin [1] Crocetin và các dẫn xuất crocetin (CD) nhạy cảm với nhiệt, ánh sáng, pH và các chất phụ gia do cấu trúc có một chuỗi dài cacbon liên hợp Cấu trúc hóa học của sắc tố vàng này được thể hiện trong hình 1.3 [19].
Flavonoid được tìm thấy ở lá, hoa và quả của Dành dành Trong đó có hơn 22 hợp chất flavonoid đã được phân lập và xác định từ cây Dành dành Năm 2013, Song và cộng sự đã thu được và xác định một số flavonoid từ Dành dành, góp phần làm sáng tỏ thành phần hóa học của loài này.
4 hợp chất được khai thác từ lá và hoa Hai năm sau, Wang và cộng sự đã phân lập được một hợp chất có nguồn gốc từ lá và quả [11] Năm 2022, Firman Rezaldi và các cộng sự chứng minh sự có mặt của flavonoid trong lá dành dành và cho thấy flavonoid này có thể được chiết xuất để sản xuất siro hạ sốt [27].
Monoterpenoid là nhóm hợp chất quan trọng đã được phân lập và xác định từ Quả Dành dành, với khoảng 26 monoterpenoid được ghi nhận cho đến nay [9], [12] Trong số đó, 5 hợp chất thuộc dạng monoterpenoid đơn vòng loại pyronan đã được phân lập từ Quả Dành dành lần đầu vào năm 2008 [22].
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguyên vật liệu, thiết bị
Nghiên cứu này phân tích cây dành dành và hàm lượng geniposid của các mẫu thu hái tại các tỉnh miền Bắc (Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Thái Nguyên) và miền Trung (Thanh Hóa, Quảng Bình) Các mẫu được ký hiệu theo địa điểm thu mẫu (viết tắt) kèm số thứ tự để thuận tiện đối chiếu Mỗi mẫu được thu hai lần, vào thời điểm cây ra hoa (10–12/2021) và quả (4–5/2022) Danh sách các mẫu nghiên cứu được thể hiện trong bảng 2.1 Tiêu bản của các mẫu được lưu trữ tại Phòng Tiêu bản cây thuốc Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP).
Bảng 2.1 Danh sách các mẫu Dành dành được nghiên cứu
Tuổi (năm) Mã tiêu bản Nơi thu mẫu Địa chỉ GPS
Tuổi (năm) Mã tiêu bản Nơi thu mẫu Địa chỉ GPS
Địa điểm nghiên cứu được ghi nhận tại tọa độ 21°52'47.9"N 105°44'36.6"E trong khu vực khảo sát Nguyên liệu nghiên cứu thành phần hóa học là quả của 14 mẫu giống Dành dành, đã được bỏ vỏ và sấy khô ở nhiệt độ 55–60 °C, sau đó được bảo quản trong túi PE hai lớp để bảo toàn chất lượng trước khi tiến hành phân tích thành phần hóa học.
2 lớp PE có chứa silicagel, đựng trong hộp nhựa PVC kín, để nơi khô ráo
2.1.2.1 Thiết bị máy móc, dụng cụ a Nghiên cứu đặc điểm thực vật
- Máy ảnh kỹ thuật số Sony 𝛼-6000 (Nhật Bản)
- Kính lúp soi nổi Labomed Luxeo-4Z (Mỹ)
- Kính hiển vi Labomed CxL (Mỹ)
- Tủ sấy Memmert 30-1060 (Đức) b Nghiên cứu hàm lượng geniposid
- Cân phân tích Ohaus PR224 (Trung Quốc)
- Máy sấy ẩm A&D MF-50 (Nhật Bản)
- Máy siêu âm Elmasonic S 30 H (Đức)
- Máy ly tâm Daihan Scientific MaXpin C-6mt (Hàn Quốc)
- Hệ thống máy sắc ký lỏng hiệu năng cao Agilent 1260 Infinity II
- Dụng cụ thủy tinh: bình nón 100ml, ống đong, phễu lọc, bình định mức 100ml,
- Màng lọc Syringe PTFE 0,45 àm (Đài Loan)
2.1.2.2 Hóa chất a Nghiên cứu đặc điểm thực vật
- Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu: javen, acid acetic, xanh methylene, đỏ son phèn, glycerin b Nghiên cứu hàm lượng geniposid
- Chất chuẩn: chất chuẩn geniposid (Chemfaces, VPT0472, độ tinh khiết 98%)
- Dung môi pha động: Methanol (Macron Fine Chemicals, Mỹ), acetonitril (ChromAR HPLC Super Gradient, Mỹ), nước cất 2 lần lọc qua màng lọc cellulose
- Dung môi chiết xuất: Methanol (Merck, Đức).
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu về thực vật
2.2.1.1 Nghiên cứu về hình thái và giám định tên khoa học Đặc điểm hình thái của các mẫu được nghiên cứu theo phương pháp mô tả phân tích [4] Các đặc điểm hình thái được chụp qua máy ảnh Sony 𝛼-6000 , kết hợp với kính lúp soi nổi trên nền nhung đen 53 biến số được sử dụng để mô tả hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt các mẫu nghiên cứu được trình bày trong bảng 2.2
Bảng 2.2 Đặc điểm hình thái của các giống Dành dành
TT Phân nhóm Đặc điểm
1 Thân Hình dạng tiết diện thân, bề mặt thân, màu sắc thân già
Các đặc điểm nhận diện quan trọng để phân tích sự mọc lá bao gồm cách mọc lá kèm và cách mọc lá chính, mép lá, và hình dạng gốc phiến lá, hình dạng phiến lá cũng như hình dạng ngọn lá Màu sắc lá và màu sắc gân giữa giúp phân biệt các loài, trong khi số gân phụ và kích thước lá cho thấy sự đa dạng và mức độ biến đổi giữa các cây Mặt có gân lá nổi là đặc điểm dễ nhận biết, kết hợp với các yếu tố như mép lá, hình dạng phiến lá, gốc và ngọn lá để mô tả đầy đủ đặc điểm nhận dạng và hỗ trợ tối ưu hóa nội dung cho SEO.
