Việc lạm dụng lựa chọn thuốc biệt dược có tính chủ quan, theo thói quen, có lợi ích cá nhân đã dẫn tới việc lựa chọn danh mục thuốc điều trị tại bệnh viện không hiệu quả.. Vấn đề phân tí
TỔNG QUAN
DANH MỤC THUỐC VÀ XÂY DỰNG DANH MỤC THUỐC
1.1.1 Khái niệm danh mục thuốc
Danh mục thuốc (DMT) là danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và là cơ sở để bác sĩ kê đơn thuốc cho người bệnh Đối với bệnh viện, DMT là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong quá trình điều trị tại cơ sở y tế này [1] [2].
Yêu cầu của thuốc được lựa chọn vào Danh mục thuốc:
Thuốc đảm bảo hiệu lực điều trị bằng cách lựa chọn dựa trên y học dựa trên bằng chứng Dựa trên tài liệu đầy đủ và nguồn tin cậy, các thuốc đã được chứng minh có hiệu quả điều trị, do đó nên chọn thuốc có hiệu quả điều trị tốt nhất trong nhóm các thuốc đã được xác nhận.
Thuốc có độ an toàn cao được xác định dựa trên dữ liệu đầy đủ và đáng tin cậy, tiến hành phân tích nguy cơ và lợi ích để chọn thuốc có tỉ lệ an toàn phù hợp nhất và đưa vào danh mục Những thuốc ít phản ứng phụ được ưu tiên nhằm giảm thiểu rủi ro cho người dùng và tối ưu hóa hiệu quả điều trị.
Thuốc đảm bảo chất lượng được xây dựng trên hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đầy đủ, bao gồm cả độ ổn định và sinh khả dụng, nhằm đảm bảo thuốc phát huy tối đa công dụng và an toàn cho người dùng Việc lựa chọn thuốc từ các cơ sở dược phẩm đạt chuẩn GMP và GSP là yếu tố then chốt giúp đảm bảo nguồn gốc, quy trình sản xuất và quản lý chất lượng đạt chuẩn, từ đó mang lại sự tin tưởng và hiệu quả điều trị cho người dùng.
Thuốc có giá cả hợp lý, vừa phù hợp với hiệu quả điều trị vừa đảm bảo chất lượng thông qua thuốc mang tên INN DMT bệnh viện là cơ sở thiết yếu để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch, nhằm phục vụ nhu cầu điều trị một cách an toàn và hiệu quả Khi một DMT bệnh viện được xây dựng tốt, nó mang lại lợi ích to lớn như tối ưu quy trình quản lý thuốc, đảm bảo nguồn cung ổn định, tăng cường an toàn thuốc và nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh.
+ Loại bỏ được các loại thuốc không an toàn và không hiệu quả, do đó có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong
+ Giảm số lượng và chi phí mua thuốc; sử dụng chi phí tiết kiệm được để mua các thuốc có chất lượng tốt, an toàn và hiệu quả hơn
Mỗi bệnh viện có DMT (Danh mục thuốc thiết yếu) khác nhau, được xây dựng và cập nhật hàng năm dựa trên nhu cầu điều trị hợp lý của các khoa lâm sàng Xây dựng DMT phù hợp sẽ góp phần rất lớn vào công tác điều trị và quản lý bệnh viện Một DMT có quá nhiều thuốc không cần thiết sẽ dẫn đến lãng phí nguồn ngân sách của nhà nước cũng như của người bệnh.
1.1.2 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc
Thông tư 21/2013/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành đã đưa ra nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc bệnh viện:
- Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện;
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kĩ thuật;
- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tạo bệnh viện;
- Đáp ứng với các phương pháp mới, kĩ thuật mới trong điều trị;
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện;
- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do
- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước
1.1.3 Các tiêu chí lựa chọn thuốc
Khoa Dược đề nghị xây dựng danh mục thuốc bệnh viện và thông qua HĐT&ĐT để góp ý, chỉnh sửa; sau khi HĐT&ĐT thống nhất, Khoa Dược sẽ tổng hợp thành danh mục và trình lên Giám đốc bệnh viện xem xét ký duyệt, ban hành danh mục thuốc chính thức Việc lựa chọn danh mục thuốc trong bệnh viện phải dựa vào các tiêu chí được nêu.
+ Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng
Thuốc có sẵn ở dạng bào chế phù hợp, bảo đảm sinh khả dụng và ổn định về chất lượng Các điều kiện bảo quản và sử dụng được tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định hiện hành.
Khi có hai hoặc nhiều thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí đã nêu, việc lựa chọn nên dựa trên đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị, tính an toàn và chất lượng Đồng thời cần xem xét thêm giá cả và khả năng cung ứng để đảm bảo quyết định tối ưu cho người bệnh.
Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế và cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần dựa vào phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với nhau Cần so sánh tổng chi phí liên quan đến toàn bộ quá trình điều trị, thay vì so sánh chi phí theo đơn vị từng thuốc Phương pháp đánh giá chi phí - hiệu quả giúp tối ưu hóa ngân sách y tế, nâng cao hiệu quả điều trị và hỗ trợ quyết định lâm sàng dựa trên bằng chứng về lợi ích và chi phí.
Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất để đảm bảo tính minh bạch về liều lượng và đáp ứng nhu cầu điều trị của từng bệnh nhân; đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần, phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất, đáp ứng được yêu cầu điều trị trên một quần thể người bệnh đặc thù và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, độ an toàn hoặc tính tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất.
+ Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể.
CÁC VĂN BẢN PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Việc phân tích danh mục thuốc sẽ phải căn cứ vào nhiều văn bản pháp lý, trong đó chủ yếu là các văn bản sau:
TT Số/Ký hiệu Ngày ban hành Nội dung văn bản
1 54/2017/NĐ-CP 08/5/2017 Qui định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật dược
4.1 Quy định về công tác dược bệnh viện
1 22/2011/TT-BYT 10/6/2011 Qui định tổ chức và hoạt động khoa dược bệnh viện
TT Số/Ký hiệu Ngày ban hành Nội dung văn bản
2 23/2011/TT-BYT 10/6/2011 Hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
3 31/2012/TT-BYT 20/12/2012 Hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện
4 21/2013/TT-BYT 08/08/2013 Quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện
Danh mục thuốc và sinh phẩm được bảo hiểm chi trả cùng với tỷ lệ thanh toán và các điều kiện thanh toán áp dụng đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế.
Ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quĩ BHYT
Quy định về kê đơn thuốc YHCT, kê đơn thuốc YHCT kết hợp với thuốc hóa dược trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
8 06/2017/TT-BYT 03/5/2017 Ban hành Danh mục thuốc độc và nguyên liệu độc làm thuốc
Quy định chi tiết một số điều của Luật Dược và Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08/5/2017 của Chính phủ về thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát đặc biệt nhằm xác định rõ phạm vi, điều kiện và biện pháp quản lý đối với các loại thuốc và nguyên liệu có nguy cơ cao Văn bản này quy định cụ thể các yêu cầu về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh và lưu hành thuốc, cũng như quy trình cấp phép, giám sát và xử lý vi phạm để đảm bảo an toàn, chất lượng và hiệu lực cho người dùng trên thị trường Việt Nam Đồng thời, các quy định nhằm tăng cường tính minh bạch, quản lý chặt chẽ và tuân thủ các chuẩn mực dược phẩm quốc gia và quốc tế về kiểm soát đặc biệt đối với thuốc và nguyên liệu làm thuốc.
Ban hành Danh mục thuốc thiết yếu
TT Số/Ký hiệu Ngày ban hành Nội dung văn bản
Việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập được quy định rõ ràng: yêu cầu sử dụng 80%-120% số lượng thuốc trúng thầu Trong một số trường hợp đặc thù, cơ sở y tế được phép mua bổ sung vượt mức nhưng tổng lượng thuốc vượt không được vượt quá 20% so với tổng lượng của nhóm thuốc thuộc hợp đồng đã ký.
Ban hành danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm….thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT
Ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu điều trị, giá trị và khả năng cung cấp
4.2 Quy định về đấu thầu mua thuốc
Ban hành Danh mục thuốc đấu thầu, Danh mục thuốc đấu thầu tập trung, Danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá
Ban hành Danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp
3 11/2016/TT-BYT 11/5/2016 Quy định việc đấu thầu thuốc tại cơ sở y tế công lập
TT Số/Ký hiệu Ngày ban hành Nội dung văn bản
1 37/2008/QĐ-BYT 20/11/2008 Ban hành Danh mục thuốc hiếm theo yêu cầu điều trị
2 3745/BHXH-VN 8/9/2018 Thống nhất tỷ lệ sử dụng thuốc BDG
VI VĂN BẢN PHÁP QUY ÁP DỤNG CHO BỆNH VIỆN
1 39/2017/TT-BYT 18/10/2017 Quy định gói dịch vụ y tế cơ bản cho tuyến cơ sở
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC
1.3.1 Phương pháp phân tích nhóm điều trị
Các bước tiến hành phân tích nhóm điều trị:
- Thiết lập danh mục thuốc bao gồm cả số lượng và giá trị:
+ Liệt kê các sản phẩm thuốc
Đối với mỗi sản phẩm thuốc, hãy điền đầy đủ các thông tin sau: đơn giá của sản phẩm (sử dụng giá tại các thời điểm nhất định nếu giá thuốc có sự biến động theo thời gian) và số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện, nhằm quản lý tồn kho và theo dõi chi phí y tế một cách chính xác.
Để tính tiền cho từng sản phẩm, ta nhân đơn giá với số lượng của sản phẩm đó Số tiền cho mỗi sản phẩm thuốc bằng tích của đơn giá và số lượng, và tổng số tiền thanh toán được xác định bằng tổng tiền của tất cả các sản phẩm thuốc đã được tính theo công thức này.
+ Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
Để tối ưu hóa quản lý thuốc, sắp xếp nhóm điều trị cho từng thuốc theo danh mục thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hoặc theo các tài liệu tham khảo chuẩn như hệ thống phân loại Dược lý – Điều trị của AHFS (American Hospital Formulary Service) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu – Điều trị – Hóa học (ATC) của WHO Việc áp dụng các chuẩn phân loại này giúp đảm bảo sự nhất quán trong xác định nhóm điều trị, tăng khả năng tra cứu và nâng cao hiệu quả an toàn thuốc trong quy trình điều trị.
