1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thương lượng trong quan hệ lao động. Liên hệ thực tiễn thương lượng TNHH Samsung Electronic Thái Nguyên

20 18 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thương lượng trong quan hệ lao động. Liên hệ thực tiễn thương lượng TNHH Samsung Electronic Thái Nguyên
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Minh Nhàn
Trường học Trường đại học Thương Mại
Chuyên ngành Quản trị Nhân lực
Thể loại Bài Thảo Luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 734,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị nhân lực BÀI THẢO LUẬN Học phần Quan hệ lao động Đề tài Thương lượng trong quan hệ lao động Liên hệ thực tiễn thương lượng Giảng viên Ths Nguyễn Thị Minh Nhàn N.

Trang 1

Trường đại học Thương Mại Khoa Quản trị nhân lực

 BÀI THẢO LUẬN Học phần: Quan hệ lao động

Đề tài: Thương lượng trong quan hệ lao động Liên hệ

thực tiễn thương lượng

Giảng viên: Ths Nguyễn Thị Minh Nhàn Nhóm: 06

Lớp học phần: 2224HRMG0512

Hà Nội

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận 4

1.1 Khái niệm, đặc điểm của thương lượng trong quan hệ lao động 4 1.2 Các hình thức và sản phẩm của thương lượng trong quan hệ lao động .7 1.3 Tổ chức thương lượng trong quan hệ lao động 9

2 Liên hệ thực tiễn thương lượng tập thể tại công ty TNHH Samsung electronics Thái Nguyên 12

2.1 Tổng quan doanh nghiệp 12 2.2 Thực trạng thương lượng tập thể tại công ty TNHH electronics Thái Nguyên 14 2.3 Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng

thương lượng tập thể tại công ty TNHH Samsung electronics Thái Nguyên .17

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong các quan hệ xuất hiện, tồn tại và được thừa nhận nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động là một loại quan hệ đặc biệt bởi nó vừa là quan hệ

có tính cá nhân, vừa là quan hệ có tính tập thể; vừa là quan hệ kinh tế, vừa là quan hệ mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc Quan hệ lao động trong thị trường được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và không trái pháp luật Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động trong thị trường lao động chủ yếu là quy định của Bộ luật Lao động và văn bản hướng dẫn

Như đã trình bày, quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, bình đẳng giữa các bên do đó, về lý thuyết quan hệ lao động không

có xung đột, bởi vì người ta không thể bất đồng và dẫn đến tranh chấp với những quyền và nghĩa vụ do chính mình tạo ra Tuy nhiên, có rất nhiều các nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau mà dường như tranh chấp lao động là vấn đề có tính khách quan và phổ biến Về khách quan, thỏa thuận của các bên trong quan hệ lao động được thực hiện tại một thời điểm nhất định với những điều kiện, khả năng, mong muốn có tính thời điểm Tuy nhiên, quan hệ lao động lại được thực hiện thường trong một thời gian khá dài, theo đó cùng với sự thay đổi về quy mô và khả năng phát triển của doanh nghiệp, điều kiện kinh tế - xã hội, lạm phát dẫn đến sự thay đổi về điều kiện, khả năng thực hiện quan hệ lao động của hai bên Về chủ quan, đó là sự chuyển biến và thay đổi về nhận thức của các chủ thể dù theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực cũng ảnh hưởng đến các thỏa thuận ban đầu của quan hệ lao động Ngoài ra, các quy định của pháp luật lao động đang trong quá trình

bổ sung, hoàn thiện cùng nhân tố ảnh hưởng đến tính ổn định của quan hệ lao động xảy ra khá phổ biến và như là một tất yếu của thịtrường lao động Tranh chấp lao động xảy ra được giải quyết theo nhiều phương thức khác nhau trong

đó phương thức thương lượng luôn được khuyến khích, ưu tiên lựa chọn Nhận thấy việc nghiên cứu hoạt động thương lượng tập thể trong quan

hệ lao động là cần thiết và để tìm hiểu sâu hơn về tầm quan trọng của thương lượng tập thể trong quan hệ lao động nhóm em đã cùng nhau thảo luận về đề

tài “Thương lượng trong quan hệ lao động Liên hệ thực tiễn thương lượng”

Trang 4

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm, đặc điểm của thương lượng trong quan hệ lao động

1.1.1 Khái niệm thương lượng trong quan hệ lao động

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thương lượng được định nghĩa là một quá trình trong đó hai hoặc nhiều bên có lợi ích chung và lợi ích xung đột ngồi lại cùng nhau để thảo luận nhằm tìm kiếm một thỏa thuận chung

1.1.2 Đặc điểm của thương lượng trong quan hệ lao động

Thứ nhất, đặc điểm về mục đích thương lượng: Mục đích thương lượng

là nhằm đạt đến một thỏa thuận về các vấn đề các bên quan tâm và thường là nguyên nhân gây ra xung đột, thiết lập các điều khoản, các quy tắc chung về quan hệ lao động Xung đột trong quan hệ lao động là sự tồn tại tất yếu khách quan, không thể tránh khỏi nên các bên cần có những biện pháp để phòng ngừa xung đột và khi xuất hiện xung đột thì các bên phải cùng nhau tìm cách giải quyết nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của mối quan hệ đó Việc giải quyết xung đột nếu được thực hiện tốt sẽ làm giảm đi những căng thẳng giữa các bên và làm tăng cường hợp tác trong công việc Bản chất của mọi xung đột chính là sự khác biệt và mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ lao động Dù rằng chủ thể nào cũng muốn tăng lợi ích của mình, điều

