Đề tài nghiên cứu Bà đồng trong Đạo Mẫu (qua nghiên cứu trường hợp bà đồng Trần Thị Vân - Thủ nhang phủ Nấp, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trình bày tổng quan về Đạo Mẫu và trường hợp bà đồng Trần Thị Vân ở huyện Ý Yên, Nam Định và phân tích giá trị văn hóa của hiện tượng này trong đời sống tâm linh.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO _ˆ BỘ VĂN HÓA THẺ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG DẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
PHẠM XUÂN THỊNH
A DORG TRORG DAO HAT
QUA NGHIEN COU TRUONG HOP BA DONG TRAN TH] VAN-
‘THU NHANG PHỦ NÁP, HUYỆN Ý YÊN, TÍNH NAM ĐỊNH
“Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 60 31 0
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HUONG DAN KHOA HOC: 'GS.TS NGÔ ĐỨC THỊNH
HÀ NỘI -2011
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TONG QUAN VỀ ĐẠO MẪU VẢ NGHỊ LỄ LÊN ĐÔNG 9
12 Đạo Mẫu trong i quan hệ với hệ thống tôn giáo và tin ngưỡng — 15 ccủa người Việt
(CHUONG 2: BA ĐÔNG TRÀN THỊ VÂN - THỦ NHANG PHU NAP 36
2.1 Phi Nắp, thôn Vì Nhuễ, huyện Ý Yên, tinh Nam Định 36 2.1 Phủ Nấp trong truyền thuyết và lịch sử ra đi 36
Trang 3'CHƯƠNG 3: GIÁ TRI VĂN HÓA CUA BA BONG TRONG DAO MAU QUA NGHIEN CUU TRUONG HOP BA TRAN THI VAN
3.1 Khát vọng tài lộc, sức khỏe và may mắn
3.2 Binh ding gi6i - một giá tị đặc trưng,
3.3 Dao dite và niễm tin
Trang 5
là tại các lễ hội, đn thánh, phủ mẫu Lên đồng hay còn gọi là hẳu đồng, hầu bóng, đồng bóng là một nghỉ thức trong hoạ động tin ngưỡng dân gian (đồng Shaman giáo) của nhiều đân tộc, trong đồ có tin ngưỡng dân gian Việt Nam
`VỀ bản chất, đây là nghỉ thức giao tiếp với thần lĩnh thông qua các tín đồ Shaman giáo ông đồng, bà đồng)
Nhi hội hảo Khoa học nghiền cứu về tín ngường dân gian Việt Nam, tong đồ có lên đồng đã được tổ chức, nhiều ấn phẩm của các học gi đã được xuất bản Tuy nhin, hẳu như chưa có nghiền cứu nào chuyên su vẻ đời sống của các ông đằng, bà đồng Vai rồ của ông đồng, bà đồng trong tín ngường
din gian nhu thé nio? Tại sao họ lại trở thành ông đồng, bà đồng? Sự khác
biệt giữa ông đồng, bà đồng với các tín đổ Shaman giáo ở
xe như thể nào? Đ là những câu hồi cằn được trả lệ
không chỉ của các nhà văn hồa,
nước trong khu
, kêu gọi sự quan tâm
Việt Nam sự nghiệp đôi mới bắt đầu từ năm 1986 của thể kỹ XX trên
cả mặt nhận thức và tư duy và hành động Trước đô vào các thip ky 60 - 80, vige nghién cứu tôn giáo tín ngưỡng gần như bị đóng băng bởi các điều cắm
y về thể giới quan, nhân sinh quan, do vây việc nghiên cứu về lĩnh vực này hầu như bị hạn chế, Chính sch mở cửa và tăng trưởng kính tế những năm qua
‘Vige ti diễn trở li những sinh hoạt văn hóa cỗ truyền với ý thức tìm về cội
ún ngưỡng và truyền thống dân gian Vi
Trang 6nguôn - bản sắc văn hóa đang là một thực tế sống động trong cộng đông người dân Việt Trong bối cảnh như vậy, các nghỉ lễ hầu dong, hau bong bắt
đầu sôi động ở lại và có ý kiến đề xuấttằng đây là một sinh hoạt văn hóa cổ truyền cằn được bảo tồn Tình hình này đôi hỏi chúng a cần có những nghiên cứu cập nhật và thiết dụng về những hiện tượng trên Đây cũng là lý do tôi chon đề ti "Bà đồng trong đạo Mẫu - Qua m
‘dng Trần Thị Vân, Thũ nhang phủ Nắp, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Dịnh”
lên cứu trường hợp bà
`VỀ nguồn gốc, có thể nói Hầu đồng, Hầu bóng thực chất là một trong
những tin ngưỡng văn hóa có từ lâu đời liên quan đến tục thờ Mẫu của người
Việt cổ Trong nhiều năm gần đầy, đặc bit là từ sau khi đắt nước đổi mới đã
sỗ nhiễu công trình nghiền cứu về tôn giáo tín ngường của nhiễu học giả đã được ra đời, đc biệt là các công tình của GS.TS Ngô Đức Thịnh về đạo Mẫu Vit nam trong đó có Lên đồng Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có không ít
"người bản bạc và có thái độ nhìn nhận với đạo Mẫu và các hình thức Shaman giáo, trong đồ có Hầu bóng - Lên đồng với con mắt tiêu cục Không ít người trong 46 đặ câu hôi rằng đạo Mẫu và Lên đồng có điều gì là iều cực, m Xhông phủ hợp với nhận thức và
sống của con người trong xã hội hiện đại
“rong giải đoạn từ năm 2009 - 2011, Bảo tìng phụ nữ Việt Nam đã và tiếp ụe tiễn hành ổ chức trưng bày chuyên đề “Đạơ Mẫu vỡ cuộc sống của
"những người hẳu đồng”, quả tình nghiên cứu đồ cũng đã giúp tôi có điều
ông bà đồng trong xã hội dưới nhiều giác
Trang 7số nhiễu công trình khoa học về đạo Mẫu và nghỉ ễ hầu đồng như Ván Cát
thân nữ (1990), Tứ bắt tử (1990), Hát văn (1993), Đạo Mẫu ở Việt Nam
(1996), Tín ngường thờ mẫu ở Trung Bộ (3003), Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt Nam và châu Á (2104), Lên đẳng - Hành trinh cia thin link va than phận (2010) , Nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế đã được tổ chức tại Hà Nội, Nam Định và Tién Giang 'Đạo Mẫu và Hầu đồng cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiễu học giả Nga,
Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Các nhà nghiên cứu nước ngoài căng bắt dầu thâm nhập vào thể giới của loại ngưỡng dân gian
"mà tiêu biểu phải ni đến đó la GS-TS Lauren Kendal (Bao ting Lich sr tw nhiên Hoa Kỳ) với Hợp tyễn Những phương pháp tệp cân nhân học về tôn
ai rõ gì tong đời ng xã hội và công đồng
VÀ việc nghiên cứu vấn để thông qua nghiền cứu trường hợp cụ thể thì
đã có một công trình của tác giả Chu Xuân Giao với đề tà: Dời ng, vai trò
‘va ban chất của thay Tảo người Nùng An qua trường hợp bản Phia Chang (xã
Phúc Sen, huyện Quảng Hỏa, tỉnh Cao Bằng) bảo vệ thành công năm 2000
"Đây sẽ là một tả liệu tham khảo cho chúng tôi về phương pháp nghiên cứu
trong quá trình thực hiện luận văn này
~ Nhiệm vụ nghiên cứu:
‘Tim hiểu nhãn vật bà đồng rong đời sắng hiện nay
Trang 8"Những giá tị văn hóa của bà đồng rong đạo Mẫu thông qua nghiên cứu một trường hợp bà đồng cụ thể
4, Đồi trợng và phạm vĩ nghiền cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giới hạn vào việc khảo sắt về đời sống và vai trỏ của bà đồng Trần Thị Vân, thủ nhang ở Phủ Nắp,
~ Phạm vi nghiên cứu: Địa bản chọn mẫu nghiên cứu khảo sắt là đời sống tín ngưỡng của cộng đồng ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Mỡ rộng ra ở địa bàn Hà Nội và một số tính lần cận
5, Phương pháp nghiên cứu
~ Nhâm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, so sính, phân loại
~ Nhôm phương pháp nghiên cứu thực địa Điều tra, khảo sắt thực tiễn, phông
giáo tín ngưỡng và phương pháp nghiên cứu trường hợp
sâu, phương pháp quan sát tham dự, phương pháp nhân học tôn
~ Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp xử lý sổ liệu thống kể, so sinh
Và văn bản học
ó Đồng gấp của luận văn
KẾI quả nghiên cứu đ tà là công trình chuyên sâu về bà Đồng trong đạo Mẫu Luận văn làm nỗi bật những giá tì
đồng, đồng thời đưa ra những nhận định đúng đẫn đối với vn đề này in héa tích cực cơ bản của ông bà
Ding gốp thết thực của việc khảo sắt thục dia st gdp thêm nguồn tài liệu cho những ai quan tâm đến vấn đỀ ông bà Đồng trong đạo Miu Két qua
"nghiên cứu của luận văn góp phần nhận thức đúng din hơn về ông bà đồng Qua d6 ghi nhin những đóng gốp của ông bà đồng tong đạo Mẫu với đời sắng tín ngường công đồng
Trang 9
7 Kết cầu của luận vẫn
Ngoài phần mở đầu; kết luận; tả liệu tham khảo, mục lục và phụ lực
Luận văn gồm 3 chương
“Chương 1: Tổng quan về đạo Mẫu và nghĩ ễ Lên đồng
“Chương 3: Bà đồng Trần Thị Văn Thủ nhang phủ Nip
“Chương 3: Giá ị văn hóa của bà đồng tong đạo Mẫu qua nghiên cứu trường hợp bà đồng Trần Thi Van,
Trang 10CHƯƠNG TONG QUAN VE DAO MẪU VÀ NGHỊ LÊ LÊN ĐỒNG
1-1 Tín ngưỡng ở Việt Nam và đạo Mẫu