Đầu tiên, sắp xếp lại danh mục thuốc theo nhóm điều trị và tổng hợp phần trăm sử dụng của mỗi thuốc trong từng nhóm, nhằm xác định nhóm điều trị chiếm chi phí lớn nhất Ý nghĩa của phương pháp phân tích nhóm điều trị là nhận diện các nhóm thuốc có mức tiêu thụ và chi phí cao nhất, từ đó dựa trên thông tin tình hình bệnh tật để xác định các vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý Đồng thời, đánh giá xem có thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không phản ánh đúng với các ca bệnh cụ thể HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế.
1.3.2 Phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC là một phương pháp phân tích nhằm xác định mối quan hệ giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, từ đó phân định ra các nhóm thuốc chiếm tỉ lệ lớn trong chi phí mua thuốc của bệnh viện Thông qua đánh giá mức độ tiêu thụ và chi phí liên quan, phân tích ABC phân loại thuốc thành nhóm A (những thuốc có chi phí chiếm phần lớn tổng chi phí), nhóm B và nhóm C, giúp nhận diện những thuốc chủ đạo ảnh hưởng đến ngân sách dược Việc áp dụng phân tích ABC giúp tối ưu hóa quản lý tồn kho, ưu tiên nguồn lực mua sắm và cải thiện hiệu quả chi tiêu cho quản lý dược phẩm tại bệnh viện.
- Vai trò và ý nghĩa của phân tích ABC
Phân tích ABC cho phép nhận diện các thuốc được sử dụng phổ biến nhất và các thuốc thay thế có giá trị thấp hơn có sẵn trong danh mục hoặc trên thị trường; từ đó có thể lựa chọn các thuốc thay thế có chỉ số chi phí-hiệu quả tốt hơn hoặc xác định các liệu pháp điều trị thay thế phù hợp; tiếp theo, tiến hành đàm phán với các đơn vị cung cấp để đạt được mức giá thấp hơn, tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả điều trị.
Phân tích ABC được tiến hành theo 7 bước sau:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm thuốc
Bước 2: Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc
- Đơn giá của mỗi sản phẩm (Sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá trị thay đổi theo thời gian)
- Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện
Bước 3: Tính tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm, tổng số sẽ bằng tổng tiền của mỗi sản phẩm
Bước 4: Tính % giá trị của mỗi sản phẩm bằng cách lấy của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
Bước 5: Sắp xếp các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
Đầu tiên tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho từng sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm thứ nhất và cộng dần với sản phẩm kế tiếp trong danh sách Quá trình này cho phép xác định phần trăm đóng góp của mỗi sản phẩm vào tổng giá trị chung, từ đó có thể đánh giá mức độ quan trọng của từng mặt hàng Sau khi hoàn tất tính toán, tiến hành phân nhóm sau bước này để sàng lọc và phân loại các sản phẩm theo các tiêu chí đã định.
- Nhóm A: Gồm những sản phẩm chiếm 75-80% tổng giá trị tiền
- Nhóm B: Gồm những sản phẩm chiếm 15-20% tổng giá trị tiền
- Nhóm C: Gồm những sản phẩm chiếm 5-10 % tổng giá trị tiền
Về số lượng: Nhóm A chiếm 10-20% tổng số sản phẩm, nhóm B chiếm 10-20% và còn lại là nhóm C chiếm 60-80%
1.3.3 Phương pháp phân tích VEN
Phân tích VEN là một phương pháp quản lý thuốc nhằm xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc tại bệnh viện khi nguồn kinh phí hạn chế và không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn Phương pháp này giúp sàng lọc và phân loại thuốc theo mức độ quan trọng, từ đó tối ưu hóa việc cấp phát nguồn lực dược và đảm bảo các thuốc thiết yếu được duy trì đầy đủ ngay cả trong điều kiện ngân sách hạn chế.
Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau:
Thuốc V (Vital drugs) là nhóm thuốc được sử dụng trong các trường hợp cấp cứu và các thuốc quan trọng không thể thiếu, để phục vụ cho công tác khám chữa bệnh của bệnh viện Việc duy trì đầy đủ Thuốc V giúp đảm bảo cấp cứu kịp thời, nâng cao chất lượng điều trị và đáp ứng các yêu cầu an toàn thuốc trong quy trình cấp phát và sử dụng tại cơ sở y tế.
Thuốc E (Essential Drugs) là danh mục thuốc được dùng cho các trường hợp bệnh ở mức độ ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là những bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện Việc triển khai Thuốc E nhằm đảm bảo tiếp cận thuốc thiết yếu cho người bệnh, tối ưu hóa chi phí điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc đối với các bệnh lý phổ biến tại cơ sở y tế.
Thuốc N (Non-Essential drugs) là nhóm thuốc được dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ hoặc bệnh có thể tự khỏi Danh mục này có thể bao gồm những thuốc mà hiệu quả điều trị chưa được khẳng định rõ ràng hoặc có giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.
* Các bước của phân tích VEN
- Từng thành viên trong HĐT&ĐT sắp xếp các thuốc theo 3 loại V,E hoặc N
- Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất sau đó HĐT&ĐT sẽ:
+ Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp
+ Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này nếu có thể nhóm V và E có lượng dự trữ an toàn
- Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N
- Ý nghĩa của phân tích VEN
Phương pháp phân tích VEN là công cụ chiến lược giúp xác định thuốc thiết yếu và ưu tiên cho quá trình lựa chọn mua thuốc và sử dụng trong hệ thống y tế Việc phân loại và đánh giá VEN hỗ trợ quản lý tồn kho hiệu quả, từ đó tối ưu hóa nguồn lực và giảm thiểu lãng phí Nhờ VEN, cơ sở y tế có thể xác định những thuốc cần ưu tiên sử dụng và mua với giá cả phù hợp cụ thể, đảm bảo sự có mặt của thuốc thiết yếu và hiệu quả chi phí trong hệ thống cung ứng.
Việc lựa chọn thuốc: Các thuốc V và E nên được đưa ra ưu tiên lựa chọn Đặc biệt khi ngân sách hạn hẹp
Trong hoạt động mua thuốc, cần kiểm soát thường xuyên các thuốc V và E khi đặt hàng và dự trữ, đồng thời giảm tồn kho các thuốc không thiết yếu Nếu ngân sách cho phép, phân tích VEN sẽ giúp đảm bảo mua đủ số lượng thuốc V và E trước tiên Sau khi thực hiện phân tích VEN, cần lựa chọn nhà cung cấp đáng tin cậy để mua các thuốc thiết yếu Với nhà cung cấp mới, có thể thử nghiệm bằng cách ký kết hợp đồng cho một số thuốc không thiết yếu để đánh giá hiệu quả hợp tác.
Việc quản lý sử dụng thuốc được căn cứ từ kết quả phân tích VEN, nhằm đưa ra các kiến nghị sử dụng thuốc ở mức Vital (V) và Essential (E) Đồng thời, cần xem xét lại vấn đề sử dụng quá nhiều thuốc không thiết yếu để tối ưu hóa hiệu quả điều trị, tăng an toàn cho người bệnh và giảm chi phí y tế.
Việc dự trữ thuốc: Chú ý đặc biệt lưu trữ các thuốc hạng mục V, E để tránh hết kho
1.3.4 Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN
Phân tích VEN nên được kết hợp với phân tích ABC để xác định mối quan hệ giữa các thuốc có chi phí cao nhưng mức độ ưu tiên thấp, nhằm tối ưu hóa chi phí và hiệu quả quản lý thuốc Mục tiêu của sự kết hợp này là hạn chế hoặc loại bỏ các thuốc nhóm N có chi phí cao khi được sắp xếp vào nhóm A, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và giảm lãng phí trong kho thuốc Trong quá trình phân tích ABC, sự kết hợp giữa VEN và ABC sẽ hình thành ma trận ABC/VEN, cho phép đánh giá đồng thời giá trị tiêu dùng, mức độ ưu tiên và chi phí của từng thuốc Nhờ ma trận ABC/VEN, các quyết định mua sắm và loại bỏ thuốc sẽ được thực hiện một cách có hệ thống, hỗ trợ quản trị tồn kho an toàn, giảm thiểu rủi ro tài chính và tối ưu hoá hoạt động của hệ thống y tế.
Bảng 1.1 Ma trận ABC/VEN
A AV AE AN Thuốc quan trọng nhất
B BV BE BN Thuốc quan trọng
C CV CE CN Thuốc ít quan trọng
Chú thích: Chữ cái đầu tiên biểu thị trong phân tích ABC, chữ cái thứ hai biểu thị phân tích VEN.
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC Ở CÁC BỆNH VIỆN TẠI VIỆT
Tuỳ theo mô hình bệnh tật của từng bệnh viện, nhu cầu sử dụng các nhóm thuốc có sự khác biệt Tuy nhiên, qua khảo sát tại nhiều bệnh viện trên toàn quốc cho thấy nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng và nhiễm khuẩn luôn chiếm tỉ trọng cao nhất trong danh mục thuốc sử dụng Đáng chú ý, tại một số bệnh viện chuyên khoa mắt ở các tỉnh khác, các nghiên cứu cũng cho thấy kết quả tương tự, cho thấy vai trò quan trọng của nhóm thuốc này trong điều trị và chăm sóc người bệnh.
Bảng 1.2 Cơ cấu sử dụng thuốc theo tác dụng dược lý tại một số BV
STT Tên bệnh viện/năm nghiên cứu
Tổng số lượng các khoản mục
Nhóm điều trị KST và nhiễm khuẩn
1 Bệnh viện Mắt Thái Bình 2015 92 36,95 65,11
2 Bệnh viện Mắt Nghệ An 2018 78 29,49 42,33
3 Bệnh viện Mắt Hưng Yên 2019 85 41,18 61,25
Các bệnh lý nhiễm khuẩn vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong mô hình bệnh tật tại Việt Nam Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh tại các bệnh viện đã góp phần làm tăng tỉ lệ sử dụng nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và nhiễm khuẩn ở mức cao.
