1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SA THỊ TRANG ĐÁNH GIÁ độc TÍNH TRÊN THẬN LIÊN QUAN tới TENOFOVIR (TDF) TRÊN BỆNH NHÂN điều TRỊ HIVAIDS tại TRUNG tâm KIỂM SOÁT BỆNH tật TỈNH PHÚ THỌ LUẬN văn dƣợc sĩ CHUYÊN KHOA cấp i

74 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (11)
    • 1.1. Sơ lƣợc về thuốc antiretroviral (ARV) (11)
    • 1.2. Tổng quan về tenofovir (16)
      • 1.2.1. Sơ lƣợc về đặc tính dƣợc lý của tenofovir (0)
      • 1.2.2. Đặc tính dƣợc động học (0)
      • 1.2.3. Tác dụng không mong muốn (ADR) (18)
      • 1.2.4. Độc tính trên thận của tenofovir (18)
    • 1.3. Theo dõi, đánh giá độc tính trên thận (21)
      • 1.3.1. Theo dõi, xác định độc tính trên thận (21)
      • 1.3.2. Phân độ tổn thương thận cấp theo RIFLE (23)
      • 1.3.3. Ý nghĩa lâm sàng (24)
    • 1.4. Một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về độc tính trên thận của TDF (25)
      • 1.4.1. Một số nghiên cứu trên thế giới về độc tính trên thận của TDF (25)
      • 1.4.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam về độc tính trên thận của TDF (28)
    • 1.5. Một số đặc điểm về tình hình nhiễm HIV/AIDS và điều trị ARV tại tỉnh Phú Thọ và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Phú Thọ (29)
      • 1.5.1. Đặc điểm về tình hình nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Phú Thọ (29)
      • 1.5.2. Tình hình điều trị ARV tại tỉnh Phú Thọ và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Phú Thọ (31)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (32)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (32)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (32)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (32)
      • 2.2.2. Chỉ tiêu nghiên cứu (33)
    • 2.3. Xử lý và phân tích số liệu (34)
  • Chương 3. KẾT QUẢ (36)
    • 3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (36)
      • 3.1.1. Số lƣợng bệnh nhân tham gia nghiên cứu (0)
      • 3.1.2. Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (37)
      • 3.1.3. Tình trạng duy trì điều trị (40)
    • 3.2. Đặc điểm biến cố trên thận ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS sử dụng phác đồ có chứa TDF (40)
      • 3.2.1. Tỷ lệ gặp biến cố độc tính trên thận (40)
      • 3.2.2. Mức độ nghiêm trọng của biến cố trên thận dựa theo thang RIFLE (42)
      • 3.2.3. Xử trí khi gặp độc tính trên thận (43)
    • 3.3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV sử dụng phác đồ có chứa TDF (43)
      • 3.3.1. Phân tích đơn biến (43)
      • 3.3.2. Phân tích đa biến tìm các yếu tố độc lập ảnh hưởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận (45)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (48)
    • 4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu (48)
    • 4.2. Đặc điểm biến cố độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV sử dụng phác đồ có chứa TDF (51)
    • 4.3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới tần xuất độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV/AIDS có sử dụng TDF (54)

Nội dung

Nhằm tăng cường dữ liệu nghiên cứu về tính an toàn của thuốc ARV, đồng thời ghi nhận tần suất, mức độ nghiêm trọng, các yếu tố ảnh hưởng tới độc tính trên thận liên quan tới TDF trên quầ

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp hồi cứu, theo dõi dọc, không can thiệp bệnh nhân thông qua ghi nhận thông tin từ bệnh án vào mẫu phiếu thu thập thông tin (phụ lục 3)

Thông tin đƣợc trích xuất từ bệnh án vào phiếu thu thập thông tin bao gồm:

+ Thông tin chung của bệnh nhân: mã bệnh án, năm sinh, giới tính, chiều cao, yếu tố nguy cơ nhiễm HIV, tiền sử dị ứng thuốc, tình trạng đặc biệt (viêm gan B, C, nghiện ma túy, khác) và giai đoạn lâm sàng