Vị trí mọc hoa và công thức hoa là cơ sở để nhận diện và phân loại hoa, cho biết nơi hoa phát triển trên cây và cách các bộ phận liên kết với nhau Màu cuống hoa, số lá bắc, số lá đài, tiền khai lá đài, số cánh hoa, màu sắc cánh hoa, tiền khai hoa, màu tràng hoa, bề mặt tràng hoa và hình dạng cánh hoa là những đặc điểm hình thái bên ngoài quan trọng để mô tả một loài hoa Màu cánh trên và màu cánh dưới, đặc điểm bộ nhị, màu sắc chỉ nhị, hình dạng bao phấn và noãn cung cấp thông tin về cấu trúc sinh sản và khả năng thụ phấn Các chỉ số chiều dài như chiều dài cuống hoa, chiều dài ống lá kèm, chiều dài lá đài chia thùy, chiều dài ống lá đài, chiều dài tràng hoa, chiều dài cánh hoa, chỉ số cánh hoa, độ dài phần bao phấn gắn vào miệng ống, chiều dài bao phấn, chiều dài vòi nhụy và chiều dài núm nhụy được ghi nhận để xây dựng hồ sơ mô tả đầy đủ và chuẩn hóa cho SEO.
Hình dạng quả, kích thước cuống quả, chỉ số quả, kích thước ống lá đài ở đỉnh quả, kích thước lá đài chia thùy ở đỉnh quả, số gờ trên quả
5 Hạt Hình dạng hạt, kích thước hạt, màu sắc hạt
Dựa trên mô tả đặc điểm thực vật của các mẫu, 22 biến số cho thấy sự khác biệt ổn định giữa các mẫu và không thay đổi trên cùng một cây được chọn trong nghiên cứu phân loại (Bảng 2.3) Phân tích phân cụm bằng phần mềm IBM SPSS Statistics được áp dụng để nhóm các mẫu dựa trên giá trị của các biến được chọn Cây phân loại được xác định dựa trên sơ đồ Dendrogram, thể hiện mối quan hệ phân cấp giữa các nhóm trong phân tích.
Bảng 2.3 22 biến số sử dụng nghiên cứu đa dạng hình thái Dành dành
TT Đặc điểm Mã hóa Loại biến Giá trị biến Đặc điểm hình thái lá
1 Mép lá MEPLA Định tính 1 = Nguyên; 2 = Quăn
2 Hình dạng gốc phiến lá GOPHLA Định tính 1 = Hình nêm; 2 = Nhọn
3 Số gân phụ SOGAP Bán định lượng
4 Chỉ số lá TILELA Bán định lượng
5 Mặt có gân lá nổi MAGANOI Định tính 1 = Mặt trên; 2 = Mặt dưới;
6 Cách mọc lá kèm CAMOLAKE Định tính
1 = Dính liền thành ống bao quanh thân; 2 = Khô rồi bong Đặc điểm hình thái hoa
7 Số lá bắc SOLABA Định tính 1 = 1 lá bắc; 2 = 2 lá bắc
8 Chiều dài cuống hoa (mm) CDCUHO Bán định lượng
(mm) CDLAKE Bán định lượng
10 Chiều dài lá đài chia thùy (mm) CDTHDAHO Bán định lượng
11 Chiều dài ống lá đài (mm) CDONDAHO Bán định lượng
12 Chiều dài tràng hoa (mm) CDTRHO Bán định lượng
13 Chỉ số cánh hoa TILECAHO Bán định lượng
14 Độ dài gắn bao phần vào miệng ống (mm)
15 Chiều dài bao phấn (mm) CDBAPH Bán định lượng
16 Chiều dài vòi nhụy (mm) CDVONHUY Bán định lượng
17 Chiều dài núm nhụy (mm) CDNUNHUY Bán định lượng
TT Đặc điểm Mã hóa Loại biến Giá trị biến Đặc điểm hình thái quả
18 Hình dạng quả HDQUA Định tính 1 = Hình trứng; 2 = Hình cầu phụ; 3 = Hình elip
19 Kích thước cuống quả (mm) KTCUQUA Bán định lượng
Kích thước ống lá đài ở đỉnh quả
Kích thước lá đài chia thùy ở đỉnh quả (mm)
22 Chỉ số quả TILEQUA Bán định lượng
2.2.1.2 Nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu
Trong nghiên cứu này, thân và lá của 14 mẫu được cắt, tẩy và nhuộm kép theo phương pháp làm tiêu bản vi học thực vật Các tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi và mô tả chi tiết các đặc điểm cấu tạo giải phẫu, giúp làm rõ mô, tế bào và tổ chức đặc trưng của từng mẫu.
2.2.2 Nghiên cứu về hàm lượng geniposid
Lượng geniposid trong các mẫu Dành dành được xác định theo Dược điển Việt Nam V bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) 14 mẫu phân tích được định lượng 3 lần, cùng mẫu chuẩn geniposid để đảm bảo độ lặp lại và độ chính xác của kết quả.
2.2.2.1 Chuẩn bị dung dịch chuẩn và dung dịch mẫu phân tích Độ ẩm bột dược liệu: không quá 8,5%
Dung dịch mẫu phân tích: Cân chính xác khoảng 0,2 g bột dược liệu (qua rây số
Cho đúng 50 ml methanol (TT) vào bình nón nút mài, đậy kín và cân xác định khối lượng Lắc siêu âm trong 1 giờ, để nguội rồi cân lại và bổ sung methanol (TT) để được khối lượng ban đầu, khuấy đều và ly tâm Lọc dịch ly tâm qua màng lọc có kích thước 0,45 μm để thu được dịch chấm sắc ký.
Dung dịch chuẩn: Hòa tan geniposid chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ chính xác khoảng 0,1 mg/ml
2.2.2.2 Lựa chọn điều kiện triển khai sắc ký
Hệ thống máy sắc ký lỏng hiệu năng cao Agilent 1260 Infinity II
Cột Agilent Eclipse XDB-C18 kích thước (250 × 4,6 mm), được nhồi pha tĩnh C18 (5 àm)
Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 240 nm
Tốc độ dòng: 1,0 ml/min
Tiến hành sắc ký với dung dịch chuẩn và tính số đĩa lý thuyết của cột Số đĩa lý thuyết tính cho pic geniposid không được dưới 8000 Độ lệch chuẩn tương đối của diện tích pic geniposid trong 6 lần tiêm lặp lại không được quá 2,0%.
Quy trình sắc ký được tiến hành lần lượt với các dung dịch mẫu phân tích Dựa vào diện tích peak thu được từ dung dịch của các mẫu phân tích, từ dung dịch chuẩn và hàm lượng C17H24O10 của geniposid chuẩn, người ta tính toán hàm lượng geniposid có trong từng mẫu phân tích.
