Tại đơn vị năm 2020 đã có một Đề tài nghiên cứu về việc sử dụng thuốc tại Trung tâm năm 2019, qua nghiên cứu đã chỉ ra một số mặt hạn chế đó là việc sử dụng nhiều thuốc hỗ trợ trong điều
TỔNG QUAN
Danh mục thuốc và xây dựng danh mục thuốc
1.1.1 Khái niệm danh mục thuốc:
Danh mục thuốc (DMT) là danh sách các loại thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và bác sĩ sẽ kê đơn các thuốc nằm trong danh mục này Việc tham chiếu DMT giúp đảm bảo thuốc được dùng đúng mục đích, an toàn và phù hợp với phác đồ điều trị Các thuốc trong DMT được lựa chọn dựa trên các tiêu chí về hiệu quả, chất lượng và tuân thủ quy định của hệ thống y tế, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc và quản lý thuốc cho bệnh nhân.
Danh mục thuốc của bệnh viện (DMT) là danh sách các thuốc được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện, làm cơ sở cho việc đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch và được cập nhật thông tin liên quan đến thuốc một cách thường xuyên, đáp ứng các yêu cầu của công tác điều trị và của các chuyên gia y tế trong chẩn đoán, phòng ngừa và chăm sóc sức khỏe người bệnh nói chung Mỗi bệnh viện có DMT riêng và DMTBV được xây dựng hàng năm theo định kỳ thầu tập trung tại SYT, dựa trên nhu cầu điều trị hợp lý của các khoa lâm sàng.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng danh mục thuốc SD tại TT Y tế thành phố Hưng Yên: a, Mô hình bệnh tật:
MHBT tại trung tâm là nền tảng thiết yếu giúp xây dựng DMT phù hợp và làm cơ sở cho TT hoạch định, từ đó phát triển toàn diện hơn các dịch vụ y tế chiến lược Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên nằm trên địa bàn thành phố với đặc thù riêng: rất gần các BV tuyến cao hơn, có cấu trúc dân cư, yếu tố môi trường, văn hóa, kinh tế khác với TTYT các huyện và là đơn vị y tế có giường bệnh hạng III hoạt động đa khoa, nên mô hình bệnh tật cũng khác với một số đơn vị y tế ngang tuyến khác trong tỉnh Phác đồ điều trị (PĐĐT) là văn bản có tính chất pháp lý, là một hướng dẫn điều trị chuẩn có thể có một hoặc nhiều công thức điều trị hội tụ đủ 4 tiêu chí.
- Hợp lý: Đúng thuốc, đúng chủng loại, phối hợp đúng
- An toàn: Không gây tai biến, không tương tác thuốc
- Hiệu quả:Dễ dàng khỏi bệnh, không để lại hậu quả xấu
- Kinh tế: Chi phí điều trị thấp
Vì vậy, DMT của Trung tâm cần dựa vào phác đồ điều trị chuẩn để tạo thuận lợi cho việc xây dựng DMT một cách khoa học và có căn cứ lâm sàng rõ ràng, đồng thời nguồn kinh phí của Trung tâm đóng vai trò then chốt trong quá trình triển khai và duy trì DMT, được quản lý minh bạch từ ngân sách nội bộ, các nguồn tài trợ và hợp tác liên quan.
Nguồn lực tài chính của Trung tâm chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước và nguồn thu hợp pháp từ hoạt động khám chữa bệnh, cùng quỹ bảo hiểm y tế; không có nguồn tài trợ hay nguồn xã hội hóa (XHH) từ các đơn vị trong và ngoài nước Những yếu tố này là căn cứ quan trọng để quyết định và lựa chọn danh mục thuốc thiết yếu (DMTTY) phù hợp Việc triển khai DMTTY diễn ra tại hệ thống y tế cơ sở (trạm y tế xã, phường), vì vậy DMTTY cần dựa vào thực tế về nhân lực và vị trí địa lý của từng xã/phường.
* Các căn cứ lựa chọn một thuốc đƣa vào DMT trong BV:
Thuốc có bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị và tính an toàn Điều này được xác nhận thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng và các văn bản pháp lý liên quan.
Thuốc được sản xuất ở dạng bào chế thích hợp nhằm bảo đảm sinh khả dụng cao và ổn định về chất lượng Quá trình bảo quản và sử dụng tuân thủ đúng các quy định, giúp duy trì hiệu quả và an toàn cho người dùng.
Khi có hai hoặc nhiều thuốc tương đương về tiêu chí, việc lựa chọn nên dựa trên đánh giá kỹ thuật các yếu tố: hiệu quả điều trị, độ an toàn, chất lượng, giá cả và khả năng cung ứng, nhằm đảm bảo quyết định tối ưu cho người bệnh và sự ổn định của chuỗi cung ứng.
Khi các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác dạng bào chế và cơ chế tác dụng, người lựa chọn thuốc nên phân tích chi phí và hiệu quả giữa các thuốc với nhau, không so sánh chi phí đơn vị của từng thuốc Quan trọng là so sánh tổng chi phí liên quan đến một liệu trình điều trị, bao gồm chi phí thuốc và các chi phí liên quan khác, để quyết định tối ưu về kinh tế và lâm sàng Không nên so sánh chi phí tính đơn vị của từng thuốc vì liều lượng và thời gian sử dụng có thể khác nhau và ảnh hưởng đến tổng chi phí thực tế Phương pháp này giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị, sử dụng nguồn lực y tế hợp lý và đảm bảo an toàn cho người bệnh.
Trong chiến lược lựa chọn thuốc, ưu tiên dùng thuốc đơn chất để đảm bảo sự thuần khiết và kiểm soát liều lượng Đối với thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần, cần có đầy đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất và đảm bảo đáp ứng yêu cầu điều trị trên quần thể người bệnh đặc biệt, đồng thời có thể vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất.
- Ưu tiên lựa chọn thuốc Generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược.
Các quy định pháp lý về sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế có giường bệnh
Bảng 1.1: Các văn bản pháp luật liên quan
Tên - số - ký hiệu các loại văn bản
Thời gian ban hành Nội dung ban hành
Quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện nhằm quy định cơ cấu, thẩm quyền và phạm vi trách nhiệm để bảo đảm việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả trong chăm sóc người bệnh Hội đồng có trách nhiệm xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc, trong đó bao gồm thực hiện các phân tích ABC, VEN và phân tích nhóm điều trị nhằm đánh giá sự phù hợp, hiệu quả và an toàn của thuốc; từ đó đề xuất danh mục thuốc, cơ chế quản lý thuốc và các biện pháp tối ưu hóa nguồn lực Kết quả của các phân tích này hỗ trợ quyết định về lựa chọn thuốc, phân bổ nguồn lực và nâng cao chất lượng điều trị tại bệnh viện.
Hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc hóa dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT, các thuốc hay các hoạt chất được sắp xếp theo 27 nhóm Quy định về việc xây dựng DMT thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải căn cứ DMT và phân hạng BV; nhu cầu điều trị và khả năng chi trả của BHYT, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng DMT sử dụng của pháp luật về đấu thầu và lựa chon thuốc để mua sắm, sử dụng theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc Generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước [13]
Ban hành danh mục thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT nhằm chuẩn hóa thanh toán và tăng khả năng tiếp cận điều trị cho người dân Danh mục được sắp xếp thành 11 nhóm theo y lý y học cổ truyền, giúp nhận diện và phân loại các bài thuốc và dược liệu một cách có hệ thống Danh mục vị thuốc bao gồm nhiều vị thuốc cổ truyền được xác định rõ nguồn gốc và chất lượng, phù hợp trong quá trình kê đơn và thanh toán trên phạm vi BHYT Việc công bố danh mục này cũng tăng cường tính minh bạch, quản lý chi phí và đồng bộ hóa quy trình quản lý thuốc Đông y với yêu cầu an toàn và hiệu quả cho người bệnh.
349 vị thuốc từ cây, con, khoáng vật làm thuốc được sắp xếp thành 30 nhóm theo y lý y học cổ truyền [8].
Các phương pháp phân tích sử dụng thuốc
1.3.1 Phương pháp phân tích nhóm điều trị a Khái niệm phân tích nhóm điều trị: Phân tích nhóm điều trị là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị b Vai trò và ý nghĩa:
+ Giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ, chi phí cao nhất
Dựa trên thông tin MHBT, phân tích dữ liệu nhằm xác định các vấn đề sử dụng thuốc không hợp lý và nhận diện các thuốc bị lạm dụng hoặc mức tiêu thụ không đại diện Việc xác định này giúp đánh giá mức độ tuân thủ kê đơn, phát hiện rủi ro an toàn thuốc và đề xuất biện pháp can thiệp nhằm cải thiện an toàn và hiệu quả điều trị Kết quả phân tích MHBT cung cấp bằng chứng cho điều chỉnh chính sách sử dụng thuốc, tối ưu hóa phân bổ thuốc và tăng cường giám sát tiêu thụ thuốc trên cộng đồng Nội dung được trình bày rõ ràng, có thể áp dụng cho các chương trình quản lý dược và giáo dục cho người kê đơn và người bệnh.
Chúng tôi hỗ trợ HĐT&ĐT trong việc xác định và lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị, đồng thời xác định thuốc phù hợp cho các liệu pháp điều trị thay thế dựa trên phân tích chi phí - hiệu quả và dữ liệu lâm sàng Quy trình này mở rộng sự lựa chọn thuốc và tối ưu hóa chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, đảm bảo thuốc được chọn có giá trị điều trị cao cả về mặt lâm sàng và kinh tế.
1.3.2 Phương pháp phân tích ABC a Khái niệm phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích mối quan hệ giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm xác định những thuốc chiếm tỉ lệ lớn nhất trong chi phí mua thuốc bệnh viện; vai trò và ý nghĩa của phương pháp này là giúp xác định phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào để từ đó có thể tập trung quản lý và tối ưu hoá danh mục thuốc Tuy nhiên, phân tích ABC không cung cấp thông tin để so sánh các thuốc về sự khác biệt hiệu quả điều trị giữa chúng Các bước phân tích ABC thường bao gồm thu thập dữ liệu tiêu thụ và chi phí theo từng loại thuốc, sắp xếp và tính toán tỷ trọng chi phí để phân loại thuốc theo nhóm A, B, C, và sau đó phân tích kết quả để đề xuất các biện pháp quản lý ngân sách và tối ưu hoá chi phí mua thuốc bệnh viện.