+ Thông tin về bệnh nhân trước khi bắt đầu sử dụng phác đồ có chứa TDF tới hết ngày 30/6/2021, bao gồm: ngày khám, phác đồ đang sử dụng tại thời điểm khám, lý do chuyển đổi phác đồ (nếu có), cân nặng của bệnh nhân, số lƣợng CD4, các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng, bệnh mắc kèm, thuốc dùng kèm và thông tin về tình trạng điều trị của bệnh nhân

+ Biến cố bất lợi trên thận liên quan đến TDF đƣợc theo dõi thông qua nồng độ creatinin huyết thanh Ghi nhận biến cố bất lợi khi mức độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) giảm hơn 25% so với eGFR trước lúc bắt đầu điều trị Chỉ số eGFR trước lúc bắt đầu điều trị được tính dựa trên kết quả xét nghiệm creatinin huyết thanh thực hiện trong vòng 90 ngày trước khi bắt đầu điều trị Giá trị eGFR đƣợc tính theo công thức Cockcroft-Gault có hiệu chỉnh theo diện tích bề mặt cơ thể [44]

Công thức Cockcroft-Gault có hiệu chỉnh theo diện tích bề m t cơ thể : eGFR (ml/phút/1,73m 2 )

Trong đó diện tích bề mặt cơ thể đƣợc tính công thức của DuBois nhƣ sau :

Diện tích bề mặt cơ thể (m 2 ) = W 0,425 x H 0,725 x 71,84

SA = diện tích bề mặt cơ thể tính theo m 2

W = trọng lƣợng tính bằng kilogam

H = chiều cao tính bằng centimet

Quy đổi creatinin huyết thanh 1mg/dL = 88,4 àmol/L

2.2.2 Chỉ tiêu nghiên cứu Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, giới tính, phác đồ điều trị, yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV, giai đoạn lâm sàng khi bắt đầu điều trị, giai đoạn miễn dịch (phân loại theo số tế bào CD4/mm 3 ), chỉ số BMI, cân nặng trung bình Tình trạng duy trì điều trị của bệnh nhân Các thông tin về bệnh mắc kèm, thuốc dùng kèm đƣợc ghi nhận có độc tính trên thận

26 Đặc điểm biến cố bất lợi trên thận: tỷ lệ xuất hiện biến cố bất lợi, xác suất gặp biến cố bất lợi theo thời gian, xử trí khi gặp biến cố bất lợi và mức độ nghiêm trọng của biến cố phân loại theo thang RIFLE

Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV có sử dụng phác đồ chứa TDF tại đơn vị Các yếu tố đƣợc đƣa vào phân tích bao gồm: tuổi, giới tính, cân nặng, chỉ số BMI, giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân khi bắt đầu điều trị, chỉ số BMI, lƣợng CD4 (tế bào/mm3), giá trị eGFR ban đầu, thuốc dùng kèm gây độc trên thận và nhiễm virut viêm gan B, viêm gan C, tình trạng nhiễm lao.

Xử lý và phân tích số liệu

Thông tin sau khi đƣợc thu thập sẽ đƣợc tổng hợp vào Microsoft Excel, chuẩn hóa dữ liệu và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS Các biến số đƣợc mã hóa trước khi đưa vào phần mềm

Dùng phép thống kê tần số, tỷ lệ để mô tả đặc điểm chung của bệnh nhân tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Phú Thọ

Sử dụng mô hình hồi quy logistic để phân tích ảnh hưởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận của các yếu tố tuổi, giới tính, cân nặng, chỉ số BMI, giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân khi bắt đầu điều trị, chỉ số BMI, lƣợng CD4 (tế bào/mm 3 ), giá trị eGFR ban đầu, thuốc dùng kèm gây độc trên thận và nhiễm virut viêm gan B, viêm gan C, tình trạng nhiễm lao

