Nghiên cứu của Hassan thực hiện năm 2021 đã chỉ ra tỉ lệ thuốc không được hiệu chỉnh liều phù hợp trên bệnh nhân suy thận lên đến 59,58%, trong đó các thuốc không được hiệu chỉnh liều nh
TỔNG QUAN
Tổng quan về hiệu chỉnh liều thuốc trên bệnh nhân suy thận
1.1.1 Khái niệm và phân loại suy thận
Rối loạn chức năng thận có thể do một số bệnh mắc kèm như đái tháo đường típ
2, tăng huyết áp và các nguyên nhân khác như vi khuẩn, phản ứng miễn dịch không mong muốn, hóa chất, khối u, sỏi thận, tắc nghẽn đường tiết niệu [32] Dựa trên nguyên nhân gây bệnh và thời gian diễn tiến của bệnh thận, có thể chia thành hai nhóm chính là tổn thương thận cấp (suy thận cấp) và bệnh thận mạn tính (suy thận mạn).
Suy thận cấp (AKI) là sự suy giảm chức năng thận đột ngột, kèm theo tổn thương cấu trúc và mất chức năng thận Nguyên nhân chủ yếu gồm sự thay đổi đột ngột cung lượng tim, tổn thương nhu mô thận do nhiễm trùng hoặc tiếp xúc với hóa chất, và tắc nghẽn đường tiết niệu Bệnh nhân suy thận cấp có thể tự hồi phục nếu nguyên nhân gây bệnh được điều trị triệt để.
Suy thận mạn (CKD) là tình trạng kéo dài, được định nghĩa là bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận tồn tại trên 3 tháng và gây tác động lên sức khỏe Theo KDIGO 2012 và KDOQI 2002, CKD được phân loại theo nguyên nhân, mức lọc cầu thận (GFR) và albumin niệu nhằm hướng dẫn tầm soát, chẩn đoán, xử trí và tiên lượng bệnh Các giai đoạn CKD dựa trên mức lọc cầu thận được trình bày trong Bảng 1.1.
Bảng 1.1 Phân loại bệnh thận mạn theo mức lọc cầu thận Theo
GFR * (ml/ phút/1.73 m 2 ) Ý nghĩa Giai đoạn theo
G1 > 90 Bình thường hoặc cao Giai đoạn 1 CKD
G2 60 - 89 Giảm nhẹ Giai đoạn 2 CKD
G3a 45 - 59 Giảm nhẹ đến trung bình Giai đoạn 3 CKD G3b 30 - 44 Giảm trung bình đến nặng Giai đoạn 3 CKD
G4 15 - 29 Giảm nặng Giai đoạn 4 CKD
G5 < 15 Suy thận Giai đoạn 5 CKD
* GFR được ước tính bằng phương trình EPI-CKD và nồng độ creatinin huyết thanh chuẩn hóa
1.1.2 Sự thay đổi các thông số dược động học trên bệnh nhân suy thận
Sinh khả dụng (F%) bị ảnh hưởng bởi tổn thương thận, giảm tuần hoàn máu và phù, khiến quá trình hấp thu và phân phối thuốc bị thay đổi và ảnh hưởng đến sinh khả dụng của các thuốc dùng theo đường tiêm bắp và tiêm dưới da [2] Đối với thuốc đường uống, ảnh hưởng và cơ chế liên quan đến sinh khả dụng vẫn chưa được làm rõ [55].