- B2: Điền các thông tin sau cho mỗi SP:
+ Đơn giá của SP (sử dụng giá cho các thời điểm nhất định nếu SP có giá thay đổi theo thời gian)
- B3: Tính số tiền cho mỗi SP bằng cách nhân đơn giá với số lượng SP Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi SP
- B4: Tính giá trị % của mỗi SP bằng cách lấy số tiền của mỗi SP chia cho tổng số tiền
- B5: Sắp xếp lại các SP theo thứ tự % giá trị giảm dần
- B6: Tính giá trị % tích lũy của tổng giá trị cho mỗi SP; bắt đầu với SP số 1 sau đó cộng với SP tiếp theo trong danh sách
- B7: Phân hạng SP như sau:
+ Hạng A: Gồm những SP chiếm 75 – 80% tổng giá trị tiền
+ Hạng B: Gồm những SP chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền
+ Hạng C: Gồm những SP chiếm 5 – 10% tổng giá trị tiền
Thông thường, phân tích ABC trong quản lý tồn kho cho danh mục sản phẩm cho thấy hạng A chiếm 10–20% tổng SP, hạng B chiếm 10–20%, và 60–80% còn lại là hạng C; dựa trên nguyên tắc này, các bệnh viện có thể ưu tiên kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng hạng A, tối ưu hóa tồn kho ở hạng B và giảm chi phí cho hạng C Thực trạng áp dụng phân tích ABC trong phân tích danh mục thuốc tại một số bệnh viện cho thấy mức độ áp dụng còn khác nhau, song xu hướng chung là tích hợp ABC vào quy trình quản trị danh mục thuốc nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng ngân sách, theo dõi tiêu thụ và dự báo nhu cầu.
Ở một số bệnh viện, kết quả phân tích ABC cho thấy tỉ lệ KM và GTSD của thuốc hạng A, B, C khá hợp lý so với khuyến cáo của Bộ Y tế, cho thấy chi phí sử dụng thuốc được phân bổ hợp lý và phần lớn chi phí thuốc tập trung vào thuốc hạng A.
Trong năm 2016, cơ cấu DMT tại BVĐKKV Bắc Quang, Hà Giang theo phân tích ABC cho thấy thuốc hạng A chiếm 79,7% GTSD và 19,1% số KM; thuốc hạng C chiếm 5,06% GTSD và 57,56% số KM; thuốc hạng B chiếm 15,25% GTSD và 23,34% số KM [21] Đối với DMT sử dụng của BVĐK huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La năm 2016, số KM thuốc nhóm A chiếm … (dữ liệu còn thiếu trong đoạn trích).
15,2% số KM và 79,5% GTSD, nhóm B chiếm 19,9% số KM và 15,4% GTSD, nhóm C chiếm 64,9% số KN và 5,1% GTSD [22]
Kết quả phân tích DMT tại TTYT huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên năm 2017 cho thấy thuốc hạng A chiếm 20,22% số loại và 79,93% GTSD, thuốc hạng B chiếm 25,07% số loại và 15,03% GTSD, trong khi thuốc hạng C có số loại nhiều nhất với 54,72% và chiếm 5,04% GTSD Tại BVĐK huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La năm 2018, kết quả tương tự khi thuốc hạng A chiếm 20,22% số loại và 79,93% GTSD, thuốc hạng B chiếm 25,07% số loại và 15,03% GTSD, thuốc hạng C chiếm 54,72% số loại và 5,04% GTSD.
1.3.3 Phương pháp phân tích VEN a Khái niệm : Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn
* Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia loại 3 nhóm cụ thể như sau:
Thuốc V là thuốc sống còn, được dùng trong các trường hợp cấp cứu và những tình huống đặc biệt quan trọng mà bệnh viện phải có để phục vụ công tác khám chữa bệnh Việc dự trữ và quản lý Thuốc V là yếu tố thiết yếu giúp bệnh viện đáp ứng kịp thời nhu cầu điều trị, đồng thời đảm bảo các quy trình y tế diễn ra an toàn và hiệu quả Do đó, Thuốc V đóng vai trò quan trọng trong cải tiến chất lượng chăm sóc người bệnh và tăng cường khả năng ứng phó của hệ thống y tế trong mọi tình huống.
Thuốc E là thuốc thiết yếu được dùng cho các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện Việc có Thuốc E trong danh mục thuốc thiết yếu giúp cải thiện quản lý điều trị cho các ca bệnh nhẹ đến vừa, đồng thời tăng cường chất lượng chăm sóc và tối ưu hóa quy trình điều trị trong môi trường y tế.
Thuốc N là loại thuốc không thiết yếu được dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ hoặc có thể tự khỏi Nhóm này có thể bao gồm những thuốc mà hiệu quả điều trị chưa được khẳng định rõ ràng hoặc có giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng.
Trong năm 2021, danh mục thuốc đã sử dụng được phân nhóm theo hệ thống VEN (V – Vital, E – Essential, N – Non‑essential) theo phân loại của HĐT& ĐT của bệnh viện, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng thuốc và chi phí điều trị Các bước phân tích VEN gồm 6 bước được thực hiện để sàng lọc và sắp xếp các thuốc theo mức độ quan trọng lâm sàng, từ thu thập thông tin thuốc, phân loại thành V, E và N, đánh giá vị trí của từng thuốc trong danh mục, đến đề xuất điều chỉnh phù hợp với thực hành lâm sàng và ngân sách của bệnh viện.
Bước 1: Từng thành viên trong hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V, E, N
Ở Bước 2, kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất; ở Bước 3, tiến hành lựa chọn và loại bỏ những thuốc hoặc phương án điều trị bị trùng lặp; ở Bước 4, xem xét các thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này khi không còn nhu cầu điều trị.
Bước 5: Xem lại số lượng mua dự kiến mua các thuốc nhóm V, E trước nhóm N và đảm bảo thuốc nhóm V, E có một lượng dự trữ an toàn
Bước 6: Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V, E chặt chẽ hơn nhóm N
Tính tổng số và tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc và giá trị sử dụng của các nhóm thuốc V, E, N b Vai trò, ý nghĩa:
Phương pháp phân tích VEN giúp xác định và ưu tiên những thuốc cần mua và sử dụng trong hệ thống, từ đó cải thiện quản lý hàng tồn kho và phân bổ thuốc một cách có hệ thống Việc áp dụng VEN cho phép phân loại thuốc theo mức độ ưu tiên, hỗ trợ quyết định mua bán và sử dụng thuốc một cách hiệu quả Đồng thời, phân tích VEN xác định mức giá phù hợp cho từng loại thuốc, cân bằng giữa chi phí và chất lượng để tối ưu hoá chi phí và nâng cao hiệu quả điều trị trong toàn hệ thống.
* Việc lựa chọn thuốc: Các thuốc V và E nên được đưa ra ưu tiên lựa chọn Đặc biệt khi ngân sách hạn hẹp
Thực trạng sử dụng thuốc ở các bệnh viện tại Việt Nam hiện nay
1.4.1 Việc sử dụng thuốc theo nguồn gốc xuất xứ:
Trong thời gian gần đây, Cục Quản lý Dược triển khai giải pháp “Người Việt ưu tiên dùng thuốc Việt” nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành Dược và bảo đảm nguồn cung thuốc chữa bệnh cho nhân dân, giảm phụ thuộc vào thuốc nhập khẩu từ nước ngoài Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ tiền mua thuốc sản xuất trong nước ở các bệnh viện ở các tuyến còn thấp và có sự chênh lệch giữa các tuyến bệnh viện.
Bảng 1.4: Cơ cấu sử dụng thuốc nhập khẩu, thuốc sản xuất trong nước
Bệnh viện/ năm nghiên cứu
Thuốc nhập khẩu Thuốc SXTN Tài liệu tham khảo
TTYT Huyện Điện Biên năm
Dựa vào bảng kết quả, ta nhận thấy tỷ lệ sử dụng thuốc nhập khẩu ở các đơn vị khác nhau, với mức độ tương đối cao vào năm 2017; tuy nhiên, tại TTYT huyện Điện Biên năm 2019, tỷ lệ này lại rất thấp.
1.4.2 Về nhóm tác dụng dược lý:
Mô hình bệnh tật của từng bệnh viện dẫn tới sự khác biệt về nhu cầu sử dụng các nhóm thuốc Tuy nhiên, khảo sát ở đa số bệnh viện cho thấy các nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và nhiễm khuẩn, nhóm hormone và nhóm thuốc tim mạch chiếm vai trò đáng kể trong phác đồ điều trị và quản lý bệnh nhân Kết quả này cho thấy nhu cầu thuốc được phân bổ theo đặc thù bệnh lý từng cơ sở và nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng danh mục thuốc hợp lý, tối ưu chi phí và đảm bảo chất lượng điều trị.
- huyết áp luôn chiếm tỉ trọng cao hơn trong danh mục thuốc sử dụng Tại một số bệnh viện các nghiên cứu được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 1.5 Tỉ lệ sử dụng nhóm Hormon tại một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số KM % KM % GT
1 TTYT tp Uông Bí năm 2017 366 7.92 26.65 [18]
2 Trung tâm Y tế Huyện Kim Động năm 2017 187 8.02 23,89 [17]
3 Trung tâm Y tế Huyện Văn
Tỷ lệ về số KM và GTSD đối với nhóm này tại các đơn vị tương đối cân bằng
Bảng 1.6 Tỷ lệ sử dụng nhóm thuốc tuần hoàn - huyết áp tại một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
1 TTYT tp Uông Bí năm 2017 366 15.57 23.09 [18]
2 Trung tâm Y tế Huyện Kim Động năm 2017 187 20.32 24.18 [17]
3 Trung tâm Y tế Huyện Văn
Nhận xét: Tỷ lệ về GTSD đối với nhóm này tại các đơn vị tương đối cân bằng, TTYT huyện Kim Động có tỷ lệ số KM cao
Bảng 1.7 Tỷ lệ sử dụng thuốc nhóm KST chống NK tại một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số KM %KM % GT
1 TTYT tp Uông Bí năm 2017 366 3.01 6.81 [18]
2 Trung tâm Y tế Huyện Kim Động năm 2017 187 17.11 14.75 [17]
3 Trung tâm Y tế Huyện Văn
Theo bảng trên, đã có sự khác biệt về tỷ lệ sử dụng thuốc thuộc nhóm KST và nhóm chống nhiễm khuẩn tại các đơn vị cùng tuyến, cho thấy mức độ dùng thuốc giữa các cơ sở y tế ở cùng cấp có sự biến động đáng kể Đáng chú ý, TTYT tp Uông Bí sử dụng các nhóm thuốc này ở mức rất thấp so với các đơn vị đồng cấp khác.