1.4.2 Về việc sử dụng thuốc nhập khẩu và thuốc sản xuất trong nước
Hiện nay, mức độ sử dụng kháng sinh tại Việt Nam ở mức khá cao so với khu vực; các báo cáo của Bộ Y tế tại các bệnh viện cho thấy kháng sinh chiếm 36% chi phí mua thuốc và hóa chất Từ năm 2009 đến 2015, mức độ sử dụng kháng sinh tại Việt Nam tăng gấp ba lần so với 5 năm trước đó Bệnh nhân cũng thường tự mua kháng sinh tại nhà thuốc và chỉ đến cơ sở y tế khi tự điều trị không khỏi 88% nhà thuốc ở thành thị và 91% nhà thuốc ở nông thôn bán kháng sinh không cần đơn Doanh thu từ kháng sinh chiếm 13,4% doanh thu tại các nhà thuốc ở khu vực thành thị và 18,7% ở khu vực nông thôn.
Những lý do trên cho thấy việc dùng kháng sinh tại các bệnh viện cần được quản lý chặt chẽ hơn nữa, nhằm vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị cho bệnh nhân và hạn chế được tình trạng kháng thuốc.Hiện nay thuốc sản xuất trong nước còn gặp nhiều hạn chế về trình độ sản xuất, vốn, kỹ thuật cũng như năng lực quản lý, do đó mới chỉ đáp ứng được các loại thuốc điều trị bệnh thông thường và dạng bào chế đơn giản Tại các bệnh viện, thuốc sử dụng có xu hướng dùng thuốc ngoại nhập đắt tiền, thuốc trong nước chỉ chiếm khoảng 15% thị phần (theo giá trị) và chiếm 61% số khoản mục [21] Khảo sát tại bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2016 thuốc sử dụng được sản xuất trong nước chiếm 48,9% số khoản mục, 25,3% GTSD, thuốc ngoại nhập chiếm 51,1% số khoản mục,74,7% về GTSD Thuốc nhập khẩu có giá thành cao làm tăng chi phí KCB Đặc biệt, ở các bệnh viện chuyên khoa về mắt có tính chất đặc trưng riêng là cần loại thuốc dùng tại chỗ, có chất lượng bào chế cao, công nghệ bào chế riêng biệt, nhiều loại thuốc nội không đáp ứng được tiêu chí này, khi sử dụng bệnh nhân dễ bị kích ứng và khó đạt hiệu quả điều trị Do đó, bệnh viện thường có xu hướng lựa chọn các thuốc nhập khẩu, là những thuốc đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt và đảm bảo được sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân Bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2015, thuốc nhập khẩu chiếm 30,43% số khoản mục, 55,82% GTSD [15], năm 2018 Bệnh viện Mắt Nghệ
An thuốc nhập khẩu chiếm 58,97% số khoản mục đạt 71,64% GTSD nhiều hơn Bệnh viện Mắt Hưng Yên năm 2019 thuốc nhập khẩu chiếm 45,88% số khoản mục đạt 72,61% GTSD [20]
Bảng 1.3: Cơ cấu sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu tại một số bệnh viện chuyên khoa Mắt
STT Tên bệnh viện, năm nghiên cứu
Thuốc sản xuất trong nước
1.4.3 Về việc sử dụng thuốc generic và thuốc biệt dược gốc
Thuốc biệt dược gốc là thuốc đầu tiên được phép cấp lưu hành trên cơ sở đã có đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả
Thuốc generic là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc
Các thuốc biệt dược gốc thường có giá thành cao hơn thuốc generic, nhưng hiệu quả điều trị đã được chứng minh, do đó bác sĩ cân nhắc giữa thuốc generic và biệt dược gốc tùy từng trường hợp Trong lĩnh vực điều trị mắt tại các bệnh viện chuyên khoa, xu hướng sử dụng thuốc biệt dược gốc cao hơn so với các bệnh viện cùng hạng Cụ thể, Bệnh viện Mắt Nghệ An năm 2018 ghi nhận tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược gốc là 75,38% số khoản mục và 64,84% GTSD [14].
Yên năm 2019 [20] tỷ lệ sử dụng thuốc biệt dược gốc là 9,41% số khoản mục và 12,86% GTSD
Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic tại một số bệnh viện chuyên khoa
Tên bệnh viện, năm nghiên cứu
Thuốc generic Thuốc Biệt dược gốc
1.4.4 Áp dụng phương pháp phân tích ABC, phân tích VEN tại các bệnh viện ở Việt Nam
Phương pháp phân tích ABC, VEN ở nước ta được Bộ Y tế quy định tại Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013; đây là một trong các phương pháp phân tích nhằm phát hiện các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc và là bước đầu trong quy trình xây dựng Danh mục thuốc (DMT) của bệnh viện Hội đồng thuốc (HĐT&ĐT) có nhiệm vụ phân tích ABC/VEN khi xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện Tuy nhiên thực tế cho thấy nhiều bệnh viện vẫn chưa hiểu và chưa triển khai các phương pháp này Trong nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương (2012) về đánh giá hoạt động của HĐT&ĐT trong xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện đa khoa, khảo sát cho thấy hầu hết HĐT&ĐT tại các bệnh viện chưa hiểu hoặc chưa biết sử dụng phương pháp ABC/VEN HĐT&ĐT các bệnh viện chưa biết vận dụng đúng các phương pháp phân tích này.
ABC/VEN được vận dụng để phân tích danh mục thuốc tại bệnh viện nhằm xác định mức độ ưu tiên trong mua sắm, tuy nhiên phương pháp này chưa xác định rõ mức độ ưu tiên và khó đánh giá tình trạng lạm dụng thuốc không cần thiết Việc xây dựng danh mục chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và trực giác, dù vẫn đảm bảo cung ứng thuốc cho bệnh viện nhưng thiếu cơ sở khoa học và minh bạch Thực tế sau khi áp dụng các phương pháp phân tích ABC/VEN trong những năm gần đây, nhiều bệnh viện đã phát hiện ra nhiều bất cập trong danh mục thuốc đang sử dụng, như phân loại chưa phù hợp với nhu cầu điều trị thực tế, gây lãng phí và khó kiểm soát chi phí Do đó cần tăng cường tính khoa học cho quy trình phân loại, cập nhật danh mục theo hướng tối ưu hóa nguồn lực, giảm lạm dụng và đảm bảo cung ứng thuốc thiết yếu.
Theo nghiên cứu 85 khoản mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Mắt Hưng Yên năm 2019, thuốc hạng A chiếm tới 79,93% GTSD với 22,35% số khoản mục; thuốc hạng B chiếm 14,88% GTSD và 23,53% số khoản mục; thuốc hạng C chiếm 5,19% GTSD và 54,12% số khoản mục Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp ABC/VEN cho thấy cơ cấu sử dụng tại Bệnh viện Mắt Hưng Yên còn bất hợp lý ở hai nhóm thuốc A và B Tuy nhiên, danh mục cho thấy các thuốc nhóm AV và AE chiếm tỷ lệ sử dụng cao nhất mặc dù số khoản mục không nhiều, vì các thuốc nhóm này hầu hết là nhập khẩu, giá thành cao và được sử dụng nhiều nên tổng GTSD của các nhóm này lớn.
Bảng 1.5 Phân tích ABC/VEN tại một số bệnh viện
BV Mắt Nghệ An Bệnh viện Mắt Hưng Yên
BV Mắt Nghệ An Bệnh viện Mắt Hưng Yên
Phân tích ABC và VEN đã cung cấp dữ liệu khách quan có giá trị, giúp phát hiện các bất cập trong quản lý thuốc tại các bệnh viện Nhờ nhận diện đúng các điểm yếu, quá trình mua sắm và sử dụng thuốc được tối ưu hơn, từ đó giảm thiểu chi phí và loại bỏ các vấn đề phát sinh Kết quả là nâng cao hiệu quả quản lý thuốc, cải thiện chất lượng cung ứng và tiết kiệm nguồn lực tại hệ thống y tế.
VÀI NÉT CƠ BẢN VỀ BỆNH VIỆN MẮT THÁI BÌNH
Bệnh viện Mắt Thái Bình có tiền thân là Trạm Mắt Thái Bình được thành lập từ năm 1965 theo Quyết định số 12/QĐ-UB ngày 12/5/1965 của Ủy ban Hành chính tỉnh Thái Bình Năm 2000, Trung tâm Mắt Thái Bình được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trạm Mắt theo Quyết định số 159/2000/QĐ-UB ngày 20/3/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình Năm 2008, Bệnh viện Mắt Thái Bình được thành lập theo Quyết định số 557/QĐ-UBND ngày 21/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình Đến nay, đơn vị đã trải qua 55 năm hình thành và phát triển.
Sau khi thành lập Bệnh viện Mắt Thái Bình vào tháng 3 năm 2008, chức năng nhiệm vụ được tăng cường toàn diện trên các mặt trọng tâm của công tác chuyên môn, bao gồm chỉ đạo tuyến trước, phát triển hệ thống chuyên khoa, đào tạo cán bộ chăm sóc mắt ban đầu cho y tế xã, huyện, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao kỹ thuật, tổ chức khám chữa bệnh tại bệnh viện, đào tạo cán bộ chuyên sâu và ứng dụng các kỹ thuật nhãn khoa tiên tiến nhằm giải phóng mù lòa; bệnh viện tập trung thực hiện các mục tiêu như tiếp tục phòng chống mắt hột, phẫu thuật quặm để tiến tới thanh toán bệnh mắt hột và bệnh lông quặm trên quy mô toàn tỉnh, đẩy mạnh tốc độ mổ đục thủy tinh thể để giải phóng mù lòa, ứng dụng nhanh các kỹ thuật mới để đạt hiệu quả cao trong khám chữa bệnh và phẫu thuật, đồng thời thu hút các dự án đầu tư nhằm tăng nguồn lực cho ngân sách tỉnh có hạn.
Bệnh viện mắt đầu tư kịp thời để nâng tầm kỹ thuật ngang bằng với một số cơ sở nhãn khoa lớn trong cả nước, đáp ứng yêu cầu chăm sóc khám chữa bệnh bằng kỹ thuật cao cho nhân dân và do đó số lượng bệnh nhân trong và ngoài tỉnh đến khám chữa bệnh ngày càng tăng Bệnh viện Mắt là bệnh viện chuyên khoa mang tính đặc thù riêng, người bệnh đến khám và điều trị chủ yếu liên quan đến giảm thị lực do đục thủy tinh thể, vì vậy phẫu thuật Phaco thay thủy tinh thể là mặt bệnh chính trong các bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện Năm 2020, số lượt khám bệnh tại bệnh viện là 51.625 lượt, tiếp nhận điều trị ngoại trú cho 12.131 lượt người, điều trị nội trú cho 8.615 lượt người, trong đó điều trị nội trú phẫu thuật Phaco 6.266 ca an toàn, đem lại hiệu quả ánh sáng và kinh tế cho người bệnh Còn các bệnh khác về mắt và phần phụ mắt tuy chiếm tần suất khám nhiều nhưng người bệnh sẽ được kê đơn thuốc về điều trị tại nhà.
