BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN THỊ NGUYỆT PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT VÀ TUÂN THỦ DÙNG THUỐC TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 TẠI TRUNG TÂM
TỔNG QUAN
BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2021), đái tháo đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose huyết, là hậu quả của sự thiếu hụt insulin hoặc sự khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính thường dẫn đến sự hủy hoại, rối loạn chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, tim và mạch máu.
Đái tháo đường type 2 là một rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, đặc trưng bởi tăng đường huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, hoặc do tác động bất thường của insulin, hoặc cả hai Tăng đường huyết mạn tính kéo dài gây rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protid và lipid, dẫn đến tổn thương ở nhiều cơ quan, đặc biệt là tim mạch, thận, mắt và thần kinh.
1.1.2 Phân loại đái tháo đường
Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2021) và hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế ( 2017 ), bệnh đái tháo đường gồm [4], [20]:
- Đái tháo đường typ 1: do tế bào β của tuyến tụy bị phá vỡ, thường dẫn đến thiếu hụt insulin tuyệt đối
- Đái tháo đường typ 2: do quá trình giảm tiết insulin trên nền tảng đề kháng với insulin
- Đái tháo đường thai kỳ: là ĐTĐ được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc
3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ typ 1, typ 2 trước đó
ĐTĐ do các nguyên nhân khác là nhóm thể bệnh chuyên biệt, gồm ĐTĐ sơ sinh và ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như glucocorticoid, ĐTĐ liên quan điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô Những dạng này thường xuất hiện ở người trẻ nhưng thường được nhận diện ở tuổi trưởng thành.
1.1.3.1 Các biến chứng cấp tính
Hôn mê nhiễm toan ceton là biến chứng có nguy cơ tử vong cao, bắt nguồn từ sự tăng tiết hormone gây tăng glucose huyết và thiếu hụt insulin, khiến gan tăng sản xuất glucose, tăng ly giải lipid và tăng tổng hợp ceton, dẫn tới nhiễm toan chuyển hóa [14].
- Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu do tăng glucose huyết nặng, tăng đường niệu và gây mất nước, thường xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [14]
Hạ đường huyết xảy ra khi glucose huyết tương giảm xuống dưới 3,1 mmol/L; khi xuống dưới 2,8 mmol/L được xem là hạ đường huyết nặng Triệu chứng của hạ đường huyết xuất hiện ở mức nhẹ với vã mồ hôi và run tay chân; ở mức trung bình dễ bị kích thích; và ở mức nặng có thể dẫn tới hôn mê, đặc biệt khi bệnh nhân dùng thuốc điều trị ĐTĐ quá liều Nguyên nhân gây hạ đường huyết có thể là dùng thuốc lúc đói, bỏ bữa, hoặc phối hợp với các thuốc khác như chẹn beta và thuốc giãn mạch vành.
- Các bệnh nhiễm trùng cấp tính [13], [32]
- Biến chứng mạch máu lớn: xơ vữa mạch vành, xơ vữa mạch não …[1]
Biến chứng mạch máu nhỏ ở đái tháo đường type 2 gồm các biến chứng võng mạc đái tháo đường và thận đái tháo đường như viêm hoại tử đài bể thận và bệnh cầu thận đái tháo đường; đồng thời bệnh lý thần kinh ngoại vi gây rối loạn cảm giác, rối loạn vận động và rối loạn tự động cũng rất phổ biến, đặc biệt ở người cao tuổi.
- Biến chứng bàn chân: loét bàn chân do ĐTĐ
- Biến chứng nhiễm khuẩn như: da, niêm mạc, phổi, tiết niệu – sinh dục
Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế năm 2017, chẩn đoán đái tháo đường được xác định khi người bệnh đáp ứng 1 trong 4 tiêu chuẩn chẩn đoán được nêu ra Việc áp dụng đúng 4 tiêu chuẩn này giúp đánh giá mức đường huyết và các yếu tố liên quan, từ đó xác định tình trạng bệnh và lên phương án điều trị phù hợp cho từng người.
Glucose huyết lúc đói (FPG) ≥ 126 mg/dL (7 mmol/L) được xem là chỉ số bất thường cho chẩn đoán, và để đo FPG một cách chính xác, bệnh nhân cần nhịn ăn ít nhất 8 giờ (thường nhịn đói qua đêm từ 8–14 giờ), không uống nước ngọt mà có thể uống nước lọc hoặc nước đun sôi để nguội.
Glucose huyết ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/l)
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương 75 g, hòa tan trong 250–300 ml nước và uống trong vòng 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân nên ăn khẩu phần có khoảng 150–200 g carbohydrate mỗi ngày.
HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế
Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dl (hay 11,1mmol/l)
Nếu bạn không có các triệu chứng điển hình của tăng glucose huyết như tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều và sụt cân không rõ nguyên nhân, việc chẩn đoán cần dựa vào việc lặp lại các xét nghiệm: FPG (nồng độ glucose huyết lúc nhịn), nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT) và nồng độ glucose huyết ở bất kỳ thời điểm nào Để xác nhận chẩn đoán, các xét nghiệm này nên được lặp lại lần thứ hai sau lần đầu với khoảng thời gian từ 1 đến 7 ngày.
Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán ĐTĐ là định lượng glucose huyết lúc đói hai lần với kết quả ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c hai lần để chẩn đoán ĐTĐ.
ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
Mục tiêu chung điều trị của ĐTĐ là ngăn chặn hoặc làm chậm tiến triển biến chứng của ĐTĐ và nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân (ADA 2021)
Mục tiêu điều trị đái tháo đường typ 2 theo các hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế năm 2017 và Hiệp hội đái tháo đường Hoa kỳ (ADA) năm 2021 được thể hiện trong bảng 1.1 Nội dung bảng nêu rõ các mục tiêu kiểm soát đường huyết, huyết áp và lipid, cùng với các nguyên tắc điều trị cá nhân hóa và chăm sóc toàn diện nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị, giảm biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh đái tháo đường typ 2.
Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [4], [20]
Glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn
80 – 130 mg/dl (4,4 – 7,2 mmol/l)* Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ
HA 15%: HA