1.4.3 Tình hình sử dụng thuốc Generic, thuốc biệt dược gốc
Bộ Y tế cho biết tại một số bệnh viện, thuốc biệt dược gốc chiếm tỉ lệ cao trong danh mục thuốc Sử dụng thuốc generic là một trong những cách làm giảm chi phí cho điều trị Đây cũng là một trong những tiêu chí Bộ Y tế đưa ra trong việc lựa chọn thuốc sử dụng trong bệnh viện.
Các thuốc biệt dược gốc thường có giá thành cao, nhưng hiệu quả điều trị đã được chứng minh Do đó, việc lựa chọn giữa thuốc generic và biệt dược gốc là một cân nhắc của thầy thuốc tùy từng trường hợp bệnh cụ thể, và được thể hiện trong bảng sau.
Bảng 1.8 Tỷ lệ thuốc sử dụng Generic - Biệt dược gốc của một số bệnh viện
Tên bệnh viện, năm nghiên cứu
Thuốc generic Thuốc Biệt dƣợc gốc
TTYT tp Uông Bí năm
Các đơn vị đều sử dụng thuốc biệt dược gốc, nhưng một số đơn vị chưa tối ưu về GTSD so với tuyến mình; Văn Lâm năm 2016 đạt 26,24% và Kim Động năm 2017 đạt 18,54%.
1.4.4 Phân tích ABC, VEN tại một số BV nước ta
Ở Việt Nam, phân tích ABC-VEN được Bộ Y tế quy định tại Thông tư 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08/8/2013 như phương pháp phân tích nhằm phát hiện các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc và là bước đầu trong quy trình xây dựng DMT bệnh viện Việc thực hiện phân tích ABC-VEN cung cấp dữ liệu khách quan để nhận diện bất cập, giúp giảm chi phí và loại bỏ các vấn đề phát sinh trong quá trình mua sắm và sử dụng thuốc tại các bệnh viện Dưới đây là kết quả của một số bệnh viện đã triển khai phân tích ABC/VEN trong những năm gần đây.
Bảng 1.9 Phân tích ABC/VEN tại một số bệnh viện
Trung tâm Y tế huyện Kim Động năm 2017[17]
Trung tâm Y tế huyện Hàm Thuận Bắc – Ninh Thuận năm 2018[19]
Trung tâm Y tế huyện Kim Động năm 2017[17]
Trung tâm Y tế huyện Hàm Thuận Bắc – Ninh Thuận năm 2018[19]
Giới thiệu về Trung tâm Y tế thành phố Hƣng Yên
1.5.1 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Y tế thành phố:
* Vài nét về sơ bộ về Trung tâm :
Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên là đơn vị y tế tuyến huyện, hạng 3, hoạt động theo mô hình đa chức năng và trực thuộc Sở Y tế tỉnh Hưng Yên Trung tâm có 195 cán bộ và 12 khoa, phòng, đội ngũ; trong đó 4 phòng chức năng và 8 khoa/phòng chuyên môn, đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế thiết yếu, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân địa phương.
Hiện nay, hệ thống y tế cơ sở gồm 8 khoa chuyên môn và 15 trạm y tế xã phường, với trang thiết bị y tế hiện có cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và tuân thủ các quy định của Bộ Y tế.
Hiện tại Trung tâm có một danh mục máy móc và thiết bị y tế đa dạng, nổi bật là các thiết bị công nghệ cao như máy siêu âm màu 4D cho chẩn đoán hình ảnh chính xác, máy xét nghiệm sinh hóa tự động cho kết quả nhanh và tin cậy, máy rửa phim X-Quang kỹ thuật số giúp tối ưu quy trình xử lý hình ảnh, máy HbA1C, máy đốt đầu dò, máy điện tâm đồ, máy chiếu vàng da cho trẻ sơ sinh và máy kéo giãn cột sống Những thiết bị này hỗ trợ công tác chẩn đoán, điều trị và chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ tại Trung tâm.
* Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
Đơn vị có chức năng cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn TP Hưng Yên và một số vùng lân cận, đồng thời triển khai thực hiện các nhiệm vụ y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật của đơn vị tập trung vào y tế dự phòng, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khỏe sinh sản và truyền thông giáo dục sức khỏe, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và sức khỏe cộng đồng tại địa bàn.
*Về cơ cấu nhân lực
Bảng 1.10 Cơ cấu nhân lực của Trung tâm Y tế TP Hưng Yên năm 2021
STT Trình độ chuyên môn Số lƣợng Tỷ lệ (%)
STT Trình độ chuyên môn Số lƣợng Tỷ lệ (%)
1.5.2 Mô hình bệnh tật tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên:
Trung tâm y tế Thành phố Hưng Yên xây dựng mô hình bệnh tật theo phân loại ICD-10 năm 2018, làm nền tảng dữ liệu cho việc xây dựng phác đồ điều trị, lựa chọn thuốc và thiết lập danh mục thuốc bệnh viện; các chỉ tiêu của mô hình bệnh tật được thể hiện rõ nhằm phục vụ công tác quản lý chăm sóc người bệnh và nâng cao chất lượng điều trị.
Bảng 1.11: Mô hình bệnh tật tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2021
STT Nhóm bệnh Mã ICD 10 Tần suất
1 Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật A04- B41.0 3176 12,62
3 Bệnh nội tiết, chuyển hoá E01 – E89.0 6083 24,17
4 Rối loạn tâm thần và hành vi F01- F99 61 0,24
5 Bệnh của hệ thống thần kinh G00 - G93 159 0,63
STT Nhóm bệnh Mã ICD 10 Tần suất
6 Bệnh của mắt và phần phụ H00-H59 927 3,68
7 Bệnh của tai và xương chum H60-H93 130 0,52
8 Bệnh của hệ tuần hoàn - huyết áp I05.2-I95.0 7911 31,43
9 Bệnh của hệ hô hấp J00-J96.1 2528 10.04
10 Bệnh của hệ tiêu hóa K01-K92.2 953 3,97
11 Bệnh của da và tổ chức dưới da L02 - L90.3 419 1,66
12 Bệnh của hệ thống cơ, xương và mô liên kết M03 - M87 678 2,69
13 Bệnh của hệ tiết niệu sinh dục N00 - N90 533 2,12
14 Chửa, đẻ và sau đẻ O00 - O90.5 89 0,35
15 Một số bệnh trong thời kỳ chu sinh P08.2 - R53 20 0,08
16 Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về NST Q21 - Q70 21 0,08
Triệu chứng, dấu hiệu và phát hiện bất thường lâm sàng, CLS chưa được phân loại ở nơi khác
18 Vết thương, ngộ độc và hậu quả của các nguyên nhân tử vong S00.1 - T 90.1 95 0,38
19 Nguyên nhân bên ngoài của bệnh W44 - Y52.3 5 0,01
STT Nhóm bệnh Mã ICD 10 Tần suất
20 Các yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe và tìm kiếm DVYT Z22.1 - Z73.3 25 0,10
- Mô hình bệnh tật tại Trung tâm Y tế Thành Phố HưngYên năm 2021 rất đa dạng với 20 nhóm bệnh Trong đó:
Phân tích cho thấy các nhóm bệnh có sự phân bổ rõ rệt: nhóm bệnh của hệ tuần hoàn và huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất với 31,43%, tiếp theo là nhóm bệnh Nội tiết và chuyển hóa với 24,17%, và nhóm Nhiễm khuẩn và ký sinh vật chiếm 12,62%.
Phân tích cho thấy trong năm 2021, các nhóm bệnh chủ yếu gồm nhóm bệnh thuộc hệ tuần hoàn và huyết áp, nhóm bệnh Nội tiết và chuyển hóa, và nhóm bệnh Nhiễm khuẩn và ký sinh vật.
So với năm 2019, năm 2021 ghi nhận sự thay đổi về tỷ lệ mắc bệnh Cụ thể, nhóm bệnh về tuần hoàn và huyết áp tăng so với mức 24,0% của năm 2019, trong khi nhóm bệnh nội tiết và chuyển hóa giảm với mức 26,35% ở năm 2019 Các nhóm bệnh còn lại có tỷ lệ tương đương với năm 2019.
1.5.3 Chức năng nhiệm vụ của khoa Dược Trung tâm Y tế thành phố: a Chức năng:
Khoa Dược là khoa chuyên môn thuộc sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc Trung tâm, có chức năng quản lý và tham mưu cho Trung tâm về toàn bộ công tác dược nhằm đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng, đồng thời tư vấn và giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý theo quy định của Bộ Y tế và tổ chức hoạt động của khoa Dược theo Thông tư 22/TT-BYT ngày 10/6/2011.
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc đảm bảo số lượng, chất lượng cho như cầu điều trị và các yêu cầu chưa bệnh khác (dịch bệnh, thiên tai…) Ngoài cung ứng thuốc cho Trung tâm, khoa Dược còn có nhiệm vụ cung ứng thuốc cho trạm y tế xã, phường trực thuộc
- Quản lý theo dõi việc nhập thuốc cấp phát chon nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của HĐT&ĐT
- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin tư vấn về sự dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi báo cáo thông tin liên quan tới phản ứng có hại của thuốc
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyện môn về dược tại khoa Trung tâm
- Nghiên cứu và đào tạo: là cơ sở thực hành về dược của các trường cao đẳng, trung cấp về dược
Chúng tôi phối hợp với khoa lâm sàng để theo dõi và kiểm tra giám sát việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý tại Trung tâm, đặc biệt tập trung vào việc sử dụng kháng sinh đúng chỉ định, liều lượng và thời gian điều trị Quản lý dược và kiểm soát sử dụng kháng sinh được thực hiện nhằm tăng hiệu quả điều trị, giảm rủi ro phát sinh kháng thuốc và đảm bảo an toàn cho người bệnh.