Kiểm tra sự liên quan của các biến đã liệt kê ở trên nhằm tìm ra các biến độc lập với nhau Tập hợp các biến trong mô hình sẽ đƣợc kiểm tra tính đa cộng tuyến thông qua giá trị VIF (variance inflation factor) Những biến có giá trị VIF > 10 sẽ đƣợc cân nhắc loại ra khỏi mô hình phân tích Những cặp biến có nghi ngờ cộng tuyến tính với nhau, các kiểm định cho giá trị p 18 tuổi) bắt đầu điều trị HIV/AIDS từ ngày 20/11/2019 đến hết ngày 30/6/2021 tại TTKSBT Phú Thọ

- ► Bệnh nhân bắt đầu bằng phác đồ không chứa TDF:3

Bệnh nhân chuyển từ nơi khác: 1

Bệnh nhân đƣợc bắt đầu điều trị bằng phác đồ có chứa TDF

- Bệnh nhân có thai trong quá trình điều trị, theo dõi: 1

- Bệnh nhân không có xét nghiệm creatinin huyết thanh trong vòng 90 ngày trước khi bắt đầu điều trị: 3

- Bệnh nhân không có xét nghiệm creatinin huyết thanh trong quá trình điều trị: 4

- Bệnh nhân có thời gian theo dõi điều trị ít hơn 6 tháng: 10 r

Số lƣợng bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu

N = 308 Hình 3.3 Sơ đồ tuyển chọn bệnh nhân trong nghiên cứu

Số lượng bệnh nhân người lớn (>18 tuổi) bắt đầu điều trị HIV/AIDS từ ngày 20/11/2019 đến hết ngày 30/6/2021 tại TTKSBT Phú Thọ là 330 bệnh nhân, trong đó có 326 bệnh nhân đƣợc bắt đầu điều trị bằng phác đồ có chứa TDF Trong đó, 01 bệnh nhân có thai trong quá trình điều trị, theo dõi; 03 bệnh nhân không có xét nghiệm creatinin huyết thanh trong vòng 90 ngày trước khi bắt đầu điều trị; 04 bệnh nhân không có xét nghiệm creatinin huyết thanh trong quá trình điều trị; 10 bệnh nhân có thời gian theo dõi điều trị ít hơn 6 tháng Vì vậy, số lƣợng bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn nghiên cứu và đƣợc theo dõi độc tính trên thận là 308 bệnh nhân

3.1.2 Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

Một số thông tin chung của đối tƣợng nghiên cứu về nhân khẩu học, tình trạng bệnh, phác đồ điều trị khi tham gia nghiên cứu và thời gian theo dõi đƣợc trình bày trong bảng 3.5

Bảng 3.5 Đặc điểm bệnh nhân trong nghiên cứu Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Tuổi trung bình ± SD: 40,4 ± 6,5 Nhỏ nhất: 25 Cao nhất: 63 Độ tuổi: ≤ 30 7 2,3 Độ tuổi 30-45 244 79,2 Độ tuổi: > 45 57 18,5

Yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV

Quan hệ tình dục 200 64,9 Đường khác 83 26,9

30 Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Bình thường/Suy giảm không đáng kể (CD4 > 500) 256 83,1

Suy giảm tiến triển (CD4: 200-349) 23 7,5

Cân nặng trung bình (kg) 55,0 ± 8,2

Viêm gan C Dương tính 85 27,6 Âm tính 223 72,4

Viêm gan B Dương tính 40 13,0 Âm tính 268 87,0

Nhiễm lao Dương tính 14 4,5 Âm tính 194 95,5

Sử dụng đồng thời với các thuốc có khả năng gây độc cho thận 75 24,4

Chuyển phác đồ điều trị 289 93,8

31 Đặc điểm Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Thời gian theo dõi (tháng)

Thời gian theo dõi trung bình 15,5 ± 3,5 Ngắn nhất: 8,0 Dài nhất: 24,0

Mức lọc cầu thận ban đầu (ml/phút/1,73 m 2 ) eGFR ban đầu (TB ± SD) (min – max) 135,9 ± 57,0

Tuổi trung bình của đối tƣợng nghiên cứu là 40,4 (năm), trong đó chủ yếu ở độ tuổi 30 – 45 tuổi với tỷ lệ 79,2% Bệnh nhân nam giới (57,5%) chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với nữ giới (42,5%) Cân nặng trung bình của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu là 55,0 kg; 70,5% có chỉ số BMI bình thường;