Dược liệu phải chứa không ít hơn 3,0% geniposid (C17H24O10) tính theo dược liệu khô kiệt
Hình ảnh và số liệu từ quá trình chạy HPLC của mẫu chuẩn và mẫu phân tích được ghi nhận đầy đủ với các tham số chính gồm phổ sắc ký, thời gian lưu (tR) và diện tích đỉnh (diện tích pic); những dữ liệu này cho phép so sánh giữa hai mẫu để xác định sự tương đồng hoặc khác biệt về tR và diện tích đỉnh, từ đó hỗ trợ định danh và định lượng các chất có mặt trong mẫu.
Để xác định sự có mặt của geniposid trong mẫu phân tích, phương pháp dựa trên thời gian lưu (tR) được thực hiện bằng cách đo thời gian lưu của chất phân tích và so sánh với thời gian lưu của geniposid chuẩn được xác định ở cùng điều kiện sắc ký Khi tR của chất phân tích khớp với tR của chuẩn geniposid ở cùng điều kiện sắc ký, có thể kết luận sự hiện diện của geniposid trong mẫu Quá trình so sánh tR này giúp tăng độ nhạy và đặc hiệu của phương pháp, đồng thời cung cấp kết quả phân tích geniposid đáng tin cậy.
Sử dụng thông số diện tích pic của mẫu phân tích và mẫu chuẩn để xác định hàm lượng geniposid trong quả Dành dành
2.2.2.5 Xác định hàm lượng geniposid
Hàm lượng geniposid có trong các mẫu quả Dành dành (tính theo khô kiệt) được tính theo công thức sau:
Sx, Sc (mAU.s): Diện tích pic geniposid tương ứng trong dung dịch mẫu phân tích và dung dịch chuẩn
C c (mg/ml): Nồng độ chất chuẩn geniposid m x (g): Khối lượng bột quả Dành dành của các mẫu phân tích a (%): Hàm ẩm bột quả mẫu phân tích trước khi định lượng
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Đặc điểm thực vật
3.1.1 Đặc điểm hình thái của các mẫu Dành dành
Cây bụi cao 2-3 m với các cành hình trụ hoặc hơi thon, không có rãnh hay gờ, hơi dẹt và gióng có xu hướng ngắn lại về ngọn, lông không hoặc ngắn, ngả màu xám đến trắng xám; trong 14 mẫu nghiên cứu có 11 mẫu là cây lâu năm.
Ở nhóm 5 tuổi, thân già màu trắng xám và vỏ sần sùi; đồng thời có 3 mẫu là những cây 2 năm tuổi, thân già màu nâu xám và các gióng thân có xu hướng dài hơn (Hình 3.1).
Hình 3.1 Dạng sống và đặc điểm thân các mẫu nghiên cứu
Dạng sống; b Thân già màu nâu; c Thân già màu trắng xám
Lá mọc đối hoặc hiếm khi có 3 lá mọc vòng, không cuống hoặc có cuống; cuống lá dài tới 0,5 cm, mép lá nguyên hoặc quăn, có lông ngắn hoặc không có lông Phiến lá hình trứng, hình bầu dục hoặc hình bầu dục thuôn dài, kích thước từ 3-25 × 1,5-8 cm, chỉ số lá 1,84-3,66; mặt trên sáng bóng, hiếm khi có lông dọc theo các đường gân Gân chính màu trắng xanh nổi trên mặt trên hoặc mặt dưới hoặc cả hai mặt lá; gốc phiến lá hình nêm hoặc nhọn, ngọn lá nhọn hoặc mũi nhọn Gân phụ từ 5-15 đôi, ở nách lá thường có lông tơ đơn bào hoặc đa bào Hình dạng, màu sắc và kích thước phiến lá thay đổi theo địa điểm và thời điểm thu hái; trên cùng một cây có thể xuất hiện nhiều hình dạng phiến lá (Hình 3.2a1 đến a5) Trong 14 mẫu nghiên cứu, trên cùng một cây của 3 mẫu HN03, HN05, TH01 xuất hiện cả lá có mép quăn và lá có mép nguyên; mẫu TN01 có hình dạng phiến lá khác biệt nhất (Hình 3.2a5), hình bầu dục thuôn dài, gốc nêm, chỉ số lá 3,66.
Hình 3.2 Đặc điểm hình thái lá các mẫu nghiên cứu a1, a3 Hình bầu dục; a2, a4 Hình trứng; a5 Hình bầu dục thuôn dài b1, b2, b3 Mặt trên lá; b4, b5, b6 Mặt dưới lá; c1, c2 Mép lá.
Lá kèm dính liền thành ống bao quanh thân hoặc khô rồi rụng, 5-19 mm Trong
Trong 14 mẫu Dành dành nghiên cứu, hai mẫu HN05 và HB02 có lá kèm dính sát vào thân; các mẫu còn lại có lá kèm bao quanh thân và khô rồi bong (Hình 3.3) Mẫu HN06 có lá kèm dài 19 mm, dài hơn các mẫu còn lại với độ dài lá kèm từ 5–14 mm.
Hình 3.3 Đặc điểm lá kèm các mẫu nghiên cứu a Lá kèm dính với thân; b Lá kèm bao sát quanh thân; c Lá kèm bao quanh thân, khô rồi bong
Lá bắc 2, hiếm khi 1 hoặc 3; lá kèm của lá bắc thường bị xẻ thành hình tam giác, dài 5–16 mm Hoa đơn độc, mọc ở ngọn, đều, lưỡng tính, hiếm khi ở đoạn phân nhánh của thân; cuống hoa màu xanh, dài 1–10 mm Đài có 6 thùy (hiếm khi 5 hoặc 7), màu xanh, tiền khai van, hàn liền ở gốc; ống đài dài 3–8 mm; thùy đài dài 7–16 mm Tràng có 6 cánh (hiếm khi 5 hoặc 7), tiền khai vặn theo chiều kim đồng hồ, hàn liền thành ống, màu từ vàng xanh nhạt đến xanh nhạt, nhẵn, dài 17–57 mm, đường kính 3 × 5–7 mm, có lông tơ ở họng tràng Cánh hoa hình bầu dục, nhẵn, lúc mới nở màu trắng, sau chuyển dần sang màu vàng, mùi thơm nhẹ, 21–51 × 10–29 mm Bộ nhị 6, rời, đều, chỉ nhị rất ngắn hoặc không có Bao phấn màu vàng nâu, thuôn dài, ở đỉnh có màu trắng khi chớm nở, màu đen khi sắp tàn, 13–21 mm × 1–2 mm, được gắn với miệng ống cánh hoa tại vị trí bằng ½–⅓ bao phấn Khi hoa nở, bao phấn cong queo, ép sát các thùy của cánh hoa Bầu dưới 2 ô, hiếm khi 3 ô, đính noãn trung trụ Vòi nhụy hình trụ, màu trắng, nhẵn, đính ở đỉnh bầu, dài 29–55 mm Núm nhụy hình chùy, màu vàng, 11–18 mm, trên đầu nhụy có những đường gân dọc Hạt phấn rời, màu vàng Lá noãn 2, vị trí trước sau, bầu dưới.
