Phân tích đặc điểm sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 trên mẫu nghiên cứu của bệnh nhân ngoại trú tại TTYT huyện Tam Dương năm 2021 .... Về tỷ lệ bệnh nhân sử dụng các thuốc điề
TỔNG QUAN
Bệnh đái tháo đường
Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế (2020), đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, do tác động của insulin, hoặc cả hai Tăng glucose huyết mạn tính kéo dài gây rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide và gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh.
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2021), đái tháo đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose huyết, là hậu quả của sự thiếu hụt insulin hoặc sự bất cập trong hoạt động của insulin hoặc cả hai [17] Tăng glucose huyết mạn tính thường dẫn đến hủy hoại và rối loạn chức năng của nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, tim và mạch máu.
1.1.2 Đặc điểm dịch tễ của bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là một bệnh mạn tính không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu bên cạnh các bệnh tim mạch, ung thư…Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2021 toàn thế giới có 536 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), dự kiến sẽ đạt 642 triệu người vào năm 2030 và 783 triệu người vào năm 2045 Ước tính hơn 6,7 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến ĐTĐ trong năm 2021 Bên cạnh đó, cùng với việc tăng sử dụng thực phẩm không thích hợp, ít hoặc không hoạt động thể lực ở trẻ em, bệnh ĐTĐ típ 2 đang có xu hướng tăng ở cả trẻ em, trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng Bệnh ĐTĐ gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù lòa, suy thận, và cắt cụt chi Đáng lưu ý, có tới 70% trường hợp ĐTĐ típ 2 có thể dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh bằng tuân thủ lối sống lành mạnh (dinh dưỡng hợp lý, luyện tập thể dục…) [20]
Ở Việt Nam, từ thập niên 1990, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở Hà Nội là 1,1%, ở TP Hồ Chí Minh 2,52% và ở Huế 0,96%; đến năm 2012, nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ ở người trưởng thành trên toàn quốc là 5,42%, và tỷ lệ ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng lên tới 63,6%, đồng thời rối loạn dung nạp glucose chiếm 7,3% và rối loạn glucose huyết lúc đói 1,9% (toàn quốc năm 2003) Theo kết quả điều tra STEPwise về yếu tố nguy cơ Bệnh không lây nhiễm của Bộ Y tế năm 2015 ở nhóm tuổi 18–69 cho thấy ĐTĐ toàn quốc 4,1%, tiền ĐTĐ 3,6%; trong số những người được chẩn đoán, 31,1% được quản lý tại cơ sở y tế và 69,9% chưa được chẩn đoán, còn với những người được chẩn đoán, 28,9% được quản lý tại cơ sở y tế và 71,1% chưa được quản lý Dữ liệu cập nhật của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) cho thấy năm 2021 Việt Nam có tỷ lệ 6,1% người trưởng thành mắc ĐTĐ Những con số này cho thấy ĐTĐ đang tác động đáng kể ở mọi quốc gia, dù giàu hay nghèo, và Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Theo ADA (Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ) năm 2021 và hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 do Bộ Y tế ban hành năm 2020, bệnh đái tháo đường được phân loại thành các nhóm cơ bản như đã nêu trong tài liệu tham khảo [4], [17].
- Đái tháo đường típ 1 (do phá hủy tế bào beta tụy, dẫn đến thiếu insulin tuyệt đối)
- Đái tháo đường típ 2 (do giảm chức năng của tế bào beta tụy tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin)
Đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes) là tình trạng tăng đường huyết được chẩn đoán trong tam kỳ giữa hoặc tam kỳ cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về ĐTĐ típ 1 hoặc típ 2 trước đó.
Các loại đái tháo đường đặc biệt phát sinh từ các nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như đái tháo đường sơ sinh và đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất, như glucocorticoid trong điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô.
1.1.4 Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường typ 2
Trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ týp 2 có hai yếu tố đặc trưng là rối loạn tiết insulin và đề kháng insulin kết hợp với nhau
Rối loạn tiết insulin là tình trạng tế bào β trong đảo tụy gặp bất ổn về khả năng sản xuất insulin ở cả mặt lượng và chất lượng, dẫn tới rối loạn chuyển hóa glucose Thiếu insulin thường xuất hiện sau một giai đoạn tăng insulin máu nhằm bù trừ cho tình trạng kháng insulin Rối loạn này gồm các yếu tố: rối loạn nhịp tiết, bất thường về động học insulin và giảm số lượng tế bào β tiết insulin.
