1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp ở việt nam

211 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lập luận trên cho thấy, việc NCS lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam” có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

MAI THỊ THANH TÂM

CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

MAI THỊ THANH TÂM

CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Mai Thị Thanh Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 8

1.3 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 29

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA

2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân

2.2 Các yếu tố cấu thành, tiêu chí hoàn thiện cơ chế pháp lý về sự tham gia

2.3 Các điều kiện bảo đảm cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong

2.4 Cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp ở

một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam 66

Chương 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA CỦA

3.1 Kết quả đạt được của cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong

3.2 Hạn chế của cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong hoạt động

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ

VỀ SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP Ở

4.1 Quan điểm hoàn thiện cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong

4.2 Giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCPL : Cơ chế pháp lý CQNN : Cơ quan nhà nước ĐBQH : Đại biểu Quốc hội HĐLP : Hoạt động lập pháp MTTQVN : Mặt trận Tổ quốc Việt Nam NCS : Nghiên cứu sinh

QLNN : Quản lý nhà nước PBXH : Phản biện xã hội TCXH : Tổ chức xã hội UBTVQH : Ủy ban Thường vụ Quốc hội VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật XHCN : Xã hội chủ nghĩa

VCCI : Liên hiệp Công nghiệp và Thương mại Việt Nam

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tiến trình đổi mới, phát triển đất nước cho đến nay, vấn đề xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm, chú trọng Kể từ Đại hội VII, qua mỗi kỳ đại hội, tư duy lý luận của Đảng về Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ngày càng phát triển, tạo cơ sở định hướng cho toàn bộ quá trình xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”; “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân” [32] Quan điểm này đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm

2013 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân

và vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”

Tính nhân dân, tính dân chủ của Nhà nước Việt Nam không chỉ được thể hiện ở trách nhiệm của Nhà nước phục vụ nhân dân mà còn thể hiện ở việc huy động được sự tham gia của nhân dân vào hoạt động nhà nước, trong đó, có hoạt động lập pháp (HĐLP) Cơ chế pháp lý (CCPL) về

sự tham gia của nhân dân trong HĐLP có vai trò quan trọng trong phát huy quyền làm chủ, tính tích cực chính trị của nhân dân Sự tham gia của nhân

Trang 7

dân trong HĐLP còn giúp các cơ quan nhà nước (CQNN) có thẩm quyền

có được nguồn thông tin bổ sung hữu ích, có tính chất phản biện đối với các chính sách trong các dự thảo luật; giúp cho việc lựa chọn chính sách trong dự thảo luật được công khai, minh bạch hơn và phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân hơn Bên cạnh đó, CCPL này còn giúp cải thiện mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, làm cho chính quyền quan tâm hơn đến nhu cầu, lợi ích của nhân dân Đồng thời, khi được tham gia vào HĐLP, nhân dân sẽ có những hiểu biết nhất định về dự thảo luật sắp ban hành, từ đó, có niềm tin vào Nhà nước và tích cực thực hiện pháp luật hơn

Về phương diện pháp lý, ở Việt Nam, CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp năm 2013, Luật ban hành VBQPPL năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành VBQPPL năm 2020, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân 2015, Tuy nhiên, các quy định pháp luật này vẫn chưa tạo ra được cơ sở pháp lý rộng rãi cho sự tham gia của nhân dân trong HĐLP như: nội dung tham gia của nhân dân vào HĐLP chưa được quy định cụ thể; thiếu các hình thức tham gia chủ động của nhân dân trong HĐLP; trình tự, thủ tục nhân dân tham gia vào HĐLP chưa đầy đủ; không có cơ chế ràng buộc trách nhiệm của CQNN trong việc tiếp thu, phản hồi ý kiến nhân dân;…

Thực tiễn cho thấy, CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam cũng chưa được thực hiện đầy đủ Hình thức tham gia chủ yếu và được thực hiện thường xuyên là lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo đề nghị xây dựng luật, dự thảo luật Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập như: đối tượng được lấy ý kiến hạn hẹp (chủ yếu là các CQNN, tổ chức chính trị - xã hội, các chuyên gia, nhà khoa học mà ít khi lấy ý kiến nhân dân rộng rãi); nội dung lấy ý kiến nhân dân về dự án luật còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm; việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, tiếp thu, giải trình các ý kiến đóng góp của nhân dân cũng còn nặng về hình thức, thiếu thực chất nên chưa thu được các ý kiến có giá trị; Bên cạnh đó, hoạt động phản biện xã

Trang 8

hội (PBXH) về các dự thảo luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN)

và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên còn mờ nhạt, chưa tạo được dấu ấn; hoạt động biểu quyết biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân chưa có điều kiện thực hiện trong thực tế

Từ những lập luận trên cho thấy, việc NCS lựa chọn đề tài nghiên cứu:

“Cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp ở

Việt Nam” có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu

xây dựng nền dân chủ XHCN, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích của luận án

Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam thời gian qua, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ của luận án

Để thực hiện mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP, trong đó, luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, các yếu tố cấu thành, tiêu chí hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; các điều kiện bảo đảm sự tham gia của nhân dân trong HĐLP

- Nghiên cứu CCPL về sự tham gia của nhân dân của một số quốc gia trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất các quan điểm và các giải pháp tiếp tục hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam

Trang 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Dưới góc độ của chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam Trên cơ sở đó, luận án luận chứng cơ sở khoa học và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận án thực hiện việc nghiên cứu CCPL về sự tham gia

của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam Các nội dung về lý luận, thực trạng CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP đều gắn liền với các đặc điểm

về chính trị, kinh tế - xã hội ở Việt Nam Các quan điểm, giải pháp được đưa ra cũng xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam

Bên cạnh đó, về việc nghiên cứu CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP và rút ra một số bài học cho Việt Nam, luận án lựa chọn nghiên cứu các quốc gia là Hoa Kỳ, Trung Quốc và một số quốc gia Châu Âu

- Về thời gian: Luận án nghiên cứu lý luận và thực tiễn của CCPL về sự

tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực đến nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về dân chủ XHCN, về thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, trong đó, có quyền tham gia HĐLP của nhân dân

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu các vấn đề

Trang 10

liên quan đến nội dung đề tài Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng lý thuyết về dân chủ trực tiếp; lý thuyết về sự tham gia của nhân dân (public participation)

để làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn CCPL về sự tham gia của nhân dân

trong HĐLP Lý thuyết về dân chủ trực tiếp đề cập đến các hình thức dân chủ

trực tiếp gồm trưng cầu ý dân (referendum), sáng kiến công dân (citizens’ initiatives); sáng kiến chương trình nghị sự (agenda initiatives) cũng là các

hình thức tham gia của nhân dân trong HĐLP Lý thuyết về sự tham gia của nhân dân cung cấp cơ sở để xác định các mức độ (hình thức) tham gia của

nhân dân trong HĐLP

Trên cơ sở phương pháp luận nói trên, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp là phương pháp được sử dụng xuyên suốt các chương của luận án nhằm nghiên cứu, xác định cơ sở lý luận, đánh giá, phân tích thực trạng và đưa ra các lập luận đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP

- Phương pháp thống kê được sử dụng trong chương 1 để phân loại và nghiên cứu nội dung các tài liệu nghiên cứu CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; đồng thời được sử dụng ở chương 3 trong quá trình thống kê số lượng các ý kiến tham gia vào các dự án luật đăng tải trên các cổng thông tin điện tử

- Phương pháp luật học so sánh được sử dụng trong chương 1 để đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án; trong chương 2 để nghiên cứu kinh nghiệm nghiên cứu CCPL về sự tham gia của nhân dân của một số quốc gia trên thế giới và những giá trị tham khảo cho Việt Nam và trong chương 3 khi đánh giá những kết quả đạt được về thể chế pháp lý, thiết chế bảo đảm sự tham gia của nhân dân trong HĐLP