Trong hoa có 2 ô, mỗi ô chứa nhiều noãn và đính noãn ở trung trụ; bầu noãn màu xanh nhạt có 6 sống dọc Đầu nhụy hình chùy màu vàng nhạt, chia thành 2 thùy; trên đầu nhụy có các đường gân dọc Đĩa mật dạng khoen màu vàng nhạt bao quanh gốc vòi nhụy (Hình 3.4e1, 3.4e2).
Kích thước của các thành phần hoa thay đổi tùy từng mẫu nghiên cứu, với sự khác biệt giữa đài hoa, tràng hoa và nhụy hoa Dẫu vậy, độ dài của bao phấn gắn vào miệng tràng hoa vẫn nằm ở khoảng 5–6 mm.
Hình 3.4 trình bày đặc điểm giải phẫu hoa của các mẫu nghiên cứu, gồm các thành phần chính như hoa, mặt cắt dọc hoa và lá bắc, cùng với hoa đã phân tích Các mặt cắt được thể hiện ở e1, e2 (mặt cắt dọc bầu) và ở f, g (mặt trước và mặt sau bao phấn), cho phép quan sát chi tiết cấu trúc bên trong và vị trí của bao phấn Đồng thời, h1, h2, h3 cho biết các mặt cắt ngang bầu, giúp so sánh những đặc điểm giải phẫu ở các mức độ khác nhau giữa các mẫu nghiên cứu.
Cuống quả màu xanh, dài 2-9 mm Quả mọng, bóng hoặc hơi bóng, màu vàng hoặc vàng cam, hình trứng (Hình 3.5a1, 3.5a2), hình bầu dục thuôn dài (Hình 3.5a3, 3.5a4, 3.5a5, 3.5a6), 1,5-7 × 1,2-2 cm, chỉ số quả 1,28-2,8, có 6 gờ dọc, ít khi 5, giữa 2 gờ là rãnh rõ rệt Đỉnh quả lõm Đài đồng trưởng có ống dài 5-11 mm, thùy dài 7-22 mm Vỏ quả mỏng, giòn Khi chín, thịt quả màu đỏ tươi, nhiều hạt Hình dạng, kích thước quả của các mẫu thu được có sự thay đổi lớn, mẫu HN06 hình trứng (Hình 3.5a1), chỉ số quả 1,28, mẫu TN01 hình bầu dục thuôn dài (Hình 3.5a6), chỉ số quả 2,8 Trong
14 mẫu nghiên cứu, có 6 mẫu chỉ số quả lớn hơn 2 (2,08-2,8), có 8 mẫu chỉ số quả nhỏ hơn 2 (1,28-1,86)
Hạt nhiều, hơi góc cạnh, kích thước 2-5 × 2-4,5 mm, màu vàng nâu đến nâu đỏ, nhiều hình dạng, dày mỏng khác nhau, mặt vỏ hạt nhiều hạt mịn Trong một quả, hạt có nhiều kích thước và màu sắc khác nhau
Hình 3.5 mô tả rõ hình dạng quả và hạt của các mẫu nghiên cứu: a1 và a2 có quả dạng bầu dục với chỉ số quả nhỏ hơn 2; a3–a6 có quả dạng bầu dục thuôn dài với kích thước quả lớn hơn 2; b1 và b2 thể hiện mặt cắt dọc quả; c1 và c2 là mặt cắt ngang quả; d1–d3 mô tả các hạt.
3.1.2 Cấu tạo vi phẫu của các mẫu Dành dành
3.1.2.1 Cấu tạo vi phẫu lá
Qua phân tích đặc điểm giải phẫu của 14 mẫu thân và lá Dành dành, kết quả cho thấy không có sự khác biệt lớn về cấu tạo giải phẫu giữa các mẫu nghiên cứu Các đặc điểm vi phẫu lá được ghi nhận là chung ở toàn bộ mẫu, và mô tả chi tiết được thể hiện ở Hình 3.6.
Phần mặt dưới lá lồi hơn mặt trên Biểu bì trên và biểu bì dưới là một lớp tế bào mỏng nối liền với biểu bì ở phiến lá; tế bào biểu bì trên hình chữ nhật hoặc đa giác, xếp khít nhau, có kích thước lớn gấp 2–3 lần tế bào biểu bì dưới và thường mang lông che chở đơn bào hoặc đa bào ở hai mặt, nhất là ở nách lá Mô dày trên và mô dày dưới gồm 3–4 lớp tế bào hình đa giác nằm sát dưới lớp biểu bì trên và dưới của gân lá; ở biểu bì trên, mô dày tập trung ở giữa gân, hai bên là cụm tế bào mô giậu chứa lục lạp (phiến lá), các tế bào mô dày bắt màu hồng đậm Mô mềm là những tế bào hình đa giác hoặc hình tròn ở hai bên (mô mềm dự trữ) và nằm trong vòng libe gỗ (vòng libe gỗ); các góc mô mềm có khoảng gian bào nhỏ, vùng mô mềm phía dưới vòng libe gỗ bị ép dẹp Bó libe gỗ có hình bán nguyệt ở giữa gân lá; gỗ bắt màu xanh gồm 5–8 lớp tế bào hình đa giác ở bên trong, libe bắt màu đỏ gồm các tế bào nhỏ xếp thành vòng ở ngoài.
Phía ngoài libe có các đám sợi (4) xếp rời nhau thành một vòng bao quanh bó libe gỗ
Trong vòng libe gỗ có 2-3 cụm libe gỗ nhỏ với gỗ ở trên, libe ở dưới, mô dày góc, tế bào hơi đa giác kích thước không đều nhau
Phía ngoài đám sợi là 1-2 lớp tế bào mô dày góc hình đa giác, kích thước bằng tế bào mô dày góc trong vòng libe gỗ
Biểu bì dưới (a) là một lớp tế bào có lỗ khí (b), nhỏ hơn 4-5 lần biểu bì trên (e)
Mô khuyết (c) là các tế bào hình tròn, đa giác hoặc bầu dục, bắt màu đỏ và chứa ít lạp lục hơn so với mô giậu; ngược lại, mô giậu (d) gồm hai lớp tế bào hình trụ xếp thẳng hàng, chứa nhiều lạp lục.
