Những bài tập thường xuyên được giao về chẳng hạn như tờ câu hỏi ngắn hoặc các bài kiểm tra ví dụ như do máy tính đánh giá thỉnh thoảng mỗi tuần có thể chi phối nỗ lực của sinh viên tron
Trang 1Thời gian và cố gắng cũng có thể bị lấy đi do áp lực xã hội, ví dụ như sau:
• Một bài làm chất lượng kém (như một bài thuyết trình tại hội thảo được đánh giá, hoặc khi viết một báo cáo về thí nghiệm và trình bày công khai dưới hình thức một áp phích quảng cáo) được các bạn cùng lớp phát hiện ra đã làm cho sinh viên cảm thấy lúng túng
• Những phê bình gay gắt từ các bạn khi một sinh viên không hoàn thành tốt phần của mình trong một bài tập nhóm được đánh giá trước lớp
Điều kiện 2
Những bài tập này nhằm nhận được sự quan tâm từ phía sinh viên, giúp họ định hướng để phân bổ về thời gian và nỗ lực một cách hợp lý tới các vấn
đề quan trọng nhất của môn học.
Điều kiện này hướng tới mục tiêu mà các nỗ lực đó hướng tới và đặc điểm cấu thành của nỗ lực Sinh viên thường phân bổ thời gian của họ một cách không đồng đều cho các môn học, thỉnh thoảng tập trung vào các chủ đề liên quan tới việc đánh giá và không liên quan tới gì cả Nếu họ đã lên sẵn một thời khóa biểu hàng tuần để cố gắng học tập cho tất cả các tuần tại một lớp học riêng biệt với một chuỗi các bài tập thì nó sẽ nhiều trông giống như dãy núi An-pơ hơn đường hầm Hà Lan Kỳ thi có thể có tác dụng tập trung học tập vào một kỳ căng thẳng ngắn ở cuối khóa học với rất ít nghiên cứu cho nó, ví dụ như ít nghiên cứu lại những ghi chép về bài giảng cho đến rất nhiều tuần sau khi các bài giảng kết thúc Những bài tập thường xuyên được giao về (chẳng hạn như tờ câu hỏi ngắn) hoặc các bài kiểm tra (ví dụ như do máy tính đánh giá) thỉnh thoảng mỗi tuần có thể chi phối nỗ lực của sinh viên trong suốt khóa học trong khi đó các bài tập được giao không thường xuyên (chẳng hạn như bài tiểu luận mở rộng)
có thể làm cho sinh viên nghiên cứu sâu trong suốt một hoặc hai tuần ngay trước khi thời hạn nộp bài và bỏ qua phần lớn các chủ đề không phải quan tâm đặc biệt
Trang 2Chúng ta biết rất ít về sự phân bổ các nỗ lực của sinh viên và các giáo viên bậc Đại học cũng có xu hướng biết rất ít về những điều mà sinh viên của họ làm với thời gian của mình
Điều kiện 3
Nắm vững các yêu cầu bài tập được đánh giá thu hút sinh viên tham gia hoạt động học tập hiệu quả theo một cách thích hợp.