- Phương pháp logic, hệ thống là phương pháp được sử dụng xuyên suốt quá trình thực hiện chương 2, chương 3 và chương 4 Nội dung của ba chương

có mối quan hệ xuyên suốt Những lý giải về mặt lý luận ở chương 2 là cơ sở để

Trang 11

đánh giá thực trạng CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam trong chương 3 và từ đó đưa ra quan điểm và giải pháp tiếp tục hoàn thiện CCPL

về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam trong chương 4

- Phương pháp lịch sử - cụ thể được sử dụng trong việc đánh giá thực trạng CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam ở chương 3

và đề xuất các quan điểm, giải pháp tiếp tục hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam ở chương 4

- Phương pháp tình huống được sử dụng để làm rõ các nhận định đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam ở chương 3

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án có một số đóng góp mới về khoa học sau đây:

Thứ nhất, luận án bổ sung, xây dựng cơ sở lý luận của CCPL về sự tham

gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam một cách khoa học, hệ thống, toàn diện Theo đó, luận án đã xây dựng khái niệm CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; trình bày đặc điểm, vai trò của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; phân tích các yếu tố cấu thành, tiêu chí hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; các điều kiện bảo đảm của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP Luận án cũng nghiên cứu CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở một số quốc gia trên thế giới và chỉ ra những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam

Thứ hai, luận án đã đánh giá, phân tích thực trạng CCPL về sự tham gia

của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam, trong đó đánh giá được thực trạng thể chế lập pháp, thiết chế bảo đảm, hiệu lực, hiệu quả của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP (những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân)

Thứ ba, luận án đã xây dựng được hệ thống các quan điểm và đề xuất

các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm phong phú

thêm cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam

Về thực tiễn: Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và

toàn diện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam Luận án

là tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình hoàn thiện pháp luật về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP và hoàn thiện tổ chức, hoạt động của các thiết chế bảo đảm sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam; là tài liệu tham khảo cho các cơ quan nghiên cứu, sinh viên, học viên sau đại học chuyên ngành

Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương, 11 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ

SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế pháp lý

Khi đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến CCPL, NCS tập trung vào các công trình đã phân tích quan niệm về CCPL, các yếu tố cấu thành của CCPL và các tiêu chí hoàn thiện CCPL Đó là các công trình tiêu biểu như:

Sách “Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay” do Nguyễn Minh Đoan chủ biên [36], đã phân tích các yếu

tố cấu thành CCPL kiểm soát quyền lực nhà nước của các CQNN gồm: thể chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước; thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước;

sự tương tác giữa chủ thể kiểm soát, đối tượng bị kiểm soát trên cơ sở thể chế pháp lý kiểm soát

Sách “Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội” của Trương Thị Hồng Hà [46] cho rằng CCPL là tổng thể các hình thức,

công cụ, phương tiện pháp lý có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, vận hành trong một chỉnh thể đồng bộ, thống nhất để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chủ thể theo pháp luật quy định CCPL bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội gồm: những quy định pháp luật; hình thức pháp lý; phương pháp và thủ tục háp lý; hậu quả pháp lý

Sách “Hoàn thiện cơ chế pháp lý giám sát xã hội đối với thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Mạnh Bình [10] đã đưa

ra khái niệm CCPL là “tổng thể các bộ phận thể chế, thiết chế, hình thức; phương pháp, trình tự; thủ tục, hậu quả pháp lý gắn kết, hợp thành một hệ thống,

do pháp luật quy định, nếu thiếu một trong các bộ phận này, thì hệ thống đó không thể vận hành được”

Trang 14

Sách “Cơ chế pháp lý về giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với các cơ quan hành chính nhà nước” do Hoàng Minh Hội chủ biên [56] đã đưa ra cách tiếp cận rất rõ ràng

và có hệ thống về CCPL Theo đó, CCPL về giám sát của nhân dân thông qua MTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội đối với các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm tổng thể các yếu tố: thể chế pháp lý, các thiết chế thực hiện hoạt động giám sát và các điều kiện bảo đảm thực hiện Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được vận hành theo nội dung và phương pháp do pháp luật quy định nhằm hướng tới mục đích là bảo đảm cho hoạt động giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước đạt hiệu quả cao

Sách “Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại hành chính của công dân” của Nguyễn Tuấn Khanh [62] xác định “Cơ chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại hành chính của công dân là hệ thống các công cụ pháp lý nhằm làm cho quyền khiếu nại hành chính của công dân được thực hiện

và bảo đảm trên thực tế” Từ đó, tác giả xác định các yếu tố cấu thành CCPL

bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại hành chính của công dân gồm: thủ tục pháp

lý bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại hành chính của công dân; giám sát việc thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực khiếu nại, khiếu kiện hành chính; trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết và ý thức pháp luật của công dân, văn hóa pháp lý của cộng đồng trong việc bảo đảm thực hiện quyền khiếu nại hành chính

Bên cạnh các cuốn sách tham khảo, chuyên khảo, CCPL cũng là cơ sở lý luận của nhiều luận án tiến sĩ luật học Trong đó, nhiều luận án tiếp cận CCPL gồm hai yếu tố cơ bản thể chế pháp lý, thiết chế pháp lý và thêm một vài yếu tố khác tùy vào nội dung điều chỉnh của cơ chế Chẳng hạn như tác giả Nguyễn

Quang Anh trong Luận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam” [6] thêm yếu tố về các điều kiện bảo đảm; tác giả Nguyễn Tiến Thành trong Luận án “Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay” [92] thêm các yếu tố nguyên tắc thực

Trang 15

hiện, các điều kiện bảo đảm; tác giả Phan Thanh Hà trong luận án tiến sĩ luật học

“Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam” [45] thêm yếu tố về nguyên tắc vận hành; tác giả Nguyễn Thị Hoài An trong luận án tiến sĩ luật học “Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam” [2] thêm yếu tố về mối quan hệ giữa các yếu tố của CCPL;

Bên cạnh đó, cũng có những tác giả tiếp cận CCPL dưới góc độ là hệ thống các yếu tố pháp lý gồm quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể trong cơ chế; hình thức, phương pháp pháp lý; trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý Chẳng hạn như: tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên trong Luận án

tiến sĩ luật học “Cơ chế pháp lý về sự tham gia của các tổ chức xã hội trong bảo

vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” [106]; tác giả Chu Thị Thúy Hằng trong luận án tiến sĩ luật học “Cơ chế pháp lý giám sát thực hiện các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam” [47]

Ngoài ra, một số công trình liên quan đến CCPL còn đề cập đến các

tiêu chí hoàn thiện CCPL như luận án tiến sĩ luật học “Cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đỗ Thị Lý Quỳnh [89] và luận án tiến sĩ luật học “Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền tiếp cận công

lý của nạn nhân nữ bị xâm hại tình dục ở Việt Nam” của tác giả Đặng Viết

Đạt [35] Theo đó, tác giả Đỗ Thị Lý Quỳnh đưa ra các tiêu chí hoàn thiện CCPL gồm tiêu chí hoàn thiện thể chế pháp lý (tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và tính khả thi) và tiêu chí hoàn thiện thiết chế Tác giả Đặng Viết Đạt lại có sự phát triển thêm một bước, không những đưa ra các tiêu chí

đối với từng bộ phận cấu thành ở trạng thái tĩnh (gồm tiêu chí đối với thể chế

và tiêu chí đối với thiết chế) mà còn đưa ra tiêu chí đối với CCPL ở trạng thái động dựa vào kết quả vận hành CCPL trên 2 tiêu chí là mức độ hiệu lực và

mức độ hiệu quả CCPL

Các công trình nghiên cứu về CCPL kể trên giúp NCS có cái nhìn tổng quát về CCPL, từ đó xác định được cách tiếp cận phù hợp về CCPL và có

Trang 16

định hướng xây dựng khái niệm, các yếu tố cấu thành và tiêu chí hoàn thiện của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP

1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế pháp lý về

sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp

Các công trình tiêu biểu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến CCPL về

sự tham gia của nhân dân trong HĐLP gồm:

Sách “Sự tham gia của nhân dân vào quy trình lập hiến - Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam” của Viện Chính sách công và pháp luật

[115] là tập hợp các bài viết cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của nhân dân vào quá trình lập hiến trên thế giới và ở Việt Nam Tuy theo cách tiếp cận của luận án, HĐLP không bao gồm việc ban hành Hiến pháp (lập hiến) nhưng nhiều bài viết trong cuốn sách vẫn có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu đề tài luận án