17,5% thiếu cân và 12,0% tiền béo phì Đa số các bệnh nhân lây nhiễm HIV/AIDS qua quan hệ tình dục chiếm 64,9%; chỉ có 8,1% lây qua tiêm chích ma tuý Có đến 85,1% bệnh nhân ở lâm sàng giai đoạn 1 khi tham gia nghiên cứu và 83,1% bệnh nhân có mức CD4 suy giảm không đáng kể > 500 tế bào/mm 3

Về bệnh mắc kèm, 27,6% bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS có mắc viêm gan C; 13,0% mắc viêm gan B và 4,5% mắc lao

Trong thời gian nghiên cứu có 19 bệnh nhân sử dụng phác đồ mới chiếm 6,52%; còn 289 bệnh nhân đƣợc chuyển từ phác đồ cũ sang chiếm 93,8% Phần lớn bệnh nhân đƣợc chỉ định điều trị theo phác đồ TDF/3TC/DTG (chiếm 97,1%) 24,2% bệnh nhân có sử dụng đồng thời các

32 thuốc có khả năng gây độc cho thận Đa số thuốc gây độc cho thận đƣợc ghi nhận trong nghiên cứu là cotrimoxazol (thuốc được sử dụng trong chương trình với mục đích điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội)

Thời gian theo dõi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 15,5 tháng Đa số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu đều có mức lọc cầu thận ƣớc tính (eGFR) ban đầu tính theo công thức Cockcroft-Gault có hiệu chỉnh theo diện tích bề mặt cơ thể ở mức > 60 ml/phút/1,73m2 với 289/308 bệnh nhân chiếm 93,8% eGFR ban đầu của các bệnh nhân dao động trong khoảng từ 49 đến

301 ml/phút/1,73m 2 với giá trị trung bình là 135,9 ± 57,0 ml/phút/1,73m 2

3.1.3 Tình trạng duy trì điều trị

Tình trạng duy trì điều trị của bệnh nhân đƣợc tổng hợp trong bảng 3.6

Bảng 3.6 Tình trạng duy trì điều trị của bệnh nhân

Tình trạng duy trì điều trị Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Duy trì phác đồ điều trị 298 96,8

Tử vong 2 0,6 Đa số bệnh nhân HIV/AIDS duy trì phác đồ điều trị khi bắt đầu tham gia nghiên cứu chiểm tỷ lệ 96,8% Bên cạnh đó, có 2,6% bệnh nhân bỏ trị và 0,6 % bệnh nhân tử vong.

Đặc điểm biến cố trên thận ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS sử dụng phác đồ có chứa TDF

3.2.1 Tỷ lệ gặp biến cố độc tính trên thận

Tỷ lệ bệnh nhân đƣợc ghi nhận xuất hiện độc tính trên thận (giá trị eGFR giảm hơn 25% so với giá trị eGFR ban đầu trước khi bắt đầu sử dụng TDF) trong thời gian theo dõi là 25,6% (79/308 bệnh nhân) (bảng 3.7)

Bảng 3.7 Tỷ lệ và thời gian ghi nhận biến cố độc tính trên thận liên quan tới phác đồ có chứa TDF Độc tính trên thận liên quan tới phác đồ có chứa TDF Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Số trường hợp ghi nhận độc tính trên thận 79 25,6

Thời gian trung bình ghi nhận độc tính trên thận (tháng)

Trung bình 13,8 ± 6,8 Ngắn nhất: 3,0 Dài nhất: 24,0

Thời gian ghi nhận độc tính trên thận đƣợc tính từ lúc bệnh nhân bắt đầu sử dụng phác đồ có chứa TDF đến khi ghi nhận xuất hiện độc tính, với thời gian trung bình là 13,8 ± 6,8 (tháng) Trong đó, thời gian ghi nhận độc tính trên thận ngắn nhất là 3 tháng và dài nhất là 24 tháng Thời gian xuất hiện độc tính trên thận chủ yếu xuất xuất hiện trong khoảng 12 - 24 tháng (chiếm 58,2 % số bệnh nhân gặp độc tính) Tiếp theo là tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện độc tính trong khoảng thời gian 6 - 12 tháng (24,1%) và trong khoảng thời gian <