- Tham gia hội chuẩn khi có yêu cầu
- Tham gia theo dõi kinh phí sử dụng thuốc
- Quản lý hoạt động của nhà thuốc Trung tâm theo đúng quy định
Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả đang được quan tâm đặc biệt bởi ngành Y tế và Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên Để đạt mục tiêu này, nhiệm vụ quan trọng là lựa chọn danh mục thuốc (DMT) phù hợp Trước đây, Trung tâm Y tế TP Hưng Yên chỉ có một đề tài nghiên cứu về vấn đề này: năm 2020 DS Nguyễn Thị Xiêm đã thực hiện nghiên cứu về sử dụng thuốc năm 2019, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế nhằm xem lại nội dung đề tài trước và đánh giá lại việc sử dụng thuốc sau hai năm có hợp lý hay không Do đó, tôi tiến hành “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại đơn vị năm 2021” nhằm đánh giá chính xác việc sử dụng DMT sao cho đạt hiệu quả tối ưu nhất theo cơ chế thông tuyến của Luật BHYT hiện nay, cơ chế này tạo thuận lợi cho bệnh nhân có thẻ BHYT đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế Tuy nhiên, TTYT thành phố còn gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút bệnh nhân đến khám và điều trị.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
- Danh mục thuốc đã được sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2021
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các biến số nghiên cứu:
Bảng 2.12: Nhóm các biến số mô tả cơ cấu DMT sử dụng tại TTYT Tp
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Nhóm thuốc theo nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
- Thuốc hóa dược được quy định tại Thông tư số
- Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được quy định tại Thông tư 05/2015/TT-BYT [8]
Nhóm tác dụng dược lý của thuốc
Thuốc hóa dược quy định tại TT 30/2018/TT-BYT
[13], và thuốc đông y, thuốc từ dược liệu quy định tại TT 05/2015/TT-BYT [8]
+ 27 nhóm tác dụng dược lý của thuốc hóa dược
+ 11 nhóm theo y lý đông y, thuốc từ dược liệu của thuốc tân dược
Bảng thu thập số liệu
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết
Các thuốc nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết theo phân nhóm quy định tại thông tư 30/2018/TT-BYT
Các nhóm thuốc nội tiết gồm: nhóm hormone thượng thận và các chất tổng hợp thay thế nhằm bổ sung các hormone thiếu hụt và điều chỉnh các rối loạn chuyển hóa liên quan; nhóm chế phẩm androgen, estrogen và progesterone được dùng trong liệu pháp hormone sinh dục, điều hòa chu kỳ kinh nguyệt và điều trị các rối loạn sinh dục ở cả nam và nữ; nhóm insulin và các nhóm thuốc hạ đường huyết có tác động kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường và hỗ trợ quản lý mức glucose máu; nhóm hormone tuyến giáp, cận giáp và thuốc kháng giáp tổng hợp được dùng để điều chỉnh hoạt động của tuyến giáp và các rối loạn liên quan, nhằm duy trì cân bằng nội tiết và chuyển hóa ở người bệnh.
Nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp
Nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp
+ Nhóm thuốc ức chế men chuyển - ACEI
+ Nhóm thuốc ức chế thụ thể
Bảng thu thập số liệu
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Kỹ thuật thu thập chẹn kênh canxi – CCB
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Nhóm thuốcchống nhiễm khuẩn vàký sinh trùng đã sửdụng
Biến phân loại Các nhóm thuốc:
Bảng thu thập số liệu
Nhóm Beta- lactam sử dụng
Nhóm thuốc trong nhóm thuốc Beta-lactam đã sử dụng
Biến phân loại Các nhóm thuốc:
Bảng thu thập số liệu
Nguồn gốc xuất xứ của thuốc
+ Thuốc sản xuất trong nước: thuốc do các công ty dược phẩm trong nước và công ty liên doanh tại Việt Nam sản xuất
+ Thuốc nhập khẩu: thuốc do các công ty dược phẩm nước ngoài sản xuất, được nhập khẩu qua các công ty dược phẩm tại Việt Nam
Bảng thu thập số liệu
Thuốc đơn thành phần, đa thành phần
- Thuốc đơn thành phần: là thuốc có một thành phần hoạt chất chính
- Thuốc đa thành phần: là
+ Thuốc đơn thành phần + Thuốc đa thành
TT Tên biến số Định nghĩa mô tả biến số Phân loại biến
Kỹ thuật thu thập thuốc có từ hai thành phần hoạt chất trở lên phần liệu
Thuốc biệt dược gốc là loại thuốc được cấp phép lưu hành lần đầu dựa trên đầy đủ dữ liệu về chất lượng, độ an toàn và hiệu quả, đồng thời làm chuẩn tham chiếu cho các thuốc tương tự sau này trên thị trường.
Thuốc generic là thuốc thành phẩm được sản xuất nhằm thay thế cho một thuốc phát minh (thuốc gốc) đã được sản xuất mà không có giấy phép nhượng quyền từ công ty phát minh, và quyền độc quyền của thuốc đó đã hết hạn.
+ Thuốc biệt dược gốc + Thuốc generic
Bảng thu thập số liệu
10 Thuốc theo đường dùng Đường dùng của thuốc bao gồm: tiêm – truyền; đường uống; đường dùng khác
Biến phân loại: Đường dùng của thuốc: tiêm – truyền; đường uống…
Bảng thu thập số liệu
Phân loại thuốc generic theo tiêu chí kỹ thuật theo đúng kết quả trúng thầu
Nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5
Bảng thu thập số liệu
Theo phương pháp mô tả cắt ngang
Dữ liệu được thu thập từ nguồn tài liệu có sẵn tại trung tâm
- DMT Trung tâm sử dụng năm 2021
- Kinh phí mua thuốc năm 2021 theo DMTBV lưu tại Phòng Tài chính- Kế toán
- Số liệu lấy từ phần mềm quản lý bệnh viện về báo cáo xuất nhập tồn của Trung tâm năm 2021
Thông tin thu thập bao gồm tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ và hàm lượng, dạng bào chế và đường dùng; đơn vị tính, số lượng sử dụng, đơn giá và thành tiền để quản lý chi phí và kiểm soát tồn kho Nước sản xuất và nhóm tác dụng dược lý giúp xác định nguồn gốc và cơ chế tác dụng của thuốc, trong khi nhóm thầu phục vụ cho quản lý quy trình đấu thầu và phân bổ nguồn lực.
- Báo cáo xuất nhâp tồn 12 tháng năm 2021 của khoa Dược và báo cáo tài chính năm 2021 của trung tâm
Các thông tin liên quan đến danh mục thuốc được sử dụng tại Trung tâm Y tế TP Hưng Yên năm 2021 đã được đưa vào Biểu mẫu thu thập số liệu Danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế TP Hưng Yên năm 2021 (Phụ lục 01: Bảng thu thập số liệu).
Tất cả 190 thuốc hóa dược, thuốc nguồn gốc từ dược liệu đã được sử dụng năm 2021 tại Trung tâm Y tế TP Hưng Yên
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu
Chúng tôi tổng hợp toàn bộ dữ liệu về DMT năm 2021 trên một bảng tính Excel duy nhất, tập hợp đầy đủ các trường như tên hoạt chất, tên thuốc (gồm Generic, tên thương mại và biệt dược), nồng độ và hàm lượng, dạng bào chế, đường dùng, đơn vị tính, số lượng sử dụng, đơn giá, thành tiền, nước sản xuất, nhóm tác dụng dược lý và nhóm thầu, nhằm làm nguồn tham khảo tin cậy cho phân tích, so sánh chi phí – hiệu quả và hỗ trợ quyết định quản trị thuốc.
- Dùng các hàm Sum, If, Count, Countif, Sumif, Subtotal, Autofilter, Sort để tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:
Xếp theo nguồn gốc thuốc tân dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Xếp theo nhóm tác dụng dược lý
Xếp theo các thuốc đơn thành phần/ đa thành phần
Xếp theo nước sản xuất: Đưa ra tỷ lệ thuốc nội/ ngoại
Xếp theo thuốc generic/ thuốc biệt dược gốc
- Tính tổng SLDM, trị giá của từng SLDM, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số
* Phương pháp so sánh: So sánh tỷ trọng trong phân tích cơ cấu nhóm tác dụng dược lý, kinh phí mua thuốc, cơ cấu DMT
Phương pháp phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa số lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định những thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong nguồn kinh phí mua thuốc Qua đó, tổ chức có thể xác định các mặt hàng thuốc có tác động chi phí lớn và khối lượng tiêu thụ cao để ưu tiên quản lý kho vận, đàm phán giá và lập kế hoạch mua hàng Mục tiêu chính của phân tích ABC là tối ưu hóa phân bổ ngân sách bằng cách tập trung nguồn lực vào những thuốc đóng vai trò trọng yếu, giúp giảm lãng phí và nâng cao hiệu quả chi tiêu cho thuốc Ứng dụng của phương pháp này trong quản lý dược phẩm hỗ trợ quyết định về mua sắm, kiểm soát tồn kho và cải thiện hiệu quả chi phí.
* Phương pháp phân tích VEN
- Dựa vào mô hình bệnh tật, phác đồ điều trị phổ biến tại Trung tâm, phân loại danh mục theo V,E,N
Đến năm 2021, Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên chưa phân loại VEN cho danh mục thuốc; công tác đánh giá và phân tích VEN hầu hết được Khoa Dược tự thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn chung do Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định.
Phân loại các thuốc sống còn (Vital-V) các thuốc dùng trong cấp cứu và các thuốc thiết yếu
Phân loại thuốc thiết yếu (Essential-E) các thuốc dùng để điều trị cho bệnh nhân nặng, nhưng không nhất thiết phải có
Phân loại thuốc không thiết yếu (Non Essential-N) là nhóm thuốc được dùng để điều trị các bệnh ở mức nhẹ và không có trong Danh mục thuốc thiết yếu (DMT thiết yếu) Những thuốc này không cần phải được dự trữ rộng rãi trong hệ thống y tế và thường chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết nhằm tối ưu hóa nguồn lực và hỗ trợ điều trị cho các trường hợp nhẹ.
Từ những kết quả phân loại của Khoa Dược đưa ra, Hội đồng thuốc xem xét quyết định
- Số liệu được mã hóa, nhập liệu bằng phần mềm Microsoft Excel
- Sử dụng phương pháp tính toán tỷ lệ % theo công thức và trình bày kết quà bằng các bảng, biểu đồ phù hợp
* Các chỉ số nghiên cứu đƣợc tính theo các cách sau:
- CT1: Tỷ lệ % thuốc (hoạt chất) từng nhóm = Số thuốc (hoạt chất) mỗi nhóm/ Tổng số thuốc hoạt chất đã sử dụng) * 100%
- CT2: Tỷ lệ % giá trị sử dụng mỗi nhóm = (Tổng giá trị sử dụng của nhóm/ Tổng giá trị sử dụng thuốc toàn Trung tâm) * 100%
Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế TP Hƣng Yên năm 2021
3.1.1 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc thuốc tân dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu được phân tích trong bảng sau:
Bảng 3.14 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc tân dược, thuốcnguồn gốc từ dược liệu tại Trung tâm Y tế TP Hưng Yên năm 2021
Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Số lƣợng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
2 Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 18 9,47 568.960.000 7,05
+ Số thuốc hóa dược sử dụng là 172 KM chiếm 90,53%, giá trị tiêu thụ chiếm 92,95%
+ Số lượng thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 18 KM chiếm 9,47%, giá trị tiêu thụ chiếm 7,05%
3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
Danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2021 được phân loại theo nhóm tác dụng dược lý gồm ba loại chính: thuốc hoá dược, thuốc Đông y và thuốc từ dược liệu, như bảng sau mô tả.