Trong 6 mẫu nghiên cứu HN01, HN02, HN04, HN05, HN06, HB04, tại nách lá dưới gân phụ có xuất hiện lông che chở đơn bào hoặc đa bào Riêng mẫu HN01 xuất hiện lông che chở cả mặt trên và mặt dưới lá Trung bình, quan sát 5 tiêu bản vi phẫu của 6 mẫu trên thì gặp 1 tiêu bản xuất hiện lông (Hình 3.7)
Hàm lượng geniposid trong các mẫu quả Dành dành
Phân tích lặp lại 6 lần với dung dịch chuẩn geniposid hàm lượng 0,1 mg/mL cho thấy RSD của thời gian lưu và diện tích của pic đều dưới 2%, chứng tỏ hệ thống và phương pháp phân tích phù hợp cho quá trình phân tích geniposid trong các mẫu quả dành dành (bảng 3.2) Trên sắc ký đồ, dung dịch các mẫu dành dành được nghiên cứu cho thấy pic đáp ứng tại thời gian lưu trùng với geniposid chuẩn Hàm lượng geniposid trong bột quả dành dành được tính theo giá trị trung bình của 3 lần định lượng trên 14 mẫu thử được tiến hành trong cùng điều kiện, trình bày trong bảng 3.3 và biểu đồ 3.1 Kết quả định lượng qua 3 lần chạy của các mẫu thử ổn định được thể hiện qua chồng sắc ký đồ (Phụ lục 6).
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá độ phù hợp hệ thống của phương pháp định lượng hàm lượng geniposid trong các mẫu quả Dành dành
Bảng 3.3 Kết quả định lượng geniposid trong bột quả Dành dành
Nhóm TT Mẫu phân tích
Hình 3.12 Kết quả chồng sắc ký đồ của geniposid chuẩn 0,1 mg/ml qua 6 lần chạy và mẫu HN02 qua 3 lần chạy
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ hàm lượng geniposid trong các mẫu nghiên cứu
Có sự khác biệt về hàm lượng geniposid trong quả Dành dành, giữa các mẫu thuộc từng nhóm và giữa các nhóm khác nhau Hàm lượng geniposid dao động từ 5,75% đến 20,07% Hai mẫu có hàm lượng thấp nhất là NB01 trong nhóm 1 thu hái tại Ninh Bình và QB02 trong nhóm 3 thu hái tại Quảng Bình, trong khi mẫu HN02 có hàm lượng cao nhất.
Các mẫu ở khu vực Hà Nội và Thái Nguyên cho hàm lượng geniposid cao và ổn định, tất cả đều lớn hơn 11% Ở nhóm mẫu có cùng độ tuổi 2–3 năm, các mẫu TN02, HB02 và HB06 cho hàm lượng geniposid cao hơn giá trị trung bình định lượng của 14 mẫu, là 13,04%.
HN01 HN02 HN03 HN04 NB01 TN01 HN05 TH01 HB02 HB04 HB06 TN02 HN06 QB02
H àm lư ợn g % ge n ipo si d
Các mẫu Dành dành nghiên cứu
Về đặc điểm thực vật
Dành dành thể hiện sự đa dạng lớn về đặc điểm hình thái giữa các mẫu thu được Đề tài đã thu được 14 mẫu giống Dành dành, trong đó 06 mẫu ở Hà Nội và 01 mẫu ở Quảng Bình.
Có 01 mẫu ở Ninh Bình, 01 mẫu ở Thanh Hóa, 03 mẫu ở Hòa Bình và 02 mẫu ở Thái Nguyên Tuy số lượng không nhiều, nhưng các mẫu đều thu được đầy đủ các đặc điểm hình thái về dạng sống, thân, lá, hoa, quả và hạt Kết quả phân tích cho thấy sự đa dạng nhất định về hình thái giữa các mẫu nghiên cứu Đặc điểm về kích thước hoa và quả ít có sự khác biệt trong cùng một cây, nhưng có sự khác biệt rõ rệt giữa các mẫu nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu duy nhất Dành dành (Gardenia jasminoides J Ellis) được khảo sát trên nhiều mẫu từ nhiều địa điểm khác nhau, và ngoài các đặc điểm đã được mô tả trong phần tổng quan, đề tài ghi nhận một số biến đổi phổ biến như gân phụ trên phiến lá có thể nổi rõ ở mặt trên hoặc cả hai mặt; hoa mẫu 6, hiếm gặp mẫu 5 và 7; lá noãn 2; bầu dưới 2 ô, hiếm gặp 3 ô; quả mọng có 6 gờ dọc quả, hiếm gặp 5 hoặc 7 gờ Việc mô tả đầy đủ và đồng bộ các đặc điểm hình thái giúp nhận diện và làm sáng tỏ các biến số hình thái về hình dạng, kích thước của cơ quan sinh sản, bao gồm đặc điểm lá kèm, hoa, lá đài, cánh hoa, tràng hoa, bộ nhị, nhụy và quả, mang ý nghĩa cho phân loại thực vật và đặc biệt cho nghiên cứu chọn giống ở cấp độ dưới loài.
Nghiên cứu cho thấy sự đa dạng về đặc điểm hình thái của cơ quan sinh dưỡng ở cây dành dành, với các mẫu thu thập từ khu vực địa lý gần nhau có xu hướng thể hiện đặc điểm tương đồng và tập hợp thành cụm Theo Yan Han và cộng sự (2015), những mẫu ở vị trí địa lý gần nhau có khuynh hướng tạo thành nhóm, và sự khác biệt giữa chúng có thể bắt nguồn từ nguồn gốc, khí hậu và văn hóa địa phương Dự đoán rằng tác động từ môi trường bên ngoài như nơi sống, kỹ thuật trồng trọt và chăm bón có thể ảnh hưởng đến đặc điểm của thân và lá, nhưng các biến này không phản ánh bản chất nguồn gen Trong tổng số 53 đặc điểm được nghiên cứu, 22 biến được chọn để tiến hành phân loại thực vật, trong đó có 14 biến liên quan đến đặc điểm cơ quan sinh sản.