Việt Nam nim trong co ting văn hóa Đông - Nam Á cổ, tải rộng lên phía Bic dén tan sing Dương tử, phía Tây lan ra tận vùng Atram của Ấn Độ, thâm chí có dẫu vết lên tối tân Madagaxea Là cộng đồng các cư dân nông
"nghiệp lúa nước nên từ chuyện thần thoại đến lễ hồi, từ phong tục tập quản
đến âm nhạc nghệ thuật đều là của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Nằm
giữa 2 nền
hóa lớn Trung Hoa và Án Độ, nết đặc rung của nỀn văn hóa này là khả năng tiếp nhân, thầu hóa những yếu tổ văn hóa bên ngoài để làm giàu thêm, phong phú thêm những bản sắc văn hóa Đông - Nam Á, Một đặc điểm có thể nổi quan trọng ở Đông - Nam A la vai td quan trọng của người phụ nữ, dại bộ phận cư đân ở vũng này đã tải qua một giai đoạn con lấy họ
me, người đần bà làm chủ gia đình, con gãi tìm chồng, rồi đưa người chẳng
về làm việc cho gia đình mình Như vây, rong tín ngường của người Việt
Nam và một số dân tộc anh em khác „ việc tôn thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần là
một hiện tượng khá phổ biển và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa Trong
"huyền thoi và truyền thuyết của các dân tộc, ta thấy một số lượng lớn các nữ thần được để cập đến, ĐỂ tạo lập vũ trụ có công của Nữ thần Mặt trời và Nữ thần Mặt răng, các bà đã oi sáng và sười ấm cho mặt đắt ừ thuở cỉ
6 bin,
"nước và bóng ôi Huyễn thoại bà Nữ Oa cùng ông Tứ Tượng đội đá vá tời, xây núi, khơi sông mà trong một cuộc tỉ tải bà Nữ Oa đã chứng tô được sức
"mạnh của mình nên đã giành chiến thẳng Tạo ra mây mua, sim chớp, gió bão
là các nữ thin: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Diện (Tứ Pháp hay Pháp
Phong) Các yếu tổ mang yếu tổ bản thể của vũ trụ cũng được dân gian gắn
Trang 11cho nữ tính, đồ là Bà Thúy, Bà Hỏa, Bà Kim, Bà Mộc, Bà Thổ bay gọi chung
`Vân Nga, Nguyên phí Ÿ Lan, nữ tướng Bùi Thị Xuân Các vị nữ thần kế trên
tặ bao đời nay đã được nhân dân ta ôn thờ làm Thánh, Thần được các triều đình sắc phong thành các vị thần, Thành hoàng của làng: Liễu Hạnh là Thành hoàng của nhiều làng; Hai Bà Trưng được thờ ở 408 lang, ba Đanh ở Nghệ An; bà Đá ở Hải Dương; Hưng Yên; Linh Sơn Mị nương ở Bắc Ninh Nhiều
nữ thần được sắc phong là Thượng đảng thắn, có người như Liễu Hạnh công
chúa được dân gian tôn vinh là một trong Tứ Bắt Tử của đắt nước
Năm trong vùng văn hóa Đông Nam Á, với khi hậu nhiệt đói gió mùa, xới phương thức sản xuất trồng lúa là chủ yếu nên rong quan niệm, ỗi nghĩ dến nếp sông của người Việt tôn thờ những sự vật, hiện tượng liền quan dn đời sống nông nghiệp như thẫn Đắt, thần Nước, thần Lúa đều đồng nhất với
Âm và nhân hóa thành nữ tính - Mẹ Không những thể, nhiều hiện tượng vũ trụ và tự nhiền cũng được người Việt gắn cho nữ tính Dĩ sâu hơn nữa vào đời
sống của người nông dân trồng lúa nước, đất và nước là những diều kiện quan
trong bàng đầu, nó nuôi sắng cây lúa để sinh sản ra thóc gao nuôi sống con người cho nên từ lầu người dân coi đắt, nước và cây úa như thắn inh, ding
hơn là một bí tượng mang tính thiêng liêng và các vị thẳn đó đều mang nữ
tink: me Dit, mẹ Nước và mẹ Lúa Quy trình canh tác cấy lúa từ lúc cay x6,
Trang 12ieo cấy, chăm sóc và thụ hoạch đều được mỡ đầu bằng nghỉ lễ Nhiễu khâu cing vige trong trồng cấy lúa đều gắn với phụ nữ, dành cho phụ nữ, a0 ra những kiêng ky đổi với nam giới Bởi tế, việc trồng lúa và tín ngường trồng lúa gắn với vai rồ và vi í của người đân bà - người Mẹ
Như vậy, đạo Mẫu với tục thờ Mẫu thần, Mẫu Tam phú, Tứ phủ (Tam
tòa Thánh Mẫu) có quan hệ mật thiết với tục thờ Nữ thằn, nhưng không phải
là đồng nhất Nói cách khác Mẫu đều là Nữ thần, nhưng không phải it cả các
nữ thần đều là Mẫu thần, mà chỉ một số Nữ thần được tôn vinh là Mẫu thin
Rõ ràng là đạo Mẫu gắn iễn với tục thờ Mẫu dân gian, nhưng như thế không
số nghĩa mọi Mẫu thần đều thuộc điện thần của đạo Mẫu Mẫu Tam phủ Tứ phủ tức Tam tỏa Thánh mẫu là một bước phát triển, một quả trình phát iển
từ một số hành vi tôn thờ rời rạc đến một thứ tin ngưỡng, một đạo có tính hộ thắng hơn Danh xưng Mẫu là gốc từ Hán Việt, còn thuần Việt là Me, Mu (hỗ ngữ miỄn Trung) Nghĩa ban đầu, Mẫu hay Mẹ đều để chỉ một người phụ
nữ đã sinh ra một người nào dó, là tiếng xưng hô của con đối với người sinh
a mình Ngoài ý nghĩa xưng hô thông thường, từ Mẫu và Mẹ còn bao hàm ý nghĩa tôn xưng, tôn vinh như Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu nghỉ Thiên hạ Tuy chưa thông kế đầy đủ, nhưng cách tôn xưng là Mẫu, Quốc Mẫu
‘Vuong Mẫu, Thánh Mẫu đu liên quan đến các trường hợp sau:
~ Các vị Thánh đứng đầu trong tín ngường thờ Mẫu Tứ phô: Mẫu Liễu
Hạnh, Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa, Thánh
mẫu Thiên Yana đều được tôn xưng là Thánh Mẫu
~ Các
li hậu (mẹ Vua), Hoàng Hậu (vợ Vus), Công chúa (con Vua)
số ải năng, đức độ, có công lớn lao, hiển lĩnh tì được tôn vinh là Mẫu: Quốc Mẫu, Vương Mẫu Đó là ác trường hợp Hoàng hậu và 3 công chúa con vua
“Tổng (Tống hậu), Thái Hậu họ Đổ (2) thờ làm Thành Hoàng ở làng Dịch
'Vọng, Từ Liêm, Hà Nội Tương truyền bà là mẹ vua Lý Thần Tông, Quốc
Trang 13Mẫu (có nơi gọi là Thánh mẫu), Ÿ Lan ở Quán Đồng Thiên, phố Đồng Thiên,
ở đến Ba Tam, Gia Lâm, Hà Nội Con gái vua Hùng Nghị Vương, tôn là
Thánh Mẫu thờ ở đền Cao Mai, huyện Phong Châu, Phú Thọ, vợ vua Hùng căng được phong là Tây Thiên Quốc Mẫu, đền thờ ở đính núi Tây Thiên thuộc tình Vĩnh Phúc
Một vài trường hợp khác được tôn xưng là Mẫu như Diệp phu nhân,
được tôn vỉnh là Quốc mẫu Thánh ân thờ ở ngôi dễn cùng tên ở huyện Trấn Yên, Yên Bái Hay nữ thin Tam Đâo, là mẹ của thần núi Tân Viên cũng được
phong làm Quốc mẫu (Tru quốc Thái phu nhân hay Quốc mẫu sơn thượng
dẳng thần, dễn thờ ở Tam Dương, Phú Thọ Mẹ thân sinh ra Thinh Gióng cũng được xung là Vương Mẫu và lp đền thờ ở cạnh Đền Gióng, Sóc Sơn,
Hà Nội Ở miễn Nam có các miễu, điện thờ Nữ thần với danh xưng là Chúa Phổ biến hơn cả là các miều thờ Bà Chúa Ngọc, bà Chúa Xứ mà nhiều nơi
đồng nhất bà với Thánh mẫu Thién Yana, [25, tr 29 - 30]
“Các miễu đỗ nằm rả rác sut từ Trung và Nam Trung bộ, vào ti tân
Nam bộ, là hiện tượng Việt hóa nữ thần Pô Inư Nugar của dân tộc Chăm đã
trở thành vị thẫn của người Việt phương Nam Các vị thẳn chủ núi Sam (Bà
“Chúa Xứ) và núi Linh sơn (Bà Đen) cũng đều được tôn xưng là các bà Chúa
'Ngoài ra còn có các bà chúa khác theo như cách gọi của người Việt Nam bộ như: bà chúa Sắt (bà chúa Thiếc), bà Kim, bà Mộc, bà Thủy, bà Hóa Một số
nữ thần này cũng được tôn vinh là Mẫu, Thánh mẫu như Thánh mẫu Thiên
‘Yana, Linh Som Thanh miu - Bà Đen VỀ cội nguồn và bản chất thì việc thờ
"Nữ thần và Mẫu thần vừa nêu đều thuộc tin ngưỡng thờ thắn của người Việt
"Nam mã theo như nhà khảo cứu Toan Ảnh đã gọi là Đạo thờ thần Đó là việc
các Thánh sự, Thành Hoàng, các vị thin Tir bit
Trang 14yo Mẫu Tứ phủ so với tín ngưỡng thờ thần đã có bước phát triển
"mộ tín ngưỡng dân gian bước đầu đã chứa đựng những nhân tổ về một hệ thắng vũ trụ luận nguyên sơ, một vũ tụ thông nhất chỉa thành bốn miễn do bốn vị thánh Mẫu cai quản Đó là miễn trời (Mẫu Thiên, miễn đắt (Mẫu Địa),
miễn sông biển (Mẫu Thoải) và miền núi rừng (Mẫu Thượng ngản) Một tin
"ngường bước dẫu th hiện một ý thức nhân sinh, ý thức về Phúc, Lộc, Thọ, ý thức về côi nguồn dân tộc, lòng yêu nước Một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được nh thiêng hóa mà Mẫu chính là biểu tượng cao nhất Một tín ngưỡng
dan gian đã bước đầu hình thành một hệ thống thờ cúng trong các đẻn phủ,
những nghĩ ễ đã được chuẳn hóa, trong đó có Lên đồng (Hẫu bóng) và Lễ hồi Tháng tắm giỗ cha, thắng ba giỗ m‡`là một điễn hình, Tắt nhiên, bên cạnh
đồ đạo Mẫu Tam phủ Tứ phủ côn ấn chứa nhiều yếu tổ của tín ngưỡng, ma thuật dân gian, những sắc thái và những biển dạng địa phương, khiến người