Nghiên cứu áp dụng phân tích Kaplan-Meier để ƣớc tính xác suất tích lũy bệnh nhân gặp độc tính trên thận theo thời gian, nhằm cung cấp hình ảnh cụ thể hơn về xác suất ghi nhận độc tính trên thận ở các thời điểm khác nhau của mẫu bệnh nhân Xác suất tích lũy ghi nhận gặp độc tính trên thận ở bệnh nhân sử dụng TDF đƣợc mô tả trong hình 3.1

Hình 3.4 Biểu đồ xác suất tích lũy ghi nhận biến cố độc tính trên thận trong mẫu nghiên cứu theo thời gian

3.2.2 Mức độ nghiêm trọng của biến cố trên thận dựa theo thang RIFLE

Mức độ nghiêm trọng của biến cố trên thận dựa theo thang RIFLE đƣợc chia làm các mức, bao gồm: mức nguy cơ (Risk) eGFR giảm >25%-50%; mức tổn thương (Injury) eGFR giảm >50% -75%; mức suy thận (Failure) eGFR giảm >75% Kết quả đƣợc trình bày trong bảng 3.8

Bảng 3.8 Mức độ nghiêm trọng của biến cố độc tính trên thận phân loại theo thang RIFLE

Mức độ nghiêm trọng của biến cố Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Mức nguy cơ (Risk) eGFR giảm >25%-50% 73 92,4 Mức tổn thương (Injury) eGFR giảm >50% -75% 5 6,3 Mức suy thận (Failure) eGFR giảm >75% 1 1,3 Đa số bệnh nhân có độ giảm eGFR ở mức nguy cơ (eGFR giảm >25%- 50%) chiếm 92,4% Có 4 bệnh nhân giảm eGFR ở mức tổn thương (eGFR

X ác su ất g ặp đ ộ c t ính

35 giảm >50% -75%) chiếm 6,3% và chỉ có 1 bệnh nhân giảm eGFR ở mức suy thận, chiếm tỷ lệ 1,3%

3.2.3 Xử trí khi gặp độc tính trên thận

Xử trí khi gặp độc tính trên thận được thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS ban hành kèm theo Quyết định 5456/QĐ-BYT ngày 20/11/2019 của Bộ Y tế [7] Kết quả đƣợc trình bày trong bảng 3.9

Bảng 3.9 Tỷ lệ bệnh nhân đƣợc hiệu chỉnh liều/đổi phác đồ

Mức lọc cầu thận ml/phút/1,73m 2

Hiệu chỉnh liều Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Thay thuốc khác nếu không có thuốc thay thế:

300 mg 2 lần một tuần (mỗi 72-96 giờ)

< 10 Không khuyến cáo sử dụng 0 0,0

Có 16 bệnh nhân có eGFR giảm ở mức 30 - 49 ml/phút/1,73m 2 chiểm 20,3% Xử trí trong trường hợp này là hiệu chỉnh liều 300 mg mỗi 48 giờ Không bệnh nhân có mức eGFR giảm 10 - 29 ml/phút/1,73m 2 và < 10 ml/phút/1,73m 2

Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV sử dụng phác đồ có chứa TDF

Các yếu tố tuổi, giới tính, cân nặng, chỉ số BMI, giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân khi bắt đầu điều trị, chỉ số BMI, lƣợng CD4 (tế bào/mm 3 ), giá trị eGFR ban đầu, thuốc dùng kèm gây độc trên thận và nhiễm virut viêm gan B, viêm gan C, tình trạng nhiễm lao đƣợc đƣa vào phân tích đơn biến nhằm tìm ra yếu tố ảnh hưởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận Sử dụng mô hình phân tích hồi quy logistic, kết quả phân tích đơn biến các yếu tố ảnh hưởng

36 đƣợc thể hiện trong bảng 3.10

Bảng 3.10 Phân tích đơn biến các yếu tố ảnh hưởng tới tần suất xuất hiện của biến cố độc tính trên thận