Ở người suy thận, thể tích phân bố (Vd) của thuốc có thể tăng do sự tăng nồng độ chất lỏng ngoại bào và thuốc tự do khi giảm albumin máu, cùng với cạnh tranh của acid béo với liên kết protein huyết tương, từ đó làm tăng Vd của nhiều thuốc Tuy nhiên, nhiều phương pháp hiệu chỉnh liều cho người suy thận giả định rằng thể tích phân bố của thuốc về cơ bản là không thay đổi Đối với độ thanh thải qua thận (ClR), tổn thương thận rất ít ảnh hưởng đến chuyển hóa thuốc tại gan; sự ứ trệ của các chất chuyển hóa khi suy thận có thể dẫn tới tăng bài xuất qua mật rồi đổ vào ruột, một phần được thải ra ngoài qua phân, phần khác được enzyme glucuronidase của ruột thủy phân, giải phóng thuốc trở lại dạng tự do và tái hấp thu trở lại vào máu Quá trình này ảnh hưởng đến độ thanh thải qua thận và làm giảm khả năng thải trừ của thuốc qua đường tiểu.
Thời gian bán thải (t 1/2 ): Do t1/2 tỉlệ thuận Vd và tỉ lệ nghịch Cl, nên t1/2 tăng khi bị suy thận
Hậu quả diện tích dưới đường cong (AUC) trong dược động học được thể hiện qua công thức AUC = F × D / Cl, trong đó D là liều dùng và F là sinh khả dụng Khi liều thuốc không đổi, nếu Cl giảm thì AUC tăng lên, gây tích lũy thuốc và tăng nguy cơ độc tính Do đó, việc theo dõi AUC và cân nhắc điều chỉnh liều hoặc đường dùng là cần thiết để kiểm soát phơi nhiễm thuốc, đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.
Sự thay đổi các thông số dược động học trên bệnh nhân suy thận được tóm tắt trong bảng 1.2
Bảng 1.2 Sự thay đổi các thông số dược động học trên bệnh nhân suy thận
Giai đoạn dược động học Thông số dược động học Thay đổi thông số
Sinh khả dụng (F%) Không bị ảnh hưởng Diện tích dưới đường cong
Phân bố Thể tích phân bố (Vd) Thường không đổi
Chuyển hóa, thải trừ Độ thanh thải qua thận (ClR) Giảm độ thanh thải thuốc qua thận Thời gian bán thải (t1/2) Kéo dài t1/2 của thuốc
1.1.3 Căn cứ hiệu chỉnh liều thuốc trên bệnh nhân suy thận
Hệ số thanh thải thuốc toàn phần biểu thị khả năng loại bỏ thuốc khỏi huyết thanh và huyết tương bởi các cơ quan bài tiết trong cơ thể như gan, thận, phổi, da, nước bọt và tuyến tiết; tuy nhiên gan và thận đóng vai trò chính trong quá trình chuyển hóa và bài tiết thuốc Do đó, Cl toàn phần được xem như xấp xỉ bằng tổng của Cl thận và Cl gan (Cl toàn phần ~ Cl thận + Cl gan).
Nghiên cứu của Kunin và cộng sự cho thấy việc xác định liều chính xác trên bệnh nhân suy thận rất khó khăn do mối quan hệ giữa chức năng thận và thời gian bán thải của thuốc được thể hiện bằng đường cong Sau đó, Dettli và cộng sự đã đề xuất cách khắc phục khó khăn này bằng phân tích mối quan hệ giữa độ thanh thải thuốc với mức lọc cầu thận và được mô tả dưới dạng một mô hình toán học Trong mô hình này, giả định thuốc nhanh chóng đạt trạng thái cân bằng ở dịch cơ thể và trong mô Phương trình biểu diễn mối tương quan giữa các tham số này cho phép mô tả và phân tích ảnh hưởng của mức lọc cầu thận lên thời gian bán thải và liều dùng ở bệnh nhân suy thận.
Cl toàn bộ = a*GFR + b, trong đó b là Cl ngoài thận ~ Cl gan
Khi bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận, clearance toàn phần (Cl) sẽ thay đổi và mức độ thay đổi phụ thuộc vào con đường thanh thải của thuốc Đối với các thuốc thải trừ nhiều qua thận ở dạng còn hoạt tính, sự suy giảm chức năng thận làm giảm Cl toàn phần Trong những trường hợp này, Cl toàn phần thường có mối quan hệ tuyến tính với GFR và có thể được mô tả bằng công thức gần đúng Cl ≈ a × GFR, với a là hệ số tương ứng cho từng thuốc.