"mới bước vào tim hiểu linh vực này cảm thấy như bị lạc vào thể giới th linh hồn độn, tủy tiên, phí hệ thống
"Để tục thờ Thần, Nữ Thần và Mẫu Thần phát iển lên thành đạo Mẫu
“Tam phú, Tứ phú thì những ảnh hưởng của Đạo giáo (Trung Quốc) có vai trò
«quan trọng Dạo Mẫu và ác ín ngưỡng dân gian khác tiếp thu ảnh hưởng của
ao gido Trung Quốc về nhiều phương điện Đó là các quan niệm về tr hiên, đồng nhất con người với tự nhiên, về quan niệm Tử Phủ, Tam Phủ, một
số vị thánh của Đạo giáo thâm nhập vào diện thần Tứ Phủ như Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Nam Ti
không có quan niệm Tam Phủ mà chỉ có Tam Quan (Thiên quan, Địa quan, Bic Diu Trong Đạo giáo Trung Hoa
Trang 15“Thủy quan), mà đứng đầt là các vị nam thẫn Phải chăng khải niệm Tam quan của Trung Hoa đã trở thành Tam phủ của Đạo mẫu Việt Nam? Thể còn Nhạc phủ cũng có nguồn gốc th vị thẫn núi đã được tiếp nhận vào điện thin đạo
Mẫu và trở thành Tứ phử? Như vậy, trên cơ sở tín ngưỡng Mẫu Thần dân
gian, với những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc đã hình thành và định ình đạo Mẫu Tam phô, Tứ Phủ (Tam tòa Thánh Mẫu), một thứ đạo giáo đặc thù của Việt Nam, có thể nói một cách ngắn gọn hơn và thực chất hơn đó là
đạo Mẫu
'Qua phân tích, có thể thấy rằng đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ hình thành
và phát iễn trên nên tăng thờ Nữ thẫn và Mẫu thần, nhưng sau khi đã bình thành rồi tì đạo Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ lại tác động ảnh hưởng theo xu hướng “Tam phủ, Tứ phủ hóa" tứn ngường thờ Nữ thần và Mẫu thần Điều này có thể thấy ắt rõ ở các đền, miễu thờ Nữ thần và Mẫu thần, thể hiện cách
phối thờ, các bình thức trang trí, tranh tượng, các ễ vat va tue hat chiu văn
Dưới góc độ triết học, dạo Mẫu ngày nay chính là một cách thức phản ảnh õ nết nhất của chủ nghĩa thực dụng với những khắt vọng thực tế Chủ
"nghla thực dụng ở diy chin là lấy kính nghiệm, hiệu quả, công dụng làm tiêu
chuẩn Theo chủ nghĩa thực dụng, những gì tổn tại đều là những yếu tổ của
kính nghiệm Chủ nghĩa thực dụng co kỉnh nghiệm như là cái bao him trong
"sổ cả vật chất và ý thức, cả khách quan và chủ quan
Ẻ nhận thức luận: chủ nghĩa thục dụng coi ý nghĩa của sự vật, của
khái niệm không phải là cát gì có sẵn, vốn có của nó, mà chỉ biểu hiện ra
trong quan hệ cụ thê, trong công dụng thực tÈ Giá trị của tư tưởng hay lý luận
Không phải ở chỗ nó có phản ánh đúng dẫn hiện thục khách quan hay không,
"mà là ở chỗ nó có đem lại hiệu quả thực tế hay không
Vé téu chuẩn của chân lý: Chân lý không phải là hình ảnh chủ quan
của th giới khách quan, mà là mối liên hệ giữa các kinh nghiệm với nhau
Trang 16
si đem lạ lợi ích và hiệu quả hữu dụng thì nó là chân lý, mà không cần
xem nó có phù hợp với thực tế khách quan hay không Chân lý theo quan
niệm của chủ nghĩ thục dụng chỉ có ính chất tương đổi, tùy theo từng người, tảng hoàn cảnh, từng thời gian và địa điểm áp dụng khác nhau,
L2 Đạo Mẫu trong mối quan hệ với hệ thống tôn giáo và tín
ngưỡng của người Việt
Tín ngưỡng tôn gián à một hình thái ý thứ xã hội, ra đời và phát triển
từ hàng ngân năm nay Quá trình tổ ti và phát tiễn của tín ngường tôn giáo
nh hưởng khá sâu sắc đnđời sống chính tị văn hoá, xã hội, đến âm ý, đạo
đức, lỗi sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, cquốc gia, trong đó Việt
"Nam không là một ngoại lệ Việt Nam là quốc gia có nhiễu loại
"ngường tôn giáo, Với vĩ địa lý nằm ở khu vực Đông Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuân lợi tong mỗi giao lưu với các nước trên thể giới và
Ất dễ cho vi
giáo trên th giới VỀ mặt dân cứ, Việt Nam là quốc gia đa đân tộc với 54 dân
tộc anh em Mỗi dân tộc, đặc biệt là người Việt dều lưu giữ những hình thức
tín ngưỡng, tôn gio riêng của mình Người Viêt có các hình thức tín ngường
«an gian như thờ cũng ông bà tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ những người có sông với công đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh Đồng bào các dân tộc thiểu
số với hình thức tín ngưỡng nguyên thuỷ (còn gi à tín ngưỡng sơ khai) như
“Tô tem giáo, Bái vật giáo, Shaman gi
LỞ Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc ừ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo có ôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như Thiên chúa giáo, TÌn lành; có tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như Đạo Mẫu, Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo Có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo
luật, lễ nghỉ và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai Có.
Trang 17những tôn giáo đã phát tiễn và hoạt động ôn định; có những tôn giáo chưa ôn
inh, dang rong quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phủ hợp
"Người Việt Nam chấp nhận mọi thứ tín ngưỡng tôn giáo, đủ bản địa
"hay ngoại lai, miễn là nó phù hợp với nền tảng đạo đức, tâm lý chung của dân
tộc Các tôn giáo ín ngưỡng này không rạch rồi phân biệt, mà chúng thường thâm nhập và lồng ghép vào nhau Người theo đạo Phat van thờ cúng ổ tiên
“Thành Hoàng, thờ Thắn, Mẫu Các tôn giáo từ ngoài du nhập vào thường bị biến dạng để thích nghĩ với đời sống tăm linh của con người Việt Nam, nên
xu hưởng "dân gian hồ
các tôn giáo là các hiện tượng dễ thấy, như với đạo
Phật, đạo Không, đạo Lão và ở mức độ nào đó cả đạo Thiên chúa nữa Người
Việt Nam theo nhiễu dao, nhưng không hướng về các giáo lý cao xa hay
cuồng tín sỉ mê mà chủ yếu khai thác các mặt dạo lý, cách thức ứng xử giữa
con người với con người Cùng một loại hình Đạo giáo, đạo Mẫu rắt gần gũi
với đạo thờ Tiên trong cả quan niệm, thẫn điện và nghỉ thức thờ cúng Hơn thể nữa, vị thẫn chủ của đạo Mẫu là Liễu Hạnh công chúa, đồng thời cũng là một vị tiên tiêu biểu của Việt Nam Đồ là chưa kể các hình thức, nghĩ lễ cầu Tiên, Luyện Đẳng, Giáng Bút của 2 loại đạo này cũng có rắt nhiều nét vay mượn của nhau Cũng xuất phát từ đạo thờ Thắn, nhưng giữa đạo Mẫu và thờ
“Thành Hoàng ở các làng xã ít có quan hệ gắn bó, mặc dù nhiều vị thánh của
đạo Mẫu đồng thời cũng là Thành Hoàng của khá nhiều làng xã Phải chăng,
cũng gốc thờ thắn, nhưng tục thờ Thành Hoàng đi theo con đường tiếp thủ
"Nho giáo và chịu sự kiểm soát của rễu đình thông qua việc phong sắc thần
ho các Thành Hoàng, côn đạo MẪU lại tiếp thủ Đạo giáo và nằm ngoài ving kiêm soát của tiểu đình, có lúc côn tử thành đổi địch, các tiều đại phong
kiến không thừa nhận thứ đạo này Đạo Mẫu cũng tiếp thu những ảnh hưởng
của lục thờ cũng ổ iên, một in ngưỡng có vai trổ quan trọng bằng đầu rong tín ngưỡng Việt Nam, Điện thần của đạo Mẫu mang tinh gia tc, ó Vua cha,
Trang 18Thánh mẫu, có “Tháng Tám gid cha, thang Ba gid me”, ching qua cing Vi một dang pling dai của mô thức gia đình và thờ cũng ổ iền
“Trong quá trình đạo Phật du nhập vào Việt Nam và một bộ phận quan trồng của nó đã phát tiễn theo khuynh hướng dân gian hóa, giữa đạo Phật vì đđạo Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thụ ảnh hưởng lẫn nhau khá sâu sắc Điều
dỄ nhận bit là ở hằu hết các ngồi chùa hiện nay ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ đều có điện thờ Mẫu Trong đó phổ biển nhất là dạng "in Phát hậu Thám)” Theo nhà nghiên cứu Trần Lâm Biễn, việc xuất hiện điện Mẫu và tượng Mẫu
‘trong chủa mới chỉ thấy ở giai đoạn muộn Người ta đi chùa vừa để lễ Phật
vita để cúng Mẫu Nhiều khi diện Mẫu đã tạo nên không khí ẩm cúng, nhộn nhịp hơn cho các ngôi chùa làng Có nhiễu ngồi chùa ở Nam bộ ai thờ Mẫu là chính như chùa Hang ở Linh Sơn (núi Bà Đen) hay chùa Bà ở Thành phố Hồ