Vấn đề này bàn tới các thể loại hoạt động nghiên cứu và học tập liên quan đến nắm vững các bài tập được giao hoặc chuẩn bị cho bài kiểm tra Một số cách đánh giá còn làm cho hoạt động học tập trở nên không hữu ích và không phù hợp, thậm chí vẫn chắc chắn cho điểm bình thường Học tập theo hình thức các bài thi có các câu hỏi nhiều sự lựa chọn có thể hướng sinh viên tới một cách tiếp cận bề nổi như các bài thi: Scouler & Prosser, 1994; Tang, 1994; Scouler, 1998); mặc dù phương pháp học tập của sinh có thể có nhiều tác động lớn như hình thức kiểm tra Sinh viên có thể nắm được phương pháp chuyên sâu để chuẩn bị cho thi có các câu hỏi nhiều sự lưa chọn (MCQ) và áp dụng các chiến lược học tập hiệu quả ngay cả khi các bài thi chỉ đáp ứng yêu cầu ở mức độ thấp, và theo như Macdonald(2002) đã báo cáo là có ít nhất một vài sinh viên đã áp dụng một phương pháp tiếp cận chuyên sâu vào việc ôn tập và học tập cho bài kiểm tra một cách có hiệu quả, từ đó dẫn tới thống nhất các tài liệu ôn tập có liên quan
Nhiều đánh giá bị thất bại đơn giản là không giúp sinh viên nắm được các cách học tập thích hợp Nộp một báo cáo thí nghiệm có trình tự do một giáo viên đã thiết kế có khả năng không giúp cho sinh viên học cách thiết kế một thí nghiệm Phải chăng cách duy nhất để biết được cách để giải quyết vấn đề là giải quyết rất nhiều vấn đề Phải chăng cách duy nhất để nắm vững nội dung các bài giảng của một môn học là thực hành rất nhiều có vận dụng tới bài giảng đó, ví dụ như thông qua viết Các bài tập được giao là biện pháp chính mà sinh viên có thể
Trang 3vận dụng thực hành Sinh viên không thể tham gia nghiêm túc vào những thực hành đòi hỏi yêu cầu khắt khe như vậy trừ khi nó được đánh giá, hoặc ít nhất là
do các quy định đánh giá Dường như không có khả năng là các sinh viên này sẽ viết được các bài luận, và đòi hỏi có được kết quả học tập, mà không bị yêu cầu phải:
“Theo một cách nào đó nó chỉ là làm việc Chỉ cần tất cả những bài tiểu luận, và đọc mọi phần khó nhất, nó mới chính là lao động thực sự”(Hounsell, 1987)
Một số đánh giá có thể xác định sai những nỗ lực của sinh viên Theo Snyder (1971) đã mô tả các sinh viên tại Học viện Công nghệ Massachusetts đã mạnh dạn sáng tạo như thế nào và loại bỏ quan điểm là hầu hết các điểm số bắt nguồn
từ học thuộc lòng các tài liệu cho các bài kiểm tra nhiều phương án lựa chọn Một số bài tập được giao khiến cho hoạt động học tập đúng đắn trở nên giống như một sản phẩm phụ Chẳng hạn như việc tập hợp các bài tiểu luận lại mang tới cách học “đọc bao quát toàn bộ” và có thể giúp cho việc chuẩn bị tỉ mỉ các câu hỏi thảo luận một cách kĩ lưỡng mà theo cách đó chỉ đơn giản là yêu cầu học sinh đọc những gì trong mục lục không nhắc tới Nếu bạn bỏ qua các bài luận, bạn sẽ không có được hình thức học tập phù hợp ngay cả trong trường hợp việc đọc một khối lượng tương tự các tài liệu tương tự không chắc có thể xảy ra Kết quả, bài luận, và các điểm số luôn đi cùng với nhau, chúng có thể ít quan trọng đối với việc học tập hơn khung chương trình, bài tập cung cấp cho các hoạt động học tập của “đọc bao quát toàn bộ” và “ xây dựng lập luận” Tương tự như vậy, với các báo cáo về thí nghiệm hoặc những tóm tắt thiết kế thì kết quả
có thể ít quan trọng hơn so với chi tiết của quá trình học tập đòi hỏi đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ được giao Các đề tài theo nhóm có thể thu hút sinh viên trong nhiều cuộc thảo luận và vấn đáp trực tiếp với các cá nhân có quan điểm khác và tiêu chuẩn khác nhau về học tập Chất lượng của làm việc theo nhóm