Như vậy, việc hiệu chỉnh liều phụ thuộc vào mức độ giảm thải thuốc qua thận được đánh giá thông qua mức lọc cầu thận (GFR); nội dung chi tiết liên quan được đề cập ở phần sau.
1.1.4 Tầm quan trọng của việc hiệu chỉnh liều thuốc trên bệnh nhân suy thận
Việc thay đổi các thông số dược động học dẫn đến giảm thanh thải thuốc, tích lũy thuốc và liều thuốc không phù hợp là nguyên nhân chính gây ra ADE nghiêm trọng ở bệnh nhân suy thận Trong một nghiên cứu gồm 900 bệnh nhân bị suy thận, Hug và cộng sự phát hiện 90 ADE có liên quan đến thuốc thải trừ qua thận hoặc thuốc gây độc cho thận, trong đó 91% (n = 82/90) có thể phòng ngừa được, 51% (n = 46/90) nghiêm trọng và 4,5% (n = 4/90) đe dọa tính mạng Bệnh nhân cao tuổi có nguy cơ ADE cao hơn do sự suy giảm chức năng thận, liên quan đến tuổi tác và các yếu tố nguy cơ khác như sử dụng đồng thời nhiều thuốc Việc sử dụng thuốc không hiệu chỉnh liều làm tăng 40% nguy cơ tử vong ở những bệnh nhân lớn tuổi bị suy thận Các nghiên cứu trong chăm sóc bệnh cấp tính đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chỉnh liều và quản lý dược động học nhằm giảm ADE ở bệnh nhân suy thận.
6 chứng minh rằng trong các đơn thuốc cần được hiệu chỉnh liều theo chức năng thận, có tỉ lệ 20–50% vẫn chưa được hiệu chỉnh [9], [60]
Biến cố liên quan đến thuốc ở bệnh nhân suy thận có thể phòng ngừa được phần lớn bằng cách hiệu chỉnh liều thuốc, nhưng thực hành này vẫn chưa được thực hiện thường xuyên trong lâm sàng Nghiên cứu của Quartarolo và cộng sự cho thấy ngay cả khi bác sĩ nhận thức được sự cần thiết thay đổi hành vi, họ không phải lúc nào cũng nhớ để hiệu chỉnh liều Dược động học của khoảng hai phần ba các thuốc đang lưu hành phụ thuộc chức năng thận Vì vậy, để tối ưu hiệu quả điều trị và giảm thiểu độc tính do tích lũy thuốc khi quá trình thải trừ qua thận còn hoạt tính, việc hiệu chỉnh liều dựa trên cá thể hóa tình trạng suy thận của từng bệnh nhân là vô cùng cần thiết.
1.1.5 Đánh giá chức năng thận Đánh giá chức năng thận rất quan trọng trong thực hành lâm sàng trong giai đoạn đầu phát hiện bệnh thận để ra quyết định xung quanh các kế hoạch điều trị Mức lọc cầu thận (GFR) được sử dụng rộng rãi làm thước đo đánh giá chức năng thận, để xác định độ thanh thải thuốc qua thận đối với các thuốc thải trừ hoàn toàn hoặc một phần qua thận, từ đó hướng dẫn chỉnh liều thuốc cho bệnh nhân suy thận [31], [62]
1.1.5.1 Chất thăm dò để đo GFR
Chất thăm dò lý tưởng cho GFR là các chất nội sinh hoặc ngoại sinh có liên kết protein ở mức thấp và được lọc hoàn toàn tại cầu thận Chúng không bị bài tiết và cũng không được tái hấp thu ở ống thận Nhờ các đặc tính này, các chất thăm dò này cho phép đo GFR chính xác và đáng tin cậy [62].