Bảng 3.15 Cơ cấu DMTSD tại Trung tâm Y tế TP Hưng Yên năm 2021 theo nhóm tác dụng dược lý
TT Nhóm tác dụng dƣợc lý
Giá trị sử dụng VND
1 Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết 33 17,37 2.827.018.000 35,02
2 Thuốc điều trị tăng huyết áp 29 15,26 2.120.315.000 26,26
3 Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn 33 17,37 868.654.000 10,76
5 Nhóm thuốc chống rối loạn tâm thần 2 1,05 24.800.000 0,31
6 Nhóm thuốc hạ lipid máu 4 2,11 138.859.000 1,72
Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid; thuốc điều trị gút và các bệnh xương khớp
10 Thuốc chống dị ứng và dùng trong các trường hợp quá mẫn 3 1,58 5.632.000 0,07
Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid- base và các dung dịch tiêm truyền khác
12 Thuốc điều trị bệnh mắt, mũi, tai 2 1,05 8.442.500 0.1
TT Nhóm tác dụng dƣợc lý
Giá trị sử dụng VND
13 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 7 3,68 19.288.090 0,24
14 Thuốc tác dụng đối với máu 1 0.53 700.000 0,01
15 Nhóm thuốc gây tê, mê 5 2,63 5.854.000 0,07
16 Thuốc tác dụng thúc đẻ và cầm máu sau đẻ 1 0,53 470.000 0,01
II Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 18
1 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 4 2,11 175.150.000 2,17
2 Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 8 4,21 238.410.000 2,95
3 Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì 2 1,05 41.750.000 0,52
4 Nhóm thuốc chữa các bệnh về Âm, về Huyết 2 1,05 98.400.000 1,22
5 Nhóm thuốc chữa bệnh về phế 1 0,53 5.500.000 0,07
6 Nhóm thuốc chữa bệnh về ngũ quan 1 0,53 9.750.000 0,12
Bảng dữ liệu cho thấy tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên, DMT đang quản lý một danh mục thuốc phong phú gồm 17 nhóm thuốc hóa dược, 06 nhóm thuốc đông y và thuốc từ dược liệu, với tổng cộng 190 loại thuốc được cập nhật Việc phân loại và công bố danh mục giúp nâng cao hiệu quả điều trị, tối ưu nguồn lực và đảm bảo tuân thủ các quy định dược phẩm, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận thuốc cho bệnh nhân địa phương.
+ Nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết và nhóm nhất là 33 KM (17,37%) với GTSD lần lượt là 35,02% và 10,76%
Nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp là nhóm có số lượng KM và GTSD nhiều thứ hai, với 22 KM (11,58%) và GTSD đạt 25,51% Điều này hoàn toàn tương ứng với MHBT tại TTYT, cho thấy phần lớn bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính về tuần hoàn, tăng huyết áp và tim mạch đang được điều trị bằng nhóm thuốc này.
Nhóm thuốc có số KM và GTSD nhiều thứ ba là Tim mạch, với 12 KM (6,32%) và GTSD là 13,45% Đây hoàn toàn tương ứng với MHBT tại TTYT do quản lý nhiều bệnh nhân tăng huyết áp và các bệnh tim mạch.
+ Trong nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu: Chiếm cao nhất về số
KM và GTSD là nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm Nhóm này có 8 KM chiếm 4,21% và GTSD 2,95% Tiếp đến là nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy với 4 KM (2,11%) và GTSD 2,17%.
3.1.3 Cơ cấu nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết Bảng 3.16 Cơ cấu nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2021
Giá trị sử dụng VND
1 Hocmon thượng thận và những chất tổng hợp thay thế 4 12,12 63.997.450 2,26
2 Các chế phẩm androgen, estrogen và progesteron 2 6,06 44.570.000 1,58
3 Insulin và nhóm thuốc hạ đường huyết 26 78,79 2.716.280.550 96,11
Hocmon tuyến giáp, cận giáp và thuốc kháng giáp trạng tổng hợp
Trong nhóm Hormon, insulin và nhóm thuốc hạ đường huyết được sử dụng nhiều nhất, với 26 loại thuốc có GT chiếm tới 96,11% tổng số thuốc được ghi nhận; kết quả này cho thấy phác đồ điều trị phù hợp với MHBT và chủ yếu dành cho bệnh nhân ĐTĐ tuyp II.
3.1.4 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp
Bảng 3.17 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2021
Nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp có 29 thuốc được phân thành 4 nhóm tác dụng Trong đó, nhóm chẹn kênh Calci chiếm đa số với 11 thuốc (37,93%), chiếm 40,62% về GTSD; 3 nhóm còn lại là nhóm thuốc ức chế thụ thể Angiotensin và các nhóm tác dụng khác.
Giá trị sử dụng VND
Thuốc điều trị tăng huyết áp-nhóm thuốc ức chế men chuyển - ACEI
Thuốc điều trị tăng huyết áp- nhóm thuốc ức chế thụ thể Angiotensin - ARB
Thuốc điều trị tăng huyết áp-nhóm thuốc chẹn kênh canxi - CCB
4 Thuốc điều trị tăng huyết áp- nhóm thuốc chẹn beta 7 24,14 287.495.000 13,56
Tổng cộng: 29 100 2.120.315.000 100 nhóm thuốc ức chế men chuyển, nhóm thuốc chẹn beta tương ứng 23,23%;
Hai giá trị tỷ lệ 22,59% và 13,56% về GTSD cho thấy mức tương ứng với MHBT tại TTYT, nơi bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính về tuần hoàn, tăng huyết áp và tim mạch là nhóm phổ biến Điều này nhằm đa dạng hóa nhóm thuốc cho công tác kê đơn ngoại trú và điều trị, từ đó nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh.
3.1.5 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn được phân tích theo bảng dưới đây
Bảng 3.18 Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn sử dụng tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên năm 2021
Giá trị sử dụng VND
Trong nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, thuốc chống nhiễm khuẩn được sử dụng tại TTYT, tập trung chủ yếu ở các thuốc thuộc nhóm Beta-lactam GTSD đạt 653.020.000 đồng, chiếm 73,65% tổng GTSD của nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn tại TTYT trong năm 2021.
3.1.6 Cơ cấu thuốc nhóm Beta- lactam sử dụng:
Phân tích cơ cấu sử dụng thuốc nhóm Beta-lactam được kết quả trong bảng sau:
Bảng 3.19 Cơ cấu nhóm kháng sinh Beta-lactam sử dụng tại Trung tâm Y tế Tp Hưng Yên năm 2021
Giá trị sử dụng VND
2.1 Cephalosporin thế hệ 1 4 33,33 207.140.000 31,72 2.2 Cephalosporin thế hệ 2 1 8,33 32.250.000 4,94 2.3 Cephalosporin thế hệ 3 2 16,67 174.750.000 26,76
Trong nhóm thuốc kháng sinh Beta-lactam được sử dụng tại TTYT năm 2021 cho thấy:
- Nhóm Cephalosporin chiếm tỷ lệ nhiều nhất 63,42% GTSD và chủ yếu là Cephalosporin thế hệ 1có 4 thuốc (33,33%) chiếm 31,72% về GTSD
- Thuốc nhóm Penicillin được SD ít hơn so với nhóm Cephalosporin, vấn đề sử dụng KS tại TT không lạm dụng và tương đối hợp lý
3.1.7 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ
Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu sử dụng trong năm
2021 thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.20 Cơ cấu thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu sử dụng tại Trung tâm Y tế Tp Hưng Yên năm 2021
Thuốc sản xuất trong nước 110 KM (57,89%), tổng kinh phí
2.619.390.650 đồng (32,44%), thuốc nhập khẩu 80 KM (42,11%), tổng kinh phí 5.454.055.090 (67,56%).Thuốc nhập khẩu có GTSD cao nên cần thay thế hoạt chất sản xuất trong nước
TT Nguồn gốc xuất xứ
Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Số lƣợng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
1 Thuốc sản xuất trong nước 110 57,89 2.619.390.650 32,44
3.1.8 Cơ cấu thuốc đơn thành phần/ đa thành phần
Bảng 3.21 Cơ cấu thuốc hóa dược theo thành phần đã được sử dụng tại
Trung tâm Y tế Tp Hưng Yên năm 2021
Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Số lƣợng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
Trong DMT hóa dược, đơn thành phần 137 KM (79,65%), với tổng giá trị sử dụng chiếm 68,18%; thuốc đa thành phần 35 KM (20,35%), với giá trị sử dụng 31,82%
3.1.9 Cơ cấu thuốc biệt dược gốc và thuốc Generic
Bảng 3.22 Cơ cấu thuốc biệt dược gốc và thuốc Generic đã được sử dụng tại Trung tâm Y tế Tp Hưng Yên năm 2021
Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Số lƣợng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ
Trong bảng phân tích trên, thuốc Generic chiếm 161 KM (93,60%) và đóng góp 84,87% giá trị sử dụng Thuốc biệt dược gốc có 11 KM (6,40%), chiếm 15,13% tổng GTSD; dù số lượng không nhiều nhưng giá trị sử dụng của chúng lại cao hơn mức khuyến nghị của BYT Nhờ vậy, thuốc Generic được ưu tiên là chủ yếu trong DMTSD.
Cơ cấu DMT sử dụng theo nhóm TCKT
Bảng 3.23 Cơ cấu thuốc hóa dược theo nhóm TCKT sử dụng tại Trung tâm Y tế Tp Hưng Yên năm 2021
Số lƣợng mặt hàng Giá trị sử dụng
Số lƣợng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
Theo bảng trên, thuốc nhóm 4 được sử dụng nhiều nhất về số lượng với 58 KM, chiếm 33,72% Thuốc nhóm 1 có GTSD cao nhất với số tiền 3.279.269.790 VNĐ, chiếm 43,70% Thuốc được SD ít nhất cả về số lượng và giá trị là thuốc nhóm 5, chỉ có 4 thuốc với GTSD chiếm 3,88% Như vậy, Trung tâm cần thay thế các thuốc nhóm 1 nhập khẩu có giá thành cao bằng các thuốc nhóm 4 có cùng tác dụng điều trị để giảm chi phí cho người bệnh và quỹ BHYT.