Trang 4(ví dụ: báo cáo) được đánh giá điểm và có thể ít quan trọng hơn những chất lượng của quá trình học tập đã tạo ra nó
Sinh viên có thể làm các bài tập được coi như là các hoạt động học tập để tối đa điểm số họ có được chứ không phải là tối đa việc học tập đạt được từ tham gia vào bài tập được giao Điều này có thể liên quan đến “giả bộ giỏi” và giả vờ là
có năng lực hoặc có kiến thức, cố tình dấu đi những cách hiểu không đúng và thiếu hiểu biết, nói với giáo viên những gì họ muốn nghe chứ không phải là những gì họ cũng các như sinh viên khác nghĩ tới và vv Xét ở một mức độ nào
đó, điều này là quan trọng tới việc định hướng của sinh viên mà các nhiệm vụ đánh giá, cơ chế đánh giá điểm số và các chức năng phản hồi có thể đè nén lên những định hướng cá nhân đó và thậm chí còn giảm sự thúc đẩy trong hành vi học tập của sinh viên Ở ví dụ dưới đây là một sinh viên đã có định hướng trước
kể lại trong một cuốn nhật ký học tập của mình, phương pháp anh ấy đã dùng để hoàn thành các bài tập Kỹ thuật là cách để có được điểm số bằng việc bỏ ra công sức học tập:
“Các giảng viên bình thường thích thấy kết quả đúng được đánh ô vuông màu
đỏ ở dưới cùng của tờ bài kiểm tra, nếu có thể với vài dòng tính toán càng tốt - trên hết không đặt bất kỳ ý kiến Thầy giáo tôi ghét điều đó Thầy nghĩ rằng bạn đang cố gắng để điền kín vào các trang giấy để làm cho bài làm trông nhiều hơn Đừng mắc phải sai lầm này, hoặc thậm chí phải sửa chữa nó Nếu khi bạn làm sai, tùy theo may mắn Thầy của bạn rất muốn thấy là bạn đã tìm thấy cách giải quyết đúng tại lần đầu tiên Nếu bạn vẫn đang mắc phải những sai lầm đó, điều đó có nghĩa là bạn đã chưa học hết Không có cách nào khác là bạn sau đó một vài tháng có thể làm lại một bài tập bởi vì bạn chỉ có các nguyên kết quả
mà không có thêm ý kiến nhận xét nào cả Nếu bạn có một lần thử, bạn cũng có
Trang 5thể mắc phải những sai lầm tương tự như bạn đã thực hiện trước đó bởi vì bạn
đã có không ghi nhận về các lỗi trước đó của mình” ( Gibbs , 1992)
Tác động của thông tin phản hồi đối với việc học
“Nắm vững những gì bạn biết và không nên học tủ Sinh viên cần có thông tin phản hồi phù hợp khi thực hiện để thu được lợi ích từ các lớp học Từ khi bắt đầu, sinh viên cần được hỗ trợ trong việc đánh giá kiến thức và năng lực hiện
có Trong các giờ học, sinh viên thường xuyên cần các cơ hội để thể hiện và nhận được ý kiến góp ý để tiến bộ Ở các thời điểm khác nhau trong suốt thời gian học đại học, và tại giai đoạn cuối cùng, sinh viên cần các cơ hội để ngẫm nghĩ về những gì họ đã học được, những gì họ vẫn tiếp tục phải học, và làm thế nào để đánh giá chính bản thân mình” ( Chickering & Gamson, 1987)
Thông thường, thông tin phản hồi được định nghĩa là một vấn đề của “sửa chữa lỗi sai” ( Bruner , 1974) hay “Tri thức về thành quả” liên quan đến chính việc học tập, nếu một sinh viên được biết rằng cô ấy đang đi đúng hướng thì cô sẽ bắt tay ngay vào học nó Trong bài viết này, chúng tôi đang quan tâm đến việc cung cấp thông tin phản hồi ảnh hưởng đến hành vi học tập của sinh viên như thế nào – với thông tin phản hồi như vậy giúp cho sinh viên nắm được phải làm những gì, không làm những gì, tiếp tục học tập nhiều hơn nữa
Điều kiện 4
Cung cấp đầy đủ thông tin phản hồi, vừa thường xuyên đầy đủ về số lượng lẫn chi tiết về nội dung.