Chất thăm dò nội sinh có nồng độ ổn định là công cụ hữu ích để đánh giá chức năng thận Việc đo lường các chất này là một quy trình thường quy, rẻ tiền và dễ tiếp cận trong lâm sàng [72] Các chất thăm dò nội sinh phổ biến nhất được sử dụng trong thực tế sẽ được liệt kê dưới đây.
Can thiệp dược lâm sàng trong hiệu chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận
1.2.1 Hoạt động can thiệp dược lâm sàng
Theo ASHP, nhiệm vụ của dược sĩ là cung cấp chăm sóc dược, được định nghĩa là việc cung cấp trực tiếp, có trách nhiệm về chăm sóc liên quan đến thuốc nhằm đạt được các kết quả tốt nhất và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [8] Trong phạm vi này, dược sĩ sử dụng quan điểm và kiến thức về điều trị bằng thuốc để đánh giá tình trạng bệnh nhân và các vấn đề liên quan đến thuốc, từ đó đề xuất các can thiệp điều trị nhằm nâng cao tính an toàn/hiệu quả và tối ưu hóa chi phí/hiệu quả của thuốc [8].
Tại Việt Nam, cuối năm 2020 chính phủ đã ban hành nghị định 131/2020/NĐ-
CP quy định về tổ chức và hoạt động dược lâm sàng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, xác định ba giai đoạn mà dược sĩ lâm sàng có thể can thiệp và phát huy vai trò, với vai trò nổi bật nhất ở giai đoạn kê đơn, giám sát sử dụng thuốc và tư vấn cho bệnh nhân [4].
1.2.2 Hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng trên phần mềm kê đơn điện tử HIS
Vào năm 2003, các nhà nghiên cứu của Đại học Harvard định nghĩa phần mềm kê đơn điện tử CPOE (hay HIS) là tập hợp các hệ thống dựa trên máy tính có đặc điểm tự động hóa quy trình kê đơn và đảm bảo các đơn thuốc được chuẩn hóa, rõ ràng và đầy đủ [40] Đây được xem là một trong những tiêu chí quan trọng để thực hiện bệnh án điện tử (EMR).
Theo Trung tâm Dịch vụ Medicare và Medicaid (CMS), CPOE được định nghĩa là việc sử dụng máy tính hoặc thiết bị di động để nhập trực tiếp các đơn thuốc, sau đó đơn thuốc được lưu ở định dạng kỹ thuật số, có cấu trúc và có thể tính toán được nhằm cải thiện tính an toàn Hai định nghĩa này cho thấy CPOE có các đặc điểm chung là bác sĩ nhập trực tiếp y lệnh và làm việc thông qua một giao diện kỹ thuật số được tiêu chuẩn hóa.
Hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng (CDSS) gồm nhiều công cụ và can thiệp khác nhau, có thể chạy realtime trên phần mềm Hệ thống thông tin bệnh viện (HIS) hoặc độc lập; các công cụ được tích hợp trên HIS có thể cung cấp các hướng dẫn lâm sàng hoặc các nguồn hỗ trợ quyết định lâm sàng kỹ thuật số như ClinicalKey hoặc UpToDate Một dạng CDSS cơ bản là các công cụ giúp tập trung sự chú ý từ dữ liệu của hệ thống quản lý xét nghiệm (LIS) hoặc hệ thống thông tin dược (PIS), nhằm đưa ra cảnh báo khi kê đơn thuốc và đề xuất xử trí khi gặp tương tác thuốc-thuốc Trong những năm gần đây, hệ thống kết nối trên bệnh án điện tử (EMR/EHR) ngày càng hoàn thiện, cho phép các công cụ cung cấp khuyến cáo cụ thể cho từng bệnh nhân gọi là CDSS nâng cao CDSS nâng cao được chạy realtime trên phần mềm HIS, bao gồm kiểm tra tương tác thuốc–bệnh, hỗ trợ dùng thuốc cho từng cá thể dựa trên chức năng thận và các khuyến cáo về xét nghiệm trong quá trình sử dụng thuốc.