Sách “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp - Cơ sở lý luận và thực tiễn” do Phan Trung

Lý và Đặng Xuân Phương đồng chủ biên [68] xác định việc nhân dân tham gia xây dựng chính sách, pháp luật là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp Những nội dung nghiên cứu liên quan đến việc nhân dân tham gia xây dựng chính sách, pháp luật trong cuốn sách rất hữu ích cho việc nghiên cứu

đề tài luận án như: kinh nghiệm của thế giới bảo đảm quyền của cử tri tham gia xây dựng pháp luật và chính sách; thực trạng việc thực hiện dân chủ trực tiếp qua trưng cầu ý dân, qua cơ chế tham vấn ý kiến nhân dân tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; các giải pháp nhằm đổi mới nội dung và cơ chế tham vấn ý kiến nhân dân trong việc xây dựng chính sách, pháp luật

Sách chuyên khảo “Mô hình xây dựng pháp luật trong nhà nước pháp quyền - Từ lý luận đến thực tiễn” do tác giả Lê Hồng Hạnh chủ biên [48] Cuốn sách chuyên khảo được thực hiện dựa trên kết quả nghiên cứu của Đề

tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu mô hình xây dựng pháp luật đáp ứng

Trang 17

yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” thuộc Chương trình khoa học và công

nghệ trọng điểm cấp nhà nước KX.02/11-15 Tập thể tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền và pháp luật trong nhà nước pháp quyền; mô hình xây dựng pháp luật ở một số quốc gia trên thế giới; pháp luật trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; mô hình xây dựng pháp luật ở Việt Nam qua các thời kỳ và trong giai đoạn hiện nay; từ đó, đề xuất xây dựng mô hình xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đảm bảo tính dân chủ, tính khoa học, hiện đại, tính phổ biến, tính phù hợp, khả thi,… Trong đó, qua quá trình phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng pháp luật (trong đó có việc nghiên cứu hoạt động ban hành luật- HĐLP), các tác giả đều ít nhiều đề cập đến việc sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xây dựng pháp luật Các tác giả nhận định

“quá trình dân chủ hóa trong HĐLP ở khía cạnh thu hút sự tham gia của nhân dân vẫn còn khá hình thức” Công trình cũng xác định tham vấn xã hội (sự tham gia của người dân) là một trong những yêu cầu cơ bản và là yếu tố không thể thiếu trong mô hình xây dựng pháp luật tương lai

Sách “Quốc hội khóa XIV - Thành tựu và dấu ấn nổi bật” [85] là công

trình khoa học có tính lý luận và thực tiễn cao về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nói chung và Quốc hội khóa XIV nói riêng; là sản phẩm tổng kết hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ 2016-2021, với số liệu thực tế được thống

kê đầy đủ, đa dạng trên từng lĩnh vực hoạt động với những phân tích, đánh giá sâu sắc, toàn diện về bối cảnh, những thành tựu, dấu ấn nổi bật của Quốc hội khóa XIV đã đạt được trên tất cả các phương diện như lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao, hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế, đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội Trong đó, những đánh giá thực trạng HĐLP của Quốc hội khóa XIV và những yêu cầu tiếp tục đổi mới đối với tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới

Trang 18

là nguồn dẫn liệu quan trọng cho phần đánh giá thực trạng CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thiết chế bảo đảm là Quốc hội

Sách “Vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam” của

TS Trần Quốc Bình [11] đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp ở Việt Nam Việc xác định vai trò của Chính phủ trong từng quy trình lập pháp, từ giai đoạn sáng kiến lập pháp, soạn thảo dự án luật, hoạt động thẩm định, thẩm tra đối với các dự án luật do Chính phủ đệ trình và Chính phủ tham gia ý kiến đối với các dự án luật của các chủ thể khác đến giai đoạn Chính phủ trình dự án luật trước Quốc hội giúp luận án

có thêm những hiểu biết về quy trình lập pháp ở Việt Nam đồng thời cũng thấy được vai trò của Chính phủ trong việc bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào HĐLP, đặc biệt là trong giai đoạn soạn thảo dự luật Tác giả nhận định: “để có được cái nhìn đa chiều, dự liệu và lường trước mọi tình huống khi chính sách được áp dụng và vận hành trong cuộc sống cần có sự tham vấn của các nhà khoa học và các đối tượng có liên quan Lúc này, sự tham gia của các nhà khoa học, nhà chính trị, đại biểu Quốc hội, nhà quản lý, doanh nghiệp, luật gia, đặc biệt là đối tượng trực tiếp ảnh hưởng đến dự luật là điều rất cần thiết, góp phần mang lại hiệu quả thiết thực, giúp nhà soạn thảo viết ra được các điều khoản luật sát hợp nhất với cuộc sống” [11, 68-69]

Sách tham khảo “Phản biện xã hội trong hoạt động lập pháp, hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước của Quốc hội” [5] do Vũ

Hồng Anh chủ biên đã phân tích một cách khái quát lý luận và thực tiễn PBXH trong HĐLP và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước của Quốc hội Trên cơ sở xác định PBXH trong HĐLP là một phương cách thực hành dân chủ thông qua hoạt động chế ước của quyền lực xã hội đối với quyền lực nhà nước, quyền phản hồi của xã hội đối với thể chế cầm quyền nhằm bảo đảm cho HĐLP vừa thực hiện ý chí của Nhà nước vừa thực hiện nguyện vọng của các tầng lớp xã hội, các tác giả đã xác định tính chất, đặc

Trang 19

điểm của PBXH trong HĐLP; đối tượng và chủ thể của PBXH trong HĐLP; nguyên tắc, hình thức, nội dung, vai trò của PBXH trong HĐLP Theo đó, các tác giả khẳng định đối tượng của PBXH trong HĐLP là chính sách pháp luật trong các dự án luật PBXH trong HĐLP được thực hiện thông qua 02 hình thức cơ bản là bằng báo chí - truyền thông và thông qua các TCXH (không chỉ có MTTQVN, các tổ chức chính trị - xã hội thành viên mà còn nhiều các

tổ chức khác) Nội dung PBXH trong HĐLP được các tác giả phân tích dựa trên quy trình lập pháp, tập trung ở ba giai đoạn chính: giai đoạn soạn thảo dự thảo; giai đoạn thẩm tra dự thảo; giai đoạn thảo luận, cho ý kiến, biểu quyết thông qua dự thảo Các đánh giá thực trạng và giải pháp tăng cường PBXH đối với HĐLP cũng bám sát vào các vấn đề lý luận trên Nội dung cuốn sách hữu ích trong việc nghiên cứu hình thức PBXH trong HĐLP (một trong các hình thức tham gia HĐLP của nhân dân)

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (mới được đổi tên thành Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam từ ngày 31/12/2021)

(VCCI) trong cuốn Cẩm nang “Quy trình và kỹ năng tham gia xây dựng chính sách và pháp luật của doanh nghiệp” [110] đã phân tích những lợi ích đạt

được cũng như những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra khi tham gia vào xây dựng chính sách và pháp luật, từ đó khẳng định việc doanh nghiệp tham gia vào xây dựng chính sách, pháp luật là có thể và nên làm Cuốn sách đã chỉ ra các biện pháp để doanh nghiệp tham gia vào xây dựng chính sách, pháp luật gồm: theo dõi chính sách, pháp luật mới; phát hiện bất cập, sáng kiến chính sách; truyền tải góp ý, kiến nghị; liên kết với các bên liên quan để vận động chính sách Cuốn sách đã cung cấp những kỹ năng và kinh nghiệm cơ bản nhằm nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong việc chủ động tham gia vào xây dựng chính sách và luật

Báo cáo nghiên cứu “Tham vấn công chúng trong qui trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật” của Văn phòng Quốc hội và Quỹ