Điều này đề cập tới những gì thông thường được định nghĩa là đánh giá quá trình: tác động của thông tin phản hồi đến những tiến bộ trong việc học, thường
Trang 6được đưa đến sau khi có được một “thành quả” của bài tập được giao Giữa các lớp học có sự khác nhau về khối lượng và tính chặt chẽ của thông tin phản hồi - chúng tôi hoài nghi điều này khá nhiều hơn so với sự thay đổi về số lượng hoặc chất lượng giảng dạy
Thông tin phản hồi này có thể cần phải được cung cấp khá thường xuyên, và trong phạm vi những phần tương đối nhỏ của khóa học thì sẽ mang lại hiệu quả hữu ích Một mẩu thông tin phản hồi chi tiết về một bài luận mở rộng hoặc bài tập thiết kế sau mười tuần nghiên cứu có khả năng không hỗ trợ nhiều cho việc học trong suốt toàn bộ khóa hoc Thi trắc nghiệm trên máy tính được áp dụng rất rộng rãi nhằm mang tới ít nhất một số thông tin phản hồi về quá trình tiến hành, và bằng một số phần mềm đánh giá có thể cung cấp “phản hồi sửa chữa” khi lựa chọn những câu trả lời không chính xác Theo báo cáo Cook (2001) cho biết rằng các điểm kỳ thi cuối cùng của sinh viên có liên quan chặt chẽ với số lượng ( và dẫn tới là tần số) của máy tính đánh dấu bài tập sinh viên đã làm Tần
số và tốc độ phản ứng của thông tin phản hồi như vậy có thể cung cấp một cách hợp lý và tiết kiệm, bù đắp được về chất lượng tương đối kém và thiếu tính chất
cá thể của nó
Thông tin phản hồi phải cụ thể thì mới trở nên hữu ích Đại học Mở đào tạo 7.500 giảng viên bán thời gian của mình để cung cấp cho thông tin phản hồi khá chi tiết và mở rộng Theo như Cole et al (1986) đã liệt kê các đặc điểm của thông tin phản hồi hiệu quả trong đào tạo từ xa và cũng theo như Roberts (1996)
đã nhận thấy rằng sinh viên đặt quyền ưu tiên của mình đối với thông tin phản hồi có liên kết chặt chẽ với các đặc điểm này Các hình thức cụ thể của thông tin phản hồi đạt được hiệu quả khác nhau tùy theo các môn học Ví dụ về bằng chứng về các hình thức hiệu quả nhất của thông tin phản hồi trong việc học ngôn ngữ được tóm tắt trong Hyland (2001) Ở trong cả Tâm lý học
Trang 7(Stephenson và cộng sự, 1996.) và toán học (Rice và cộng sự, 1994.), đã báo cáo sinh viên chính là thông tin phản hồi cụ thể và cần thiết, dễ dàng và chi tiết Theo như Greer (2001) báo cáo một nghiên cứu đã minh họa chính xác phần nào tác động của thông tin phản hồi đang đạt được trong việc học tập về Kế toán
Hầu hết các ý kiến phản hồi cho sinh viên được cung cấp ở phần còn lại của giáo dục Đại học sẽ được nhân viên trợ giảng (người giám sát việc chấm điểm của trợ giảng) của Đại học Mở lựa chọn là hoàn toàn không đủ và sẽ dẫn đến những can thiệp đảm bảo chất lượng và phát triển đội ngũ nhân viên
Điều kiện 5
Ý kiến phản hồi tập trung vào kết quả hoàn thành của sinh viên, vào quá trình họ học tập và làm chủ các hành động của mình, chứ không phải chỉ vào bản thân sinh viên cũng như vào đặc điểm của họ
Tài liệu về đánh giá quá trình phân biệt giữa thông tin phản hồi cho sinh viên biết là họ đang bị mất hy vọng, hay trong số 10% sinh viên đứng cuối lớp (thí