3.1.10 Cơ cấu thuốc theo đường dùng
Bảng 3.24 Cơ cấu thuốc theo đường dùng sử dụng tại Trung tâm Y tế Tp
TT Nhóm thuốc Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Số lƣợng Tỷ lệ % Giá trị Tỷ lệ %
Bảng trên cho thấy phân bổ thuốc theo đường dùng: đường uống chiếm phần lớn về số lượng (130 KM, 68,42%) và GTSD (86,49%); đường tiêm, tiêm truyền chiếm 40 KM (21,05%) và 12,67% GTSD; các đường khác chỉ 20 KM (10,53%) với GTSD 0,84% Đơn vị quản lý tốt các đầu thẻ đăng ký KCB ban đầu, đảm bảo công tác khám, điều trị hiệu quả và chăm sóc tốt đối với bệnh nền ngoại trú So với năm 2019, tỷ lệ thuốc SD theo đường khác tăng về số KM nhưng GTSD không tăng nhiều; đường tiêm có số KM thấp hơn năm 2019 nhưng GTSD lại cao hơn Đường uống tương đương năm 2019 về % số KM và GTSD.
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế năm 2021 theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN
Phân tích giá trị tiêu thụ thuốc theo phương pháp ABC cho thấy mối quan hệ giữa lượng thuốc tiêu thụ và chi phí, từ đó phân loại thuốc theo mức độ tác động đến ngân sách và nhận diện những thuốc chiếm tỷ lệ lớn Từ kết quả này có thể chọn các thuốc thay thế có chi phí đầu vào thấp hơn, xây dựng liệu pháp điều trị tối ưu bổ sung và thương lượng với nhà cung cấp để có giá thuốc phù hợp Việc đánh giá mức độ tiêu thụ thuốc hàng năm giúp phát hiện những bất hợp lý trong sử dụng và quản lý thuốc, từ đó xác định các phương thức mua sắm hợp lý cho các thuốc có trong DMTBV.
Bảng 3.25 Kết quả phân tích ABC tại Trung tâm Y tế TP Hưng Yên năm 2021
Kết quả phân tích chỉ ra rằng, cơ cấu mua sắm và sử dụng thuốc tại đơn vị là chưa hợp lý ở cả 3 nhóm A, B và C, cụ thể:
- Hạng A có 29,47% tổng DMT chiếm 56 KM
- Hạng B với 24,74% tổng DMT chiếm 47
- Hạng C với 5.15% về GTSD chiếm 87 KM
3.2.1 Cơ cấu thuốc nhóm A theo nhóm tác dụng dược lý Để đánh giá mức tiêu thụ của các thuốc trên đặc biệt là những thuốc thuộc nhóm A có phù hợp với MHBT của Trung tâm không, cần thiết phân
Giá trị sử dụng (VNĐ) Số lƣợng mặt hàng
Giá trị Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ %
Tổng cộng chi phí là 8.073.445.730 đồng được dùng để xác định các nhóm điều trị của các thuốc thuộc nhóm A và, trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, nhận diện những vấn đề bất hợp lý trong DMTBV Phân tích nhóm thuốc đã tiêu thụ trong nhóm A tại Trung tâm cho thấy có 57 thuốc thuộc nhóm A xuất hiện ở 6 nhóm dược lý, và các thuốc có giá trị tiêu thụ lớn nhất được thể hiện ở bảng sau.
Bảng 3.26 Cơ cấu nhóm thuốc A theo nhóm tác dụng dược lý
TT Nhóm tác dụng dƣợc lý
Giá trị sử dụng (VND)
Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ
1 Thuốc tim mạch – huyết áp 25 44,64 2.893.645.000
2 Hocmon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết 17 30,36 2.596.190.000
3 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn 6 10,71 532.340.000 8,26
II Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 7 12,50 372.720.000 5,78
1 Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 4 7,14 204.720.000 3,18
2 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 3 5,36 168.000.000 2,61
Nhóm thuốc đông y thuốc, thuốc từ dược liệu có 7 KM (12,5%), chiếm 5,78% tổng GTSD là k thực sự cần thiết
3.2.2 Phân tích cơ cấu DMT sử dụng theo phương pháp phân tích VEN
Kết quả phân loại thuốc trong danh mục thuốc của Trung tâm dựa vào các nhóm V, E, N được trình bày ở bảng sau:
Bảng 3.27 Kết quả phân tích VEN
Giá trị sử dụng Khoản mục thuốc Giá trị
(VNĐ) Tỷ lệ (%) Số lƣợng Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Kết quả phân tích chỉ ra rằng nhóm thuốc có số KM và GTSD chênh lệch khá nhiều
+ Nhóm V với 28 KM tương ứng với 14,47% nhưng GTSD chiếm 23,48%
Nhóm E có số KM cao nhất với 125 KM tương ứng với 65,79%, về giá trị sử dụng chiếm 68,03%
+ Nhóm N là thuốc không cần thiết trong điều trị, có 37 KM tương ứng với 19,47%, nhưng GTSD chiếm 8,49%
3.2.3 Phân tích cơ cấu DMT theo ma trận ABC/VEN
Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.28 Phân tích ma trận ABC/VEN
Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Số lƣợng Tỷ lệ (%) Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ (%)
Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Nhóm AE có GTSD cao nhất chiếm 55,23% với 34 thuốc
Nhóm AN có 7 thuốc, GTSD chiếm 4,62%
Nhóm BN có 9 thuốc chiếm 4,74%KM với GTSD chiếm 2,57%
* Phân tích cơ cấu các thuốc trong nhóm AN, BN
Nhóm thuốc AN và BN được xem là không cần thiết nhưng chiếm tỷ trọng tương đối lớn về GTSD trong DMT Phân tích sâu hai nhóm này cho thấy mức tiêu thụ cao bất chấp sự thiếu thiết yếu, cho thấy hiện tượng lạm dụng hoặc kê đơn không phù hợp Kết quả cho thấy cần đánh giá lại chiến lược sử dụng thuốc, ưu tiên các nhóm thiết yếu và cân nhắc giảm bớt AN và BN để tối ưu hoá GTSD và chi phí điều trị Trên cơ sở ấy, đề xuất các biện pháp như rà soát chỉ định thuốc, tăng cường giám sát, và thay thế bằng các lựa chọn an toàn và hiệu quả hơn, nhằm cải thiện quản lý thuốc và giảm gánh nặng cho DMT.
Bảng 3.29 Cơ cấu các thuốc nhóm AN
Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Tỷ lệ (%) Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ
2 Tuần hoàn não Thái Dương 1 14,29 58.320.000 15,65
Phân tích chi tiết nhóm AN cho thấy 7 thuốc đều thuộc nhóm thuốc đông y, có nguồn gốc từ dược liệu Mặc dù được coi là không cần thiết, thuốc AN vẫn chiếm tỷ trọng tương đối lớn về GTSD trong cơ cấu tiêu thụ dược phẩm.
Bảng 3.30 Cơ cấu các thuốc nhóm BN
Khoản mục thuốc Giá trị sử dụng
Phân tích kết quả cho thấy trong 9 thuốc được phân loại có 2 thuốc thuộc nhóm khoáng chất + vitamin và 5 thuốc thuộc nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Thuốc BN là thuốc không cần thiết nhưng chiếm tỷ trọng tương đối lớn về GTSD.
BÀN LUẬN
Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm Y tế Tp Hƣng Yên năm 2021
4.1.1 Về cơ cấu danh mục thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
DMT được sử dụng tại Trung tâm năm 2021 với tổng cộng 190 KM thuốc Trong đó danh mục thuốc hóa dược chiếm 172 KM (90,53% SKM) và chiếm 92,95% về GTSD; thuốc đông y và thuốc từ dược liệu chiếm 18 KM (9,47% SKM) và chiếm 7,05% về GTSD.
Giá trị sử dụng thuốc đông y và thuốc từ dược liệu của Trung tâm Y tế thấp hơn năm 2019, đạt 9,50% về GTSD So với một số đơn vị khác, Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí có GTSD 17,49% và Trung tâm Y tế huyện Kim Động năm 2018 đạt 21,96% về GTSD.
So với năm 2019, số KM tăng 48 KM nhưng GTSD giảm xuống khoảng 1,7 tỷ đồng Năm 2021 diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 khiến lượng bệnh nhân đi khám chữa bệnh (KCB) giảm, trong khi để tránh tình trạng thiếu thuốc SD, Hội đồng thẩm định và ĐT của Trung tâm đã đề xuất bổ sung nhiều loại thuốc thuộc cùng nhóm tác dụng điều trị, một điều chỉnh phù hợp với năm 2021 [21].
4.1.2 Về cơ cấu nhóm thuốc điều trị
Cơ cấu nhóm thuốc điều trị gồm: 17 nhóm thuốc hóa dược, 06 nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
Nhóm thuốc Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết chiếm tỷ lệ cao nhất với 33 KM (17,37%), chiếm 35,02% tổng GTSD Tỷ lệ nhóm thuốc này cao hơn nhiều so với một số TT cùng khu vực, như Trung tâm Y tế.
Trung tâm Y tế Huyện Văn Lâm năm 2016 có 22,74% về GTSD [15]; Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2017 với 26.65% GTSD [18] Trong nhóm thuốc này thì Insulin và nhóm thuốc hạ đường huyết được sử dụng nhiều nhất với 26/33 thuốc và GTSD chiếm tới 96,11%
So với năm 2019, nhóm thuốc này tương đương về số lượt khám (KM) nhưng tăng về lượng bệnh nhân điều trị (GTSD) Nguyên nhân là Trung tâm Y tế (TTYT) nằm trên địa bàn TP có Bệnh viện Đa khoa tỉnh bị phong tỏa một thời gian do dịch nên lượng bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính, trong đó có nhóm bệnh về hormone và nội tiết, trở lại TTTYT khám bệnh và điều trị.
+ Nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp với 29 KM (15,26%), chiếm
Khoảng 26,26% GTSD thuộc nhóm thuốc này cho thấy tỷ lệ cao hơn nhiều so với TTYT TP Vĩnh Yên năm 2017, nơi nhóm thuốc này chiếm 9,9% GTSD; ngoài ra, một số TTYT khu vực cũng ghi nhận mức GTSD đáng kể, như Trung tâm Y tế Huyện Kim Động năm 2017 với 24,18% GTSD và Trung tâm Y tế TP Uông Bí, Quảng Ninh năm 2017 với 23,09% GTSD.
So với năm 2019 thì năm 2021 số KM của nhóm thuốc này tăng gấp hơn 2,5 lần, nhưng GTSD lại thấp hơn
Hai nhóm thuốc này hoàn toàn tương ứng với MHBT tại Trung tâm Y tế Thành phố Hưng Yên, chủ yếu phục vụ bệnh nhân đang điều trị các bệnh nền mãn tính như tiểu đường và huyết áp cao.
