Trong những năm vừa qua, thực trạng về vi phạm pháp luật ở nước ta diễn ra khá nghiêm trọng và diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trình hội nhập toàn cầu của đất nước. Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp còn chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của xã hội và của nhân dân. Có thể thấy, quyền lực nhà nước là một hệ thống nhất, có sự phân công rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó Tòa án nhân dân là cơ quan tư pháp, Tòa án được hiến định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của con người. Xuất phát từ thực tiễn và vai trò trên của Tòa án, cũng như để tìm hiểu về việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, em xin lựa chọn đề tài: “Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Tòa án huyện SD tỉnh TQ.” để làm báo cáo thực tập.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
H-V-T:
MSSV:
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔN
“Việc xét xử sơ thẩm vuh án hình sự tại tòa án nhân
dân huyện SD”
MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
CƠ SỞ THỰC TẬP: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SD TỈNH TQ
NĂM 2022
Trang 2- Lời cam đoan và ô xác nhận của cán bộ hướng dẫn thực tập
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo thực tập do tôi thực hiện trong thời gian thực tập tại cơ quan tiếp nhận thực tập Các nội dung trong báo cáo là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./.
Tác giả báo cáo thực tập
(Ký và ghi rõ họ tên)
Xác nhận của
Cán bộ hướng dẫn
thực tập
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SD TỈNH TQ 1
1.Giới thiệu nơi thực tập 1
2.Quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin 3
CHƯƠNG II: NỘI DUNG 4
1.Khái niệm vụ án hình sự và xét xử sơ thẩm vụ án hình sư, nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 4
1.1.Khái niệm vụ án hình sự 4
1.2.Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 4
2.Nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 5
3.Quy định của pháp luật về việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Tòa án 5
3.1.Chuẩn bị xét xử 5
3.2.Bắt đầu phiên tòa 6
3.2 Xét hỏi tại phiên tòa 7
3.2.1 Thủ tục xét hỏi chung 7
3.2.2 Về trình tự xét hỏi đối với từng người 8
3.2.3 Về trình tự thực hiện việc xét hỏi 8
3.3 Kỹ năng xét hỏi từng người tham gia tố tụng 9
3.3.1 Xét hỏi đối với bị cáo 9
3.3.2 Xét hỏi đối với những người tham gia tố tụng khác 9
3.3.Tranh luận tại Tòa 12
3.4.Nghị án 13
3.5.Tuyên án 13
CHƯƠNG III: NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 14
1.Những bất cập trong quá trình xét xử vụ án hình sự 14
2.Một số kiến nghị hoàn thiện 17
KẾT LUẬN 18
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong những năm vừa qua, thực trạng về vi phạm pháp luật ở nước ta diễn ra khánghiêm trọng và diễn biến rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng ảnh hưởng đến quá trìnhhội nhập toàn cầu của đất nước Tuy nhiên, chất lượng công tác tư pháp còn chưa ngangtầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, vẫn còn bộc lộ nhiều điểmyếu kém như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi íchhợp pháp của nhà nước, của xã hội và của nhân dân Có thể thấy, quyền lực nhà nước làmột hệ thống nhất, có sự phân công rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó Tòa án nhân dân là cơ quan tưpháp, Tòa án được hiến định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam, nơi biểu hiện tập trung của quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủnghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản nhànước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của con người.Xuất phát từ thực tiễn và vai trò trên của Tòa án, cũng như để tìm hiểu về việc xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự, em xin lựa chọn đề tài: “Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Tòa
án huyện SD tỉnh TQ.” để làm báo cáo thực tập.
Chuyên đề là kết quả của quá trình thực tập, khảo sát và nghiên cứu trong thờigian 5 tuần Tòa án nhân dân huyện SD tỉnh TQ Với năng lực còn hạn chế, thời gian thựctập có hạn nên chuyên đề thực tập của em không tránh khỏi những thiếu sót Em kínhmong nhận được sự hướng dẫn chỉ bảo của thầy cô Em cũng xin chân thành cảm ơn các
cô, chú, anh, chị ở Tòa án huyện SD đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
và thực hiện chuyên đề này Cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường và các thầy cô quản lýĐoàn thực tập đã tạo điều kiện cho em có được địa điểm thực tập phù hợp Em xin chânthành cảm ơn!