“Chí Minh Không chỉ có con đường các điện Mẫu đi vào chùa, mà còn có
đường đi ngược lại - Phật đi vào các đền phủ thờ Mẫu Trong điện thẫn cũng như cách thức phối tự ở các ngôi đền, phủ ta đều thấy sự hiện điện của Phật,
"mà đại điện cao nhất là Phật bà Quan Âm cứu khổ cửu nạn cho chúng sinh
“Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, Quan Âm trong Phật giáo Ấn Độ vốn là một nam thần, nhưng khi qua Trung Quốc và nước ta đã bị nữ điển ñóa thậm chỉ Mẫu hóa để trở thành Quan âm Thánh mẫu của đạo Mẫu Việt Nam Trong các
ngày giỗ Mẫu - giỗ mẹ đều có nghỉ thức rước Mẫu lên chùa đón Phật về đền
phủ cũng tham dự ngày hội Trong hệ thống các bài chẳu văn thì có văn châu
"Nhị vị Bộ tát
‘Trayén thuyết về Liễu Hạnh công chúa còn ghỉ rõ sự ích “Song Som đg chiến" Theo đồ, trong lúc Mẫu Liễu dang bị các dạo ĩ của phấi Đạo Nội dồn vào tỉnh thế nguy kịch thì Thích Ca Mẫu NỈ đã ra tay cứu độ, ngài gii
thoát cho Liễu Hạnh công chúa Từ đó, Thánh Mẫu Liễu Hạnh quy y, nghe
kinh, tuân pháp, chuyển hóa từ bi theo gương Phật Tắt nhiên, trong khung
Trang 19cảnh nông thôn Việt Nam, sự thâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai thứ
tổn giáo tín ngưỡng dân dã là điều dễ hiểu Xuất phát là tín ngưỡng dân giam, cũng hướng vỀ cái từ bỉ bắc ái, nh thần cộng đồng, khuyến thiện từ ác, nền tảng của những nguyên tắc ứng xử với xã hội cỗ tuyễn, Hai th tín ngưỡng này bổ sung cho nhau, đấp ứng nhu cầu tâm lỉnh của người nông dần Theo Pit dé tu nhân tích đức cho đời kiếp sau được lên côi Niễt bản cực lạc; còn theo dao Mẫu là mong được phù hộ độ tì mang lại súc khỏe, tả lộc, may mắn cho đồi sống hiện hữu hàng ngày,
1-3 Điện thần và thần ch trong đạo Mẫu
“Trong hệ thống
thứ tự như sau: Phật bà Quan âm; Ngọc Hoàng, Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (Mẫu
“Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngân, Mẫu Thoải, Địa tiên Thánh mẫu); Ngủ vị
“quan lớn (ừ Đệ nhất đến Đệ ng, Tứ vị chẳu bà hay Tứ vị Thánh bà (à hóa
thân trực tiếp của Tứ vị Thánh Mẫu); Ngũ vị Hoàng tử (sọï theo thứ tự tir DE
"Nhất đến Đệ Ngủ); Thập nhị Vương cô (theo thứ tự từ 1 đến 12); Thập nhị 'Vương câu (heo thứ tự từ 1 đến 12); Ngũ hỗ và Ông Lét (rin),
Địa, Thoải và Nhạc phủ) — Quan hay Ngũ vị Quan lớn (từ 5 đến 10 vị quan)
+ Chiu hay Tit vi chấu bà (từ 4 6 12 vĩ Châu bả) — Ông Hoàng (ừ 5= 10
ng Hoàng) ~s Cô (12 cô) — Câu hay Cậu quân (10 cậu) ~ Ngũ Hỗ — Ông Lit (rin, [25, 55- S6]
“Các vị hánh trong từng hằng: Quan, Chiu, Ong Hoàng, Cô, Cậu không
hoàn toàn cô định mà thường có sự thay doi Ví dụ như Ngũ vị Vương quan là
“quan niệm khá thông nhất trong đạo Mẫu, trong đền thờ Mẫu đều có bạn thờ Š
vi thuộc hàng Quan, khi hầu đồng, người ta cũng thường hầu các vỉ thánh hàng quan này, Tuy nhiên, đó không phải là không có quan niệm về 10 vị
Trang 20quan, một bội số 2 của 5 vị quan kể trên Tir vi Chiu bà là hĩa thân của bốn
“Thánh Mẫu, nhưng trên thực tế vẫn cĩ 6 vị thuộc hàng Chẳu, thậm chí lên tới
12 vi Chiu bà, Hàng ơng Hồng cũng khơng chỉ dùng lại ở Š vị như đã kể trên mà cịn cĩ thể tăng lên tới 10 vị, tong đĩ cĩ ơng Hồng Mười khá nỗi
1g, cĩ đền thờ riêng ở Nghệ An Các vị thánh trong đạo Mẫu khơng
phân thành các hàng mà cịn phân thành các Phủ Phủ trong đạo Mẫu mang nhiều ý nghĩa khác nhau, Trước nhất, Phủ trong Tam phủ, Tứ phủ mang nghĩa Tơng và bao quát, tương ứng với nhiễu miễn khác nhau trong vũ tụ: Thiên Phủ (Miền Trời, Dịa Phủ (Miễn Đắ0, Thoải Phủ (Thủy Phủ, miễn sơng biển)
và Nhạc Phủ (Miễn rừng nữi) Vì thánh đứng đầu mỗi phủ như vây là một vỉ
“Thánh Mẫu: Mẫu Thương thiên cai quân Thiên Phủ, Mẫu Địa (Địa tiên Thánh mẫu) cai quản Dia Phi, Mẫu Thodi (cat quin Thodi Phủ) và Mẫu Thượng
Ngân cai quản Nhạc Phủ Giúp việc cho 4 vị thánh mẫu cịn nhiễu vị thánh thuộc các bàng Quan, Chu, Ơng Hồng, Cơ, Cậu cũng phân theo 4 phủ như sắc vi Thánh Mẫu kể rên Hiện nay trong diễn thờ thần Mẫu đều tổn ti quan niệm Tam phủ và Tứ phủ Tử phủ là gồm ba phủ rong Tam phủ (Thiên, Đi
“Thoải) vả cĩ thêm phủ Thượng Ngàn (Nhạc Phú) Hiện nay chưa ai cĩ thê trả
lời chắc chắn Tam Phủ và Tứ phủ của đạo Mẫu cĩ từ bao giờ Tuy nhiễn, cĩ thể tin ring Tam phủ cĩ trước Tứ phủ và việc tên tại phủ thứ tưlà Nhạc phủ
là một nết đặc thủ rong việc tiếp biến của Đạo giáo Việt Nam Cĩ thể quan iêm Tam phủ và Tứ Phủ bắt nguồn từ quan niệm vũ trụ luận nguyên sơ là
Âm và Dương, dần yếu tổ âm trong lường cực âm dương phân hĩa thành Địa phủ, Thoải phủ và Nhạc phủ Tứ phủ trơng ứng với 4 phương, bốn miễn của
vũ trụ, trong đạo Mẫu biểu hiện 4 màu cơ bản: Thiên phủ ứng với mau đỏ,
Thội phủ ứng với màu trắng, Địa phủ ứng với màu vàng và Nhạc phủ ứng
ới màu xanh Dé là màu sắc của trang phục các vỉ thánh khi giáng đồng, là
"màu sắc của các đồ cúng lễ Từ các mẫu sắc này chúng ta cĩ thể dễ dàng phân
biệt mỗi vị thánh thuộc vào phủ nào trong hệ thống Tam phủ, Tứ phủ Đạo.
Trang 21Miu đã chịu ảnh hưởng của quan niệm về ngũ sắc, ngũ phương của Đạo giáo Trung Hoa, thông qua Ngữ sắc hóa các miễn của vũ trụ, cũng như biểu tượng Ngũ Hỗ, một trong những thẫn nh trong hệ thống điện thần đạo Mẫu
Trong đạo Mẫu, nơi thờ phụng chính Thánh mẫu Liễu Hạnh, hóa thân
của mẫu Thượng Thiên, được gọi là phi, nhw Phi Diy, Phi Nắp (Nam Định),
"Phú Sòng Sơn (Thanh Hóa) và Phú Tây Hỗ (Hả Nội)
1.4 Ông bà đồng và nghỉ ễ Lên đồng - Hi bong
Ong ba ding la nhimg người thục hiện nghỉ lễ Lên đồng trong đạo Mẫu Họ là những người có căn đồng Căn ở đây có nghĩa là căn quả, là số phân đã định cho số người phải ra hầu thánh hay nói cách khác là họ có
“căn cao số đẩy” và căn ố có thể nặng hay nhẹ Những người có căn nặng
tức là có căn của một vĩ thánh nào đó, nễu không mỡ phủ thì sẽ bị Thánh hành, bị ốm đau và cuộc sống sẽ khổ số Đ trở thành ông bà đồng không phải chuyện đơn giản, nghĩa là họ phải gắn thêm gánh nặng bỗn phận với các vị
“Thánh Phủ Những ông bà đồng trước khi phi ra bầu thánh thì thường họ gặp những chuyện chẳng lành như ôm dau, kết tóc, bệnh tt, làm ăn thất bát hay
sò gọi là "cơ 4" Có những người còn bị điên hay thần kính, bì rơi vào trạng thi ngây ngất một cách tự phát mã không rõ lý do vì sao mặc đồ có đi
bệnh viện chữa trị nhưng không khỏi Họ đành phải gặp một ông đồng thây để
hờ làm lễ và từng bước ra tình đồng Những người khác tr thành ông bà đồng có thể họ không có căn số nhưng lại mong muốn có cuộc sống tắt đẹp
hơn, cầu mong điều tốt đẹp cho gia đình, cầu sức khỏe và làm ăn suôn sẻ
"Những ông ba đồng trong tiêu chí này thường cho rằng thánh thần có thể phủ
trợ cho họ và vì thé ho radu thánh thì sẽ được bạn phát “lốc ơi lốc vất"
“Theo một số đồng thầy và thấy cúng thì những người có căn số cô thể hận bit được bằng dáng vẻ, theo tử v, tướng số Thậm chí họ còn nổi “ai căng có căn", nhưng cơ bản họ đựa vào tứ vì và tính cách mã đoán ring người
Trang 22a
1a có căn cia vj thinh no, Din dng vs din bi 6 thể cổ căn của mội vị thánh Xhác giới với mình Những người có căn của một vị nam thần, tì người ta cho rằng họ có nết mặt bừng bùng, mắt long lanh, trồng dữ trống, nóng tính
và bốc đồng, những người có căn của nữ thần thì có về thuẫn hơn và có nữ tính bơn, Những người phụ nữ nóng tính, nhưng có phần cương quyết thi ho
cho là căn Quan hay căn ông Hoàng cỏn những người đàn ông éo lả, uốn éo
thì ho cho là có căn cô
Trong đạo Mẫu, hệ thống nghĩ lễ và lễ hội ắt phong phú và đa dạng, mang nhiều sắc thái độc đáo có h phân việt với các tín ngưỡng và tôn giáo khác, Tuy nhiên, tập trung và điễn hình nhất vẫn là nghĩ 18 Lên đồng (Hầu bồng) và hệ thông lễ hội “háng tâm giổ của, tháng ba giỗ mẹ” Lên đồng là nghĩ ễ chính của thờ Mẫu Tứ phủ cũng như một số dạng thờ Mẫu khác, Đó là