Ở Trung tâm Y tế TP Hưng Yên, tỷ lệ sử dụng kháng sinh với số KM là 33 KM (17,37%), nhưng GTSD chiếm chỉ 10,76% Trong khi kết quả tại các Trung tâm Y tế khu vực cho thấy: Trung tâm Y tế huyện Văn Lâm năm 2016 có 80 KM (21%) chiếm 29,16% GTSD; Trung tâm Y tế TP Vĩnh Yên năm 2017 có 45 KM (16,5%) chiếm 30% GTSD [20]; Trung tâm Y tế huyện Kim Động năm 2017 có 32 KM (17,11%) và 14,75% GTSD [17].
So với năm 2019, số KM thuốc của nhóm này tăng gần gấp đôi, trong khi GTSD giảm xuống còn 10,76% Nguyên nhân của sự tăng này là do HĐT muốn có nhiều sự lựa chọn thuốc trong quá trình điều trị [21].
Nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu có 18 KM (9,47%), chiếm 7,05% về GTSD Trong đó hai nhóm chiếm SD nhiều nhất là: nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm với 8 KM (4,21%), chiếm 2,95% GTSD; nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy có 4 KM (2,11%), chiếm 2,17% GTSD Tuy còn thấp so với một số Trung tâm Y tế khác như Trung tâm Y tế TP Vĩnh Yên năm 2017 chiếm 18,1% về GTSD [20]; Trung tâm Y tế huyện Kim Động năm 2017 chiếm 21,96% về GTSD [17] Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí có giá trị sử dụng 17,49% [18] Số KM trong DMT của Trung tâm là nhiều, giá trị sử dụng cũng lớn.
Trong năm 2019, tỷ lệ sử dụng các thuốc thuộc nhóm này có xu hướng tăng lên; do vậy việc sử dụng nhóm thuốc trên được xem là chưa hợp lý, vì thuốc Đông y và thuốc từ dược liệu chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị.
4.1.3 Về cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Trong nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn, nhóm beta-lactam chiếm số lượng lớn nhất với 12 KM (36,36%), chiếm 73,65% tổng kinh phí sử dụng kháng sinh (GTSD) Tỷ lệ này thấp hơn so với Trung tâm Y tế Văn Lâm chiếm 80,35% GTSD và Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Phúc với 87,2% GTSD, đồng thời giảm so với năm 2019 (87,42% GTSD).
*Về cơ cấu nhóm Beta-lactam
Nhóm thuốc Beta-lactam là nhóm có giá trị sử dụng cao nhất trong điều trị ký sinh trùng, với tổng số 12 thuốc; trong đó Penicillin có 5 thuốc, chiếm 36,58% giá trị sử dụng, còn Cephalosporin có 7 thuốc và chiếm 63,42% giá trị sử dụng, cho thấy Cephalosporin được sử dụng nhiều hơn Penicillin So với năm 2019, đã có sự thay đổi trong việc sử dụng kháng sinh, khi Penicillin được sử dụng ít hơn Cephalosporin.
Trong thời gian gần đây, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp khiến nhiều người tự mua kháng sinh và điều trị không đúng cách, là nguyên nhân chính khiến bác sĩ ưu tiên sử dụng nhóm cephalosporin Việc dùng nhiều kháng sinh nhóm penicillin dễ gây dị ứng ở một số đối tượng, nên bác sĩ cần cân nhắc kỹ khi điều trị cho từng người bệnh Vì vậy nên hạn chế dùng kháng sinh cho người mắc bệnh nền, người cao tuổi, trẻ em và phụ nữ mang thai để giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả điều trị Điều này cho thấy sự cần thiết của việc giám sát và quản lý sử dụng kháng sinh tại các trung tâm y tế để ngăn ngừa kháng thuốc và bảo đảm an toàn cho người bệnh.
Về phân tích DMT đã SD tại Trung tâm Y tế Tp Hƣng Yên năm 2021
Kết quả ở cả ba nhóm A, B và C cho thấy DMT hạng A gồm 56 khoản mục, tương ứng 29,47% tổng DMT; DMT hạng B gồm 47 khoản mục, tương ứng 24,74% tổng DMT; và DMT hạng C gồm 87 khoản mục, tương ứng 45,79% tổng DMT So với năm 2019, biến động không nhiều; tuy nhiên kết quả này không phù hợp với lý thuyết khi cho rằng hạng A chiếm khoảng 10% đến 20% số khoản mục, hạng B chiếm khoảng 10–20% số khoản mục.
Trong 56 thuốc nhóm A (79.78%) chiếm tỷ lệ cao nhất là 2 nhóm: Thuốc điều trị bệnh tim mạch - tăng huyết áp, Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết tương ứng với 25 thuốc và 17 thuốc chiếm 44,88% và 40,27% về GTSD phù hợp với MHBT tại đơn vị nên không cần điều chỉnh Nhóm thuốc cũng chiếm tỷ lệ SD tương đối nên quan tâm xem xét hơn là: Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm và nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy với 4 thuốc (7,14%) và 3 thuốc (5,36%) nhưng là thuốc đông y, thuốc nguồn gốc từ dược liệu chỉ hỗ trợ điều trị không thật sự phải cần thiết do vậy đơn vị nên hạn chế sử dụng các loại thuốc thuộc nhóm này tránh gây gia tăng chi phí cho người bệnh
Kết quả phân tích ABC tại BVĐK huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La năm
Trong năm 2016, tại TTYT huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, thuốc hạng A chiếm 79,5% GTSD và 15,2% số KM; thuốc hạng B chiếm 15,4% GTSD và 19,9% số KM; thuốc hạng C chiếm 5,1% GTSD và 64,9% số KM [22] Đến năm 2018, tại TTYT huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, thuốc hạng A chiếm 80% GTSD và 28,9% số KM; thuốc hạng B chiếm 15,1% GTSD và 24,3% số KM; thuốc hạng C chiếm 4,9% GTSD và 46,8% số KM.
Kết quả phân tích năm 2019 DMT hạng A với 23.24% về GTSD bao gồm 33 KM, hạng B với 24.65% về GTSD bao gồm 35KM, Hạng C với 5.15% về GTSD gồm 74 KM
Qua phân tích ABC, HĐT&ĐT đã xác định những thuốc cần thiết và có GTSD cao trong điều trị Từ đó, đã đề xuất các giải pháp sử dụng thuốc hiệu quả nhằm xây dựng và quản lý tốt việc lập và dự trù DMT chất lượng cho đơn vị.
4.2.2 Cơ cấu DMT được sử dụng theo V,E,N:
Trong năm 2021, HĐT&ĐT của Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên chưa tiến hành phân tích VEN trước khi lựa chọn thuốc đưa vào danh mục Cần có một DMT phù hợp với MHBT mỗi năm của đơn vị và sát thực hơn với nhu cầu điều trị của bác sĩ.
Trong đề tài này, nhằm làm rõ cơ cấu DMT được sử dụng tại Trung tâm, em tiến hành phân tích VEN Kết quả phân tích VEN phản ánh thời điểm thực tế của người thực hiện đề tài và cho phép đánh giá tính hợp lý của cơ cấu thuốc sống còn (V), thuốc thiết yếu (E) và thuốc không thiết yếu (N).
Theo kết quả, nhóm E có số loại thuốc cao nhất 125 KM chiếm 65,79% và 68,03% về GTSD, cao thứ hai là nhóm N có 37 KM ứng với 19,47% và
Trong dữ liệu, GTSD chiếm 8,49%, nhóm V có 28 KM chiếm 14,74% và 23,48% về GTSD Tương tự, với đơn vị ngang tuyến trong khu vực như TT Y tế huyện Kim Động năm 2017, nhóm E là nhóm lớn nhất với 58,3% về KM và 64,67% về GTSD; tiếp theo là nhóm V với 20,85% về số KM và 26,17% về GTSD; cuối cùng là nhóm N với 20,85% về KM và 9,16% về GTSD.
So sánh với các nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện, kết quả cho thấy nhóm E có SKM chiếm tỷ lệ cao nhất trong DMT và tỷ lệ của các nhóm V, N khác nhau giữa các bệnh viện Cụ thể, tại BVĐK huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La năm 2016 thuốc nhóm V chiếm 27,5% SKM và 27,4% GTSD, thuốc nhóm N chiếm 19,9% SKM và 30,1% GTSD [22] Tại TTYT huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2018 thuốc nhóm V chiếm 21,8% SKM và 5% GTSD, thuốc nhóm N chiếm 17,3% SKM và 17,2% GTSD [1] DMT tại BVĐK huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La năm 2018 25,07%.
SKM và 8,6% GTSD là thuốc nhóm V và nhóm N chiếm 15,9% SKM tương ứng 17,98% GTSD [18]
So với kết quả phân tích VEN năm 2019 thì năm 2021 có sự thay đổi ở
2 nhóm thuốc V và N cả về số lượng và GTSD (2019: V 19KM, GTSD 3,24%: N 26KM, GTSD 10,92%) [21]
4.2.3 Cơ cấu DMT theo phân tích kết hợp ABC/VEN
*Tại cả 3 nhóm A, B, C số lượng thuốc E chiếm tỉ lệ cao nhất,
- Nhóm A chiếm 56/190 thuốc tương ứng với 29,47% các thuốc sử dụng, 79,86% tổng giá trị
- Nhóm B có 47/190 thuốc tương ứng 24,74% chiếm 14,99% về GTSD
- Nhóm C có 87/190 thuốc tương ứng 45,79% chiếm 5,15% về GTSD
*Từ kết quả trên cho biết:
+ Nhóm AN có 7 thuốc (3,68%) chiếm 4,62% về giá trị
+ Nhóm BN có 9 thuốc (4,74%) chiếm 2,67% về giá trị
Trong phân tích ma trận ABC/VEN, các nghiên cứu quan tâm đến nhóm thuốc AN — nhóm thuốc không thiết yếu nhưng có giá trị sử dụng cao trong danh mục thuốc Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên có 7 khoản mục nhóm AN chiếm 3,68% số KM và 4,62% GTSD, thấp hơn so với BVĐK huyện Mai Sơn (tỉnh Sơn La, 2016: AN chiếm 5,4% SKM và 26% GTSD), TTYT huyện Lương Sơn (tỉnh Hòa Bình, 2018: AN chiếm 13,3% GTSD) và BVĐK huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La, 2018: AN gồm 22 khoản mục chiếm 14,89% GTSD) Đối với các trung tâm y tế có mô hình bệnh tật đa dạng và lưu lượng người đến khám điều trị ngày càng tăng, khi cần tập trung ngân sách cho thuốc thiết yếu thì tỷ lệ thuốc AN cần được xem xét lại, do đó cần tiến hành phân tích sâu cụ thể các thuốc nhóm AN để tối ưu hóa danh mục và chi tiêu y tế.