Bảng 1.4 thể hiện ứng dụng của việc tích hợp CDSS vào phần mềm quản lý bệnh viện (HIS) trong các nghiên cứu ở một số khía cạnh khác nhau
Bảng 1.4 Tổng hợp một số ứng dụng của CDSS liên quan đến sử dụng thuốc
STT Nghiên cứu Khía cạnh ứng dụng của CDSS
Giảm thời gian chỉ định điều trị thích hợp ở các bệnh nhân phẫu thuật có tình trạng nguy cấp
2 Jesse I Wolfstadt và cộng sự (2008) [79] Giảm tần suất biến cố bất lợi liên quan đến thuốc
3 Elizabeth Manias và cộng sự (2012) [50] Giảm tần suất sai sót liên quan đến thuốc
4 Laura Légat và cộng sự
(2018) [45] Kiểm tra dị ứng thuốc
5 Pierre Durieux và cộng sự (2008) [21]
Hướng dẫn liều lượng thuốc dựa trên các xét nghiệm
STT Nghiên cứu Khía cạnh ứng dụng của CDSS
6 Pieter J Helmons và cộng sự (2015) [34] Kiểm tra tương tác thuốc – thuốc
7 Yen-Fu Chen và cộng sự (2005) [13] Kiểm tra tương tác thuốc – bệnh
8 Cheng-Yi Yang và cộng sự (2018) [80] Kiểm tra trùng lặp thuốc
9 Robby Nieuwlaat và cộng sự (2011) [57]
Cải thiện việc theo dõi và định lượng thuốc điều trị
10 Amit X Garg và cộng sự (2005) [28]
Cải thiện khả năng phòng ngừa bệnh tật, tuân thủ các hướng dẫn điều trị
Mô hình cây quyết định là một trong những mô hình lâu đời nhất nhưng vẫn được sử dụng rất nhiều trong thực hành lâm sàng ngày nay Các hệ thống CDSS sử dụng mô hình này dưới dạng chuỗi các quy tắc logic “nếu… thì…”, cho phép con người giải thích được và tuân thủ các bước dựa trên các hướng dẫn điều trị Những quy tắc lâm sàng như vậy còn được gọi là quy tắc có thể diễn giải bằng máy tính hoặc thuật toán, giúp CDSS tự động hóa việc thu thập thông tin và đưa ra cảnh báo về việc sử dụng thuốc theo hướng dẫn trong quá trình kê đơn hoặc điều trị cho bệnh nhân.
1.2.3 Hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng trên bệnh nhân suy thận
Trong thực hành lâm sàng với bệnh nhân suy thận, CDSS hứa hẹn mang lại những cải tiến quan trọng cho chăm sóc bằng cách kích hoạt các cảnh báo khác nhau và tối ưu hóa hiệu chỉnh liều thuốc CDSS hiệu chỉnh liều thuốc cho bệnh nhân suy thận hiệu quả nhất khi được bổ sung đầy đủ kiến thức đồng thuận từ lâm sàng, như danh sách thuốc và các khuyến nghị dựa trên eGFR hoặc eCrCl, để hệ thống tự động nhận dạng thông tin chức năng thận và đề xuất liều phù hợp Để hỗ trợ bác sĩ và ngăn ngừa các biến cố liên quan đến thuốc, các biện pháp can thiệp của dược sĩ lâm sàng đem lại lợi ích, nhưng ở những nơi thiếu dược sĩ lâm sàng tại khoa lâm sàng, các phương pháp tiếp cận thay thế cần được xem xét Phần mềm hỗ trợ kê đơn đã được chứng minh làm giảm khoảng 50% các tác dụng phụ có thể gặp.