dụ như điểm D), và thông tin phản hồi cho sinh viên biết chính xác họ đã đi sai chỗ nào và những gì họ có thể làm với nó Lớp học mà không có thông tin phản hồi có thể gây ra tổn hại nghiêm trọng Một điều cần quan tâm đối với các phản hồi cần thiết về đặc điểm cá nhân có thể làm giảm bớt sự thúc đẩy và có thể ảnh hưởng tiêu cực tới “tính tự tin” hoặc ý thức về năng lực của sinh viên Nó quan trọng vì tính tự tin có liên quan chặt chẽ với nỗ lực và kiên trì với các nhiệm vụ (Schunk, 1984; 1985), dự báo tốt thành tích học tập, nghiên cứu và có liên quan đến việc áp dụng một phương pháp học tập chuyên sâu (Thomas và cộng sự, 1987) Ngược lại, thông tin phản hồi liên quan đến nội dung cung cấp cho sinh viên với các các lựa chọn cho hành động và ít khi kết hợp chặt chẽ với cái tôi
Trang 8của họ - đó là về hành động của họ chứ không phải là về bản thân họ Theo Wootton (2002) đã phê phán gay gắt về tác động tiêu cực của việc đánh giá các sinh viên “đang bị đe dọa” và hỏi xem hệ thống tồn tại “để khuyến khích học tập hay là để đo lường thất bại xảy ra”
Điều kiện 6
Các thông tin phản hồi kịp thời mà sinh viên nhận được trong khi nó vẫn giữ vị trí quan trọng đối với họ và kịp thời giúp cho họ chú ý đến việc học tập nhiều hơn nữa hoặc nhận được thêm hỗ trợ.
Vấn đề này đã được nhấn mạnh trong “bảy nguyên tắc để thực hiện tốt trong giáo dục đại học” (Chickering & Gamson, 1987; 1991) Nó dựa trên một loạt các nghiên cứu về thời gian phản hồi (đối với bản tóm tắt, xem Dunkin, 1986; McKeachie và cộng sự, 1986) Một phương pháp giảng dạy chú trọng nhiều vào thông tin phản hồi ngay lập tức ở mỗi giai đoạn sinh viên tiến bộ thông qua chuỗi các đơn vị bài học Hệ thống hướng dẫn được cá thể hóa (PSI), đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu để cải thiện thành tích của sinh viên (Kulik
và cộng sự, 1980)
Nếu sinh viên không nhận được phản hồi đủ nhanh vậy thì họ sẽ chuyển sang nội dung mới và các thông tin phản hồi không phù hợp với những gì họ đang nghiên cứu và thêm vào đó rất khó đưa đến hoạt động học tập phù hợp do tác động trực tiếp của thông tin phản hồi Do tính khẩn trương của nguồn thông tin phản hồi được cung cấp chậm hơn và cũng do các khóa học tại Anh hiện nay là ngắn hơn, điều này đồng nghĩa là thông tin phản hồi về khóa học không được cung cấp cho đến khi khóa học đó kết thúc Có khả năng nhiều thông tin phản hồi được cung cấp với chi phí cao có thể bị lãng phí Vì vậy, có thể xuất hiện một sự đánh đổi giữa tốc độ nhanh chóng và chất lượng của thông tin phản hồi, cho ví dụ, từ một bạn cùng lớp cung cấp gần như ngay lập tức thông tin phản
Trang 9hồi chưa hoàn thiện có thể có tác động nhiều hơn so với thông tin phản hồi có được đầy đủ từ trợ giảng hơn bốn tuần sau đó