nghỉ lễ nhập hồn của các vị Thánh Tam phủ, Tứ phủ vào thân xác các ông
đồng, bà đồng, là sự tái hiện lại hình ảnh các vị Thánh nhằm phán truyền,
chữa bệnh, bạn phúc lộc cho các tín đỗ đạo mẫu Ngh lễ hầu Lên dồng mang những sắc thấi địa phương, trong đó có th kể đến Hà Nội, Huễ, Sài Gòn
Lên đồng à thuật ngữ quen thuộc trong ín ngường Tam Phú, Tứ Phủ
'Đẳng” là từ gốc Hán chỉ người con trai đưới mười
tuổi với tự chất rong trắng, ngây thơ, tự nhiên, đễ thầnlỉnh có th nhập vào Sau này, người ta đồng sắc cô gái thay thể các thiếu niên Tuy nhiên, trong số các ông đồng, bà đồng
ng me"
chi vj thần linh nảo đó, chiêu, nhập cái bóng (hôn) của mình vảo ông đồng
hay bà đồng và ông bà đồng này chỉ là người bẫu ha cái bóng của thần lỉnh
mà thôi Lên đồng là hiện trợng nhập hồn nhiều lần cña các vị th lĩnh
Trang 232
lộc, phán truyền) và xuất hồn (thăng đồng) được gọi là một giá đồng (tức thời
sian ngư trị trên ái giá của mình là các ông bà đồng) Trong dân gian hay hắc đến thuật ngữ đồng cốt và có nhiều cách giải thích khác nhau, Theo sich Việt Nam phong tục của Phan KẾ Bính tì có 2 dòng đồng, đó là đồng cốt thờ
“Thánh mẫu và Thanh đồng thờ Vua cha Bát Hải, Đức Thánh Trần, Theo đó thì Cổt có nghĩa là bà Cốt Cắt còn được gii nghĩa là hân xác, xương cốt của son đồng mà thần lỉnh nhập vào Hay từ Cắt là từ Cốt cách đồng nhị, tức những người nhỏ tuổi, rong trắng, hồn nhiên
Một buổi Hầu đồng thường được diễn ra vào nhiều địp rong năm, với những thầy đồng đền, rong một năm có lễ hẳu xông dén (sau lễ Giao thừa),
LẺ hầu Thượng nguyên (háng Giêng), LỄ hầu Nhập he (háng Tu), Lễ Tân hạ (háng Bảy), LỄ Tắt niên (báng 12 Âm lich), lễ Hợp ấn (2512 Âm lịch)
Trong các dịp trên, hai lần được gọi là quan trọng hơn cả là vào thắng ba giỗ
Thánh mẫu và tháng Tám là dịp giỗ Vua cha Bát Hải, Đúc Thánh Trần Đôi xới mỗi đền hay mỗi ông bà đồng thì các dịp hầu đồng còn nhiễu hơn nữa, như đầu tiê là lễ Trình đồng, lễ Lên đồng, ễ hẳu bản mệnh, lễ hằu ngày tiệc
của các vị thánh như: tiệc Cô Bơ (12/6), tiệc Quan Tam phủ (24/6), tiệc Ông,
Hoàng Biy (17/7, tige Tin Trigu (20/8), tiệc Đức Vua cha (22/8), tiệc Châu Bắc lệ tháng 9), tiệc Ông Hoàng Mười (10/10), tiệc Quan Đệ Nhị (11/11)
"Để chuẩn bị cho một buổi Lên đồng, các ông bà đồng thường phải chon ngày lành Trước đó mấy hôm, người hẳu đồng phải áo cho Đồng đn, mời
"bạn bê cũng là các con nhang đệ tứ, các bạn đồng, những người thin nhưng
số cùng lòng tin vào thánh ti dự Chủ đền bay trực iếp những ông bà đồng mời dội Hát văn, những người hẳu đăng (dưng), những người này sẽ giúp họ trong suốt bui lễ hầu đồng
vig lễ vật dâng cúng trong lễ hầu đồng cũng tốn kém khá
Trang 24B
Xhoản tiền cho chủ đền để làm một bữa cơm cúng và tết đãi những người tới
<i buổi hầu đó Lễ vật dâng cúng phải y theo cơn đồng vào địp lỄ nào trong
"năm hay tính chất của buổi hầu đồng đổi với bản thân người hầu, như là lễ
Trinh đồng, Lễ hằu bản mệnh, các tiệc khao Các thứ rượu, thuốc lá gồi
ốn kí cau, các loại đồ chơi, đỏ
trang ste ding trong cdc gid Chiu, Cô hay Cu Những thứ này chon sao cho màu sắc phải phù hợp với các giá đồng thuộc về phủ nào của Tứ phủ (như mâu đô thuộc Thiên phi, mau vàng thuộc Địa phủ, màu trắng thuộc Thoải phủ và màu xanh thuộc Nhạc phủ) Khi hầu xong mỗi giá, ông bà ding
loa kèn),
(hước kia dùng thuốc lá
thường dùng các đỗ cúng, cùng với itn dé ban phát lộc cho mọi người tới dự
“Từ khi làm lễ tỉnh đồng, tức là từ vai trồ của con nhang đệ tử bước lên bặc của những ông đồng bà dồng, họ phải mua sắm trang phục cho các buổi lên đồng sau đó, Lúc đầu, người ít của thường mua sắm những trang phục chính, sau đó họ sim sửa bổ sung cho diy đồ, hoặc thay dẫn những trang phục tiễn ban dẫu bằng những loại trang phục đất tiễn hơn, có khi một bộ aquin áo hầu tới cả chục triệu đồng Có những ông bà đồng giàu có, họ sắm
ng những bộ khác nhau, bộ sang trọng chỉ dùng ở đền sở tạ, trong ce dip
lễ lớn, côn bộ Khác thì dùng khí đi hành hương, hằu ở các đền thuộc địa phương khác Về nguyên ắc, mỗi giá đồng thờ một vị thn lính nào đó phải
có một trang phục riêng, không được dùng lẫn trang phục của các vị thánh
Xhác Trong một buôi hi đồng, ông đồng hay bã đồng định hẳu bao nhi giá
›hải chuân bị ngần ấy bộ trang phục Tuy nl trên thực tỀ, tùy theo điều
kiện, trang phục cho hầu đồng cũng khác nhau, với những người nông dân
"nghèo chỉ cần chiếc khăn phô diện màu đỏ là đã để người ta hẳu các giá đồng Những với ng lớp tị dân, hình thức hằu đồng từ lầu đã ít nhiều cung định
‘hoa thì trang phục trong hầu đồng là rất hệ trọng không thể thiếu Những
trang phục cơ bản không thể thiểu trong các buổi hẳu đồng ở các thành phổ
Trang 25lớn bay Việt kiều ở nước ngoài gồm: khăn phủ điện màu đỏ đùng chung cho tắt cả các giá đồng kh thánh giáng hay khi thăng đồng Các lo áo đã í nhất cũng 5 cái, S màu dùng cho riêng S hàng Thánh phù hợp với mẫu của Tứ phổ, các loi mũ khăn thấ lưng, đại, thẻ ngà, vòng
'Với các thánh nam, từ hàng Quan tới hàng Ông hoàng, hàng Cậu, đều
có những bộ áo riêng, tùy theo vị thánh đó là võ quan hay văn quan, thuộc
phủ nào trong Tử phủ, lúa tuổi tính cách Áo may từ các loại gắm, thêu bình
tứ quý, tứ nh các màu, gắn thêm hat cườm, hạt xoàn lồng lánh Ngoài áo là trang phục chính, người ta còn thấy các loại khăn đội đầu, phủ bọc lấy óc, ít nhất là S cái giải bịt ra ngoài khăn quanh đầu, mỗi cái một màu, thêu bình tổng chẳu mặt rồi hay mặt trăng Loai giải khăn này dùng cho giá hầu các
“Quan và các ông Hoàng Ngoài ra côn có thẻ bãi bằng ngà hay bằng kim loại dàng cải ngực cho các ông Quan, cái khánh bằng kim loại tấp vàng dàng cho các ông Hoàng, các Cậu
Đổi với các thánh nữ từ hàng Chầu tới hàng Cô, trang phục thường phong phú đa dạng hơn nhiều Bộ áo dồi vẫn là trang phục chính yếu, phủ hợp Xới từng hàng và từng phủ của Thánh giáng đồng Ngoài ra còn có các loại
khăn và giải khăn quấn đầu, dây lưng, các loại khăn quảng cổ, các đồ trang
sức, qua lông các màu, quạt nà
“Tóm lạ trang phục của một ông bà đồng thuộc điện trung bình trong giới đồng thường có: Khăn đỏ phủ điện, khăn xếp đỏ, khăn vẫn xanh, mười
"hai áo dài các loại, bốn áo cánh màu xanh lá cây, năm giải buộc đầu của thánh
nam, hai băng đeo chéo, bảy Khăn n
ai khăn choàng lớn, trong đó có một trắng, một đỏ, nhiễu khăn quàng cổ,
"mùi xoa, chuỗi ha, xuyến, hoa tai, lược, thế bài, khánh
mười một dây lưng, một đây lưng to,
Đối với những ông bà đồng gia định đang có tang (ong một năm đầu),
tôi con bú, đang có kính đều không được vào đền hầu Thánh
đang có chữa
Trang 263
“Trước buổi lễ, ông bà đồng phải kiêng ăn cá, thị, hôm hầu đồng phải nhịn ăn
và phải giữ mình cho thật sạch sẽ, làm các nghỉ thúc ấy lễ Trước khi hẳu, đông đồng hay bà đồng thông qua người chủ đền phải làm lễ Chúng sinh và LỄ
thánh Đồ lễ chúng sinh được đặt trên một cái mâm, trên đó có các đồ vàng
"mã cắt (hành hình quần áo, tiễn, vàng lá, thôi bạc, những bát cho, bánh tái
và những thức ăn khác, Có khi trên mâm còn có mấy đồng tiền bộ vào châu ước dành cho các vong hồn chết đuổi LỄ chúng sinh có mặt trong tắt cả các
nghỉ lễ của tín ngưỡng Tứ phủ và các tín ngưỡng dân gian khác, dành cho các
xong hồn, chết dữ hay không có người thữa nhân, không có người hương khói cũng gỗ Trước lúc làm lễ hầu, cũng có lễ cúng Thánh tại đền, vật dâng cúng
là thức ăn và những thứ hoa quả, bánh ái Trong ễ này phải có ba loại thịt (Tam sinh) đó là gà, vit và lớn Cũng xong người ta đốt vàng mã cho chúng
sinh và các thánh Tứ phủ r rắc quanh phủ hay chùa đó
Giúp việc trực tiếp cho ông đồng và bà đồng trong suốt buổi hi thì