Các kỹ thuật cao hiện đang được triển khai tại bệnh viện:
+ Phẫu thuật Phaco điều trị bệnh đục thể thủy tinh
+ Phẫu thuật cắt bè phối hợp lấy thể thủy tinh ngoài bao có đặt thể thủy tinh nhân tạo
+ Phẫu thuật tạo hình mi và phẫu thuật thẩm mỹ
+ Phẫu thuật nối lệ quản chấn thương có đặt ống Silicon
+ Phẫu thuật tiếp khẩu lệ mũi điều trị tắc lệ đạo
+ Phẫu thuật ghép màng ối điều trị một số bệnh lý bề mặt nhãn cầu + Chụp cắt lớp bán phần sau chẩn đoán một số bệnh lý đáy mắt
+ Máy laser YAG điều trị đục bao sau và cắt mống mắt chu biên
+ Hệ thống máy siêu âm A-B
+ Hệ thống máy đo khúc xạ và chỉnh kính tự động.\
+ Hệ thống máy đo thị trường tự động
+ Hệ thống máy tập phục hồi thị lực cho bệnh nhân bị nhược thị do tật khúc xạ
1.5.1 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện
Bệnh viện Mắt Thái Bình có các chức năng, nhiệm vụ sau:
Có chức năng khám và chữa các bệnh về mắt; Đồng thời chỉ đạo tuyến và phòng chống các bệnh về mắt tại cộng đồng
- Bệnh viện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Sở Y tế Thái Bình và chịu sự hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của ngành dọc cấp trên
- Tiếp nhận cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú, ngoại trú các bệnh về mắt
- Khám giám định sức khoẻ và giám định pháp y, khi được Hội đồng giám định y khoa tỉnh và cơ quan bảo vệ pháp luật yêu cầu
Chúng tôi tập trung vào việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo các chuyên khoa tuyến dưới, đồng thời quản lý và hướng dẫn hoạt động của các cơ sở hành nghề tư nhân về cùng chuyên khoa trên địa bàn được giao Việc này nhằm chuẩn hóa quy trình chuyên môn, nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn cho người bệnh Đồng thời, công tác chỉ đạo tại các cơ sở tư nhân được thực hiện thống nhất nhằm tăng hiệu quả chăm sóc sức khỏe và tăng sự tin tưởng của cộng đồng.
Sở Y tế phân công để phát triển kỹ thuật chuyên khoa và nâng cao chất lượng cấp cứu, khám chữa mắt
Phối hợp chặt chẽ với các Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) và các bệnh viện trong tỉnh, chúng tôi thực hiện thường xuyên công tác phòng bệnh, phòng dịch và vệ sinh môi trường tại cộng đồng nhằm bảo đảm sức khỏe cho người dân và giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm.
Chúng tôi tham gia tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện vệ sinh, phòng bệnh về mắt; triển khai và phối hợp với các cơ sở y tế để thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu và chương trình phòng chống mù lòa tại cộng đồng trên địa bàn toàn tỉnh.
- Là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế chuyên khoa ở bậc trung học, cao đẳng, đại học và sau đại học
Chúng tôi tổ chức đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, viên chức trong Bệnh viện và các tuyến dưới nhằm nâng cao trình độ chuyên khoa Hoạt động này đồng thời tham gia giảng dạy cho học sinh tại Trường Cao đẳng Y tế và Đại học Y Dược Thái Bình, tăng cường kết nối giữa đào tạo và thực hành lâm sàng Việc nâng cao năng lực đội ngũ y tế thông qua các khóa đào tạo chuyên môn giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hệ thống y tế.
- Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới về chuyên khoa mắt
- Nghiên cứu, triển khai dịch tễ học cộng đồng thuộc lĩnh vực chuyên khoa để phục vụ công tác KCB ban đầu về mắt
Chúng tôi đẩy mạnh hợp tác và tranh thủ nguồn vốn từ các tổ chức và cá nhân trong nước và ngoài nước cho lĩnh vực khám chữa bệnh mắt (KCB mắt), đảm bảo mọi hoạt động tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Nhà nước và pháp luật Việc thu hút vốn và nguồn lực từ các đối tác nhằm nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, đội ngũ và dịch vụ KCB mắt, đồng thời tăng cường an toàn và hiệu quả điều trị, đáp ứng nhu cầu chăm sóc mắt của cộng đồng theo đúng các chuẩn mực pháp lý hiện hành.
Có kế hoạch và biện pháp quản lý, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả ngân sách Nhà nước Bệnh viện thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu chi ngân sách và tiến hành hạch toán chi phí KCB từng bước.
- Có biện pháp tạo nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tư nước ngoài, các tổ chức trong nước và quốc tế
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Y tế tỉnh Thái Bình giao
1.5.2 Mô hình tổ chức của Bệnh viện Mắt Thái Bình
Bộ máy tổ chức bệnh viện Mắt Thái Bình hiện nay có Đảng ủy, Ban giám đốc, 8 khoa và 5 phòng chức năng
Ban Giám đốc gồm có: 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc
Bệnh viện đã kiện toàn đầy đủ lực lượng lãnh đạo khoa/phòng: 08 trưởng khoa, 08 phó trưởng khoa, 05 trưởng phòng và 05 phó trưởng phòng Ngoài ra, bệnh viện thành lập các tổ chức đoàn thể gồm Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Cựu chiến binh Các tổ chức đoàn thể hoạt động dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy bệnh viện.
Hình 1.1: Sơ đồ mô hình tổ chức Bệnh viện Mắt Thái Bình
Tình hình nhân lực của Bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020 được khái quát theo bảng sau:
Bảng 1.6 Nhân lực của Bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020
Nghề nghiệp Trình độ Số lượng Tỷ lệ (%)
Tổng số 9 Điều dưỡng, y sĩ, kỹ thuật viên Đại học 13 10,57%
Cán bộ chức danh khác
1.5.4 Mô hình bệnh tật bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020
Bệnh viện Thái Bình thuộc phân tuyến kĩ thuật hạng II Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020 như sau:
Bảng 1.7 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020
STT Chương bệnh Mã ICD-10 Tần
1 U ác mắt và các phần phụ C69 5 0,01
2 U tân sinh tại chỗ; U lành tính; U tân sinh không chắc chắn không biết tính chất
Chương VII: Bệnh của mắt và phần phụ H00-H59
3 Bong và rách võng mạc H33 96 0,19
4 Các bệnh khác của mắt và phần phụ mắt
5 Đục thể thuỷ tinh, tổn thương khác của thể thuỷ tinh
8 Tật khúc xạ, các rối loạn điều tiết H52 2.015 3,9
9 Viêm giác mạc, tổn thương khác của củng mạc và giác mạc
10 Viêm kết mạc, tổn thương khác của kết mạc
Chương XIX: Vết thương, ngộ độc và hậu quả của một số nguyên nhân từ bên ngoài
12 Bỏng và sự ăn mòn T20-T32 154 0,29
13 Thương tổn do chấn thương ở mắt và hốc mắt S05
Chương XVII: Di tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể
14 Dị dạng bẩm sinh khác Q10-Q13;
1.5.5 Chức năng, nhiệm vụ khoa dược bệnh viện Mắt Thái Bình
Khoa Dược của Bệnh viện Mắt là một đơn vị chuyên môn nằm trong khối cận lâm sàng, chịu sự quản lý trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Tổ chức và hoạt động của Khoa Dược được thiết lập và thực hiện theo Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế về Quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện [6].
Chức năng của Khoa Dược là quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, cũng như tư vấn và giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn và hợp lý.
Lập kế hoạch và cung ứng thuốc đảm bảo đủ số lượng và chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng, nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các mục đích chữa bệnh khác Đồng thời, quản lý thuốc cần hỗ trợ công tác phòng chống dịch bệnh và ứng phó với thiên tai, thảm họa.
+ Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
+ Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của HĐT&ĐT
+ Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
+ Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, bào chế thuốc đông y, sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện
Thực hiện công tác dược lâm sàng và cung cấp thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc cho người bệnh Tham gia công tác cảnh giác dược nhằm theo dõi và đánh giá an toàn thuốc trên thực tế lâm sàng Báo cáo và chia sẻ thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc để cải thiện chất lượng điều trị và an toàn cho người dùng.
+ Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện
Chúng tôi phối hợp giữa khoa cận lâm sàng và khoa lâm sàng để theo dõi, kiểm tra, đánh giá và giám sát việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý, đặc biệt là kháng sinh, đồng thời theo dõi tình hình đề kháng kháng sinh trong bệnh viện.
+ Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
+ Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
+ Quản lý hoạt động của Nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định
+ Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra, báo cáo về vật tư y tế, hóa chất xét nghiệm
* Khoa dược bệnh viện Mắt Thái Bình được tổ chức như sau:
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức khoa Dược bệnh viện Mắt Thái Bình
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhân khám và điều trị các bệnh về mắt ngày càng đông, đồng thời các tiến bộ kỹ thuật y tế và các thuốc được mở rộng phạm vi sử dụng đi kèm Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân nói chung và khám chữa bệnh về mắt nói riêng ngày càng cao, vì vậy thuốc phải an toàn, kết quả điều trị nhanh và chi phí hợp lý Việc này đòi hỏi bệnh viện xây dựng một danh mục thuốc phù hợp với đặc thù mô hình bệnh tật tại đơn vị, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và được thanh toán từ quỹ bảo hiểm y tế; vì vậy HĐT&ĐT có trách nhiệm lựa chọn danh mục thuốc có hiệu quả điều trị và phù hợp với ngân sách Với mô hình bệnh tật đa dạng, bệnh viện có danh mục thuốc phong phú gồm nhiều nhóm tác dụng và biệt dược khác nhau Để theo kịp sự gia tăng của hoạt động khám chữa bệnh, công tác cung ứng thuốc cần đảm bảo đúng thời gian, đầy đủ và phù hợp, đồng thời tối ưu chi phí mà vẫn duy trì hiệu quả điều trị.