Yếu tố OR Khoảng tin cậy 95% CI p

Cân nặng (79/308) 0,999 0,968 – 1,030 0,936 Giai đoạn lâm sàng (79/308)

Giai đoạn 2 (10/24) 6,590 0,587 – 73,927 0,126 Giai đoạn 3 (5/19) 2,364 0,188 – 29,707 0,505 Giai đoạn 4 (2/3) 5,600 0,412 – 76,049 0,196

CD4 ban đầu (tế bào/mm 3 )

(79/308) 1,002 1,000 – 1,003 0,004 eGFR ban đầu (ml/phút/1,73m 2 )

Sử dụng đồng thời thuốc có độc cho thận (27/75) 1,958 1,115 – 3,439 0,019

Kết quả phân tích đơn biến cho thấy, CD4 ban đầu, eGFR ban đầu, sử dụng đồng thời thuốc có độc cho thận, nhiễm viêm gan B, nhiễm viêm gan C, phác đồ điều trị là những yếu tố ảnh hưởng đến tần suất xuất hiện của biến cố độc tính trên thận với p ≤ 0,05

Theo đó, nếu giá trị CD4 ban đầu của bệnh nhân tăng 1 đơn vị thì nguy cơ gặp độc tính trên thận tăng 0,2% (p=0,004) Nếu giá trị eGFR ban đầu tăng 1 đơn vị thì nguy cơ gặp độc tính trên thận tăng 1,2% (p 0,05)

3.3.2 Phân tích đa biến tìm các yếu tố độc lập ảnh hưởng tới tần suất xuất hiện độc tính trên thận

Tiến hành phân tích đa cộng tuyến bằng mô hình Linear Regression với các yếu tố bao gồm: tuổi, giới, cân nặng, BMI, sử dụng đồng thời thuốc có độc cho thận, bệnh lao, viêm gan B, viêm gan C, giai đoạn lâm sàng, mức CD4 ban đầu, eGFR ban đầu, phác đồ điều trị đƣợc dự kiến đƣa vào phân tích đa biến để xác định các yếu tố ảnh hưởng độc lập Kết quả tìm được hai yếu tố cân nặng và BMI là yếu tố đa cộng tuyến có hệ số VIF>10

Nghiên cứu quyết định lựa chọn các yếu tố bao gồm sử dụng đồng thời thuốc có độc cho thận, bệnh lao, viêm gan B, viêm gan C, giai đoạn lâm sàng, mức CD4 ban đầu, eGFR ban đầu, phác đồ điều trị, tuổi, giới, BMI để đƣa vào mô hình phân tích hồi quy đa biến Sử dụng mô hình hồi quy logistic để phân tích đa biến, kết quả mô hình phân tích hồi quy đa biến đƣợc trình bày trong bảng 3.11

Bảng 3.11 Kết quả mô hình phân tích hồi quy đa biến

Yếu tố OR Khoảng tin cậy

Sử dụng đồng thời thuốc có độc cho thận 1,004 0,325 – 3,106 0,994

Phác đồ điều trị (TDF/3TC/LPV/r) 6,795 1,205 – 38,319 0,030

Mức CD4 ban đầu 1,002 1,001– 1,004 0,011 eGFR ban đầu 1,012 1,004– 1,019 0,002

Kết quả mô hình hồi quy đa biến cho thấy các yếu tố đồng nhiễm viêm gan C, đồng nhiễm viêm gan B, phác đồ điều trị, mức CD4 ban đầu, giá trị

39 eGFR ban đầu và giới tinh có liên quan có ý nghĩa thống kê với tần suất xuất hiện độc tính trên thận Theo đó,

Nhừng bệnh nhân HIV/AIDS đồng nhiễm viêm gan C có nguy cơ xuất hiện độc tính trên thận cao gấp 5,733 lần những bệnh nhân không đồng nhiễm

Những bệnh nhân HIV/AIDS đồng nhiễm viêm gan B có nguy cơ xuất hiện độc tính trên thận cao gấp 55,639 lần so với bệnh nhân không nhiễm viêm gan B; OR = 55,639 (95%CI: 19,903 – 155,537) với p < 0,001