Châu Á [107] được thực hiện thông qua việc khảo sát ý kiến của nhiều nhóm

Trang 20

đối tượng như: đại biểu dân cử (bao gồm Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân), cán bộ, công chức ở trung ương và địa phương, chuyên gia về nghiên cứu pháp luật và phản biện chính sách, nhà báo, người làm trong các tổ chức chính trị - xã hội, TCXH về tham vấn công chúng đối với hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL Báo cáo nghiên cứu đã làm rõ

cơ sở lý luận và pháp lý của tham vấn công chúng; thực trạng tham vấn công chúng ở Việt Nam và kiến nghị nâng cao hiệu quả tham vấn công chúng ở Việt Nam Nội dung nghiên cứu của đề tài cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu các nội dung liên quan đến tham vấn công chúng (lấy ý kiến nhân dân) vào HĐLP - một trong các nội dung nghiên cứu của Luận án

Đề tài khoa học cấp Bộ “Các tổ chức xã hội nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế với việc xây dựng chính sách, pháp luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” do Võ Đình Toàn chủ nhiệm, Viện Khoa học pháp lý -

Bộ Tư pháp chủ trì, nghiệm thu năm 2007 [95], đã nghiên cứu những vấn đề

lý luận về các TCXH nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế; đánh giá thực trạng pháp luật, thực thi pháp luật và những vấn đề phát sinh từ thực tế tham gia xây dựng chính sách, pháp luật kinh tế của các TCXH nghề nghiệp và hiệp hội kinh tế ở Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia xây dựng chính sách, pháp luật kinh tế của các TCXH nghề nghiệp

và hiệp hội kinh tế

Đề tài khoa học cấp Bộ “Phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp theo tinh thần Hiến pháp năm 2013” do Lê Thị Thiều Hoa chủ nhiệm, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư

pháp chủ trì, nghiệm thu năm 2019 [51] Đề tài đã nhận diện rõ những vấn đề

lý luận về quyền lập pháp, nội dung việc thực hiện quyền lập pháp và yêu cầu của nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; phân tích, đánh giá pháp luật và thực trạng cơ chế phân công, phối hợp

Trang 21

và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp tại Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và các luật

có liên quan; đề xuất được các giải pháp hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp ở Việt Nam trong thời gian tới Các kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho đề tài luận án trong việc nhận thức đầy

đủ, sâu sắc về quyền lập pháp, HĐLP, cũng như quá trình xây dựng, hoàn thiện quy trình lập pháp

Đề tài khoa học cấp cơ sở “Thực trạng và giải pháp nâng cao hoạt động tổ chức lấy ý kiến nhân dân, đối tượng chịu tác động trực tiếp của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật” do Nguyễn Bá Sơn chủ nhiệm, Uỷ ban

nhân dân thành phố Đà Nẵng chủ trì, nghiệm thu năm 2011 [90] đã làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo các VBQPPL; nêu thực trạng hoạt động tổ chức lấy ý kiến nhân dân tại Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp thuộc thành phố Đà Nẵng; chỉ ra những bất cập trong hoạt động tổ chức lấy ý kiến nhân dân như: đối tượng lấy ý kiến, thời gian, phương thức, nhận thức của người dân trong hoạt động tổ chức lấy

ý kiến Đề tài cũng đề xuất được các giải pháp nâng cao hoạt động lấy ý kiến nhân dân tại địa phương

Đề tài khoa học cấp cơ sở “Sự tham gia của các tổ chức xã hội vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật - Thực trạng và kiến nghị”

do Đặng Thị Tuyết Trinh chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu lập pháp chủ trì, nghiệm thu năm 2015 [97], đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về sự tham gia của các TCXH vào quá trình xây dựng VBQPPL; đánh giá thực trạng các TCXH vào quá trình xây dựng VBQPPL ở Việt Nam; đưa ra các quan điểm

và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường các TCXH vào quá trình xây dựng VBQPPL

Đề tài khoa học cấp cơ sở “Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân theo Hiến pháp - Thực trạng và kiến nghị” do Nguyễn Minh

Trang 22

Tuấn chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu lập pháp chủ trì, nghiệm thu năm 2018 [99]

đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tham gia quản lý nhà nước (QLNN) và xã hội của công dân; trong đó, xác định quyền tham gia ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật (phạm vi tham gia xây dựng chính sách, pháp luật rộng hơn phạm vi tham gia HĐLP) như là một trong những nội dung

cơ bản của quyền tham gia QLNN và xã hội của công dân Đề tài đã đề cập đến quyền tham gia ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật trên cả khía cạnh lý luận

và thực tiễn; đồng thời đưa ra các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện quyền tham gia ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật Đây là nội dung có ý nghĩa tham khảo tốt cho việc thực hiện đề tài luận án

Trong luận án tiến sĩ quản lý công “Sự tham gia của công chúng trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” của tác giả Đỗ Thị Hương

Huế [61], khái niệm công chúng được sử dụng để chỉ những tổ chức, cá nhân chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một dự thảo VBQPPL sắp ban hành,

là khái niệm hẹp hơn khái niệm “nhân dân”, “người dân” Dưới góc độ nghiên cứu của chuyên ngành chính sách công, luận án đã phân tích các nội dung, hình thức tham gia của công chúng trong hoạt động xây dựng VBQPPL (thông tin, tham vấn, PBXH, trưng cầu ý dân và sáng kiến xây dựng VBQPPL) và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của công chúng trong hoạt động xây dựng VBQPPL Từ những vấn đề lý luận, tác giả đã đưa ra những phân tích cụ thể thực trạng sự tham gia của công chúng trong hoạt động xây dựng VBQPPL ở Việt Nam (thực trạng pháp luật quy định về sự tham gia của công chúng trong xây dựng VBQPPL ở Việt Nam hiện nay; thực trạng công chúng tham gia trong xây dựng VBQPPL ở Việt Nam hiện nay) Tác giả đã rất kỳ công khi tự tiến hành khảo sát sự tham gia của công chúng trong xây dựng 3 dự thảo VBQPPL là Dự án Luật An ninh mạng năm

2017, Dự thảo Nghị định về chế độ báo cáo của các cơ quan hành chính nhà nước năm 2018 và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ở 5 tỉnh,

Trang 23

thành phố để đưa ra các kết luận, đánh giá ở Chương 3 Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo sự tham gia của công chúng trong xây dựng VBQPPL của Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học “Thu hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt Nam” của Nguyễn Thị Thu Trà [96] đã đưa

ra các cách tiếp cận khác nhau về thu hút nhân dân tham gia vào HĐLP của Quốc hội; nghiên cứu về HĐLP của Quốc hội Việt Nam và ý nghĩa của việc thu hút nhân dân tham gia vào HĐLP của Quốc hội; từ đó đưa ra các phương hướng hoàn thiện cơ chế thu hút nhân dân tham gia vào HĐLP của Quốc hội Việt Nam Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật có nội dung nghiên cứu gần gũi với nội dung nghiên cứu của luận án Hạn chế của luận văn là có kết cấu 2 chương và chương 2 thay vì tập trung vào phương hướng, tác giả trình bày cả lý thuyết và thực trạng Hơn nữa, đề tài được nghiên cứu từ năm 2006 nên nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của nhân dân vào HĐLP cần được tiếp tục làm rõ, cập nhật

Luận văn thạc sĩ luật học “Đổi mới hoạt động lấy ý kiến của nhân dân trong quy trình lập pháp ở Việt Nam” của Lò Thị Việt Hà [44] là một công

trình nghiên cứu có hệ thống về hoạt động lấy ý kiến của nhân dân vào quy trình lập pháp ở Việt Nam (một trong những hình thức cơ bản để nhân dân tham gia vào HĐLP) Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động lấy ý kiến của nhân dân trong quy trình lập pháp, cụ thể là làm rõ khái niệm, vai trò, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, quy trình và điều kiện đảm bảo hoạt động lấy ý kiến nhân dân trong quy trình lập pháp; nghiên cứu hoạt động lấy ý kiến công chúng trong quy trình lập pháp ở một số quốc gia trên thế giới và rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và đánh giá thực trạng thực hiện việc lấy ý kiến của nhân dân vào quy trình lập pháp hiện hành; nêu lên những ưu điểm, nhược điểm và làm rõ nguyên nhân

và đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới hoạt động lấy ý kiến nhân dân

Trang 24

trong quy trình lập pháp; đổi mới nhận thức; cải tiến phương thức để nhân dân tham gia có hiệu quả hơn trong quy trình lập pháp