Chính vì vậy, để góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình lập kế hoạch cung ứng thuốc và quản lý sử dụng thuốc của Bệnh viện Mắt Thái Bình, cần triển khai đồng bộ các hoạt động quản trị chuỗi cung ứng dược và tối ưu hóa quy trình mua sắm thuốc, đồng thời tăng cường kiểm soát tồn kho và giám sát an toàn thuốc Việc ứng dụng công cụ dự báo nhu cầu, phân bổ nguồn lực hợp lý và quản lý danh mục thuốc sẽ giúp giảm lãng phí, hạn chế thiếu thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh Bên cạnh đó, đánh giá định kỳ hiệu quả sử dụng thuốc, tuân thủ các quy định lưu hành và an toàn thuốc sẽ góp phần tối ưu chi phí y tế và nâng cao hiệu quả quản lý thuốc tại bệnh viện Với các giải pháp này, bệnh viện có thể cải thiện hiệu quả kế hoạch cung ứng thuốc, tăng cường an toàn thuốc và nâng cao trải nghiệm người bệnh.
Đề tài "Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020" nhằm phân tích cơ cấu số lượng và chi phí thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Mắt Thái Bình trong năm 2020 Nghiên cứu này xác định cơ cấu thuốc, mức chi phí và xu hướng tiêu dùng thuốc, từ đó làm cơ sở cho việc quản lý sử dụng thuốc hợp lý hơn Việc cải thiện quản lý thuốc sẽ nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng khám chữa bệnh cho Nhân dân trên địa bàn.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Danh mục các thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Mắt Thái Bình từ 01/01/2020 đến 31/12/2020
* Thời gian thực hiện đề tài: Từ 03/01/2022 đến 03/5/2022
Bệnh viện Mắt Thái Bình – Khu TT y tế tỉnh- Đường Trần Lãm- Phường Trần Lãm – TP Thái Bình
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Các biến số nghiên cứu
Nhóm các biến số phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện mắt TB năm 2020:
Bảng 2.8 Nhóm các biến số mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại
Bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Nguồn gốc thuốc tân dược, thuốc chế
- Thuốc tân dược được quy định tại Thông tư số
- Thuốc đông y, thuốc từ dược
Bảng thu thập số liệu
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Kỹ thuật thu thập phẩm
YHCT liệu được quy định tại Thông tư 05/2015/TT-BYT phẩm YHCT
Nhóm tác dụng dược lý của thuốc
Là số KM và giá trị của từng nhóm thuốc tân dược quy định tại TT 30/2018/TT-BYT , và thuốc chế phẩm YHCT quy định tại TT 05/2015/TT-BYT
+ 27 nhóm tác dụng dược lý của thuốc tân dược
+ 11 nhóm theo y lý y học cổ truyền
Bảng thu thập số liệu
Thuốc điều trị bệnh lý mắt đã sử dụng
Là số KM và giá trị của từng nhóm thuốc trong nhóm thuốc điều trị các bệnh về mắt
+ Nhóm thuốc nước mắt nhân tạo
+ Nhóm thuốc hạ nhãn áp
Bảng thu thập số liệu
Là số KM và giá trị của từng nhóm thuốc theo đường dùng: tiêm - truyền; đường uống; đường dùng tại mắt; dùng ngoài
Biến phân loại: Đường dùng của thuốc
Bảng thu thập số liệu
Nguồn gốc xuất xứ của
Là số KM và giá trị của từng nhóm thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Bảng thu thập số liệu
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Kỹ thuật thu thập thuốc + Thuốc sản xuất trong nước: thuốc do các công ty dược phẩm trong nước và công ty liên doanh tại Việt Nam sản xuất
Thuốc nhập khẩu là thuốc do các công ty dược phẩm nước ngoài sản xuất, được nhập khẩu vào Việt Nam thông qua các công ty dược phẩm tại Việt Nam Quá trình nhập khẩu thuốc được quản lý chặt chẽ bởi cơ quan quản lý dược Việt Nam nhằm đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả cho người dùng Các loại thuốc nhập khẩu có thể là thuốc kê đơn hoặc thuốc không kê đơn, phục vụ cho điều trị nhiều bệnh lý khác nhau và được phân phối qua hệ thống phân phối dược phẩm tại Việt Nam.
Là số khoản mục và giá trị của từng nhóm thuốc nhập khẩu có trong Thông tư 03/2019/TT-BYT, thuốc nhập khẩu không có trong Thông tư 03/2019/TT-BYT
+ Thuốc nhập khẩu có trong
TT 03 + Thuốc nhập khẩu không có trong TT 03
Bảng thu thập số liệu
Thuốc đơn thành phần, đa thành phần
Là số khoản mục và giá trị của từng nhóm thuốc đơn thành phần, đa thành phần:
- Thuốc đơn thành phần: là thuốc có một thành phần hoạt chất chính
- Thuốc đa thành phần: là thuốc có từ hai thành phần hoạt chất trở lên
+ Thuốc đơn thành phần + Thuốc đa thành phần
Bảng thu thập số liệu
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Là số khoản mục và giá trị sử dụng của từng nhóm thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
Thuốc biệt dược gốc là loại thuốc được cấp phép lưu hành lần đầu, dựa trên đầy đủ các số liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả Đây là thuốc gốc đã được kiểm chứng nghiêm ngặt và làm căn cứ cho các thuốc tương đương, đồng thời giúp người dùng yên tâm khi tiếp cận sản phẩm có hồ sơ đánh giá chất lượng đầy đủ.
Thuốc generic là thuốc thành phẩm được dùng để thay thế cho thuốc phát minh (thuốc gốc) khi sản phẩm gốc đang được bảo hộ bằng sáng chế nhưng không có giấy phép nhượng quyền từ công ty phát minh hoặc quyền độc quyền đã hết hạn Thuốc generic có cùng thành phần hoạt chất, liều lượng và cơ chế tác dụng như thuốc gốc, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn, hiệu quả và chất lượng do cơ quan quản lý dược quy định Việc sử dụng thuốc generic giúp giảm chi phí điều trị và tăng khả năng tiếp cận thuốc cho người bệnh trong khi đảm bảo hiệu quả điều trị tương đương thuốc phát minh.
+ Thuốc biệt dược gốc + Thuốc generic
Bảng thu thập số liệu
Bảng 2.9 Nhóm các biến số phân tích danh mục thuốc theo phương pháp
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Thuốc hạng A theo tác dụng dược lý
Là số KM và giá trị của nhóm thuốc A theo tác dụng dược lý Thuốc tân dược được quy định tại Thông tư số 30/2018/TT-BYT
- Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được quy định tại Thông tư 05/2015/TT-BYT
27 nhóm tác dụng dược lý của thuốc tân dược
Bảng thu thập số liệu
Là số khoản mục và giá trị của từng nhóm thuốc V, nhóm thuốc E, nhóm thuốc N
Phân loại V, E, N cho thuốc tân dược, chế phẩm YHCT theo phân loại của HĐT& ĐT của bệnh viện
Bảng thu thập số liệu
Là số khoản mục và giá trị của từng nhóm thuốc AV, AE, AN,
BV, BE, BN, CV, CE, CN
Biến phân loại : AV, AE, AN,
Bảng thu thập số liệu
Phân tích nhóm thuốc AN,
Là số khoản mục và giá trị của từng nhóm thuốc theo tác dụng dược lý trong nhóm thuốc AN, BN theo TT30/2018/TT-BYT và TT05/2015/TT-BYT
Biến phân loại : 27 nhóm tác dụng dược lý của thuốc tân dược
Bảng thu thập số liệu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên cơ sở số liệu hồi cứu từ các báo cáo sổ sách và hoá đơn liên quan đến thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Mắt Thái Bình từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2020 Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ thuốc và chứng từ thanh toán nhằm mô tả mức tiêu thụ thuốc, chủng loại, liều dùng và tần suất sử dụng tại cơ sở y tế trong năm 2020 Nghiên cứu mang lại cái nhìn tổng quan về sử dụng thuốc, phục vụ cho quản lý dược và tối ưu hoá chi phí thuốc Kết quả từ phân tích hồi cứu góp phần định hướng công tác cung ứng thuốc cho Bệnh viện Mắt Thái Bình và các cơ sở y tế tương tự ở Việt Nam.
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
* Kỹ thuật, công cụ thu thập số liệu
Chúng tôi áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu từ nguồn tài liệu sẵn có để tổng hợp dữ liệu liên quan đến danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện, nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu tin cậy cho phân tích tình hình sử dụng thuốc, quản lý danh mục thuốc và hỗ trợ quyết định trong cơ sở y tế.
+ Cơ sở dữ liệu trên phần mềm của bệnh viện
Danh mục thuốc trúng thầu năm 2020 tại Bệnh viện Mắt Thái Bình gồm các loại thuốc generic, thuốc biệt dược và chế phẩm y học cổ truyền được áp dụng trong năm 2020 và thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế, theo quy định tại Thông tư 30/2018/TT-BYT và Thông tư 05/2015/TT-BYT.
+ Báo cáo sử dụng thuốc của Khoa dược bệnh viện Mắt Thái Bình năm
* Quá trình thu thập số liệu
Thông tin thu thập về thuốc bao gồm tên thuốc và tên hoạt chất, nồng độ và hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá và số lượng sử dụng Đồng thời ghi nhận nguồn gốc xuất xứ, nhóm tác dụng dược lý, đường dùng, GTSD và nhóm tiêu chí kỹ thuật để đảm bảo chất lượng, an toàn và hiệu quả sử dụng.
- Các thông tin trên được đưa vào “Biểu mẫu thu thập số liệu danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020” theo phụ lục 1
72 thuốc tân dược, 01 thuốc chế phẩm y học cổ truyền trúng thầu đã được sử dụng từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2020 tại Bệnh viện Mắt T.Bình
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được mã hóa và làm sạch để bảo đảm tính chính xác và nhất quán, sau đó được nhập bằng phần mềm Microsoft Excel nhằm tiến hành xử lý và phân tích theo các bước sau đây.