Kháng insulin là tình trạng mà khả năng bài tiết insulin của tế bào β ở đảo tụy không đáp ứng được nhu cầu chuyển hóa glucose Các hình thức kháng insulin bao gồm giảm khả năng ức chế sản xuất glucose ở gan, giảm khả năng thu nạp glucose ở mô ngoại vi và giảm khả năng sử dụng glucose ở các cơ quan.
Kháng insulin chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, trong đó di truyền đóng góp đáng kể vào nguy cơ Béo phì, đặc biệt là béo bụng, cùng với tuổi cao và thiếu hoạt động thể lực, cũng làm tăng tình trạng kháng insulin, theo nghiên cứu [7].
Hôn mê nhiễm toan ceton là biến chứng có nguy cơ tử vong cao ở người bệnh đái tháo đường Nguyên nhân chính là sự gia tăng của các hormone gây tăng glucose huyết và thiếu insulin, khiến gan tăng sản xuất glucose, đồng thời tăng phân giải lipid và tăng tổng hợp ceton, dẫn tới nhiễm toan chuyển hóa.
- Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu do tăng glucose huyết nặng, tăng đường niệu và gây mất nước, thường xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [16]
Hạ đường huyết xảy ra khi người bệnh dùng thuốc điều trị ĐTĐ quá liều, uống thuốc lúc đói hoặc bỏ bữa, đồng thời có thể gặp khi phối hợp với các thuốc khác như thuốc chẹn beta hoặc thuốc giãn mạch vành Triệu chứng hạ đường huyết thường xuất hiện khi lượng đường huyết máu xuống dưới 3,1 mmol/L; nếu xuống dưới 2,8 mmol/L được xem là hạ đường huyết nặng Biểu hiện của hạ đường huyết ở mức nhẹ là vã mồ hôi, run chân tay; ở mức trung bình dễ kích thích; ở mức nặng có thể dẫn tới hôn mê.
- Nhiễm toan lactic do tăng acid lactic trong máu thường ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, đặc biệt là ở người cao tuổi
- Các bệnh nhiễm trùng cấp tính [15], [22]
- Biến chứng mạch máu lớn: xơ vữa mạch vành, xơ vữa mạch não …[1]
Biến chứng mạch máu nhỏ ở người đái tháo đường type 2 gồm các biến chứng võng mạc và thận, như viêm hoại tử đài bể thận và bệnh cầu thận đái tháo đường; đồng thời, bệnh thần kinh ngoại vi gây rối loạn cảm giác, vận động và tự động cũng rất phổ biến ở người cao tuổi mắc ĐTĐ type 2.
- Biến chứng bàn chân: loét bàn chân do ĐTĐ
- Biến chứng nhiễm khuẩn như: da, niêm mạc, phổi, tiết niệu – sinh dục [15], [22]
Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế năm 2020, tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào một trong bốn tiêu chuẩn sau đây [4], nhằm bảo đảm chẩn đoán chính xác và thống nhất trong quản lý bệnh Khi một tiêu chuẩn được đáp ứng, bác sĩ xác nhận người bệnh mắc đái tháo đường, lên phác đồ điều trị phù hợp, theo dõi diễn biến đường huyết và phòng ngừa biến chứng, từ đó cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.
- Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L)
- Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp với 75g glucose bằng đường uống ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
- HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol), Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện bằng phương pháp đã chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế
- BN có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc của cơn tăng glucose huyết cấp kèm mức glucose huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
Chẩn đoán được xác định khi có hai kết quả vượt ngưỡng chẩn đoán trong cùng một mẫu máu xét nghiệm hoặc ở hai thời điểm khác nhau đối với tiêu chí a, b hoặc c; riêng với tiêu chí d, chỉ cần một lần xét nghiệm duy nhất.
Điều trị bệnh đái tháo đường typ 2
Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ của Bộ y tế năm 2020, mục tiêu điều trị theo bảng sau:
Bảng 1.1.Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ typ 2
Glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn
80-130 mg/dL (4,4-7,2 mmol/L)* Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ
Huyết áp Tâm thu