Theo nghiên cứu [59], có 13 biện pháp ngăn ngừa sai thuốc trong bệnh viện Để cải thiện chất lượng kê đơn, các thuật toán hỗ trợ kê đơn có hướng dẫn dành cho bệnh nhân suy thận nên được tích hợp vào phần mềm hỗ trợ kê đơn, nhằm nâng cao an toàn thuốc, tăng tính chính xác của liều lượng và giảm nguy cơ biến chứng trong quy trình điều trị.
Hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng (CDSS) thường được thiết kế với ba thành phần chính: cơ sở kiến thức, các thuật toán và thông tin cùng cảnh báo cho người dùng Mô hình cấu trúc của CDSS được mô tả trong hình 1.1.
Hình 1.1 Mô hình cấu trúc của CDSS
Cơ sở kiến thức chứa dữ liệu được biên soạn dưới dạng quy tắc If – Then và luôn cần được chỉnh sửa, cập nhật mỗi khi xuất hiện thuốc mới trong danh mục thuốc của bệnh viện Thuật toán là sự kết hợp giữa các quy tắc từ cơ sở kiến thức với dữ liệu bệnh nhân thực tế, đồng thời bao gồm một tập hợp các quy tắc khác dựa trên bằng chứng hoặc ý kiến chuyên gia [25] Thông tin/cảnh báo, chẳng hạn như email hoặc cảnh báo, hiển thị kết quả trực tiếp cho người dùng Ngoài ra, hệ thống cũng lưu vết số lượng khuyến cáo về liều được chấp nhận hoặc bị từ chối để phân tích sau này.
1.2.4 Mô hình can thiệp của dược sĩ lâm sàng dựa trên hệ thống CDSS và báo cáo giám sát
Tất cả các trường hợp cảnh báo liên quan đến thuốc sẽ được hệ thống ghi lại và lưu thành báo cáo trong dữ liệu của bệnh viện Dược sĩ lâm sàng có thể dựa vào báo cáo này để giám sát (audit) việc sử dụng thuốc trên từng bệnh nhân, từ đó lên kế hoạch trao đổi (feedback) với bác sĩ về các trường hợp có biến cố liên quan đến thuốc đã xảy ra.
Sau khi xem xét, các bên đồng thuận đưa ra cách thức xử trí dùng thuốc phù hợp nhất cho mỗi bệnh nhân cụ thể, cân nhắc nguy cơ/lợi ích dựa trên đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm dùng thuốc Hình 1.2 mô tả mô hình vai trò của dược sĩ trong giám sát và phản hồi trên hệ thống cảnh báo hiệu chỉnh liều của phần mềm HIS.
Hình 1.2 Mô hình về vai trò của dược sĩ trong giám sát (Audit) và phản hồi (Feedback) trên hệ thống cảnh báo hiệu chỉnh liều của phần mềm HIS
Các nghiên cứu ứng dụng CDSS trong hiệu chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận
Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra tác động của CDSS đến chất lượng kê đơn cho bệnh nhân suy thận với kết quả cải thiện đáng kể khi kê đơn trong thực hành lâm sàng Chertow và cộng sự so sánh tỷ lệ kê đơn không phù hợp của 7490 bệnh nhân suy thận nhập viện trong 2 tháng giữa giai đoạn trước can thiệp (sử dụng CPOE thông thường) và giai đoạn can thiệp (CPOE được tích hợp CDSS), đã chứng minh sự giảm đáng kể các đơn thuốc không phù hợp từ 70% (n = 6298/8950) trong nhóm đối chứng xuống 49% (n = 2714/5490) ở nhóm can thiệp (p < 0,001) [14] Năm 2011, Davy Tawadrous và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu tổng quan hệ thống từ 32 nghiên cứu tiến cứu sử dụng CDSS để hỗ trợ kê đơn thuốc trên bệnh nhân suy thận Trong đó 17 nghiên cứu với CDSS chạy realtime trên phần mềm HIS và 15 là không Kết quả cho thấy, đối với CDSS được chạy realtime trên phần mềm HIS, tần suất dùng thuốc thích hợp được xem xét trong 11 nghiên cứu, tất cả đều cải thiện có ý nghĩa thống kê Tương tự ở các CDSS không cài trên phần mềm HIS, 6 trong 8 nghiên cứu có tần suất dùng thuốc thích hợp
Các kết quả cho thấy 15 cải thiện có ý nghĩa thống kê Trong 7 nghiên cứu về CDSS chạy realtime trên phần mềm HIS, có 2 nghiên cứu cho thấy cải thiện có ý nghĩa thống kê liên quan đến các kết quả ở bệnh nhân, ví dụ như giảm tác dụng phụ thuốc Đối với CDSS không được tích hợp trên phần mềm HIS, 5/6 nghiên cứu cho thấy cải thiện có ý nghĩa thống kê Kết luận, các nghiên cứu cho thấy CDSS có tiềm năng nâng cao tính hợp lý trong kê đơn thuốc cho bệnh nhân suy thận bằng cách hỗ trợ quyết định từ hiệu chỉnh liều, thay đổi thuốc, theo dõi bệnh nhân hoặc ngừng điều trị [75].