Dựa trên sơ đồ cây về mối quan hệ của 14 mẫu giống Dành dành, có thể chia thành 3 phân nhóm chính: phân nhóm 1 gồm 6 mẫu, phân nhóm 2 gồm 6 mẫu và phân nhóm 3 còn lại 2 mẫu Trong phân nhóm 1 có 4 mẫu ở Hà Nội, với chỉ số quả lớn hơn 2 và độ tuổi cây gần bằng nhau Việc phân loại thành 3 nhóm dựa trên đặc điểm hình thái cho thấy đặc điểm quả là chỉ số phân biệt rõ ràng nhất (chỉ số quả lớn hơn hoặc nhỏ hơn 2) Đây cũng là bộ phận dùng làm dược liệu, nên có thể phân biệt các mẫu khi sử dụng.
Về cấu tạo vi phẫu thân và lá
Trong 14 mẫu Dành dành được phân tích, không có sự khác biệt đáng kể về cấu tạo vi phẫu của thân và lá Vì vậy, các đặc điểm cấu tạo vi phẫu này có thể được đưa vào chuẩn hóa Dược liệu Dành dành, nhằm đảm bảo tính đồng nhất và chất lượng của nguồn dược liệu.
Có sự khác biệt về lông che chở trên bề mặt lá hoặc thân cây, tuy nhiên số lượng rất ít và tần suất gặp thấp Có 6 mẫu (5 mẫu ở Hà Nội và 1 mẫu ở Hòa Bình) cho thấy lông ở lá có xu hướng liên quan đến độ tuổi cây càng lớn Có 3 mẫu cho thấy lông ở thân xuất hiện ở các độ tuổi khác nhau; cần thu thập thêm thông tin để đi tới kết luận chắc chắn.
Nghiên cứu cấu tạo vi phẫu của đề tài cho thấy kết quả vi phẫu tương đồng với công trình của PGS.TS Trương Thị Đẹp về vi phẫu lá Vi phẫu lá có vòng libe gỗ hình bán nguyệt, có mô mềm nằm trong bó libe gỗ và có thể xuất hiện 2–3 cụm libe gỗ nhỏ với gỗ bắt màu xanh ở phía trên và libe ở phía dưới; các cụm có thể xếp thành hàng ngang hoặc phân bố tự do trong bó libe gỗ [44] Tuy nhiên, Kesavan và cộng sự (2018) ghi nhận vòng libe gỗ của lá Dành dành Ấn Độ (Gardenia jasminoides) hình vòng cung và không có mô mềm trong bó libe gỗ [17] Sự khác biệt này phân biệt Dành dành Việt Nam với Ấn Độ và có thể do yếu tố môi trường bên ngoài hoặc yếu tố gen.
Trong nghiên cứu của Yang và cộng sự (2021), hạn hán làm giảm dần độ dày lá, độ dày mô giậu và độ dày mô khuyết [40], và kết quả này được thể hiện rõ qua cấu tạo vi phẫu của 14 mẫu Dành dành được khảo sát, bổ sung thêm những hiểu biết về tác động của môi trường lên hình thái lá.
Về hàm lượng geniposid
Geniposid và genipin (aglycon của geniposid) là hai hợp chất iridoid quan trọng nhất được chiết xuất từ quả dành dành Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã định lượng geniposid bằng HPLC theo chuyên luận Dành dành trong DĐVN V, một phương pháp phân tích chuẩn và có độ chính xác cao để đánh giá chất lượng quả dành dành Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp HPLC là hệ thống đắt tiền và thường không sẵn có với các doanh nghiệp sản xuất và trồng dược liệu, do đó cần nghiên cứu thêm một số phương pháp khác để đánh giá hàm lượng geniposid.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 14 mẫu có sự biến đổi đáng kể về hàm lượng geniposid, không theo quy luật và chưa có mối liên hệ rõ ràng với sự biến đổi của các đặc điểm hình thái của cơ quan sinh dưỡng và sinh sản Cụ thể, các mẫu HN02 và HB06 cho hàm lượng geniposid rất cao, ở mức 18–20%, trong khi mẫu NB01 và QB02 (thu tại Ninh Bình và Quảng Bình) có hàm lượng thấp hơn nhiều, chỉ khoảng 5–6%.
So với kết quả định lượng của Su Zhiliang, sau khi tuyển chọn giống, hàm lượng geniposid ở giống ưu việt đạt 17,76%; có hai mẫu HN02 và HB06 có hàm lượng cao hơn.
Hai mẫu có tỷ lệ thu hái tự nhiên lần lượt là 20,07% và 18,45%, cho thấy sự đa dạng nguồn gen cần được khai thác Vì hai mẫu hoàn toàn được thu hái tự nhiên, cần khảo sát nguồn gen, điều kiện vùng trồng và các yếu tố ảnh hưởng để xây dựng quy trình chọn giống hiệu quả, nhằm cải thiện chất lượng và năng suất cây trồng.
Kết quả định lượng geniposid trong nghiên cứu này mang tính sàng lọc và đánh giá ban đầu, cần được nghiên cứu sâu thêm để rút ra kết luận chắc chắn về sự khác biệt hàm lượng geniposid và năng suất thu hạt giữa 14 mẫu nghiên cứu Những khác biệt này có thể chịu ảnh hưởng bởi thời tiết, đất đai, chăm sóc cây hoặc các đặc điểm hình thái của cây, và để làm cơ sở chọn giống, cần đánh giá lại các mẫu trong điều kiện trồng cố định tại một địa điểm duy trì chế độ chăm sóc đồng nhất Ngoài ra, cần thu mẫu lặp lại (một lần mỗi năm) trong ít nhất vài năm tới để có cơ sở dữ liệu đủ mạnh cho so sánh và ra quyết định chọn giống.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận
Đặc điểm thực vật của các giống Dành dành nghiên cứu
- Đã mô tả chi tiết đặc điểm thực vật của 14 mẫu Dành dành được thu hái tại Hà Nội, Hòa Bình, Thanh Hóa, Ninh Bình, Thái Nguyên, Quảng Bình
- Đã xác định đặc điểm vi phẫu thân và lá của 14 mẫu nghiên cứu
Kết quả phân loại 14 mẫu được thực hiện bằng phương pháp phân tích cụm (cluster analysis) trên phần mềm IBM SPSS Statistics, chia thành 3 nhóm nhỏ: Nhóm 1 gồm 6 mẫu HN01, HN02, HN03, HN04, NB01 và TN01; Nhóm 2 gồm 6 mẫu HN05, TH01, HB02, HB04, HB06 và TN02; Nhóm 3 gồm 2 mẫu HN06 và QB02 Việc phân nhóm cho thấy nhóm 1 và nhóm 2 có sự đồng nhất tương đối cao về đặc tính, trong khi nhóm 3 chứa các mẫu có đặc trưng riêng biệt so với hai nhóm còn lại.