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SD TỈNH
TQ
1 Giới thiệu nơi thực tập
Tòa án nhân dân huyện SD có địa chỉ tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện SD, tỉnh
TQ đặt tại Quốc lộ 37, thị trấn SD, huyện SD, tỉnh TQ Căn cứ theo Điều 2 Luật Tổ chứcTòa án nhân dân năm 2014 ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2014 quy định về chức năng,nhiệm vụ của Tòa án nhân dân huyện SD như sau:
- Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệquyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi íchcủa Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt độngcủa mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêmchỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức
Trang 5- Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ ánhình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hànhchính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ,khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tốtụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không
có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định vềquyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân
- Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự
- Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết các vụ việc dân sự, hônnhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và thực hiện cácquyền hạn khác theo quy định của luật tố tụng
- Xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước vàquyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền conngười, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật
- Ra quyết định thi hành bản án hình sự, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉchấp hành hình phạt tù, giảm hoặc miễn chấp hành hình phạt, xóa án tích, miễn,giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; thực hiệncác quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật hình sự, Luật thi hành án hình sự,Luật thi hành án dân sự
- Ra quyết định hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hànhchính do Tòa án áp dụng và thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Luật
xử lý vi phạm hành chính
- Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan cóthẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiếnpháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụQuốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơquan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật
bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án
- Bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử
- Thực hiện quyền hạn khác theo quy định của luật
Ngoài ra, theo Điều 44 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân thì Tòa án nhân dân huyện
SD còn có nhiệm vụ, quyền hạn:
- Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật
- Giải quyết việc khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Hiện tại, Tòa án nhân dân huyện SD có 28 công chức trong đó có 13 Thẩm phán.Hằng năm Tòa án nhân dân huyện SD thụ lý và giải quyết khoảng 1000 vụ việc về tất cảcác vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, thương mại, kinh doanh, hànhchính, các việc khác theo quy định pháp luật Tổng số các vụ án mà đơn vị đã thụ lý vàgiải quyết từ năm 2015 đến nay là 3.033/3.163 vụ (tăng 1.143 vụ giải quyết và 1.241 vụthụ lý so với cùng kỳ trước), đạt tỷ lệ 95,8% vượt chỉ tiêu thi đua của TAND tối cao đề
ra Trong đó: Năm 2015 giải quyết 456/465 vụ, đạt tỷ lệ 98%; năm 2016 giải quyết
Trang 6482/483 vụ, đạt tỷ lệ 99,8%; năm 2017 giải quyết 498/513 vụ, đạt tỷ lệ 97%; năm 2018giải quyết 774/793 vụ, đạt tỷ lệ 97,6%; năm 2019 giải quyết 694/710 vụ, đạt tỷ lệ 97,7%;đến tháng 3/2020: 129/259, đạt tỷ lệ 81,1%.
Nhìn chung, phong trào thi đua của TAND huyện SD đã phát huy nội lực trongtừng cán bộ, công chức để tham gia xây dựng đơn vị Nội dung phong trào thi đua thiếtthực, gắn liền với nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị, đồng thời lồng ghép các phong tràothi đua với việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao Công táckhen thưởng của đơn vị luôn được thực hiện kịp thời, đúng người, đúng việc, đúng thànhtích, phát huy được ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành.Việc bình xét khen thưởng đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch và dân chủ nên đã