Tổng hợp toàn bộ những dữ liệu của khoản mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020 trên cùng một bản tính Excel gồm:
+ Bước 1: Liệt kê các sản phẩm gồm 73 khoản mục
Bước 2 yêu cầu điền đầy đủ thông tin cho mỗi sản phẩm thuốc, bao gồm tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ và hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá và số lượng sử dụng Đồng thời ghi GTSD và nguồn gốc xuất xứ, kèm theo nhóm tác dụng dược lý, đường dùng, nhóm kỹ thuật, và phân loại là thuốc tân dược hoặc chế phẩm YHCT Việc nhập đầy đủ các trường dữ liệu này giúp tối ưu hóa quản lý thông tin, đảm bảo tính chuẩn SEO và cải thiện khả năng hiển thị trên hệ thống.
+ Bước 3: Tính số tiền (GTSD) cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sử dụng: Ci = gi x qi
Trong đó: Đơn giá của từng sản phẩm: gi (i = 1,2,3…80)
Số lượng sử dụng của sản phẩm: qi Tổng GTSD sẽ bằng tổng lượng tiền (GTSD) cho mỗi sản phẩm: C ∑Ci
* Phân tích cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Mắt Thái Bình năm 2020
- Sử dụng các hàm Sum, If, Count, Subtotal, Autofiler, Sort để tổng hợp, sắp xếp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
+ Xếp theo thuốc tân dược và thuốc chế phẩm YHCT
+ Xếp theo nhóm tác dụng dược lý
+ Xếp theo đường dùng của thuốc: đường tiêm, truyền, đường uống, đường nhỏ mắt, tra mắt, đường dùng ngoài
+ Xếp theo nguồn gốc xuất xứ: thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu + Xếp theo các thuốc nhập khẩu có hoạt chất trong thông tư
+ Xếp theo tên gốc/ tên biệt dược
+ Xếp theo số lượng thành phần của thuốc: thuốc đơn thành phần, thuốc đa thành phần
Để thực hiện phân tích dữ liệu, cần tính tổng số khoản mục và GTSD của từng biến số; sau đó tính tỷ lệ phần trăm theo số khoản mục thuốc và GTSD cho toàn bộ các biến từ biến 1 đến biến 7 dựa trên công thức đã nêu Việc tính GTSD cho từng biến số cho phép đánh giá mức độ tiêu thụ ở từng biến, trong khi tính tỷ lệ phần trăm theo số khoản mục thuốc và GTSD tổng hợp từ biến 1 đến biến 7 cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phân bổ nguồn lực và ưu tiên giữa các biến.
% Số khoản mục = Số khoản mục thuốc x 100 Tổng số khoản mục thuốc
* Phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Phân tích ABC có thể phân loại thuốc thành các nhóm A, B và C dựa trên mức độ đóng góp vào chi phí tổng thể, từ đó giúp ưu tiên quản lý tồn kho và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn Ứng dụng của phân tích ABC bao gồm tối ưu hóa quá trình đặt hàng, giảm lãng phí và hỗ trợ quyết định mua sắm nhằm tối đa hóa giá trị ngân sách và nâng cao hiệu quả hoạt động y tế.
Những thuốc thay thế được sử dụng với quy mô lớn và chi phí thấp, có trong danh mục hoặc sẵn có trên thị trường, nhằm mục tiêu chọn những thuốc có chi phí thấp hơn, tìm kiếm các liệu pháp điều trị thay thế và đàm phán với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn.
Đánh giá mức độ tiêu thụ thuốc là công cụ quan trọng phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng Thông qua phân tích lượng thuốc tiêu thụ, chúng ta có thể nhận diện các bất hợp lý trong sử dụng thuốc và từ đó cải thiện hiệu quả điều trị Việc so sánh mức tiêu thụ thuốc với mô hình bệnh tật giúp xác định khoảng cách giữa nhu cầu thực tế và mức tiêu dùng, từ đó tối ưu hoá phân bổ thuốc và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Xác định phương thức mua các thuốc không có danh mục thuốc thiết yếu của bệnh viện được thực hiện thông qua phân tích ABC Phân tích ABC có thể áp dụng dựa trên số liệu tiêu thụ thuốc cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn để đánh giá đóng góp của từng nhóm thuốc Sau khi hoàn tất phân tích ABC, các thuốc đặc biệt thuộc nhóm A cần được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc không có trong danh mục cũng như thuốc đắt tiền; từ đó lựa chọn các phác đồ có hiệu lực tương đương nhưng có giá thành rẻ hơn Như vậy, ưu điểm chính của phân tích ABC là giúp xác định phần lớn ngân sách chi trả cho những nhóm thuốc nào, từ đó tối ưu hóa chi phí và quản lý nguồn lực cho danh mục thuốc của bệnh viện.
Theo Thông tư số 21/TT- BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định tổ chức hoạt động của HĐT&ĐT, phân tích ABC được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Liệt kê các sản phẩm thuốc
Bước 2: Điền các thông tin sau mỗi sản phẩm thuốc:
- Đơn giá của sản phẩm (sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu sản phẩm có giá thay đổi theo thời gian)
- Số lượng tiêu thụ của các sản phẩm thuốc tại bệnh viện
Bước 3: Tính tổng tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm Tổng số tiền sẽ bằng tổng tiền của mỗi sản phẩm
Bước 4: Tính % giá trị của mỗi sản phẩm bằng cách lấy tổng số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền của các sản phẩm
Ở bước 5, sắp xếp các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần để ưu tiên những sản phẩm có giá trị cao ở đầu danh sách Ở bước 6, tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho từng sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm đầu tiên và cộng dồn với các sản phẩm tiếp theo trong danh sách để xác định mức tích lũy của giá trị.
Bước 7: Phân nhóm như sau:
- Nhóm A: Gồm những sản phẩm chiếm 75-80 % tổng giá trị tiền;
- Nhóm B: Gồm những sản phẩm chiếm 15-20% tổng giá trị tiền;
- Nhóm C: Gồm những sản phẩm chiềm 5-10% tổng giá trị tiền;
Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 - 20% tổng số sản phẩm, hạng B chiếm 10 - 20% và còn lại là hạng C chiếm 60 - 80%
* Phương pháp phân tích VEN:
Bước 1: Từng thành viên trong hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại
Bước 2: Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất, sau đó hội đồng sẽ:
Bước 3: Lựa chọn và loại bỏ những thuốc phương án điều trị trùng lặp
Bước 4: Xem xét những thuốc thuộc nhóm thuốc N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này trong trường hợp không còn nhu cầu điều trị
Bước 5: Xem lại số lượng mua dự kiến, mua các thuốc nhóm V, E trước nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn
Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V, E chặt chẽ hơn nhóm N
* Phân tích ma trận ABC/VEN:
- Kết hợp chéo phân tích ABC và phân tích VEN: xếp các thuốc V- E-
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CƠ CẤU DMT SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN MẮT THÁI BÌNH
Bệnh viện Mắt là cơ sở chuyên khoa có đặc thù riêng, nơi điều trị nội trú chủ yếu cho người bệnh giảm thị lực do đục thủy tinh thể; phẫu thuật Phaco thay thủy tinh thể là lĩnh vực mũi nhọn và chủ đạo trong các ca điều trị nội trú tại bệnh viện Bên cạnh chi phí thuốc điều trị các bệnh về mắt, thủy tinh thể (vật tư y tế) chiếm tỷ trọng lớn và là yếu tố quyết định thành công của ca mổ Phẫu thuật Phaco thay thủy tinh thể được trình bày trong bảng 3.11.
Bảng 3.11 Cơ cấu danh mục thuốc, vật tư y tế dùng tại bệnh viện Mắt
1.1 Thủy tinh thể nhân tạo 12 9,02 19.678.650 87,35 1.2 VTYT tiêu hao 48 36,09 1.028.398 4,57
Kết quả nghiên cứu Bảng 3.11 cho ta thấy trong năm 2020 bệnh viện Mắt Thái Bình đã chi tổng 22.528.285 nghìn đồng trong đó:
- VTYT có 60 khoản mục chiếm 45,11% với GTSD là 20.707.048 nghìn đồng đạt 91,92% tổng GTSD còn thuốc chỉ tiêu thụ 1.821.237 nghìn đồng đạt
Trong tổng 60 khoản mục của VTYT, đáng lưu ý là 12 khoản mục là thủy tinh thể với GTSD rất cao, lên tới 19.678.650 nghìn đồng, chiếm 87,35% GTSD Phần còn lại của VTYT tiêu hao chỉ sử dụng 1.028.398 nghìn đồng, đạt 4,57% GTSD Thủy tinh thể là một sản phẩm sống còn mang lại ánh sáng cho người bệnh và không phải là thuốc quyết định điều trị.
3.1.1 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc tân dược, thuốc chế phẩm YHCT
Bảng 3.12 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc thuốc tân dược, thuốc chế phẩm y học cổ truyền
Kết quả nghiên cứu bảng 3.12 cho thấy năm 2020 tại bệnh viện có tổng số 73 loại thuốc được sử dụng, với tổng GTSD đạt 1.821.237 nghìn đồng Trong đó thuốc tân dược chiếm 72 danh mục, 98,63% số danh mục và GTSD 1.820.612 nghìn đồng, tương đương 99,97% tổng GTSD Ngược lại, thuốc chế phẩm YHCT được sử dụng rất ít, chỉ có 01 danh mục chiếm 1,37% số danh mục và 0,03% GTSD, là thuốc Viên sáng mắt Traphaco.
3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
Cơ cấu DMT và giá trị sử dụng năm 2020 theo nhóm tác dụng được lý được trình bày ở bảng 3.13
Bảng 3.13 Cơ cấu DMT đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
1 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 27 36,98 989.464 54,35
2 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai, mũi, họng 19 26,02 583.615 32,06
3 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 3 4,08 115.571 6,35
Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid- base và các dung dịch tiêm truyền khác
6 Thuốc gây tê, gây mê, thuốc giãn cơ, giải giãn cơ 6 8,21 30.263 1,67
7 Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm Non Steroid 3 4,08 11.843 0,65
Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn
9 Thuốc tẩy trùng và sát khuẩn 1 1,37 4.614 0,25
II Thuốc chế phẩm YHCT 1 1.37 625 0,03
1 Nhóm thuốc chữa bệnh về ngũ quan 1 1,37 625 0,03
Kết quả nghiên cứu Bảng 3.13 cho thấy với tổng 73 khoản mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đạt GTSD là 1.821.237 nghìn đồng trong đó:
Nhóm thuốc tân dược gồm 72 khoản mục chiếm 98,63% tổng GTSD, với giá trị GTSD là 1.820.612 nghìn đồng, chiếm 9,97% tổng GTSD và được phân bổ đều ở các nhóm điều trị; cụ thể, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn có 27 khoản mục, chiếm 36,98% tổng GTSD, với GTSD 997.932 nghìn đồng, chiếm 54,79% tổng GTSD, trong khi nhóm thuốc điều trị mắt, tai, mũi, họng có 19 khoản mục, chiếm 26,02% tổng GTSD, với kinh phí sử dụng là 575.135 nghìn đồng, chiếm 31,57% tổng GTSD.