Trong năm 2016, Sophie Desmedt và cộng sự tiến hành nghiên cứu so sánh trước – sau nhằm đánh giá tác động của hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng (CDSS) trong hiệu chỉnh liều thuốc (85 thuốc) ở bệnh nhân suy thận tại một bệnh viện 975 giường ở Brussels Các đơn thuốc của bệnh nhân suy thận được xem xét ở hai giai đoạn tương đương, mỗi giai đoạn 6 ngày, trước và sau khi triển khai CDSS (tháng 9/2009 và 2010) Tổng số 615 bệnh nhân tham gia nghiên cứu (301 trước và 314 sau khi thực hiện CDSS) Trong hai giai đoạn, lần lượt 2882 và 3485 đơn thuốc được đánh giá, với 14,9% và 16,6% cảnh báo xuất hiện Lý do liều lượng không phù hợp lần lượt là 25,4% và 24,6% các đơn thuốc (OR 0,97; 95% CI 0,72–1,29) Các loại thuốc có liều không phù hợp nhiều nhất gồm perindopril, tramadol và allopurinol Các tác giả kết luận rằng CDSS không làm giảm đáng kể tỷ lệ liều thuốc không phù hợp ở bệnh nhân suy thận; cần nghiên cứu thêm để giải thích lý do người kê đơn hủy bỏ cảnh báo Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò hoạt động dược lâm sàng của dược sĩ cần kết hợp song song với CDSS để cải thiện chất lượng kê đơn cho bệnh nhân suy thận và cho rằng CDSS cần được đánh giá lại và cải tiến thường xuyên.
Tiếp theo, các cảnh báo bị hủy bỏ sẽ hiển thị cho dược sĩ để kiểm soát và can thiệp bổ sung Theo nghiên cứu của Falconnier, tỷ lệ hiệu chỉnh liều thuốc phù hợp với chức năng thận tăng từ 33% (n = 23/70) lên 81% (n = 155/192) khi có phản hồi ngay lập tức từ dược sĩ lâm sàng [23].
Hình ảnh về cảnh báo liều thuốc trên bệnh nhân suy thận trong nghiên cứu của Desmedt S và cộng sự (2018)
Hình 1.3 Cửa số cảnh báo liều dùng thuốc Aldactone [17]
Các kết quả nghiên cứu ứng dụng CDSS trong hiệu chỉnh liều thuốc trên bệnh nhân suy thận được trình bày trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Tóm tắt các nghiên cứu ứng dụng CDSS trong hiệu chỉnh liều thuốc trên bệnh nhân suy thận
STT Nghiên cứu Kết quả chính
CDSS có thể phát hiện quá liều thuốc và giảm tỉ lệ dùng thuốc chống chỉ định trên bệnh nhân suy thận điều trị nội trú từ 89% xuống 47% (P