phải kể đến Hầu dâng và Cung văn Người hẳu dâng thường là những người
đa từng hầu đồng Họ giúp ông đồng, bà đồng trong việc hầu thánh như thập
"hương, đăng các loại vũ khí, đăng thuốc lá, ượu, rầu cau đặc bit giúp người hầu ong việc thay lỄ phục kh chuyển từ giá này sang giá khác Hai hay bốn
"người hầu đăng ngồi hai bên người hẳu trước bản thờ thánh, họ mặc áo dai den, quẫn trắng, đội khăn xếp (nếu là nam), áo dãi màu (nếu là nữ), Cung văn
có vai trở cực kỳ quan trọng trong hầu đồng Họ xướng nhạc và hát cho việc
trình diễn của con đồng khi Thánh nhập Nhạc cụ chủ đạo của cung văn là đàn nguyệt ngoài ra còn có trồng bang, cảnh đồng, phách, thank Ia Trong cùng văn, số người gây đân, gố trắng, phách nhưng cũng có thể họ vừa chơi nhạc vừa hát chỉ đừng lại lúc thánh nhập, xuất và lúc đăng hương, Đặc biệt trong
khi múa đồng, ban phát lộc, thưởng thơ phú thì cưng văn phải vừa chơi nhạc
Trang 27%6
vữa hát Cung văn hát hay đần giỏi mở đầu và đồng ngất đúng lúc đều được
"người hầu đồng trong cương vị của một vị Thánh thưởng tiên và ban lộc Theo trật tự thời gian, có thể phân biệt buổi lên đồng thành các bước
Thánh giáng, thay lễ phục, thấp hương làm phép, múa đồng, ban lộc và nghe văn chẩu, Thánh thăng Sau khi làm lễ và xin phép mọi người được nhập
đồng, ông đồng hay bà đồng trùm khăn đỏ phủ diện lên đầu để thực hiện nghỉ
thức Thánh giáng, một nghĩ thức quan trọng bắc nhất trong hầu đồng Bà đồng hay ông đồng trim khăn đỏ phủ diện, ba tay chấp dâng ba nén hương, đầu và thân lắc lự cho đến khi Thánh giáng (nhập) thì
‘ing mình, tay báo hiệu Thánh thuộc bàng thứ bậc nào Lúc đó cung văn tấu
thức
1g các nền hương,
nhạc và xướng văn châu phù hợp với vị thánh vừa giáng Có hai
Thánh giáng, giáng trùm khăn (goi là Hầu trắng mạn) và giáng mở khăn Các
giá Thánh mẫu đều hầu theo hình thức trùm khăn (táng mạn) Khi mẫu Đệ
nhất giáng thì người bầu giơ ngón tay lên báo hiệu mẫu đã giáng, cung văn chỉ tung kinh the tiếng chuông và mô Khi người hầu khẽ rùng mình, bắt chéo tay trước trấn báo hiệu Mẫu đã thăng (xa giả) thi cung văn chuyển sang
bát điệu Xa giá hồi cung Nếu mẫu Đệ nhất mặc áo đỏ, khăn đó, quạt đồ tì ở giá mẫu Dg nhỉ người hầu mặc áo xanh, khăn xanh, quạt xanh (đầu hiệu Nhạc Phủ) Vẫn hầu phủ diện, khi Mẫu giáng thì người hầu giơ hai ngón tay ái
CCũng có khi người hầu giá này dưới hình thức lộ diện bằng cách xoay ngang
“Quan trở đi Tuy nhiên, trong một buổi hẳu đông không phải sĩ cũng hầu ít
cả các vị thánh mà chỉ một số các vị thánh nào đó người ta được bit r về thành ích cũng như vai trò phù trợ của ho đối với người trẫn Ngay trong các
Trang 28bì
vi thắnh mà nhiễu người thường hầu, tủy theo căn đồng của mỗi ông bà đồng,
(căn Quan, căn Cô, căn Cậu, căn ông Hoàng) mả họ thường xuyên hâu một
Ít giảng hơn các vị thánh kế tên nhưng cũng là các vị thánh quan trọng trong niu bong
“Trong một buổi Lên đồng, thường là có nhiều vị thánh giáng ít nhất căng phải trên 10 lẫn giáng của các v thánh, bình thường cũng 15 vi giáng, sòn nhiều hơn cũng phải trên 20, còn diy di th phải 36 giá Việ giáng của sắc vị thánh phải theo thứ tự, từ Thánh Mẫu đến các bảng Quan, hàng Chiu,
"hàng ông Hoàng, t hàng Cô, hàng Cậu Thái
trùm khăn lên đầu thì họ được coi như người đã chết Có lẽ vì thể mà khi
đồng chỉ là cái xác, cái giá, cải ghế để Thánh nhập vào, nên khi
"người a đã tắt thở, bao giờ cũng phủ khăn mặt, còn với người đang sống mà lấy khăn che mặt là diều cắm ky Cũng có nhiễu trường hợp Thánh không giáng hay đúng hơn là ông bà đồng không làm được việc tr thôi miễn bản
thân mình Người ta thường phân biệt hai trường hợp trong nghỉ lễ nhập hồn
là Thánh giáng và Thánh nhập Thánh nhập tức là bước thứ hai sau khi Thánh
Trang 292%
giáng, bởi vậy cũng có tường hợp Thánh chỉ giáng đồng chứ không nhập
“Trong trường hợp như vây, bằng dẫu hiệu tay, ông bà đồng ra hiệu cho người hầu đãng và những người ngồi quanh biết vị Thánh nào vừa giáng đã thăng ngay, hông chịu nhập hồn và họ hạ lâm nghĩ thức cầu khẩn vị thánh tếp
ví Thánh nào nhập,
ho đành buồn bã tung khăn phủ diện, rồi khôi chiếu bầu đồng Tuy nhiên, những trường hợp như vậy là rất hăn hữu Khi Thánh đã giáng và nhập hồn, lúc đó ông bà đồng không còn là mình nữa, mà là hiện thân của thần linh, những người ngồi xung quanh thưa gửi bằng những cung cách tôn kính nhất
theo Cũng có khi ông bà đồng cầu xin mãi mà không |
như người trần gian xưng hô với vua quan thời phong kiến Những trường hợp con ái, vợ hay chẳng, thâm chí một cậu bé 9, 10 tuổi ngồi đồng, th khỉ thánh đã nhập, những người lớn hay bổ mẹ cũng phải xưng hô, cự xử như với thắn lĩnh Khí thánh đã nh
›„ ông bả đồng dùng tay ra hiệu (Thánh nam nhập
thì ra hiệu tay ri, thánh nữ nhập thì ra hiệu ty phải) và tung khăn phủ diễn Lúc này, bai người hầu dâng giúp người ngồi đồng thay lỄ phục phù hợp với
vị thánh đã nhập ấy Việc thay lễ phụe tốn khá nhiều thời gian Mỗi vị thánh
đều có lễ phục iêng phù hợp vớ vị tí tính cách của từng người Nồi chưng,
các thánh ở cùng một hàng như hàng Quan, Châu, ông Hoàng, Cô, hay Cậu
đều mặc theo một kiễu, sự khác bit chính là ở mâu sắc lỄ phục sao cho phù hợp với phủ của từng vị, phù hợp với gốc ích dân tộc là Mán, Thổ, Mường, phù hợp với vị thể bên v
làm lễ dâng hương Đó là nghỉ thúc không thể thiều của bắt cứ sự hiện điện
"ào của các vị thánh Các ông bà đồng nhân một số nén hương bay một bố hương từ tay người hầu dâng (còn gọi là Tay hương), rút một nên hương cằm,
"hay bên vỡ, Sau khi thay đổi lễ phục, ông bà đồng,
tay, trong khí tay phải huơ lên phía các nén hương khác làm động tác phù
phép, mà những người hau đồng gọi là Khai quang (nói chệch di la Khai
suông), ông bà đồng ném nén hương xuỗng đất hay đưa cho người hằu đăng, tồi cằm bộ hương tiến đến trước bản thờ thính làm lễ dâng hương Nghỉ thức
Trang 30»
đăng hương có sự khác biệt giữa thánh nam và thánh nữ Thánh nữ quỷ đăng
"hương, rép trin xuống đất 3 lần Các thánh nam thì quỷ lay, giơ cao bó hương
trước trán Mỗi lần vai ly thánh như vậy tì người ta lại đánh một tiếng chuông Việc dâng hương là một hành vỉ tổn kính, một lời cầu nguyện thầm
lạng biểu hiện bằng hương khối bốc lên trời Hương cũng như các màu chối l, mùi hương thơm của nước hoa, màu trái cấy không những làm cho sắc vị thần linh thích mã còn cổ tác dụng xua đuổi tà ma, chẳng lại những cái
gì chốt chốc, không có sự sống
Sự nhập hồn và ti sinh của Thánh vào cơ thể những ông bà đồng còn được biểu hiện sống động bằng các động tác mứa Động tác múa của người hầu đồng kết hợp nhịp nhàng theo âm nhạc và lời hắt, tao nên không khí nhộn nhịp, lúc hảo hứng, khi duyên dáng Tủy theo vi tí và tính cách của mỗi vị thánh mã động tác múa cũng khác nhau Múa xong, Thánh lại ngồi xuống Lúc này, cung văn hát những bài chẳu văn kẻ li sự ch, lá lịch và ca ngợi ti năng, sắc dẹp, công đức của vi thánh dang giảng Với các gii ông Hoàng, cung văn ngâm các bài thơ cổ theo điệu phú, những đoạn hay các vị thánh hải
lòng, thì biểu hiện bằng cách vỗ gối đang tựa và thưởng tiền cho cung văn
Lúc này, người hầu dâng cũng đăng lên thánh rượu, thuốc lá, tầu, nước
“rước khi Thánh dùng các đổ đăng đó, đều phải làm nghỉ thức Kha quang,
ức là âm thanh sạch hóa các đỗ dâng cúng cho thần lính Những chất kích
cắc ông bà đồng, một trang thai cin thit cho việc thánh giang, Mặt khác, theo
“quan niệm cổ xưa, nước uống vào cơ thể coi như máu tiếp thêm súc sống lâm sắc vị thần linh sống ại rong cơ th các ông bà đồng Đây cũng là lúc những người ngồi dự xung quanh xúm lại bên các ông bà đồng nghe thánh phán truyền về tương lạ hay đâng lễ vật cầu xi sự bảo hộ, cầu tải lộc, xin chữa bệnh cũng có những ông bà ding đáp lại những lời cầu xi, phán truyền