có tác dụng khuyến khích các tập thể, cá nhân tích cực thực hiện phong trào thi đua, từ đóhoàn thành tốt công tác chuyên môn, xây dựng đơn vị vững mạnh
Với những thành tích nổi trội, liên tục trong nhiều năm liền (từ năm 1999 đến năm2019) TAND huyện SD đều đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” Trong đó, năm
2010 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì, năm 2012 đượcTAND tối cao tặng Cờ thi đua; năm 2013 được tặng Cờ thi đua của Chính phủ, năm 2014được TAND tối cao tặng Cờ thi đua và được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen Năm
2015 được tặng Cờ thi đua của TAND tối cao và Huân chương Lao động hạng Nhất; năm
2016 được tặng Cờ thi đua của TAND tối cao; năm 2017 được tặng Cờ thi đua củaTAND tối cao và Cờ thi đua của Chính phủ; năm 2018 được tặng Cờ thi đua của TANDtối cao; năm 2019 được Chánh án TAND tối cao tặng Bằng khen
2 Quá trình tìm hiểu và thu thập thông tin
Tìm hiểu và thu thập thông tin là một việc quan trọng trong quá trình thực tập củasinh viên, nó giúp cho mỗi một sinh viên thêm tầm hiểu biết và phục vụ cho việc viết đềtài Nhận thức được tầm quan trọng của quá trình tìm hiểu thu thập thông tin nên ngay từkhi có mặt tại nơi thực tập bản thân em đã xác định để tài để viết báo cáo thực tập và có
sự chuẩn bị cho việc thu thập thông tin, tài liệu, số liệu nhằm hoàn thành tốt nhất bài viếtcủa minh Được sự giúp đỡ tận tình của các cô, chú, anh, chị làm việc tại Tòa án nhândân huyện SD trong quá trình thực tập cũng như quá trình tìm hiểu thực tế và thu thậpthông tin Cùng với tinh thần hăng say, nhiệt tình của một sinh viên thực tập sắp ratrường đã giúp em cố gắng tìm hiểu và thực hiện quá trình thu thập và xử lý thông tin mộtcách tốt nhất phục vụ cho việc hoàn thành chuyên để Vì thế mà các số liệu em trình bàytrong bài viết này mang tính sát thực Số liệu được rút ra từ các báo cáo tháng, quý và báocáo năm của Tòa án nhân dân nơi thực tập Tuy nhiên, các số liệu không thể đưa vào bàiviết một cách thuần tuý mà còn phải thông qua quá trình xử lý thông tin, đánh giá và đưa
ra được bản chất của vấn đề cần xem xét là “việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại tòaán”
Ngoài ra, các thông tin của bài viết này còn được tìm hiểu thông qua các đề tàinghiên cứu khoa học tái bản viết trên các báo, tạp chí, chuyên trang pháp luật về việc xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Tòa án Đặc biệt, em còn được đơn vị nơi thực tập tạo điều
Trang 7kiện cho thâm nhập thực tế, bằng những kinh nghiệm thực tiễn thu thập được đã gópphần hoàn thiện tốt hơn cho bài báo cáo này.
CHƯƠNG II: NỘI DUNG
1 Khái niệm vụ án hình sự và xét xử sơ thẩm vụ án hình sư, nhiệm vụ của
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1 Khái niệm vụ án hình sự
Xét xử sơ thẩm được hiểu là việc giải quyết một vụ án lần đầu theo thẩm quyềnxét xử tuỳ từng tính chất, mức độ, lĩnh vực vi phạm khác nhau mà thẩm quyền giải quyêtcủa toá án cũng khác nhau
1.2 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo từ điển Luật học: “Xét xử sơ thẩm một vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật”1
Theo đó có thể hiểu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự,trong đó, toà án có thẩm quyền (cấp xét xử thứ nhất) thực hiện trên cơ sở kết quả tranhtụng tại phiên toà xem xét, giải quyết vụ án bằng việc ra bản án quyết định bị cáo (hoặccác bị cáo) có tội hay không có tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp, cũng như cácquyết định tố tụng khác theo quy định của pháp luật
Quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau,trong đó, việc xét xử vụ án hình sự đóng vai trò quan trọng Tại phiên toà, trên cơ sởnhững chứng cứ đã được kiểm tra công khai, toà án ra bản án xác định bị cáo có tội haykhông có tội Nếu bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội thì đó là tội gì, được quyđịnh tại điều khoản nào của BLHS Ngoài việc ra bản án, toà án còn có quyền ra cácquyết định cần thiết khác nhằm giải quyết vụ án như quyết định đình chỉ vụ án, quyếtđịnh tạm đình chỉ vụ án… Theo nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảmbảo, bản án và quyết định sơ thẩm của toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy
1 Theo từ điển Luật học
Trang 8định của pháp luật Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị frongthời hạn luật định thì có hiệu lực pháp luật nhưng nếu bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ ánphải được xét xử phúc thẩm Như vậy, có thể nói xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu do toà
án có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.(1) Toà án có thẩm quyền xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là toà ánnhân dân cấp huyện, toà án quân sự khu vực, toà án nhân dân cấp tỉnh và toà án quân sựcấp quân khu
2 Nhiệm vụ của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi toà án thụ lí vụ án Do vậy,mọi chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án chỉ là tài liệu để toà án xem xét, kiểm tra nhằm đưa
ra những phán quyết khách quan phù hợp với quy định của pháp luật Tất cả những thôngtin, tài liệu, đồ vật thu thập được trong giai đoạn điều tra, truy tố đều được đưa ra xem xétcông khai tại phiên toà thông qua tranh tụng tại phiên toà (xét hỏi và tranh luận) Xét xử
sơ thẩm là xét xử ở cấp thứ nhất nên trong giai đoạn này, toà án phải giải quyết mọi vấn
đề của vụ án trên cơ sở cáo trạng hay quyết định truy tố (nếu vụ án được giải quyết theothủ tục rút gọn) của viện kiểm sát Do vậy, nhiệm vụ của giai đoạn này được thể hiện nhưsau:
- Xem xét và giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyềncon người, quyền công dân, bảo vệ chế độ, xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích củaNhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của công dân, góp phần phòng ngừa
và chống tội phạm;
- Trên cơ sở cáo trạng (hoặc quyết định truy tố) của viện kiểm sát, giai đoạn này cónhiệm vụ xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã thu thậpđược trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố để đưa ra phán quyết, quyết định bịcáo có tội hay không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tưpháp; trách nhiệm bồi thường thiệt hai, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự; bị cáo
có thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt hay không; án phíhình sự, án phí dân sự; xử lí vật chứng, tài sản bị kê biên, tài sản bị phong tỏa
3 Quy định của pháp luật về việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Tòa án
Phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một bước nhằm kiểm tra công khainhững chứng cứ mới để quyết định việc xử lí đối với vụ án Trình tự phiên toà được tiếnhành như sau theo quy định mới nhất của luật tố tụng hình sự hiện nay:
3.1 Chuẩn bị xét xử
Thẩm phán - chủ tọa phiên toà là người cầm cân, nảy mực cùng hội đồng xét xửquyết định bị cáo có tội hay vô tội và những vấn đề khác liên quan đến trách nhiệm hìnhsự
Để đưa ra được bản án, quyết định duy trì sự nghiêm minh của pháp luật, duy trì kỉcương phép nước, Thẩm phán cùng các thành viên trong hội đồng xét xử phải nghiên cứutoàn bộ tài liệu trong hồ sơ vụ án một cách độc lập (đánh giá các chứng cứ đã thu thậpđược, so sánh đối chiếu các chứng cứ với nhau để tìm ra chứng cứ cần thiết liên quan đến
Trang 9việc giải quyết vụ án; không ỉ lại vào kết luận của cơ quan điều tra hay cáo trạng của việnkiểm sát).
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng phải xemxét những tình tiết, chứng cứ trong hồ sơ có cấu thành tội phạm hay không trên cơ sởphân tích những dấu hiệu chủ quan và khách quan của các tình tiết tăng nặng hay giảmnhẹ không? Các yếu tố nhân thân để từ đó cùng hội đồng xét xử đưa ra được bản án,quyết định về vụ án