Nhóm thuốc hormone và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết gồm 3 mục, chiếm 4,08% số mục và có kinh phí sử dụng 115.571 nghìn đồng, tương ứng 6,35% GTSD Nhóm thuốc gây tê, gây mê và thuốc giãn cơ có 6 mục sử dụng, chiếm 8,32% số mục; GTSD của nhóm này là 30.263 nghìn đồng, chiếm 1,67% GTSD Các nhóm thuốc còn lại có GTSD và tỷ lệ thấp hoặc không đáng kể gồm nhóm Khoáng chất và vitamin; nhóm dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác.
- Nhóm thuốc YHCT với 1 khoản mục chiếm 1,37% và GTSD là 625 nghìn đồng đạt 0,03% GTSD
Trong bệnh viện, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ sử dụng cao nhất, cho thấy vai trò then chốt của nhóm thuốc này trong chăm sóc bệnh nhân Đề tài được phân tích sâu hơn về đặc điểm sử dụng, mức độ hiệu quả và những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định kê đơn thuộc nhóm ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn Việc tập trung phân tích nhóm thuốc này giúp tối ưu hoá quy trình kê đơn, tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn và cải thiện chất lượng điều trị Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý thuốc tại bệnh viện nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh và tối ưu hóa chi phí y tế.
3.1.2.1 Cơ cấu các thuốc nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Bảng 3.14 Cơ cấu các thuốc nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, CNK
Kết quả nghiên cứu được trình bày tại Bảng 3.14 cho thấy tổng cộng có 27 khoản mục thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn, với tổng GTSD đạt 997.932 nghìn đồng Trong đó nhóm Quinolon có 4 khoản mục, chiếm 14,81% số khoản mục và có GTSD là 431.267 nghìn đồng, chiếm 43,21% GTSD.
Trong cơ cấu chi tiêu thuốc thú y, nhóm beta-lactam có 10 khoản mục, chiếm 36,95% về số lượng và có GTSD 356.769 nghìn đồng, chiếm 35,74% tổng GTSD Nhóm aminoglycosid có 5 khoản mục, chiếm 18,52% số lượng, với kinh phí sử dụng 191.983 nghìn đồng, đạt 19,22% tổng GTSD Trong khi đó, nhóm thuốc chống nấm, nhóm thuốc chống virus và nhóm Phenicol có GTSD thấp hơn, lần lượt chiếm 1,11% GTSD, 0,61% GTSD và 0,11% GTSD.
Kết quả phân tích trên phù hợp với chuyên khoa mắt và cho thấy đề tài cần phân tích sâu hơn về hai nhóm thuốc có GTSD cao và số khoản mục lớn, cụ thể ở nhóm a) Nhóm thuốc Quinolon.
Bảng 3.15 Cơ cấu các thuốc nhóm thuốc Quinolon
Tên thuốc Tên hoạt chất Đường dùng
Giá trị (nghìn đồng) Tỷ lệ %
Thuốc dùng trong PT Phaco 240.101 55,76
Thuốc không dùng trong PT Phaco 191.166 44,33
Kết quả nghiên cứu bảng 3.15 cho thấy có tổng cộng 4 thuốc thuộc nhóm Quinolon: 3 thuốc được dùng trong phác đồ điều trị Phaco và 1 thuốc dùng cho các bệnh lý mắt khác; cụ thể là thuốc dùng trong phẫu thuật Phaco có GTSD lớn nhất là 240.101 nghìn đồng, chiếm 55,76% GTSD Thuốc Oflovid ở dạng dung dịch nhỏ mắt có GTSD 143.311 nghìn đồng, chiếm 33,23% GTSD Vigamox và Cravit có GTSD thấp hơn, lần lượt là 19,31% và 3,1% GTSD; thuốc này dùng để tra trước phẫu thuật nhằm dự phòng kháng sinh Thuốc không dùng trong phẫu thuật Phaco có GTSD 191.166 nghìn đồng, chiếm 44,33% GTSD Ta thấy số lượng thuốc kháng sinh dùng trong phác đồ Phaco chiếm số lượng lớn b) Nhóm thuốc Beta-lactam.
Bảng 3.16 Cơ cấu các thuốc nhóm thuốc Beta-lactam
Tên thuốc Tên hoạt chất Đường dùng
Thuốc dùng trong PT Phaco 258.946 72,59
Thuốc không dùng trong PT Phaco 97.823 27,41
Nhận xét:Kết quả nghiên cứu bảng 3.16 ta thấy với tổng số 10 thuốc nhóm
Beta-lactam và GTSD đạt 356.769 nghìn đồng; thuốc dùng trong phẫu thuật Phaco chiếm phần lớn GTSD, với 6 khoản mục đạt GTSD là 258.946 nghìn đồng, chiếm 72,59% GTSD Trong đó: Doncef 500mg có GTSD lớn nhất là 207.914 nghìn đồng, chiếm 58,27% GTSD; Cefuroxim 500mg có GTSD 41.639 nghìn đồng, chiếm 11,67% GTSD; các thuốc còn lại có GTSD giảm dần Thuốc không dùng trong phẫu thuật Phaco chỉ có 4 khoản mục đạt GTSD là 97.823 nghìn đồng, chiếm 27,41% GTSD; trong đó Cerapix 1g có GTSD 84.700 nghìn đồng, là GTSD lớn nhất với 23,74% GTSD Các thuốc còn lại có GTSD thấp hơn; có một số thuốc giống nhau về tên Generic nhưng GTSD khác nhau do tồn của thầu năm trước chuyển sang.
3.1.2.2 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị các bệnh về mắt, tai,
Bảng 3.17 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị các bệnh về mắt, tai, mũi họng
Thuốc dùng trong PT Phaco 309.652 53,84
1 Nhóm thuốc nước mắt nhân tạo 6 31,58 285.596 49,66
2 Nhóm thuốc hạ nhãn áp 3 15,79 24.056 4,18
Thuốc không dùng trong PT Phaco 265.483 46,16
1 Nhóm thuốc điều trị thoái hóa hoàng điểm 2 10,52 255.538 44,41
Kết quả nghiên cứu từ bảng 3.17 cho thấy với tổng cộng 19 khoản mục đạt GTSD là 575.135 nghìn đồng, thuốc dùng trong phẫu thuật Phaco chiếm tỉ trọng cao nhất với 309.652 nghìn đồng, tương ứng 53,84% GTSD Ngược lại, nhóm thuốc không dùng trong phẫu thuật Phaco có tỉ lệ thấp hơn, chỉ đạt 46,16% GTSD.
3.1.3 Cơ cấu thuốc theo đường dùng
Bảng 3.18 Cơ cấu thuốc theo đường dùng
Kết quả nghiên cứu Bảng 3.18 cho thấy với tổng GTSD là 1.821.237 nghìn đồng và 73 khoản mục trong đó:
Thuốc theo đường dùng tại mắt có 32 khoản mục, chiếm 43,84% tổng số khoản mục và GTSD là 1.185.514 nghìn đồng, chiếm 65,09% tổng GTSD Thuốc dùng theo đường uống có 23 khoản mục, chiếm 31,5% tổng số khoản mục với kinh phí sử dụng là 398.790 nghìn đồng Có thông tin thêm cho thấy 17 khoản mục chiếm 23,29% và kinh phí sử dụng là chưa được công bố.
232.309 nghìn đồng đạt 12,75% GTSD.Thuốc sử dụng đường ngoài với 01 khoản mục chiếm 1,37% đạt 0,27% GTSD
* Cơ cấu danh mục các thuốc dùng tại mắt theo dạng bào chế
Cơ cấu DMT dùng tại mắt theo dạng bào chế được trình bày như sau:
Bảng 3.19 Cơ cấu danh mục các thuốc dùng tại mắt theo dạng bào chế
1.2 Thuốc điều trị bệnh lý khác về mắt
Kết quả nghiên cứu bảng 3.19 cho thấy thuốc dùng để hỗ trợ điều trị Phaco chiếm tỷ trọng cao về GTSD, với các khoản mục chính như sau: thuốc ở dạng dung dịch, hỗn dịch gồm 28 khoản mục chiếm 87,5% GTSD và có GTSD là 987.528 nghìn đồng, chiếm 83,3% GTSD; thuốc dùng trong phẫu thuật Phaco có 23 khoản mục chiếm 71,87% GTSD, với GTSD là 728.612 nghìn đồng, chiếm 61,46% GTSD; và thuốc điều trị các bệnh lý khác về mắt có 5 khoản mục chiếm 15,63% GTSD, đạt 21,84% GTSD.
Thuốc có dạng mỡ tra mắt với 4 khoản mục đạt 12,5% chiếm 16,7% GTSD Điều này là do các thuốc dùng tại mắt hiện nay phần lớn được sản xuất dạng dung dịch hoặc hỗn dịch, hơn nữa trong phác đồ phẫu thuật Phaco thuốc sử dụng hoàn toàn là thuốc dạng dung dịch
3.1.4 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN MẮT THÁI BÌNH THEO PHƯƠNG PHÁP ABC/VEN
3.2.1 Phân tích DMT sử dụng tại bệnh viện theo phương pháp ABC
Việc ứng dụng phương pháp phân tích ABC danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện trong năm 2020 cho thấy mối tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ và chi phí, từ đó phân định những thuốc chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách và nhận diện các thuốc có tiềm năng thay thế với chi phí đầu vào thấp hơn Điều này tạo cơ sở để xây dựng các liệu pháp điều trị tối ưu, thương lượng với nhà cung cấp nhằm mua thuốc với mức giá phù hợp, và đánh giá tiêu thụ thuốc hàng năm để phát hiện các vấn đề chưa hợp lý trong quản lý và sử dụng thuốc Kết quả phân tích được trình bày ở bảng sau.