Trang 31bảng lời hay bảng ánh mắt, điệu bộ bởi vì họ nhập đông theo kiểu “cắm
Xhẩu” Trong lúc thánh ngồi nghe hát chầu văn, truyền phần thì cũng à lúc thánh phát lộc, người hầu đồng cũng như các con nhang, đệ từ đi dự đều ước muốn Thánh thần ban phát lộc cho bản thân và gia đình mình, Điều này khác
với người di tu niệm Phật là dé cầu phúc cho đời sau Trong hầu đồng, lộc
thánh gồm nhiều th, ừ nén nhang chấy đỡ, đoạn mỗi khi thánh múa đến điều thuốc, lã trầu, quả cau, các thứ bánh ri, hoa quả, tiễn, một vài thứ gương, lược, khăn tay Đó là những thứ quà thiêng ng từ thánh ban cho ông bà đồng, cho những con nhang đệ tử đến hầu thánh Dặc bệ, đối với những
"người làm ăn buôn bán thì những lẫn hằu thánh như vậy là những hỗ tr tỉnh thần giúp họ ăn nên làm ra Có những người chưa có điều kiện thì cũng sắm mâm lễ và nhờ các ông bà đồng cầu xin giúp đểsau đó nhận được lộc thánh
về nhà để lên bản thờ gia tiên lấy may (khước) cùng với các đồ trầu cau, hoa
quả, bánh trái khác Có không
<4i mua ban, lim an va ho tin ring nhimg đồng tiễn này sẽ đem lại những may mắn cho chính họ
người dùng những đồng tiền lộc Thánh ban
Nội chung, những người dự bầu đồng, không phân biệt thân sơ, sang hiên đêu được thánh ban pÏ thực tẾ khi bạn lộc Thánh, các ông bà đồng ban phát lộc nhiễu , trước sau là ty thuộc vào mức độ thân
mật hay dia vi xã hội của những người tham dự Qua việc phát lộc người ta
căng thấy được ông bà đồng không hoàn toàn bị Thánh nhập hồn, tức là tự thôi miền, trở thành một cái xác để Thánh nhập đồng, Tùy theo từng vị Thánh
lộc Tuy nhiên, tu
"hay sở thích của tũng ông bà đồng mã việc phân truyền, phát lộc nhanh hay lâu, rồi sau đố Thánh thăng, tức là Thánh xa giá hồi cung Dắu hiệu Thánh
Trang 32aI
thăng là lúc ông bà đồng ngồi yên, kh rùng mình, hai bit chéo rước trấn hay che quạt lên định đầu, thì lúc đó người hầu đăng phải nhanh chóng phủ khăn đô lên đầu ông bà đồng, những người cung văn tấu nhạc và bất điệu thánh "Xe giá cung" Cũng từ đồ ông bà đồng lại chuẫ bị nhập đồng một
người cầu xin cô chữa bệnh; hay ông Hoàng Mười, theo quan niệm của các
mẫu), hay chỉ sau lễ dâng hương xong
tin dé Dao miu ông được giao cho việc tuyển chon những con đồng mới bằng
"nghị thúc bạn cho họ cây bèo mà ông Hoàng thường cằm trong ty
Tay theo từng ni, từng người mà sẽ cô những cuộc Lên đồng dài hay
"gắn, nhưng nằm trong khoảng từ 2 « 6 tiếng đồng hồ, Trong thời gian này, những người ngồi dự theo đối buổi lễ và ty theo từng người tham gia ở
những mức độ khác nhau vào các bước của buổi lễ Cũng tùy theo thân phân
Và ước muốn mà có người chỉ ngồi xem, nhưng cũng có người lại đãng lễ cầu xin Thâm chí, cố những người bị ấp đồng (túc bị thánh nhập như ông bà
đồng đang hằu) Họ ngã lăn ra chiếu mê man hay đứng dậy củng múa với các
ng bà đồng dang hầu Với giá thánh mẫu hay các Quan lớn thì không khí trang nghiêm, thinh kính bao trầm Với các giá Chầu thì không khí trang ghiêm đã bớt đi một phần, Đặc biệt đến các gi ông Hoàng, các Cô và Cậu
ính sinh hoạt vấn
thông khí trở nên náo nhiệt và vui vẻ hơn nhiều, khi đ
Trang 332
hóa biểu hiện ra rất rõ nét Khi vị Thánh cuối cùng ra đi, thường là Thánh
‘Céu, Quan Hỗ hay Ông Lốt thì cũng là lúc ông bà đồng cởi bỏ trang phục
Thánh, ạ ơn các Thánh tứ phủ, rồi cảm ơn những người tới dự Các ông bà đồng sau mỗi buổi hầu thường cảm thấy khỏe mạnh, vui tưới và mãn nguyện Ông
tính chất buổi lỄ mà món ăn có sự thay đổi chút í Trên mầm cơm lộc thánh bao giờ cũng có những phin để người ngồi ăn mang về nhà như oản, bánh, hoa quả làm ch lộc cho mọi người trong nhà
lồng đi mời các quan khách tới dự ăn bữa cơm lộc thánh và tủy theo
Trong nghi thức Lên đồng, các vị thánh nhập hồn bao giờ cũng là các
vị thánh làm những điễu ốt đẹp phù hộ cho ông bà đồng và các con nhang đệ
tự làm an may mắn, chữa khôi các bệnh tật, trữ đuổi ủi ro, ma quý quấy ám Hơn thể nữa, các vị thánh đồ lú sinh thời đều là những con người tà giỏi, đúc độ, có vị tí cao trong xã hội và đã từng mang lai anh tếng, công ơn đối
ới dân với nước, Diễu này phân biệt với các hình thức nhập hồn khác như nhập hẳn không tư nguyễn của người bị nhấp hồn, nhập hỗn của những ma quỷ đữ, mang lai ai họa cho người bị nhập và những người khác Trong nghĩ
nhập vào, Do vậy, ủy theo từng vi thánh mà cơn đồng có những hành động,
tư thể, nét mặt sao cho phủ hợp với các vị thánh đó ĐỂ tạo nên trạng thái tim
sinh lý như vậy, ông bà đồng phải tự thôi miên bản thân, tạo ra trạng thái ny
ngất Hỗ trợ cho trạng thái ngây ngất ngoải bàn thờ và hương khói, các
"màu sắc mạnh của đồ thờ, quần áo thì còn có vai trò cũa ác chất kích thích như rượu, trà, thuốc lá, tầu rồi iếng trồng, âm nhạc và lời hát văn Bởi thể, hầu đồng đứng về phương diện tâm sinh ý àviệc tự đưa cơ thể vào trạng thi
ngây ngất
Trang 343
Một nét đc trưng trong nghĩ thức Lên đồng là lễ nhập hồn của ông bà
đồng Có nghỉ lễ nhập hồn nhiều lần, một ông bả đồng trong một buổi lễ, tùy
theo tính chất trong năm hay tính cách đồng (Căn đồng), theo nhủ cầu của tũng ông bà đồng mà họ làm giá (ghế) để cho các vị thánh nào nhập Đánh
dấu mỗi lần vị thánh nào nhập và thăng Ì
phủ điện đỏ lên đầu và ông bà đồng thay ễ phục cho phủ hợp với vỉ trí và tính chất của vị thánh ấy, Chức năng cơ bản của nghỉ thúc nhập hồn của các thánh vào các ông bà đồng là để chữa bệnh, đoán số và ban phát lộc, Có không ít trường hợp những người phải chịu đội bát nhang với tr cách à con nhang của sắc thánh hay mức cao hơn phải làm nghỉ thức trình đồng là do họ bỉ bệnh tật lâu ngày mà chạy chữa không khỏi Những người này tin rằng, với việc các
ăn cứ vào nghỉ thức trm khăn
thánh, nhất là các quan Tuần, thánh Trần, cô Sáu là những vị thánh có chức
ng chữa bệnh cứu người, nhập hồn lo người ầu thì bệnh tật của người đó
sẽ mau khôi
“Trong Lên đồng, khi thánh nhập, ủy theo từng vị thánh và căn đồng của từng ông bà đồng mà Thánh có thể phán truyền về tương li của những người thính Ngài Có những người bầu đồng nhưng không hề hé răng phần truyền điều gì cả, đó mọi là bầu cắm khẩu Việc hầu đồng để mưu cầu tài lộc cho ban thân mình, nhất là trước lúc làm ăn có tính chất dược thua Chẳng thể
mà những người buôn bản hàng năm bổ ra bàng cây vàng chỉ cho các buổi hầu thánh như thể và cho đến nay d
Trang 35“Tiểu kết chương
"Đạo Mẫu với tue thờ Mẫu thần, Mẫu Tam phủ, Tứ phủ (Tam tòa Thánh
mẫu) có quan hệ mật thiết với tục thờ Nữ thần, nhưng không phải là đồng
nhất Nói cách khác Mẫu đều là Nữ thần, nhưng không phải tắt cả các nữ thần đầu là Mẫu thần, mà chỉ một số Nữ thần được tôn vinh là Mẫu thần Rõ rằng
là đạo Mẫu gắn liền với tục thờ Mẫu dân gian, nhưng như thế không có nghĩa
mọi Mẫu thần đều thuộc điện thần của đạo mẫu, Mẫu Tam phủ Tứ phủ tức
“Tam tòa Thánh mẫu là một bước phát iển, một quá trình phát triển từ một số hành vì tôn thờ rời rac đến một thứ tín ngường, một đạo có tính hệ thông hơn (Quan nim Tam phủ và Tứ Phủ bắt nguồn từ quan niệm vũ trụ luận nguyên sơ là Âm và Dương, dẫn yếu tổ âm trong lưỡng cực âm dương phân
ha thành Địa phú, Thoải phủ và Nhạc phú Tứ phủ tương ứng với 4 phương, bốn miễn của vũ trụ, rong đạo Mẫu biểu hiện 4 mẫu cơ bản: Thiên phủ ứng với màu đỏ, Thoải phủ ứng với màu trắng, Địa phủ ứng với mẫu vàng và
"Nhạc phủ ứng với màu xanh, Đó là màu sắc của trang phục các vị thính khỉ giáng đồng, là màu sắc của các đồ cũng lễ, Từ các màu sắc này chúng la có thể để dàng phân biệt mỗi vị thánh thuộc vào phủ nào trong hệ thống Tam phú, Tứ phủ Rð rằng đạo Mẫu đã chịu ảnh hướng của quan niệm về ngũ sắc,