Những bệnh nhân HIV/AIDS sử dụng phác đồ điều trị TDF/3TC/LPV/r có nguy cơ xuất hiện độc tính trên thận cao gấp 6,795 lần những bệnh nhân sử dụng phác đồ TDF/3TC/DTG; OR = 6,795 (95%CI: 1,205 – 38,319) với p = 0,030

Nếu giá trị CD4 ban đầu của bệnh nhân tăng 1 đơn vị thì nguy cơ gặp độc tính trên thận tăng 0,2% (p=0,011)

Nếu giá trị eGFR ban đầu tăng 1 đơn vị thì nguy cơ gặp độc tính trên thận tăng 1,2% (p=0,002)

Những bệnh nhân HIV/AIDS là nữ giới có nguy cơ xuất hiện độc tính trên thận cao gấp 3,121 lần những bệnh nhân là nam giới; OR = 3,121 (95%CI: 1,439 – 6,773) với p = 0,004

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu

Tổng số bệnh nhân theo dõi trong nghiên cứu của chúng tôi là 308 người Trong đó, bệnh nhân nam giới (57,5%) chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với nữ giới (42,5%) Kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu trước đó đều cho thấy nam giới bị nhiễm HIV/AIDS nhiều hơn nữ giới Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Liễu và cộng sự (năm 2016), tỷ lệ nam giới chiếm (67,4%)

[16] Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Tiên và cộng sự (năm 2016), tỷ lệ nam giới chiếm 77% [20] Nghiên cứu của tác giả Đào Đức Giang (năm

2019) cũng cho kết quả tương tự, 2/3 bệnh nhân HIV/AIDS là nam giới [13] Điều này phù hợp so với tình hình lây nhiễm HIV hiện nay gia tăng lây nhiễm qua đường tình dục không an toàn, đặc biệt ở nam giới [16]

Tuổi trung bình của đối tƣợng nghiên cứu là 40,4 tuổi, trong đó nhỏ nhất là 25 tuổi và cao nhất là 63 tuổi Độ tuổi chiếm nhiều nhất là 30 – 45 tuổi với tỷ lệ 79,2% Kết quả này tương tự với kết quả của một số nghiên cứu trên đối tƣợng bệnh nhân HIV/AIDS Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Tiên, Trịnh Thị Ngọc Châu, Đỗ Văn Dũng (năm 2016) cho thấy 68% bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị ARV tại Trung tâm y tế dự phòng Quận 6 nằm trong độ tuổi từ 30-39 và 21% trong độ tuổi ≥ 40 tuổi

[20] Nghiên cứu của Mai Thị Huệ (năm 2020) tại 05 phòng khám ART tại 03 tỉnh Hà Nội, Thanh Hóa, Lào Cai cho thấy bệnh nhân có tuổi trung bình của nam (39,3 tuổi, SD = 8,0) cao hơn so với nữ (36,8 tuổi, SD = 8,4) [14] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liễu (năm 2016) trên 3.398 người nhiễm HIV/AIDS đang đƣợc điều trị ARV tại Quận Thanh Xuân, Hà Nội cho thấy có đến 67,0% các đối tƣợng trong độ tuổi từ 30-39 tuổi, ngoài ra tỷ lệ trong độ tuổi 20-29 và 40-49 là gần tương đương như nhau (17,5%) và 12,1%) [16] Độ tuổi 30 đến 49 chiếm tỷ lệlệ cao điều này phù hợp vì đây là độ tuổi vàng

41 trong nhóm lao động, đa số đã tự lập về kinh tế và có điều kiện để vui chơi giải trí nên tỷ lệ nhiễm HIV vì thế cũng nhiều hơn các nhóm khác

Trong các yếu tố nguyên nhân nhiễm HIV/AIDS của bệnh nhân thì đa số do quan hệ tình dục không an toàn chiếm 64,9% Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tiến Pháp (2016) cho thấy nguyên nhân lây nhiễm HIV do quan hệ tình dục chiếm đến 57,5% trong khi đó chỉ có 19% do nghiện chích ma túy và 10,2% do nguyên nhân cả quan hệ tình dục và cả nghiện chích ma túy [18] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Liễu (năm 2016) tại