Luận án tiến sĩ luật học “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trần Hồng Nguyên [73] đã làm rõ những vấn đề lý luận về HĐLP

của Quốc hội và chất lượng HĐLP của Quốc hội; phân tích, đánh giá HĐLP của Quốc hội Việt Nam qua các giai đoạn và thực trạng chất lượng HĐLP giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2006; từ đó chỉ ra các yêu cầu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng HĐLP của Quốc hội nước Cộng hòa XHCN việt Nam trong giai đoạn hiện nay Luận án cũng có những nội dung liên quan đến

sự tham gia của nhân dân vào HĐLP thông qua việc phân tích hoạt động tổ chức lấy ý kiến nhân dân và tiếp thu ý kiến nhân dân đối với các dự án luật Theo tác giả, hoạt động lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến nhân dân góp ý vào dự án luật không chỉ bảo đảm bản chất dân chủ của HĐLP, thể hiện được chính xác

ý chí, nguyện vọng của nhân dân, mà còn huy động được trí tuệ của nhân dân,

do đó, đảm bảo được chất lượng của các dự án luật Tác giả chỉ ra các yêu cầu đối với việc lấy ý kiến, tiếp thu ý kiến nhân dân góp ý vào dự án luật Bên cạnh đó, luận án cũng đưa ra những nhận định, phân tích thực trạng chất lượng hoạt động tổ chức lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam và đề xuất giải pháp “Bảo đảm tính khoa học trong việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với các dự án luật”

Bên cạnh đó, cũng có khá nhiều các bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành có liên quan đến CCPL về tham gia của nhân dân trong HĐLP Các công trình đăng trên tạp chí chuyên ngành thường không trực tiếp đề cập đến CCPL về tham gia của nhân dân trong HĐLP mà chủ yếu đề cập đến sự tham gia của nhân dân trong hoạt động xây dựng pháp luật (bao gồm cả HĐLP) nói chung hoặc từng giai đoạn của HĐLP nói riêng hoặc đề cập đến các khía cạnh cụ thể của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP

Trang 25

(hoạt động lấy ý kiến nhân dân, trưng cầu ý dân hoặc sự tham gia của các chủ thể khác nhau) Tiêu biểu có các công trình như:

Bài viết “Sự tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” của tác giả Trần Thị Hương Huế

[59] đã phân tích ý nghĩa của việc bảo đảm sự tham gia của công chúng vào giai đoạn lập chương trình xây dựng VBQPPL (một trong những giai đoạn của quy trình ban hành VBQPPL nói chung và quy trình lập pháp nói riêng) Tác giả cũng đã làm rõ những vấn đề còn bất cập hiện nay và đưa ra kiến nghị nhằm phát huy vai trò của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng VBQPPL

Bài viết “Tiêu chí đánh giá hiệu quả tham gia của công chúng trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” của tác giả Trần Thị

Hương Huế [60] đã khẳng định hiệu quả tham gia của công chúng trong hoạt động xây dựng VBQPPL là một trong những điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của VBQPPL Để đánh giá được hiệu quả tham gia của công chúng trong hoạt động xây dựng VBQPPL, tác giả đã xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả tham gia của công chúng trong hoạt động xây dựng VBQPPL gồm 9 tiêu chí

Bài viết “Một số vấn đề về quyền tham gia xây dựng pháp luật của công dân” của tác giả Vương Toàn Thắng [93] đưa ra nhận định khái quát về

quyền tham gia xây dựng pháp luật của công dân như biểu hiện cụ thể của quyền được tham gia vào đời sống chính trị trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền dân sự, chính trị; nêu đặc trưng cơ bản của quyền tham gia xây dựng pháp luật ở Việt Nam Tác giả cũng chỉ ra một số vấn đề đặt ra đối với thực hiện quyền tham gia xây dựng pháp luật ở Việt Nam và gợi

mở một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền tham gia xây dựng pháp luật của công dân ở Việt Nam

Trang 26

Bài viết “Phát huy hơn nữa vai trò của các chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động lập pháp” của tác giả Nguyễn Thị Hoàn [53] phân tích vai trò

của các các chuyên gia, nhà khoa học trong HĐLP của Quốc hội, các ĐBQH

và kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của các chuyên gia, nhà khoa học trong HĐLP ở Việt Nam

Bài viết “Nâng cao chất lượng hoạt động tham gia xây dựng pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” của tác giả Trương Thị Duyên [29] phân

tích vai trò và các hình thức tham gia xây dựng pháp luật của MTTQVN; đánh giá thực trạng tham gia xây dựng pháp luật của MTTQVN và đề xuất một số giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng tham gia xây dựng pháp luật của MTTQVN

Bài viết “Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong xây dựng pháp luật ở nước ta” của tác giả Cung Đình Đường [38] đã làm rõ sự cần thiết của

việc phát huy vai trò của các TCXH trong xây dựng pháp luật; phân tích thực tiễn tham gia của các TCXH trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia xây dựng pháp luật của các TCXH

Bài viết “Cơ chế huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong công tác xây dựng pháp luật theo tinh thần Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015” của tác giả Nguyễn Mạnh Cường [27] làm rõ cơ chế huy

động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong công tác xây dựng pháp luật gồm chủ thể có quyền uy; chủ thể được huy động; phạm vi huy động sự tham gia của tổ chức, cá nhân vào hoạt động xây dựng pháp luật Tác giả cũng chỉ

ra một số khó khăn, vướng mắc trong việc huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong công tác xây dựng pháp luật Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong công tác xây dựng pháp luật (hoàn thiện pháp luật; nâng cao nhận thức của cơ quan có thầm quyền; tạo ra môi trường thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng pháp luật;…)

Trang 27

Bài viết “Nhân dân - chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật” của

tác giả Nguyễn Quang Minh [71] phân tích yêu cầu khách quan của việc nhân dân tham gia xây dựng pháp luật; khái quát sự tham gia của nhân dân trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam Tác giả cũng khẳng định nhân dân là chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật và chỉ ra phạm vi, phương thức nhân dân tham gia xây dựng pháp luật

Bài viết “Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quy trình xây dựng pháp luật” của tác giả Đinh Ngọc Quý [86] nhận định, quyền tham gia xây

dựng pháp luật là biểu hiện cụ thể của quyền tham gia QLNN và xã hội và sự tham gia của các TCXH là một trong những điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo pháp luật phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân Tác giả cũng đã phân tích các yêu cầu cơ bản của việc các TCXH tham gia xây dựng pháp luật

và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về sự tham gia xây dựng pháp luật của các TCXH

Bài viết “Public Participation in the Legislative Process in Vietnam and the Concept of Public Consultation” (Sự tham gia của công chúng vào

quy trình lập pháp ở Việt Nam và khái niệm tham vấn công chúng) của tác giả

Lê Hồng Hạnh [128] đã phân tích những hạn chế trong việc thu hút sự tham gia của công chúng (nhân dân) trong quy trình lập pháp Bài viết cũng tiếp cận các quan niệm về tham vấn công chúng của OECD và một số quốc gia như Australia, Canada, Singapore và Trung Quốc Từ những phân tích của mình, tác giả đã đưa ra các lập luận về sự cần thiết của tham vấn công chúng trong quy trình lập pháp ở Việt Nam nhằm bảo đảm cho các quy định của pháp luật có chất lượng cao hơn

Trên đây là các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước có liên quan đến đề tài luận án Các công trình khoa học kể trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau liên quan đến CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam Nhóm các công trình liên quan CCPL đã đưa ra các cách

Trang 28

tiếp cận khác nhau về CCPL, các yếu tố cấu thành CCPL, các điều kiện bảo đảm và các tiêu chí hoàn thiện CCPL nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP Các công trình khác liên quan CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP cũng không tiếp cận CCPL một cách tổng thể mà chỉ tiếp cận các khía cạnh cụ thể của CCPL như một số quy định về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; một số hình thức tham gia của nhân dân trong HĐLP như hình thức lấy ý kiến nhân dân, PBXH, hoặc có những công trình đề cập đến sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xây dựng pháp luật (hoạt động có phạm vi rộng hơn HĐLP), vào một bước của quy trình lập pháp;

Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, chưa có một công trình nào ở trong nước nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

Khảo sát một số công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài cho thấy, lý thuyết về dân chủ tham gia, sự tham gia của nhân dân thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả Có nhiều công trình liến quan đến nội dung này Chẳng hạn như:

Cẩm nang của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD),

“Citizens as Partners - Information, Consultation and Public Participation in Policy-Making” (Công dân với tư cách là đối tác: Thông tin, Tham vấn và sự

tham gia của công chúng vào hoạch định chính sách) [131], đưa ra ba cấp độ hợp tác cơ bản của công dân và các cơ quan công quyền là: 1) Thông tin (Information) (thể hiện mối quan hệ một chiều: chính phủ cung cấp thông tin cho công dân công dân truy cập thông tin theo nhu cầu của mình thông qua các trang thông tin (website) chính thức của chính phủ, công báo, báo cáo); 2) Tham vấn (Consultation) (thể hiện mối quan hệ hai chiều giữa CQNN và

Trang 29

công dân; yêu cầu sự phản hồi của chính phủ tới công dân trong quá trình hoạch định chính sách công, chẳng hạn như góp ý vào các dự thảo luật); 3) Chủ động tham gia (Active participation) (là mức độ cao nhất của mối quan

hệ hai chiều, công dân tham gia chủ động, tích cực vào việc hình thành các chính sách công, chẳng hạn như là thành viên trong các nhóm chuẩn bị dự thảo luật)

Hiệp hội quốc tế về sự tham gia của công chúng (IAP2) khi đưa ra các hướng dẫn về sự tham gia của công chúng (Public participation guide)[122]

đề xuất 5 mức độ: 1) Thông tin (Inform), 2) Tư vấn (Consult), 3) Tham gia (Involve), 4) Hợp tác (Collaborate), 5) Trao quyền (Empower) Các cấp độ từ thấp đến cao từ việc cung cấp thông tin đến việc tham khảo ý kiến, lấy ý kiến phản hồi từ công chúng đến việc huy động sự tham gia trực tiếp, hợp tác và trao quyền để công chúng đưa ra quyết định cuối cùng

Tác giả Sherry Arnstein trong bài viết “A ladder of citizen participation” [118] (Bậc thang sự tham gia của công dân) đã đưa ra các cấp

độ tham gia của người dân giống như các bậc thang với mỗi bậc thang tăng dần đại diện cho các cấp độ quyền lực, quyền kiểm soát và quyền tự quyết của công dân ngày càng tăng Arnstein đã đưa ra 8 cấp độ tham gia của công dân gồm: 1) Vận động (Manipulation); 2) Liệu pháp (Therapy); 3) Thông tin (Informing; 4) Tham vấn (Consultation); 5) Động viên (Placation); 6) Hợp tác (Partnership); 7) Uỷ quyền (Delegated Power); 8) Người dân kiểm soát (Citizen Control) Theo đó, tác giả cho rằng hai cấp độ đầu tiên là mức độ không tham gia (không có quyền lực); cấp độ 3,4,5 là mức độ tham gia hình thức và cấp độ 7,8 là mức độ tham gia thực chất của người dân

Tác giả James L.Creighton trong cuốn “The public participation handbook - Making better decisions through citizen involvement” (Cẩm nang

về sự tham gia của công chúng - Đưa ra quyết định tốt hơn thông qua sự tham gia của người dân) [124] đã đề xuất 8 hình thức với mức độ tham gia của

Trang 30

người dân từ thấp đến cao gồm: 1)Vận động; 2) Liệu pháp; 3) Cung cấp thông tin; 4) Tham vấn; 5) Động viên; 6) Hợp tác; 7) Uỷ quyền; 8) Trao quyền

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về sự tham gia của công chúng/ nhân dân vào quy trình ban hành chính sách, pháp luật nói chung, cũng có một số công trình nghiên cứu trực tiếp về sự tham gia của nhân dân vào HĐLP, chẳng hạn như:

Tác giả Dang Tat Dung trong Luận án tiến sĩ “The participation of civil society organization in the law-making process in Vietnam with reference to the United Kingdom” (Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong hoạt động

xây dựng pháp luật ở Việt Nam với kinh nghiệm từ Liên hiệp Vương quốc Anh) [120] đã nghiên cứu sự tham gia của các TCXH trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam với kinh nghiệm từ Liên hiệp Vương quốc Anh Việc nghiên cứu nhằm trả lời 3 câu hỏi: (1) Tại sao sự tham gia của các TCXH trong hoạt động xây dựng pháp luật là quan trọng và sự tham gia này

đã góp phần nâng cao chất lượng và số lượng các văn bản luật như thế nào? (2) Tại sao dân chủ đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật ? (3) Những cơ chế và yếu tố nào là phù hợp để thúc đẩy sự tham gia của các TCXH trong hoạt động xây dựng pháp luật, thực tiễn từ Việt Nam và kinh nghiệm từ Vương quốc Anh

Trong bài viết “Legislatures and Citizens: Public Participation and Confidence in the Legislature” (Lập pháp và công dân: Sự tham gia của công

chúng và niềm tin vào cơ quan lập pháp) của tác giả Karl T Kurtz [125] đã đi

từ lý giải lý do vì sao sự tham gia của công chúng lại quan trọng đối với dân chủ và phân tích những hiểu biết của công chúng về cơ quan lập pháp, tác giả

đã đi đến nội dung trọng tâm của bài là đưa ra các cách thức mà các cơ quan lập pháp có thể tăng cường sự tham gia của công dân và niềm tin của công chúng vào cơ quan lập pháp Theo đó, trọng tâm của vấn đề là thể chế lập pháp, cần giải quyết được các vấn đề như sự minh bạch của quy trình lập pháp, khả

Trang 31

năng tiếp cận với cơ quan lập pháp, quan hệ truyền thông, các nhóm lợi ích và giáo dục công dân (được xem là một chiến lược quan trọng để tăng cường sự tham gia của công chúng và niềm tin vào quy trình lập pháp bằng cách nâng cao hiểu biết về cơ quan lập pháp, quy trình lập pháp, các kỹ năng tham gia; tác giả cũng cho rằng sự giáo dục này là một quá trình ảnh hưởng lâu dài và nên bắt đầu từ khi còn nhỏ) Hình thức dân chủ trực tiếp thông qua trưng cầu ý dân

và sáng kiến lập pháp cũng được tác giả tiếp cận như là hình thức cao nhất cho

sự tham gia của công chúng vào quy trình lập pháp

“Public Consultations on Draft Legislation” (Tham vấn công chúng về

dự thảo luật) [133] là cuốn sách hướng dẫn thực hành cho cán bộ, công chức, những người có trách nhiệm tổ chức tham vấn công chúng ở Ukraine Cuốn sách nêu lên tầm quan trọng (vai trò) của việc tham vấn công chúng đối với

dự thảo luật và đưa ra các nguyên tắc trong tham vấn công chúng Cuốn sách cũng đưa ra các hướng dẫn cụ thể về việc lập kế hoạch và tổ chức việc tham vấn công chúng, từ việc xác định các bên liên quan (stakeholders), cách thức thông tin đến người dân, xác định thời gian, các phương pháp tham vấn (tham vấn trực tuyến bằng văn bản; điều trần công khai; thông qua hội nghị, hội thảo; một số phương pháp tham vấn khác như điều tra, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm,…) đến việc phân tích, báo cáo, đánh giá về từng công đoạn và kết quả của hoạt động tham vấn công chúng

Ksenia Ivanova, Electronic legislative initiative as a tool to improve citizens’ public activitivy in cyber space: common issues in the BRICS countries, Europe and the Russian Federation (Sáng kiến lập pháp điện tử,

công cụ để cải thiện hoạt động của công dân trong không gian mạng: các vấn

đề chung ở các nước BRICS, Châu Âu và Liên bang Nga) [127] Trong bài viết, tác giả nhấn mạnh trên khắp thế giới, các nghị viện, chính phủ, các TCXH dân sự và cá nhân các nghị sĩ đang thực hiện các biện pháp để quy trình lập pháp có nhiều hơn sự tham gia Một trong những giải pháp được đưa