Thẩm phán tiến hành nhận thức về vụ án chủ yếu thông qua việc tri giác kết quảnhận thức của cơ quan điều tra nên dễ bị ảnh hưởng của tài liệu điều tra, do đó họ phải tưduy tích cực, căng thẳng, phải có óc khái quát và trí tưởng tượng cao Thẩm phán phảiđộc lập và quyết đoán trong quá trình nhận thức về vụ án Khi nhận thức về vụ án, Thẩmphán phải có ý thức và tinh thần trách nhiệm cao trong việc tìm kiếm, phát hiện nhữngtình tiết, chứng cứ mới và chủ động đánh giá nó để từ đó có thể xét xử vụ án chính xác,khách quan
Thẩm phán chủ động xây dựng kế hoạch xét hỏi để nhằm đảm bảo cho việc xét hỏitại phiên tòa được đầy đủ, chính xác, nhanh chóng Để tạo điều kiện cho Thẩm phán xemxét được hết những tình tiết, những chứng cứ trong vụ án đòi hỏi việc chuẩn bị kế hoạchxét hỏi phải hết sức cụ thể, tỉ mỉ, khoa học Đồng thời việc chuẩn bị kế hoạch xét hỏicũng đảm bảo cho Thẩm phán dự đoán được những tình huống có thể xảy ra và chủ độnglập kế hoạch giải quyết đối với những tình huống đó Thực tiễn hoạt động xét xử chothấy, có những Thẩm phán do không chuẩn bị tốt kế hoạch xét hỏi nên đã xét hỏi tràn lan,không đi vào trọng tâm của vụ án, bị động trước những tình huống xảy ra tại phiên tòa.Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng xét xử và hiệu quả giáo dục đối với cácđương sự của vụ án và những người tham dự phiên tòa
3.2 Bắt đầu phiên tòa
Theo quy định từ Điều 300 đến Điều 305 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015thì thủtục bắt đầu phiên toà được quy định nhằm kiểm tra sự có mặt của những người tham gia
tố tụng và tạo điều kiện cần thiết cho phiên toà
Trước khi bắt đầu khai mạc phiên tòa sơ thẩm Thư ký phiên tòa phải tiến hànhkiểm tra những người được triệu tập đến phiên tòa, sắp xếp chỗ ngồi cho những người cómặt tại phòng xử án; nếu có người vắng mặt thì tìm hiểu lý do Đồng thời Thư ký phiêntòa phổ biến nội quy phiên tòa và yêu cầu mọi người đến phòng xử án thực hiện theođúng nội quy đó Qua đó làm cho các đương sự và tất cả những người tham dự phiên tòa
có được những khái niệm tối thiểu về tính tôn nghiêm của tòa án, giúp họ hiểu rõ tráchnhiệm và hậu quả pháp lý bất lợi nếu vi phạm những quy định đó
Bắt đầu phiên tòa là hoạt động đầu tiên của phiên tòa Việc khai mạc phiên tòa gây tác động tâm lý rất quan trọng đối với những người tham gia phiên tòa trong suốt cả quá trình xét xử Thẩm phán – chủ tọa phiên toà, điều khiển toàn bộ quá trình xét xử,
ngay từ khi bắt đầu phiên toà như giới thiệu thành viên hội đồng xét xử, thư kí phiên toà;kiểm tra sự có mặt của những người tham gia phiên toà; kiểm tra căn cước của các đương
sự và những người tham gia tố tụng khác; giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo, người
bị hại (vụ án hình sự); người khởi kiện, người bị kiện (vụ án hành chính); nguyên đơn
Trang 10dân sự, bị đơn dân sự (vụ việc dân sự); người làm chứng, người giám định, người phiêndịch.
- Khi hội đồng xét xử vào phòng xử án thì Thư ký phiên tòa phải yêu cầu mọingười đứng dậy, sau đó Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa mời tất cả những người có mặttrong phòng xử án ngồi xuống, yêu cầu đương sự đứng tại chỗ, sau đó đọc quyết định đưa
vụ án ra xét xử
- Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Thư ký phiên tòa báo cáo thành phần những ngườitham gia tố tụng đã được triệu tập hợp lệ, những ai có mặt và những ai vắng mặt, lý dovắng mặt Sau đó Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa tiến hành kiểm tra căn cước của nhữngngười được triệu tập hiện đang có mặt tại phiên tòa; phổ biến và giải thích quyền vànghĩa vụ tố tụng của họ cũng như của người làm chứng, người giám định, người phiêndịch (nếu có) tại phiên tòa giới thiệu các thành viên của hội đồng xét xử Việc làm này đãtác động đến đương sự của vụ án và những người tham dự phiên tòa, để họ hiểu được vịtrí, quyền và trách nhiệm cá nhân của mình trong suốt quá trình xét xử Đồng thời tạo nên
ở họ sự chú ý, quan tâm và một tâm thể sẵn sàng tôn trọng và tuân thủ các yêu cầu củapháp luật tố tụng