Theo Carroll (1995) đã mô tả “cuộc hội thảo đánh giá quá trình” của các buổi học của 300 sinh viên ngành y trong đó bao gồm các câu hỏi nhiều lựa chọn ngay lập tức tuân theo chỉ dẫn giảng dạy ngắn gọn vào câu hỏi Không có thông tin phản hồi cho từng cá nhân trong hệ thống này nhưng các thông tin phản hồi rất nhanh chóng và các phiên hội thảo được lên kế hoạch để sinh viên có thời gian nghiên cứu thêm tài liệu trước khi chuyển sang phần tiếp theo của khóa học 85% sinh viên cho biết là muốn có thêm phiên hội thảo như vậy Theo Sly (1999) báo cáo về tác động của “các bài kiểm tra thực hành” vào việc hoàn thành các bài thi tiếp theo Sinh viên có thể chọn lựa làm một kiểm tra thực hành đầy đủ với thông tin phản hồi trên máy tính trước một kỳ thi để họ có thể
sử dụng thông tin phản hồi để tăng cường nghiên cứu nhiều hơn nhằm khắc phục những điểm yếu của họ 197 sinh viên yếu hơn được chọn để có những bài kiểm tra thực hành và những sinh viên này đã đạt được điểm số ở các kỳ thi cao hơn rất nhiều và vượt trội so với 417 sinh viên giỏi hơn Những lợi ích đó vẫn còn hiện rõ ở một kỳ thi tiếp theo
Điều kiện 7
Thông tin phản hồi phù hợp với mục đích của bài tập được giao và với tiêu chí để đạt thành tích cao.
Vấn đề này đề cập tới mối quan hệ của thông tin phản hồi với những gì cần chuẩn bị cho một bài tập được giao và những gì coi như là một cố gắng vượt trội cho bài tập đó Thông tin phản hồi có thể thực hiện một số chức năng Ví
dụ, nó có thể được sử dụng chủ yếu để :
• Sửa lỗi
Trang 10• Nâng cao hiểu biết thông qua lời giải thích
• Khích lệ học tập nhiều hơn nữa bằng cách gợi ý các bài học cụ thể hơn
• Thúc đẩy phát triển của kỹ năng chung bằng cách tập trung vào dấu hiệu về việc sử dụng các kỹ năng chứ không phải là vào nội dung
• Đẩy mạnh siêu nhận thức bằng cách khuyến khích những phản ánh và nhận thức của sinh viên về các quá trình học tập liên quan đến công việc được giao
• khuyến khích sinh viên không ngừng học tập
Những điều trên trở nên phù hợp phụ thuộc vào lý do tại sao bài tập đặc biệt ban đầu được được giao Ví dụ, nó được dự trù nhằm mang lại một cơ hội duy nhất
để tiến hành sử dụng một trình tự hoặc thuật toán một cách chính xác, nhằm tạo
ra một trong rất nhiều cơ hội để vận dụng một kỹ năng có thể biến chuyển được, nhằm đưa ra một cơ hội quý giá để phản hồi về việc học tập, hoặc tạo ra một chướng ngại vật ban đầu không khó để vượt qua trong một khóa học nhằm thúc đẩy cho một sinh viên để hoàn thành?
Trong một nghiên cứu gần đây tại Đại học Mở đã đề suất việc duy trì động lực
là vấn đề quan trọng và có ảnh hưởng nhiều nhất đối với các sinh viên mới về bài tập được giao đầu tiên của họ trong lớp (Gibbs & Simpson, 2002) Nếu một sinh viên đang mong chờ những khích lệ và chỉ thu được những sửa chữa cho sai sót của mình thì điều đó có thể không giúp việc học tập đạt hiệu quả cao nhất
Sinh viên cần phải hiểu lý do tại sao họ đã có được xếp loại học lực hay điểm số
và tại sao họ đã không có xếp loại cao hơn (thấp hơn) Các tiêu chí cần phải rõ ràng và dễ hiểu đối với sinh viên, và được dùng để hình thành nên các lớp học Thường thì tiêu chí không đi kèm với các tiêu chuẩn và một sinh viên cảm thấy