Hàm lượng geniposid trong quả Dành dành nghiên cứu 32 TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đã xác định hàm lượng geniposid của 14 mẫu Dành dành được nghiên cứu thực vật ở trên
- Kết quả hàm lượng hàm lượng dao động từ 5,75-20,07% Mẫu HN02 được thu hái tại Hà Nội có hàm lượng geniposid cao nhất
Kiến nghị Để hoàn thiện việc nghiên cứu phát triển giống cây Dành dành tại Việt Nam, tôi kiến nghị:
- Thu thập thêm mẫu Dành dành tại các tỉnh phía nam Việt Nam để bổ sung vào kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá nguồn gen của các giống Dành dành có hàm lượng geniposid cao và so sánh nguồn gen giữa Dành dành Việt Nam với một số mẫu Dành dành trên thế giới Mục tiêu là xác định sự đa dạng di truyền và tiềm năng sản xuất geniposid ở từng nguồn gen, từ đó xác định các dòng Dành dành ưu tiên cho khai thác và ứng dụng trong dược liệu và mỹ phẩm Kết quả cho thấy nguồn gen Dành dành Việt Nam phong phú và có sự khác biệt về hàm lượng geniposid so với các mẫu ở nước ngoài, tạo cơ sở cho chiến lược bảo tồn và chọn lọc giống có hàm lượng geniposid cao Nghiên cứu cung cấp dữ liệu và cơ sở cho phát triển nguồn gen Dành dành trên quy mô trong nước và trên thế giới.
- Trồng cố định các mẫu có hàm lượng geniposid cao để tiến hành nghiên cứu sâu
- Xác định hàm lượng geniposid tại các thời điểm phát triển của quả để chọn được thời điểm thu hái thích hợp
TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
1 Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Phạm Văn Hiển và cs (2004), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Tập 1, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, tr.596-597
2 Bộ Y Tế (2018), Dược điển Việt Nam V, Tập 2, tr.1132 - 1133
3 Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXB Y Học Hà Nội, tr.225-227
4 Trần Văn Ơn (2004), Thực tập Thực vật và nhận thức cây thuốc, Trung tâm thông tin - Thư viện Đại học Dược Hà Nội
5 Phan Đặng Thái Phương, Trần Thị Đoan Trang và Vũ Văn Ba, "Bước đầu đánh giá năng suất và giá trị dược liệu một số giống khổ qua rừng tại Bình Phước", tạp chí
Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 13(2) 2.2017
6 Phạm Quang Tuyến, Nguyễn Minh Đức, Khương Thị Bích, và cs (2018), "Đánh giá đa dạng di truyền một số mẫu giống sâm thu thập tại Lai Châu", Bản B của Tạp chí
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 60(2)
7 Nguyễn Hữu Trà, Lê Sỹ Trung và Dương Văn Thảo (2019), "Nghiên cứu chọn cây trội giống quế lá nhỏ (Cinnamomum cassia Blume) có sản lượng vỏ và hàm lượng tinh dầu cao phục vụ sản xuất giống trên địa bàn huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái", Tạp chí Khoa học và công nghệ Đại học Thái Nguyên, 207(14), tr.153-160
8 Trương Thị Hồng Hải, Dương Thanh Thủy, Đặng Thành Long, và cs (2018), "Đa dạng di truyền dựa trên đặc điểm hình thái của quần thể Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) ở Nam Trà My, Quảng Nam", Hue University Journal of Science: Natural Science, 127(1C), tr.203-210
9 Akihisa Toshihiro, Kensuke Watanabe, Ayako Yamamoto, et al (2012),
"Melanogenesis inhibitory activity of monoterpene glycosides from Gardeniae fructus", Chemistry Biodiversity, 9(8), pp.1490-1499
10 Cao Yan-Gang, Ying-Jie Ren, Yan-Ling Liu, et al (2021), "Iridoid glycosides and lignans from the fruits of Gardenia jasminoides Eills", Phytochemistry, 190, pp.112893
11 Chen Liping, Maoxing Li, Zhiqiang Yang, et al (2020), "Gardenia jasminoides
Ellis: Ethnopharmacology, phytochemistry, and pharmacological and industrial applications of an important traditional Chinese medicine", Journal of ethnopharmacology, 257, pp.112829
12 Chen Quan Cheng, UiJoung Youn, Byung-Sun Min, et al (2008), "Pyronane monoterpenoids from the fruit of Gardenia jasminoides", Journal of natural products, 71(6), pp.995-999
13 Chen Yang, Hao Zhang, Yi-Xin Li, et al (2010), "Crocin and geniposide profiles and radical scavenging activity of gardenia fruits (Gardenia jasminoides Ellis) from different cultivars and at the various stages of maturation", Fitoterapia, 81(4), pp.269-273
14 Dong Rong, Qingping Tian, Yongping Shi, et al (2021), "An integrated strategy for rapid discovery and identification of quality markers in gardenia fructus using an omics discrimination-grey correlation-biological verification method", Frontiers in
15 Fu Yunhe, Bo Liu, Jinhua Liu, et al (2012), "Geniposide, from Gardenia jasminoides Ellis, inhibits the inflammatory response in the primary mouse macrophages and mouse models", International Immunopharmacology, 14(4), pp.792-798
16 Han Yan, Jun Wen, Tingting Zhou, et al (2015), "Chemical fingerprinting of
Gardenia jasminoides Ellis by HPLC–DAD–ESI-MS combined with chemometrics methods", Food Chemistry, 188, pp.648-657
17 Kesavan Keerthana, Jothi Gnanasekaran, Sridharan Gurunagarajan, et al (2018),
"Microscopic, physicochemical and phytochemical analysis of Gardenia jasminoides (Ellis)", International journal of pharmacy pharmaceutical sciences, pp.97-102
18 Koo Hye-Jin, Sanghyun Lee, Kuk-Hyun Shin, et al (2004), "Geniposide, an anti- angiogenic compound from the fruits of Gardenia jasminoides", Planta medica,
19 Li Na, Mingcong Fan, Yan Li, et al (2020), "Stability assessment of crocetin and crocetin derivatives in Gardenia yellow pigment and Gardenia fruit pomace in presence of different cooking methods", Food chemistry, 312, pp.126031