Phân tích cơ cấu các thuốc thuộc nhóm AN và BN cho thấy đây là những thuốc được xem là không cần thiết nhưng lại chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng GTSD của DM Nhóm thuốc này phản ánh sự tồn tại của thuốc thừa hoặc không tối ưu trong quy trình kê đơn, từ đó gợi ý các biện pháp quản lý thuốc nhằm tối ưu hoá chi phí và hiệu quả điều trị Kết quả cũng nhấn mạnh sự cần thiết của đánh giá chỉ định, giám sát sử dụng và giáo dục cho người kê đơn cùng người bệnh về lợi ích và rủi ro của từng thuốc, để cân bằng cơ cấu thuốc trong DM và giảm lãng phí tài nguyên y tế.
Nhóm AN có 7 thuốc, đều nằm trong nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Thuốc AN là thuốc không cần thiết nhưng chiếm tỷ trọng tương đối lớn về GTSD; trung tâm cần xem xét cụ thể với các loại thuốc này gồm Boganic, Tuần hoàn não Thái Dương, Actiso, VG-5, Hoạt huyết Thephaco, Hoạt huyết dưỡng não và Hoạt huyết Phúc Hưng.
Nhóm BN có 9 thuốc, trong đó có 2 thuốc thuộc nhóm khoáng chất và vitamin, và 5 thuốc thuộc nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu Những thuốc thuộc nhóm BN được xem là không cần thiết nhưng chiếm tỷ trọng tương đối lớn về GTSD; bệnh viện cần xem xét cụ thể với các loại thuốc này: Setblood, Gelabee, Cebraton, Đại tràng hoàn, Hoạt huyết dưỡng não, An Thần, Hoạt huyết dưỡng não HL.
So với năm 2019, kết quả phân tích ở hai nhóm AN và BN cho thấy sự tăng lên Trong năm 2019, nhóm AN có 5 thuốc (3,52%) chiếm 5,89% giá trị và nhóm BN có 9 thuốc (6,34%) chiếm 4,13% giá trị.
Một số hạn chế của đề tài
Việc phân loại nhóm thuốc V, E và N chưa được thông qua tại cuộc họp của Hội đồng thuốc và điều trị và chưa nhận được ý kiến đồng thuận từ các khoa lâm sàng trong bệnh viện; hiện nay phân loại này chỉ mới được triển khai tại khoa Dược.
Chưa đánh giá được việc sử dụng thuốc có đạt tỷ lệ 80% trở lên theo kết quả đấu thầu hay không do gói thầu không theo tiến độ năm
Trong quá trình thực hiện, vì thời gian có hạn nên đề tài chưa đi sâu phân tích để đề xuất các giải pháp can thiệp rõ ràng, cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề còn tồn tại.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Về cơ cấu DMT sử dụng tại Trung tâm Y tế Tp Hưng Yên năm 2021
* Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên năm 2021 đã sử dụng 190 khoản mục trong đó:
- Danh mục thuốc hóa dược có 172 KM, chiếm 90,53% tổng DMT, chia làm 17 nhóm tác dụng dược lý:
- Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu có 18 KM, chiếm 9,47% tổng DMT, chia làm 06 nhóm tác dụng dược lý
Nhóm thuốc Hormone và các thuốc tác động vào hệ nội tiết có số lượng kê đơn nhiều nhất là 33 KM (17,37%) và GTSD là 35,02%, cho thấy nhóm thuốc có sự đa dạng về số lượng và hình thức sử dụng, tạo thuận lợi cho thầy thuốc lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp và tối ưu cho bệnh nhân.
Nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp có số lượng kê đơn (KM) và giá trị sử dụng (GTSD) tương đối lớn, với 29 KM chiếm 15,26% và GTSD đạt 26,26% Điềuนี้ hoàn toàn phù hợp với MHBT tại TTYT, cho thấy phần lớn bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính về tuần hoàn, tăng huyết áp và tim mạch được điều trị bằng nhóm thuốc này.
Nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn có 33 KM (17,37%), có GTSD là (10,76%), tương ứng với MHBT tại TTYT về một số bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên thông thường Trong đó, nhóm Beta-lactam có 12 KM chiếm 36,36% và chiếm 73,65% GTSD trong nhóm KST; cụ thể, nhóm Penicillin có GTSD 36,58% và được sử dụng ít hơn nhóm Cephalosporin, 63,42%.
* Thuốc sản xuất trong nước 110 KM (57,89%) chiếm 32,44%, thuốc nhập khẩu 80 KM (42,11%) chiếm 67,56% tổng kinh phí
* Nhóm thuốc đơn thành phần thuốc đơn thành phần 138 KM (72,63%), với tổng giá trị sử dụng chiếm 64,06%; thuốc đa thành phần 52 KM
* Thuốc Generic với 161 KM (93,60%), với giá trị sử dụng, chiếm 84,87% Thuốc biệt dược gốc với 11 KM (6,40%) với giá trị sử dụngchiếm 15,13% tổng GTSD
* Thuốc dùng theo đường uống chiếm chủ yếu về số lượng lẫn GTSD với
Phân bổ thuốc theo đường dùng cho thấy 130 KM (68,42%) chiếm 86,49% tổng GTSD Thuốc dùng theo đường tiêm, tiêm truyền có 40 KM (21,05%), với tổng giá trị sử dụng chiếm 12,67% về GTSD Nhóm thuốc dùng theo các đường khác đạt 20 KM (10,53%), GTSD là 0,84%.
2 Về phân tích DMTSD tại Trung tâm Y tế Tp Hưng Yên năm 2021 theo ABC, VEN và ABC/VEN
2.1 Về phân tích ABC: chưa hợp ý cả hạng A, hạng B và hạng C
* DMT hạng A với 79,86% về GTSD bao gồm 56 KM
* DMT hạng B với 14,99% về GTSD bao gồm 47KM
* Hạng C với 5.15% về GTSD gồm 87 KM
2.2 Phân tích VEN, ma trận ABC/VEN
* Nhóm V chiếm 23,48% về giá trị sử dụng và 28 KM chiếm 14,74%
* Nhóm E chiếm 68,03% về giá trị sử dụng, số KM cao nhất với 125
* Nhóm N với giá trị sử dụng nhỏ nhất 8,49%, có 37 KM chiếm 19,47%
* Nhóm AN có 7 thuốc (3,68%) chiếm 4,62% về giá trị, 100% là thuốc đông y, thuốc từ dược liệu không cần thiết
Phân tích cho thấy nhóm bệnh nhân có 9 thuốc, chiếm 4,74% tổng số thuốc và 2,57% giá trị điều trị, gồm Cebraton, Đại tràng hoàn, An Thần, Hoạt huyết dưỡng não, Hoạt huyết dưỡng não HL, Setblood và Gelabee; cần xem xét loại bỏ một số thuốc trên để tối ưu chi phí và hiệu quả điều trị.
Theo thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện, phân loại thuốc theo hạng A, B và C thường ở tỉ lệ A 10–20%, B 10–20% và C 60–80% Như vậy, tỷ lệ thuốc theo hạng tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên chưa phù hợp với khuyến cáo của Bộ Y tế.
Kết quả phân tích ABC/VEN tại trung tâm cho thấy việc sử dụng thuốc còn lạm dụng nhiều thuốc hỗ trợ không cần thiết, là nguyên nhân chính gây ra tình trạng vượt trần và vượt quỹ tại đơn vị.
Năm 2021 Trung tâm y tế thành phố Hưng Yên chưa khắc phục được những tồn tại, hạn chế mà đề tài năm 2019 đã chỉ ra
Tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu trên, nhằm mục đích góp phần nâng cao chất lượng xây dựng DMTSD tại Trung tâm Y tế thành phố Hưng Yên trong những năm tiếp theo,với mục đích tiết kiệm chi phí sử dụng cho người bệnh, hiệu quả và an toàn trong điều trị, đề tài xin đưa ra một số kiến nghị sau:
-Trung tâm Y tế cần tăng cường công tác kiểm soát việc sử dụng kháng sinh
- Tiếp tục ưu tiên lựa chọn thuốc sản xuất trong nước, thay thế các thuốc nhập khẩu bằng các thuốc được sản xuất từ các nhà máy dược phẩm có uy tín trong nước Đề nghị thay thế 4 thuốc nhóm 1 có giá trị cao bằng các thuốc nhóm 4 đáp ứng nhu cầu điều trị đó là các thuốc; Lousartan, Coversyl, Viacoram, Natrixam
- Tiếp tục sử dụng các thuốc generic Nhóm 1 để thay thế thuốc biệt dược gốc
Hội đồng thuốc và điều trị cần xây dựng danh mục thuốc VEN và phân tích danh mục thuốc hàng năm theo ba phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN Dựa trên kết quả phân tích, Hội đồng thuốc và điều trị cần tinh giản danh mục thuốc nhóm N, xem xét hạn chế sử dụng các thuốc nhóm AN và tiến tới loại bỏ thuốc nhóm AN ra khỏi DMT.
Kiểm soát thuốc đông y và thuốc từ dược liệu trong nhóm AN được chú trọng, BN cân nhắc loại bỏ bớt một số thuốc ra khỏi danh mục thuốc của Trung tâm để tăng cường an toàn và hiệu quả điều trị Cụ thể, các thuốc cần xem xét là VG5, Actiso, Tuần hoàn não Thái Dương, Hoạt huyết dưỡng não TPC, Hoạt huyết Thephaco, Hoạt huyết Phúc Hưng, Cebraton và An Thần.
1 Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược (2008) Giáo trình Dược xã hội học, trường đại học Dược Hà Nội
2 Quốc hội (2016) Luật Dược 105/2016/QH13, ban hành ngày 06/04/2016
3 Chính phủ (2014) Nghị định số 63/2014/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, ban hành ngày 26/6/2014
4 Chính phủ (2017) Nghị định số 54/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật dược, ban hành ngày 8/5/2017
5 Bộ Y tế (2011) Thông tư 22/2011/TT-BYT quy định về tổ chức và hoạt động của Khoa dược bệnh viện, ban hành ngày 10/6/2011
6 Bộ Y tế (2013) Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định tổ chức hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị, ban hành ngày 8/8/2013
7 Bộ Y tế (2015) Thông tư 05/2015/TT-BYT ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT, ban hành ngày 17/3/2015
8 Bộ Y tế (2016) Thông tư 10/2016/TT-BYT ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung ứng, ban hành ngày 05/05/2016
9 Bộ Y tế (2016) Thông tư 11/2016/TT-BYT quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập, ban hành ngày 11/05/2016