- Để đảm bảo sự vô tư, công bằng, khách quan của hội đồng xét xử, Chủ tọa hỏitừng người tham gia tố tụng xem họ có yêu cầu thay đổi những thành viên của hội đồngxét xử, kiểm sát viên, thư ký phiên tòa…Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định củapháp luật để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đó
3.2 Xét hỏi tại phiên tòa
Để việc xét hỏi đạt kết quả tốt, HĐXX phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng
sự việc và về từng tội bằng cách đặt câu hỏi và nghe ý kiến trình bày của bị cáo, bị hại vànhững người tham gia tố tụng khác, đặc biệt là ý kiến của người làm chứng trong các vụ
án điều tra truy xét, ý kiến của người giám định Nếu cần thì phải xem xét vật chứng vàcác tài liệu khác hoặc phải xem xét tại chỗ Mọi chứng cứ làm cơ sở cho HĐXX kết luậnđểu phải được xem xét tại phiên tòa theo quy định tại Điều 250 BLTTHS năm 2015
Trong quá trình xét hỏi, bất cứ lúc nào HĐXX cũng có thể đưa vật chứng ra xemxét hoặc công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để chứng minhcác tình tiết của vụ án
Đối với vật chứng cần xem xét tại chỗ, cần yêu cầu người có liên quan đến vậtchứng, bị cáo phài trình bày, mô tả vật chứng trước rồi mới đưa vật chứng ra
Trang 11- Xem xét tại chỗ: Trường hợp cần xem xét địa điểm xảy ra tội phạm cũng như cácđịa điểm khác có liên quan đến vụ án hoặc cần xem xét vật chứng cồng kềnh màkhông thể đưa đến phiên tòa thì HĐXX quyết định xem xét tại chỗ Tùy theo địađiểm cần xem xét mà chủ tọa xác định thành phần tham gia xem xét tại chỗ, thôngthường thành phần gồm có: HĐXX, kiểm sát viên, người bào chữa và nhữngngười có liên quan đến vật chứng Quá trình xem xét, HĐXX có thể đặt câu hỏi để
là rõ những thắc mắc liên quan đến địa điểm, vật chứng cần xem xét
- Mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của việc đặt câu hỏi:
Việc xét hỏi tại phiên tòa phải khách quan, công minh, không thể hiện ý thức chủquan của người hỏi, không được thành kiến hay định kiến trước, không quy chụp hoặcđặt câu hỏi mớm cung hoặc bức cung Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng về nội dung và xácđịnh về đối tượng cần được hỏi Tránh đặt câu hỏi dài dòng, vòng vo làm cho người đượcxét hỏi khó nắm bắt để trả lời Trong quá trình xét hỏi, có thể đặt ra các câu hỏi khôngtrực tiếp liên quan đến đối tượng nhằm kiểm tra chứng cứ, lời khai
Không nên đặt câu hỏi yêu cầu người được xét hỏi trả lời dạng “có”, “không” Vớitâm lý mất bình tĩnh, sợ hãi của người được xét hỏi nhất là bị cáo thì cách hỏi như vậy dễthiếu khách quan
Trong xét hỏi, không được đôi co với người được xét hỏi Người xét hỏi khôngđược khẳng định công khai tại phiên tòa việc đúng sai về việc khai báo của người đượcxét hỏi ngay trong quá trình xét hỏi
3.2.2 Về trình tự xét hỏi đối với từng người
BLTTHS không quy định phải hỏi ai trước, ai sau Tùy theo từng vụ án cụ thể,HĐXX tiến hành xét hỏi theo một thứ tự hợp lý Thông thường, chủ tọa xét hỏi đối với bịcáo trước; đối với vụ án có đồng phạm thì nên chọn bị cáo có vai trò chính hỏi trước, sau
đó hỏi bị cáo khác; hoặc có thể chọn bị cáo đã khai nhận tội rõ ràng để xét hỏi trước nếu
bị cáo đó có thể cung cấp được những thông tin làm sáng tỏ ngay từ đầu hành vi phạm tộicủa bị cáo có vai trò chính trong vụ án Nếu vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, các bị cáokhai không thống nhất, lời khai có sự mâu thuẫn, bị cáo có vai trò chính trong vụ ánkhông thừa nhận hành vi phạm tội thì chủ tọa áp dụng biện pháp cách ly hoặc có kếhoạch xét hỏi phù hợp mà không bắt buộc theo thứ tự trên
3.2.3 Về trình tự thực hiện việc xét hỏi
Theo Điều 307 BLTTHS quy định “1…Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý….2 Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi”, đây
là quy định mang tính nguyên tắc chung Để vừa thể hiện đúng quy định của pháp luật,vừa bảm đảm tính tranh tụng tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa hỏi trước, nhưng chỉ nên đặtcâu hỏi có tính chất nêu vấn đề, gợi mở chứ không được kết luận Để xác định sự thật