Bảng 3.24 Cơ cấu thuốc theo phân hạng ABC
Giá trị (nghìn đồng) Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ
Kết quả phân tích ở Bảng 3.24 ta thấy với tổng 73 khoản mục đạt GTSD là 1.821.237 nghìn đồng trong đó:
Thuốc hạng A chiếm 79,62% GTSD với giá trị 1.449.971 nghìn đồng, gồm 13 khoản mục chiếm 17,8 % GTSD Thuốc hạng B có 18 khoản mục, chiếm 24,65% và GTSD là 278.185 nghìn đồng, đạt 15,11% GTSD Thuốc hạng C có số lượng nhiều nhất với 42 loại thuốc (57,55% số lượng), nhưng chỉ chiếm 5,11% GTSD (93.080 nghìn đồng) Theo thông tư 21/2013/TT-BYT thì thuốc hạng B đang thừa còn thuốc hạng C đang bị thiếu về số khoản mục.
Kết quả phân tích ở bảng 3.24 cho thấy cơ cấu mua sắm và sử dụng thuốc tại bệnh viện chưa hợp lý ở nhóm thuốc B và nhóm thuốc C về số khoản mục Để có cái nhìn toàn diện hơn về cơ cấu mua sắm và sử dụng thuốc, cần đưa thủy tinh thể vào phân tích và điều này được thể hiện ở bảng sau.
Bảng 3.25 Cơ cấu thuốc, thủy tinh thể theo phân hạng ABC
Giá trị (nghìn đồng) Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ
Kết quả phân tích ở Bảng 3.25 ta thấy với tổng 85 khoản mục đạt GTSD là 21.499.887 nghìn đồng trong đó:
Hạng A có 78,72% GTSD, tương ứng 16.925.000 nghìn đồng, gồm 7 khoản mục chiếm 8,23% GTSD Như vậy DMT sử dụng của bệnh viện nhóm A chưa đủ số khoản mục, còn thiếu tối thiểu 1,77% khoản mục (2 khoản mục) Toàn bộ hạng A là thủy tinh thể và có GTSD rất cao.
- Hạng B: gồm 8 khoản mục chiếm 9,41% với GTSD là 3.457.072 nghìn đồng đạt 16,08 % GTSD
Nhóm C có số lượng nhiều nhất với 70 khoản mục, chiếm 82,36% số lượng nhưng chỉ chiếm 5,11% GTSD (1.117.814 nghìn đồng); so với Thông tư 21/2013/TT-BYT, tỉ lệ các khoản mục ở nhóm C chưa hợp lý vì thông tư quy định nhóm C chiếm 60–80% tổng số khoản mục Do đó danh mục bệnh viện nhóm C thừa tới 2 khoản mục, tương đương 2,36% tổng số khoản mục.
Việc đưa thủy tinh thể vào quá trình phân tích cùng với thuốc giúp cơ cấu mua sắm và quản lý thuốc tại bệnh viện trở nên hợp lý và hiệu quả hơn Khi thủy tinh thể được xem xét song song với danh mục thuốc, quy trình đấu thầu, nhập kho và phân phối thuốc được tối ưu, từ đó giảm lãng phí và tối ưu chi phí Điều này cho thấy vai trò của thủy tinh thể là yếu tố then chốt trong cơ cấu mua sắm và sử dụng vật tư y tế và thuốc tại bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
* Cơ cấu thuốc hạng A theo tác dụng dược lý
Phân tích nhóm thuốc đã tiêu thụ trong nhóm thuốc hạng A tại bệnh viện được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.26 Cơ cấu thuốc nhóm A theo tác dụng dược lý
Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 8 61,54 928.574 64,04
2 Thuốc điều trị bệnh mắt, tai mũi họng 4 30,76 416.040 28,69
Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết 1 7,7 105.357 7,27
Kết quả phân tích ở Bảng 3.26 cho thấy các thuốc nhóm A có mặt ở 3 nhóm dược lý với GTSD rất cao là 1.449.971 nghìn đồng Trong đó nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn gồm 8 khoản mục chiếm 64,04% GTSD, với tổng kinh phí 928.574 nghìn đồng chiếm 64,04% GTSD Thuốc nhóm Quinolon có 3 khoản mục chiếm 23,07% nhưng GTSD là 417.908 nghìn đồng đạt 28,82% GTSD Thuốc nhóm Beta–lactam có 3 khoản mục chiếm 23,07% đạt GTSD là 334.255 nghìn đồng đạt 23,05% GTSD Thuốc nhóm Aminoglycosid chỉ với 2 khoản mục chiếm 15,4% đạt GTSD là 176.411 nghìn đồng đạt 12,17% GTSD.
Nhóm thuốc điều trị bệnh mắt, tai, mũi, họng gồm 4 khoản mục, chiếm 30,76% tổng số và GTSD là 416.040 nghìn đồng, chiếm 28,69% tổng GTSD Nhóm thuốc hormone và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết có 01 khoản mục, chiếm 7,7% và GTSD là 105.357 nghìn đồng, chiếm 7,27% tổng GTSD.
Việc có mặt của TTT dẫn đến sự thay đổi đáng kể của cơ cấu nhóm A, khi nhóm A lúc đó chủ yếu là TTT và không còn thuốc trong nhóm Điều này cho thấy TTT được sử dụng với khối lượng lớn và chi phí cao, nếu TTT không được đưa vào phân tích đồng thời thì cơ cấu mua sắm và cách sử dụng của Bệnh viện chuyên khoa Mắt sẽ không còn chuẩn và kế hoạch mua sắm cho các năm tiếp theo sẽ gặp nhiều khó khăn.
3.2.2 Phân tích VEN a) Phân tích DMT theo VEN
Bảng 3.27 Phân tích danh mục thuốc theo VEN
Phân tích từ bảng 3.27 cho thấy tổng số thuốc được sử dụng trong năm 2020 là 1.821.237 nghìn đồng với 73 khoản mục Trong đó nhóm thuốc sống còn (V) có 9 khoản mục, chiếm 12,33% và GTSD là 43.138 nghìn đồng, chiếm 2,37% Nhóm thuốc thiết yếu (E) là lớn nhất về số khoản mục và GTSD, với 54 khoản mục chiếm 73,97% và GTSD là 1.630.704 nghìn đồng, chiếm 89,54% Nhóm thuốc không thiết yếu (N) còn thiếu dữ liệu cụ thể trong đoạn trích này.
Có 13,7% số khoản mục và GTSD là 147.394 nghìn đồng, chiếm 8,09% GTSD Đây là các thuốc không cần thiết cho quá trình điều trị, cho thấy sự bất hợp lý trong DMT của các bệnh viện Để chính xác hơn, ta đưa thủy tinh thể vào phân tích VEN nhằm có cách nhìn toàn diện hơn về cơ cấu được thể hiện ở bảng sau: b) Phân tích DM theo VEN mà có sự tham gia của TTT.
Bảng 3.28 Phân tích danh mục (khi có mặt TTT) theo VEN
Từ kết quả phân tích tại Bảng 3.28 cho thấy tổng số thuốc và vật tư thiết bị y tế (TTT) sử dụng trong năm 2020 là 21.499.887 nghìn đồng, với 85 khoản mục được ghi nhận Trong đó Nhóm V gồm 22 khoản mục chiếm 25,88% tổng số khoản mục, và GTSD là 19.743.139 nghìn đồng.
Trong GTSD, Nhóm E có 53 khoản mục chiếm 62,35% và GTSD là 1.609.353 nghìn đồng đạt 7,49% GTSD; Nhóm N có 10 khoản mục chiếm 11,77% và GTSD là 147.394 nghìn đồng đạt 0,69% GTSD Qua bảng 3.28 ta thấy nếu đưa TTT vào phân tích cùng với thuốc thì cơ cấu DMT của bệnh viện sẽ hợp lý hơn, nhóm thuốc N giảm đi đáng kể nhưng thuốc nhóm V lại tăng lên rất cao, lý do là 12 loại thủy tinh thể có GTSD cao đều được đặt ở nhóm V (thuốc sống còn, tối cần thiết) là sản phẩm đầu tay trong phác đồ điều trị của phẫu thuật Phaco thay thủy tinh thể Để có cách nhìn một cách chính xác hơn nữa ta tiếp tục phân tích ma trận ABC/VEN theo bảng sau.
3.2.3 Phân tích ma trận ABC/VEN a) Phân tích DMT theo ma trân ABC/VEN
Bảng 3.29 Phân tích danh mục thuốc theo ma trận ABC/VEN
Giá trị (nghìn đồng) Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Từ kết quả phân tích ở Bảng 3.29 cho ta thấy trong phân tích ABC/VEN được phân loại tiểu cơ bản là:
Nhóm I (gồm AV, AE, AN, BV, CV) là nhóm cần quan tâm nhất vì đây là nhóm thiết yếu cho điều trị và chiếm một phần ngân sách thuốc lớn Nhóm này gồm 25 thuốc, chiếm tỷ lệ 34,25% tổng ngân sách thuốc, cho thấy sự ưu tiên đáng kể trong quản lý dược và kế hoạch điều trị Do đó, việc tập trung theo dõi, đánh giá và phân bổ nguồn lực cho Nhóm I sẽ giúp tối ưu chi phí, đảm bảo tiếp cận thuốc cho người bệnh và nâng cao hiệu quả điều trị.
Trong quá trình điều trị, các tiểu nhóm thuốc được phân theo mức độ cần thiết và tác động đến ngân sách AV bệnh viện không có thuốc nào; BV có 4 thuốc, chiếm 5,48%; CV có 8 thuốc, chiếm 10,96%; AE có 12 thuốc, chiếm 16,44% tổng số khoản mục Tiểu nhóm chiếm giá trị cao nhưng không cần thiết trong quá trình điều trị là AN có 1 loại chiếm 1,37% số khoản mục HĐT&ĐT cần xem xét loại bỏ hoặc hạn chế sử dụng các thuốc này trong năm tới Nhóm II (gồm BE, BN, CE) tuy mức độ quan trọng ít hơn nhóm I nhưng cũng là nhóm thuốc cần giám sát kỹ vì sử dụng ngân sách tương đối lớn, gồm 38 thuốc chiếm tỷ lệ 52,05% tổng số khoản mục.
Trong đó: Các tiểu nhóm cần thiết cho điều trị thuộc nhóm này là: BE có