Trang 32

ra là gia tăng các biện pháp dân chủ điện tử và sáng kiến lập pháp điện tử của công dân Tác giả đã phân tích những ưu điểm và nhược điểm về sáng kiến lập pháp điện tử của công dân ở các nước BRICS, Châu Âu và Liên bang Nga

và cung cấp những thông tin thực tiễn cho việc hoàn thiện sáng kiến lập pháp điện tử

ParlAmericas, Toolkit: Citizen Participation in the legislative process

(Bộ công cụ: Sự tham gia của công dân vào quy trình lập pháp) [132], ấn phẩm được tài trợ bởi Chính phủ Canada, là một cuốn sách hướng dẫn, đưa ra

bộ công cụ nhằm tăng cường sự tham gia của công dân vào quy trình lập pháp

ở các nước Châu Mỹ và vùng Caribe Cuốn sách hướng dẫn đã đưa ra thông tin khái quát về sự tham gia của công dân vào quy trình lập pháp Theo đó, sự tham gia của công dân vào quy trình lập pháp được hiểu là sự tham gia tích cực của công dân đối với các quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Cuốn sách cũng nêu lên tầm quan trọng về sự tham gia của công dân, các mức

độ tham gia (thông tin, tham vấn, tham gia và hợp tác) và các nguyên tắc về

sự tham gia của công dân Tiếp đó, cuốn sách đưa ra những hướng dẫn về giáo dục công dân và thúc đẩy sự tham gia; về các cơ hội cho sự tham gia của công dân vào HĐLP

Dragan Golubovic, An Enabling Framework for Citizen Participation

in Public Policy: An Outline of Some of the Major Issues Involved (Khuôn

khổ cần có cho sự tham gia của người dân vào chính sách công: Phác thảo một số vấn đề chính liên quan) [121] đã xem xét các khuôn khổ khác nhau về

sự tham gia của người dân vào chính sách công, đặc biệt nhấn mạnh đến sự tham gia của người dân vào quy trình lập pháp Theo tác giả, sự tham gia của người dân vào quy trình lập pháp là một phần quan trọng của khuôn khổ pháp

lý về sự hợp tác giữa chính phủ và các tổ chức dân sự, vì luật và các quy định chung khác thường là phương tiện chính để truyền tải và thực hiện chính sách công Bài viết cũng thảo luận về các khuôn khổ pháp lý cho sự tham gia của

Trang 33

công dân ở các nước Châu Âu và Liên minh Châu Âu như: Romania, Hungary, Bosnia và Herzegovina, Vương quốc Anh, Croatia và Áo Tác giả đưa ra nhận định, cho đến nay, có rất ít các quốc gia có cơ chế toàn diện cho

sự tham gia của người dân Ở một số quốc gia, sự tham gia của công dân được điều chỉnh bởi tập quán (ví dụ: Thụy Điển, Đan Mạch và Na Uy), trong khi ở những quốc gia khác, vấn đề này được đề cập một cách khá chung chung trong hiến pháp Ví dụ, Hiến pháp của Thụy Sĩ quy định nghĩa vụ chung đối với Chính phủ là phải tham khảo ý kiến của công dân

Karen Syma Czapanskiy & Rashida Manjoo, The Right of Public Participation in the Law-Making Process and the Role of the Legislature in the Promotion of this Right (Quyền tham gia của công chúng vào quá trình

xây dựng luật và vai trò của cơ quan lập pháp trong việc thúc đẩy quyền này) [126], phân tích phán quyết của Tòa án Hiến pháp Nam Phi trong vụ án

“Doctors of Life”, liên quan đến sự tham gia của công dân vào quá trình xây dựng luật Bằng việc phân tích quy định của pháp luật Nam Phi và pháp luật quốc tế về quyền tham gia của công dân vào đời sống chính trị; mô tả nội dung vụ án; phân tích vụ án dưới góc độ lý thuyết dân chủ tham gia; phân tích

so sánh với vụ án điển hình ở Hoa Kỳ, tác giả đã tập trung làm rõ bản chất và phạm vi nghĩa vụ hiến định của cơ quan lập pháp của tiểu bang trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của công chúng vào các quy trình lập pháp, cũng như hậu quả pháp lý của việc không tuân thủ điều đó Theo đó, quyền tham gia của công chúng vào quy trình lập pháp được xác định là quyền con người phổ quát, cần phải được tôn trọng Tòa này nhấn mạnh, cơ quan lập pháp không chỉ ngồi chờ người dân đóng góp ý kiến mà còn chủ động khuyến khích người dân tham gia; không chỉ thu nhận thông tin để làm

cơ sở cho luật pháp tốt hơn, mà còn thể hiện sự tôn trọng ý kiến của người dân Từ đó, khiến người dân gắn bó với chính quyền hơn và ít thờ ơ với các vấn đề chung hơn

Trang 34

Việc khảo cứu một số công trình khoa học ở ngoài nước có liên quan

đề tài luận án cho thấy có nhiều công trình nghiên cứu sự tham gia của nhân dân trong hoạt động/quy trình hoạch định chính sách công (mà HĐLP cũng là một trong những hoạt động hoạch định chính sách công) Một số công trình

đề cập đến các mức độ/hình thức/thang đo về sự tham gia của nhân dân trong quyết định chính sách công Tuy có các cách tiếp cận khác nhau nhưng các công trình này đều đề cập đến các mức độ khác nhau về sự tham gia của nhân dân từ thấp đến cao, với mức độ tham gia thấp nhất là thông tin (có tính chất một chiều) và hình thức tham gia cao nhất là hình thức theo đó người dân được trao cho quyền quyết định Trong số các công trình kể trên, cũng có công trình nghiên cứu về sự tham gia của nhân dân trong quy trình lập pháp ở một số quốc gia cụ thể Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; đồng thời gợi mở các kinh nghiệm của CCPL này ở một nước trên thế giới

1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đánh giá chung

Việc nghiên cứu các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án cho thấy, nhìn chung các công trình nói trên đã đóng góp những khía cạnh nhất định về lý luận và thực tiễn của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP, có thể tham khảo, kế thừa chọn lọc trong quá trình nghiên cứu luận án Một số nội dung có giá trị tham khảo tốt cho luận

án, chẳng hạn như:

- Một số công trình đã đưa ra cách tiếp cận khái niệm HĐLP, CCPL nói chung Một số công trình đưa ra những gợi ý tốt cho việc xây dựng khái niệm, xác định các yếu tố cấu thành và tiêu chí hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP

Trang 35

- Một số công trình nghiên cứu kể trên cũng đã có những phân tích nhất định về từng bộ phận cấu thành của CCPL như phân tích các quy định của pháp luật về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP (các quy định về nội dung quyền tham gia của nhân dân trong HĐLP; hình thức nhân dân tham gia trong HĐLP; trách nhiệm của CQNN có thẩm quyền) hoặc phân tích HĐLP của Quốc hội; sự tham gia HĐLP của một số chủ thể;…

- Một số công trình nghiên cứu đã phân tích về thực trạng thực hiện quyền tham gia của nhân dân vào HĐLP (nghiên cứu lồng ghép khi phân tích

về thực trạng thực hiện quyền tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật hoặc thực trạng thực hiện HĐLP); hoặc phân tích thực trạng thực hiện hình thức cụ thể để nhân dân tham gia trong HĐLP như lấy ý kiến nhân dân, trưng cầu ý dân…; hoặc thực trạng sự tham gia của các chủ thể khác nhau (MTTQVN và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội, các chuyên gia, nhà khoa học…) trong HĐLP Từ thực trạng đó, các công trình cũng đề xuất các định hướng, giải pháp để hoàn thiện những khía cạnh khác nhau của CCPL

Tuy nhiên, với các cách tiếp cận khác nhau nên các công trình nghiên cứu trên mới chỉ xem xét một số khía cạnh cụ thể của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP Nhìn chung, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam

1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đã cung cấp, gợi mở thông tin, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề trong một số nội dung của luận

án Tuy nhiên, nhiều vấn đề liên quan đến CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP chưa được nghiên cứu toàn diện, hệ thống