20 Liu Liping, Qin Wu, Yuping Chen, et al (2022), "Updated pharmacological effects, molecular mechanisms, and therapeutic potential of natural product geniposide",
21 Liu WeiZhen, Guanglai Li, Christian Hửlscher, et al (2015), "Neuroprotective effects of geniposide on Alzheimer’s disease pathology", Reviews in the Neurosciences, 26(4), pp.371-383
22 Machida Koichi, Kazumi Oyama, Mutsumi Ishii, et al (2000), "Studies of the constituents of Gardenia species II Terpenoids from Gardeniae Fructus", Chemical pharmaceutical bulletin, 48(5), pp.746-748
23 Oshima Toshiyuji, Kazuhiko Sagara, Tsuguchika Yoshida, et al (1988),
"Determination of geniposide, gardenoside, geniposidic acid and genipin-1-β- gentiobioside in Gardenia jasminoides by high-performance liquid chromatography", Journal of Chromatography A, 455, pp.410-414
24 Pan Yuan, Xiao Zhao, Yu Wang, et al (2021), "Metabolomics integrated with transcriptomics reveals the distribution of iridoid and crocin metabolic flux in
Gardenia jasminoides Ellis", Plos one, 16(9), pp e0256802
25 Peng Kaifeng, Liguo Yang, Shizhe Zhao, et al (2013), "Chemical constituents from the fruit of Gardenia jasminoides and their inhibitory effects on nitric oxide production", Bioorganic medicinal chemistry letters, 23(4), pp.1127-1131
26 Phatak Rohan Sharadanand (2015), "Phytochemistry, pharmacological activities and intellectual property landscape of Gardenia jasminoides Ellis: a review", Pharmacognosy Journal, 7(5)
27 Rezaldi Firman, Siti Khodijah and US Sumarlin (2022), "Formulasi dan Uji efektivitas sediaan sirup ekstrak daun kacapiring (Gardenia jasminoides J Ellis) sebagai antipiretik terhadap mencit (Mus musculus L) yang di induski vaksin DPT",
28 Shan Mingqiu, Sheng Yu, Hui Yan, et al (2017), "A review on the phytochemistry, pharmacology, pharmacokinetics and toxicology of geniposide, a natural product",
29 Shi Yong-Ping (2019), "Research progress on chemical composition and pharmacological effects of Gardenia jasminoides and predictive analysis on quality marker (Q-marker)", Chinese Traditional Herbal Drugs, pp.281-289
30 Shu-Ling Liudagger, Lindagger Ying-Chih, Huang Tai-Hung, et al (2011), "Anti- depressive activity of Gardeniae fructus and geniposide in mouse models of depression", African Journal of Pharmacy Pharmacology, 5(13), pp.1580-1588
31 Su ZhiLiang, Bin Shi, XiaoGuang Dong, et al (2018), "Selection and breeding of superior clones of Gardenia jasminoides", Journal of Southwest Forestry University, 38(5), pp.210-216
32 Takhtajan Armen (2009), Flowering Plants Class Magnoliopsida (Dicotyledons),
Springer science & Business Media Dordrecht, pp.511-588
33 Tao Chen, M Taylor Charlotte, Zhu Hua, et al (2011), "Rubiaceae in: Wu, Z Y., P
H Raen & D Y Hong, (eds.)", Flora of China, 19 (Curcubitaceae through
Valerianceae, with Annonaceae and Berberidaceae), pp.Science Press, Beijing, and Missouri Botanical Garden Press, St Louis
34 Wang Guang-fa, Shao-yu Wu, Wei Xu, et al (2010), "Geniposide inhibits high glucose-induced cell adhesion through the NF-κB signaling pathway in human umbilical vein endothelial cells", Acta Pharmacologica Sinica, 31(8), pp.953-962
35 Wang Jing, Jincai Lu, Chongning Lv, et al (2012), "Three new triterpenoid saponins from root of Gardenia jasminoides Ellis", Fitoterapia, 83(8), pp.1396-1401
36 Wang Junming, Yueyue Zhang, Ruixin Liu, et al (2015), "Geniposide protects against acute alcohol-induced liver injury in mice via up-regulating the expression of the main antioxidant enzymes", Canadian Journal of Physiology Pharmacology, 93(4), pp.261-267
37 Xiaofeng Yang, Cai Qinren, He Jingping, et al (2012), "Geniposide, an iridoid glucoside derived from Gardenia jasminoides, protects against lipopolysaccharide- induced acute lung injury in mice", Planta Medica, 78(06), pp.557-564
38 Xiaohui Wang, Zhang Fan, Xi Lili, et al (2021), "Research Progress on
Pharmacological Effects and Toxicity of Gardenia jasminoides Ellis and Related
Mechanisms", Chinese Journal of Pharmacovigilance, 18(1), pp.94
39 Yang Sen, Ge Kuang, Rong Jiang, et al (2019), "Geniposide protected hepatocytes from acetaminophen hepatotoxicity by down-regulating CYP 2E1 expression and inhibiting TLR 4/NF-κB signaling pathway", International immunopharmacology,
40 Yang Yan, Lei Li, Jie Tang, et al (2021), "Responses of Gardenia jasminoides Ellis
Leaf Traits and Anatomical Structures to Drought Stress in Purple Soil",
41 Yao Dong-Dong, Luan Shu, Lei Yang, et al (2014), "Advance in studies on anti- diabetic mechanism of Gardeniae Fructus and its active ingredient geniposide",
China Journal of Chinese Materia Medica, 39(8), pp.1368-1373
42 Yin Fangzhou, Xiaoyan Wu, Lin Li, et al (2015), "Quality control of Gardeniae
Fructus by HPLC-PDA fingerprint coupled with chemometric methods", Journal of
43 Zhou Tingting, Weiquan Zhao, Guorong Fan, et al (2007), "Isolation and purification of iridoid glycosides from Gardenia jasminoides Ellis by isocratic reversed-phase two-dimensional preparative high-performance liquid chromatography with column switch technology", Journal of Chromatography B, 858(1-2), pp.296-301
44 Tra cứu cây thuốc (2009), Loài Gardenia augusta (L.) Merr (Gardenia jasminoides
Ellis) (Cây Dành Dành), truy cập ngày 01/6/2022, tại trang web http://uphcm.edu.vn/caythuoc/index.php?q=node/78