Hà Nội, tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường quan hệ tình dục không an toàn (46%) cao hơn so với lây truyền qua đường tiêm chính ma túy (41%) [16] Nghiên cứu của Phạm Thị Duyên (2019) nguyên nhân lây nhiễm HIV do quan hệ tình dục chiếm 43,9% và 25,6% do nghiện chích ma túy [12] Nghiên cứu của Lã Thị Lan và cộng sự (2013) lại cho thấy người nhiễm HIV do nghiện chích ma túy nhiều hơn quan hệ tình dục (51,4% so với 42,6%) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vân (2014) cho thấy 56,1% người nhiễm HIV do nghiện chích ma túy và 37,8% do quan hệ tình dục [22] Qua đó cho thấy xu hướng nguyên nhân lây nhiễm HIV trong cộng đồng đã có sự thay đổi, tăng tỷ lệ người nhiễm HIV do quan hệ tình dục không an toàn và giảm tỷ lệ trong nhóm người nghiện chích ma túy Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với xu hướng thay đổi này

Phần lớn bệnh nhân HIV/AIDS tham gia nghiên cứu (70,5%) có chỉ số BMI bình thường; 17,5% thiếu cân và 12,0% tiền béo phì Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tiến Pháp, tỷ lệ bệnh nhân gầy (BMI50% -75%) chiếm 4,5% và chỉ có 1 bệnh nhân giảm eGFR ở mức suy thận, chiếm tỷ lệ 1,1% Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đây của Lã Thị Lan (87,2%) [15] và Nguyễn Tiến Pháp (98,5%) [18]; Phạm Thị Duyên (82,26%) [12] 2 bệnh nhân có eGFR <

50 ml/phút/1,73m 2 Các kết quả này cho thấy độc tính khi sử dụng phác đồ có chứa TDF thường chỉ ở mức độ nhẹ hoặc trung bình, cho dù có thể có sự khác biệt về phương pháp nghiên cứu cũng như định nghĩa độc tính trên thận giữa các nghiên cứu

Xử trí khi gặp độc tính trên thận

Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ ghi nhận 16 bệnh nhân có eGFR giảm xuống 30 - 49 ml/phút/1,73m 2 được hiệu chỉnh liều theo hướng dẫn của

Bộ Y tế trong quyết định số 5456/QĐ-BYT ban hành năm 2019 của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn Điều trị và chăm sóc HIV/AIDS Nghiên cứu cũng cho thấy không có bệnh nhân nào không đáp ứng phác đồ điều trị có TDF kèm có bệnh nền đƣợc chuyển phác đồ mới không chứa TDF thực tế Một số nghiên cứu khác cũng có kết quả tương đồng [18], [12].

Một số yếu tố ảnh hưởng tới tần xuất độc tính trên thận ở bệnh nhân HIV/AIDS có sử dụng TDF

Kết quả phân tích đa biến cho thấy, yếu tố đồng nhiễm viêm gan C, đồng nhiễm viêm gan B, phác đồ điều trị, mức CD4 ban đầu, giá trị eGFR ban đầu và giới tính có mối liên quan với xuất hiện độc tính trên thận, p< 0,05 Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả của một số nghiên cứu của Calza L, Trapani F,Tedeschi S, và cộng sự (2011) [26], Madeddu G, Bonfanti

P (2008) [36] Nhƣng kết quả nghiên cuả Phạm Thị Duyên (2019) [12]; Nguyễn Tiến Pháp (2016) [18] lại không tìm thấy mối liên quan này Sự khác biệt này có thể do xác định mức lọc cầu thận bằng các công thức khác nhau, đối tƣợng khác nhau và thời điểm theo dõi khác nhau

Kết quả phân tích đa biến cho thấy nếu giá trị CD4 ban đầu của bệnh nhân tăng 1 đơn vị thì nguy cơ gặp độc tính trên thận tăng 0,2% (p=0,014) Nếu giá trị eGFR ban đầu tăng 1 đơn vị thì nguy cơ gặp độc tính trên thận tăng 1,2% (p

Ngày đăng: 21/08/2022, 18:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w