Để đạt được mục đích của luận án là nghiên cứu toàn diện, hệ thống CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam dưới góc độ của chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận án kế thừa có

Trang 36

chọn lọc kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học nêu trên và tiếp tục làm rõ một số vấn đề cụ thể như:

Về lý luận, các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu gồm: xây dựng khái

niệm CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; trình bày đặc điểm, vai trò của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; phân tích các yếu tố cấu thành và tiêu chí hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; các điều kiện bảo đảm CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP; nghiên cứu có chọn lọc CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở một số quốc gia trên thế giới và chỉ ra những giá trị có thể tham khảo cho Việt Nam

Về thực tiễn, các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu gồm: phân tích, đánh

giá thực trạng CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam (những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân)

Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP, luận án cần xây dựng được hệ thống các quan điểm và đề xuất các giải pháp hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam

1.3.3 Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, NCS xác định giả thuyết khoa học của luận án như sau:

Để đảm bảo cho quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân ủy quyền nhưng không bị mất quyền, cần có cơ chế để nhân dân được tham gia vào hoạt động của nhà nước, đặc biệt là HĐLP Trong thời gian qua, tuy CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam đang dần được hình thành và đạt được một số kết quả nhất định nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, dẫn đến tình trạng một số quy phạm pháp luật trong các văn bản luật (sản phẩm của HĐLP) không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân Thực trạng trên đòi hỏi cần phải có một CCPL toàn diện bảo đảm sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam hiện nay

Trang 37

Từ giả thuyết nghiên cứu như trên, luận án cần phải trả lời các câu hỏi sau:

1 CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP là gì? Cơ chế này được cấu thành bởi những yếu tố nào và được đánh giá dựa trên các tiêu chí nào? Các điều kiện bảo đảm của CCPL này trên thực tế?

2 CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam được vận hành trong thực tiễn như thế nào? Kết quả đạt được và hạn chế, thiếu sót

về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam” Qua đó cho thấy, đã

có nhiều công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP đã được các tác giả đề cập đến như quan niệm về nhân dân, khái niệm HĐLP, một số quy định pháp luật về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP,… Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP dưới góc độ của chuyên ngành Lý luận và lịch

sử nhà nước và pháp luật một cách toàn diện, có hệ thống Tình hình nghiên cứu đặt ra nhiều vấn đề cả lý luận và thực tiễn CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP cần giải quyết nhằm xác định được các quan điểm và giải pháp tiếp tục hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 38

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ

SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP

2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN TRONG HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP

2.1.1 Một số khái niệm liên quan

2.1.1.1 Khái niệm hoạt động lập pháp

Trong khoa học pháp lý, lập pháp được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau như: quyền lập pháp, lĩnh vực lập pháp, quy trình lập pháp, HĐLP, Xét từ góc độ là một loại hoạt động của nhà nước, cũng có nhiều quan điểm khác nhau

về HĐLP

Theo nghĩa rộng, HĐLP được định nghĩa như sau:

“Hoạt động lập pháp là hoạt động làm ra pháp luật, tức là hoạt động của một CQNN có thẩm quyền quyết định về các quy phạm pháp luật

cụ thể trong VBQPPL và chính sự quyết định này đem lại hiệu lực pháp lý cho các quy phạm pháp luật đó, làm cho các quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các thủ thể mà nó tác động lên Các hoạt động khác trong quy trình lập pháp, ví dụ dự thảo, tham vấn, đánh giá tác động quy phạm, có thể được gọi là hoạt động hỗ trợ lập pháp” [52, tr.25]

Theo cách tiếp cận này, HĐLP được hiểu là một hoạt động ra quyết định của CQNN có thẩm quyền về các quy phạm pháp luật cụ thể trong các VBQPPL (gọi chung là hoạt động làm ra pháp luật) Như vậy, HĐLP được hiểu không chỉ

là hoạt động ban hành văn bản luật mà còn là hoạt động ban hành tất cả các loại VBQPPL HĐLP theo nghĩa rộng có phần tương đồng với hoạt động xây dựng pháp luật

Theo nghĩa hẹp, HĐLP chỉ là hoạt động ban hành các đạo luật, chứ không

phải toàn bộ các VBQPPL Cùng tiếp cận khái niệm HĐLP theo nghĩa hẹp, các nhà khoa học lại đưa ra các định nghĩa dưới các góc độ khác nhau

Trang 39

Có tác giả xác định HĐLP gồm các hành vi pháp lý kế tiếp, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện nhằm ban hành các đạo luật Chẳng hạn như:

“Hoạt động lập pháp là một dạng hoạt động phức hợp bao gồm một phạm vi rộng, gồm các hành vi pháp lý kế tiếp nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, do nhiều chủ thể có vị trí, chức năng quyền hạn khác nhau tiến hành nhằm đưa ý chí của nhân dân, đường lối, chủ trương của Đảng thành các đạo luật đáp ứng nhu cầu đời sống pháp luật của

xã hội” [55, tr.17]

Có tác giả lại tiếp cận HĐLP trên cơ sở quyền lập pháp và trong mối quan

hệ với quyền hành pháp và quyền tư pháp Theo đó:

“Lập pháp được hiểu là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiện trên cơ sở quyền lập pháp, theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các CQNN trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp HĐLP được tiến hành qua nhiều giai đoạn khác nhau với nhiều chủ thể khác nhau nhưng đều với cùng một mục đích là

ban hành luật” [73, tr.22]

Như vậy, tác giả xác định HĐLP gồm nhiều giai đoạn khác nhau và do nhiều chủ thể khác nhau cùng thực hiện Trong từng giai đoạn, các chủ thể HĐLP thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp và hướng tới mục đích là ban hành luật

Quan điểm trên phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 Theo đó, Hiến pháp năm 2013 không còn quy định Quốc hội là cơ quan “duy nhất” có quyền lập hiến, lập pháp, mà quy định “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp” Hiến pháp năm 2013 khẳng định Quốc hội là chủ thể thực hiện quyền lập pháp, có vai trò quyết định trong HĐLP Ngoài Quốc hội, còn có các chủ thể khác cùng tham gia vào các giai đoạn khác nhau của HĐLP Mục đích của HĐLP là ban hành các đạo luật và các đạo luật này phải bảo đảm phản ánh được

ý chí, nguyện vọng của nhân dân Bởi thuộc tính cơ bản, xuyên suốt của HĐLP

Trang 40

là “đại diện cho Nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của Nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà Quốc hội là cơ quan duy nhất được Nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật” [39]

Từ những phân tích trên, có thể hiểu HĐLP là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiện trên cơ sở quyền lập pháp, bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau nhằm đưa ý chí chung của nhân dân thành các đạo luật

2.1.1.2 Quan niệm về nhân dân và sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp

* Quan niệm về nhân dân

Nhân dân là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ chính trị - pháp lý, nhân dân được tiếp cận đặt trong mối quan hệ với Đảng và Nhà nước khi thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn đặt nhân dân Việt Nam ở vị thế đặc biệt trong mối quan hệ với Đảng, với Nhà nước Người cũng đưa ra những quan niệm sâu sắc về nhân dân Người sử dụng nhiều thuật ngữ để chỉ nhân dân như dân, quần chúng, đồng bào,… Theo Người, “Dân là mọi người dân Việt Nam; là mọi con dân nước Việt; là mỗi người con Rồng cháu Tiên, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện, trong đó công nông chiếm tuyệt đại đa số” Như vậy, nhân dân trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “là mọi con dân nước Việt”, có nghĩa là mọi người dân Việt Nam dù sinh sống ở trong nước hay

ở nước ngoài không phân biệt tuổi tác, giới tính, giàu, nghèo Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đánh giá rất cao vị trí, vai trò của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng Người xác định nhân dân là mục tiêu đồng thời là động lực của cách mạng Việt Nam Người đặt nhân dân ở vị trí trung tâm của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước [3, tr.42] Trong mối quan hệ với quyền lực nhà nước, Người luôn khẳng định quyền làm chủ của nhân dân Người nêu rõ: “Ở nước ta

chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ Nhân dân bầu ra các hội

đồng nhân dân, ủy ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng

Ngày đăng: 21/08/2022, 14:41

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w