"ngủ phương của Đạo giáo Trung Hoa, thông qua Ngủ sắc hóa các miỄn của vũ trụ, cũng như biễu tượng Ngũ Hồ, một trong những thắn lĩnh trong hệ thống điện thần dạo Mẫu
Hệ thông nghỉ lễ và lễ hội tong dạo Mẫu rất phong phú và đa dạng, mang nhiễu sắc thái độc đáo có thể phân việt với cc ín ngưỡng và tôn giáo
khác Tuy nhiên, tập trung và điễn hình nhất vẫn là nghỉ lễ Lên đồng (Hầu
bồng) và hệ thống lễ hội
ghi ễ chính của thờ Mẫu Tứ phủ cũng như một số dạng thờ Mẫu khác Dó là
Thing tim gid cha, thing ba gid me” Lên đồng là
Trang 3638
‘igh lễ nhập hồn của các vi Thánh Tam phủ, Tứ phủ vào thẫn xác các ông
đồng, bả đông, là sự tái hiện lại hình ảnh các vị Thánh nhằm phán truyền,
chữa bệnh, ban phúc lộc cho các tín đồ đạo mẫu Nghỉ lễ hầu Lên đồng còn mang những sắc thái địa phương khác nhau, trong đó có thể kể đến Hà Nội, Huế, Sối Gòn
Trang 3736
CHƯƠNG2
BA DONG TRAN TH] VAN - THỦ NHANG PHỦ NAP
2.1 Phủ Nắp, thôn Ví Nhu, xã Yên Đằng, huyện Ý Yên, Nam Định 2.11 Phi Nép trong truyền thuyết và lịch sử ra đời
Phủ Nấp (Quảng Cung Linh Từ) nằm trên địa phận thôn Vì Nhuễ, xã
`Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Phủ Nắp thờ bà Phạm Thị Tiên Nga, là tiên thân của thánh mẫu Liễu Hạnh, gắn iễn với sự tích Tam sinh - Tam hóa Theo sich Cát thiên tam thé thực lục sich Van Hương thánh mẫu tam thễ giảng sinh; Quảng Cung lin từ phả ký; ác tả liệu Hân Nom và truyền thuyết dân gian cùng nhiều bài nghiền cứu của các nhà khoa học ti Hội thio koa hoc Ditch ich sit vn lóa Phủ Quảng Cung diễn ra ti xã Yên
"Đồng, huyện Ý Yen, tinh Nam Định ngày 21/11/2009 thi tiền thân của Thánh mẫu Liễu Hạnh giáng sinh ở Quảng Nạp, Ý Yên Dây là lần giáng sinh thứ nhất trong sự ích huyền thoi của Mẫu Tương truyền rằng
Xưa ở trẫn Sơn Nam, phù Nghĩa Hưng, tổng Ví Nhu, ấp Quảng Nap (hay là xã Yên Đằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) cố ông Pham Huyền
Thông Hòa) kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hẳng (hiệu Thuần
"Nhất ở ấp Nhuế Duệ, tổng Vĩ Nhuễ, Hai ông bà hiển lành phúc hậu, ngày Viên (hiệu đêm vun trồng cây đức, làm phúc, tô tượng, đúc chuông cung tién vio đền, chủa hiểm nỗi ông bà đã ngoài 40 tuổi mà vẫn muôn đường con cái Ngày 42m họ Phạm đốt hương cầu khắn thấu đến Thiên đường Ngọc Hoàng lấy làm cảm thương cho đồi Đệ nhị Tiên Nương giáng trần đầu thai làm eon ho Phạm đến năm 40 tuổi sẽ ở về trời Đêm dé Pham Thái Bà chiêm bao được Tây cũng Vương Mẫu cho quả đào thơm, KẺ từ đó bà mang thai Đến ngày giáng thể, đúc tiên chúa vào vái ạy Hoàng thân, Phụ mẫu rồi chảo các văn
võ, bá quan cũng
Trang 38‘gift minh tinh diy thi Pham Thai lã sinh hạ một bé gái Đó là ngày 6
tháng 3 năm Thiệu Bình thứ nhất đời vua Lê Thái Tông (1434) Liên tưởng đến giấc mơ của mình, ông đãđặt tên con là Phạm Thị Tiên Nga Hai ông bà
Thái Công hốt ste mừng vui, châm sóc thương yêu con như ngọc ngà Năm tháng qua di, iên chúa Phạm Thị Tiên Nga cảng lớn cảng inh đẹp và rất hiểu thảo với cha me Năm 15 tuổi, tiên chúa đã lớn khôn, lại có nhan sắc nên nhiều người đã đến uớm hoi, se duyên kết tóc, nhưng tiên chúa một lòng giữ tắm lòng nh bạch chỉ lo đền ơn đáp nghĩa sinh thành Khi tiên chúa ngoài
30 tổi, bai ông bà Thái Công đều
hiểu vẹn tròn và biết dén on bi con đã có lòng giúp dỡ gia m lượt quan đời lên chúa lo liệu chữ inh, Tir khi cha
giúp dân đấp đê, ngăn nước phát triển kinh tế, xây dựng làng xã, xây dựng
cđền chùa, lo chữa bệnh cứu người Vào đêm ngày 2 tháng 3 năm Hồng Đức
thứ 4 (1473) tiên chúa đã hết bạn trần Tự dưng giỏ rung cây nghiêng mị
loạn cũng mây ngũ sắc hạ xuống rước Tiên chúa về Thiên cung, Trước khi đi Tiên chúa cằm dao cắt quả đảo tiên không may bị tất tay rơi 3 giọt miu uống biển thành 3 cái giếng nhỏ lưu lại ở rin gian Vì thể nhân dân địa phương côn gọi là Công chúa Ba Khê
“Tròn 40 năm Tiên nữ Quỳnh Nga phụng mạng giáng trần lâm con ho
"Phạm Bà chỉ chuyên tâm lo phụng dưỡng báo hiểu cha mẹ, giúp đỡ nhân gian
chăm lo sản xuất, tr bệnh cứu người Tiên chúa tr thành một kiệt xuất anh
Trang 3938
là Thánh Mẫu Sau khi về:
hùng, được người đời sau ngưỡng mộ tôn là T
“Thiên cung, tuy vui thú với non tiên nhưng trong lòng tiên chúa vẫn luôn nhớ
Ề miễn hạ giới Một ngày kỉ trên Thiên cung trong tiết Vạn Thọ đúc Ngọc Hoàng thượng để, trên bàn nào là những Sơn hảo hãi vị, dưới sân ng là Vũ
«én khi đến lượt được đăng thọ từu lên đức Ngọc H
chưa hết thin thức, xúc động rồi không may rơi chén ngọc làm mẻ một góc
i thi Tiên chúa vẫn
khiển cho Ngọc LIoàng thất ý truyền cho mỡ số ngọc rà soát hạ giới xem si là người từ bị lương thiện sẽ cho đem tích giáng xuống đầu thai con nhà Ấy Vì
không may trong tiết Vạn Thọ, tiên nữ Quỳnh Nga lại bị trích giáng xuống
trần làm con nhà họ Lê ở xã An Thái, huyện Thiên Bản (nay là xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tinh Nam Đỉnh), ông Lê Thái Ông (hiệu là Đức Chính), vợ là
“Trần Thị Tự (hiệu là Phúc Thuần),
đông bà ăn ở iễn lành phúc đức, chăm làm,
việc thiện, ngày đêm hương hoa thờ phụng phật Ông bà đã được toại nguyện
đón nhân bé gai vào ngày 15 thing § năm Đỉnh Ty, đời vua Lê Anh Tông niên hiệu Thiên Hưu năm thứ nhất (1557) Theo giắc mơ của mình, ông bà đã đặt tên con là Giáng Tiên, Giáng Tiên là người con gái tả sắc vẹn toàn, Năm
18 1
vốn là dòng đôi họ Trần, tuy có xã về nỗi tộc nhưng nhờ ân huệ của vương triều nên khi nhiễu tuổi ông về nơi thôn dã để cự trú Ba năm xum họp sinh được một ti, một gái Đền năm 21 tuổi Giáng Tiên li trở về Thiên Quốc Giữa chỗn Thiên cung mà “Lòng trẫn náo nức” vì nhớ chồng, thương con và
"Ngọc Hoang Ini cho xuống trần gian phong là Liễu Hạnh công chúa Sau khỉ sắp xếp yên bề gia thất Liễu Hạnh vân du thiên hạ, dng phép thắn thông mà
tủa Trần Công,
láng Tiên kết duyén cùng Đào Lang,
Trang 40”
gia ơn người tiện, trừng tử kẻ ác Dã từng hiển tình ở Tây Hồ đàm đạo, đề
thơ xướng họa với Phùng Khắc Khoan
Đã có rất nhiều huyền thoi về tiến chúa đã được truyền tụng trong dân gian Rời Tây HỖ tiên chúa vào Nghệ An tới làng Sóc gặp Mai Sinh vấn là
“hậu thân của Đảo Lang Tình xưa lại hàn gắn, rồi lại một nam từ ra đời Mai Sinh thị đổ làm quan ở Hàn Lâm Viện Tiên chúa hết hạn ở về trời Trong lồng Tiên chúa vẫn chưa hết nhớ cảnh tn ai, tiên chúa lại xin Ngọc Hoàng
ho đặc ân trắc giáng bắt thường để được Vân lai trằn giới, LẪn này Tiên nữ
được mang theo 2 thị nữ là Qu Hoa công chúa và Thuy Hoa công chúa tr giáng xuống trẫn dùng phép thần đễ khuyến thiện trừ ác nhiều khi vượt lên cả
lê tue khiển cho tru đình cho là yêu quái đem quản tiểu trừ Vua phải ding
dn dao st tiên quân thánh dùng meo mới lùa được Tiên chúa Trước uy lực
Sau đó
của Tiên chúa, sự ngường mộ của dân, iều đình không dám hạch ôi
“Tiên chúa đem tâm hướng tới phật đài giúp dân trừ địch, giúp nước trừ giặc
đã được phong là Chế Thắng hòa diệu dại vương; sắc phong là Ma Hoàng công chứa, rồi Mẫu nghĩ Thiên hạ Các đời sau đều tôn là Tổi lnh thượng đăng thin va được xếp vào hàng Tứ bắt từ trong thần điện Việt Nam; được thờ phụng rộng rãi ở nhiễu ni trong cả nước
Phủ Nép (Quảng Cung Linh Từ) dược xây đụng từ rất sớm Tương truyền rằng, ngay sau khỉ bà Phạm Thị Tiên Nga tên thân Thánh mẫu Liễu Hạnh hóa về tri ĐỂ tr ân công đức với Người, dân lâng Ví Nhu đã lập phủ
thờ phụng ngay trên nền nhà cũ gọi là Phủ Quảng cung và tôn làm Phúc thân,
là Thánh Mẫu Những ngôi chùa lúc sin thời Mẫu thường đến lễ bái và góp phần tụ sửa, nhân dân địa phương cũng lập đền thờ bà như Phủ Nhu, Phủ Ngạn, Phú Đi Như vậy có thể thấy rằng Pha Nắp được xây dựng lần đầu
im Hồng Đức (1473) Hình dạng ngôi phủ khi đó như thể nào, hiện
hông còn tải liệu để khảo cứu Trái qua nhiều lẫn trùng tu, ôn tạo vị trí của