đó cùng nghĩa với phải giảm lợi ích của đối tác - điều mà đối tác không mong muốn và không dễ dàng chấp nhận nếu không đánh đổi một "lợi ích" khác Chính vì lẽ đó tất cả các biện pháp hợp lý được sử dụng trong thời điểm trước cũng như sau khi xung đột xuất hiện đều phải thực hiện trên cơ sở thương lượng về lợi ích mà mỗi bên đạt được trên cơ sở lợi ích chung thống nhất Thương lượng chính là cơ sở cho việc tìm kiếm sự cân bằng giữa các lợi ích trong xã hội (chia sẻ tổng lợi ích xã hội mà quan hệ lao động đó mang lại) Mục đích cụ thể của thương lượng tập thể là: Xác định điều kiện lao động và

sử dụng lao động; Điều chỉnh mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động; Bổ sung những quy định tối thiểu của pháp luật; Ngăn chặn

và giải quyết tranh chấp lao động

Thứ hai, đặc điểm về nội dung của thương lượng: Nội dung thương lượng lao động xoay quanh các vấn đề phát sinh tại nơi làm việc như: Tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp và nâng lương; Thời gian làm việc, nghỉ ngơi, làm thêm giờ, nghỉ giữa ca; Bảo đảm việc làm đối với người lao động; Bảo đảm an toàn

Trang 5

lao động, vệ sinh lao động; Thực hiện nội quy lao động, thỏa ước lao động; Các nội dung khác mà hai bên quan tâm

Thứ ba, đặc điểm về các bên tham gia thương lượng: Các bên tham gia chính là các đối tác của một mối quan hệ nhất định mà có những lợi ích chung, cũng như những lợi ích xung đột nhau, cần phải bàn bạc, trao đổi, thoả thuận để đạt đến sự thống nhất chung

Thứ tư, đặc điểm về nguyên tắc thương lượng: Nguyên tắc tổng quát của thương lượng lao động là "cho để mà nhận", có nghĩa là các bên xem xét những điều kiện hiện có của mình cũng như của đối tác, cân nhắc kết quả có thể đạt được trong tương lai, đảm bảo sự bình đẳng tương đối chấp nhận được giữa hai bên trong cùng một vấn đề lao động Thương lượng thành công hướng tới sự thoả thuận bằng cách nêu bật những lợi ích chung và làm giảm

đi mức độ mâu thuẫn Khi đó, các bên thương lượng trong sự tin cậy lẫn nhau Thứ năm, đặc điểm về thời điểm thương lượng: Thời điểm thực hiện thương lượng lao động là vào bất cứ thời điểm nào khi một bên đối tác có yêu cầu và báo trước Khi nhận được yêu cầu thương lượng của đối tác thì bên còn lại phải tạo điều kiện, sắp xếp theo đúng quy định thời gian để tiến hành thương lượng Thương lượng được sử dụng như một công cụ hữu hiệu trong tất cả các giai đoạn trước (thương lượng để thống nhất các điều kiện thiết lập quan hệ lao động), trong (thương lượng để phòng và giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quan hệ lao động) và sau khi thiết lập quan hệ lao động (thương lượng để xác định các trách nhiệm còn lại sau khi chấm dứt quan hệ lao động) Thông thường để đảm bảo hiệu quả, thương lượng được chia làm hai loại thương lượng định kỳ và thương lượng đột xuất

Thứ sáu, đặc điểm về kết quả của thương lượng trong quan hệ lao động: Kết quả của thương lượng lao động có thể tồn tại ở bốn dạng là: thắng - thua, thua - thắng, thua - thua, thắng - thắng

- Dạng Thắng - Thua: Xảy ra khi quá trình thương lượng kết thúc, bên người lao động đạt được hầu hết các yêu cầu đặt ra, còn người sử dụng lao động không đạt được kết quả gì, hoặc đạt được rất ít

- Dạng Thua - Thắng: Xảy ra khi kết thúc thương lượng, bên người lao động không đạt được điều gì cả hoặc đạt được rất ít, còn bên người sử dụng lao động thì đạt được hầu hết mục tiêu đề ra

Trang 6

- Dạng Thua - Thua: Xảy ra khi kết thúc thương lượng, các bên tham gia vào quá trình thương lượng không đạt được thoả thuận chung Cả người sử dụng lao động và người lao động đều không đạt được mục tiêu, lợi ích xung đột vẫn lấn át lợi ích chung của hai bên, và một nguy cơ đã xuất hiện, đó là xung đột về lợi ích giữa hai bên ngày càng gay gắt

- Dạng Thắng - Thắng: Khi kết thúc cuộc thương lượng tập thể, cả người

sử dụng lao động và người lao động đều đạt được một số mục tiêu trên cơ sở những mục tiêu đặt ra ban đầu Lợi ích chung của các bên tăng lên, lợi ích xung đột đã được giảm thiểu tới mức thấp nhất và có thể chấp nhận được Mối quan hệ lao động không những không bị tổn hại mà còn được phát triển với sự gắn bó khăng khít của hai bên

1.1.3 Vai trò của thương lượng trong quan hệ lao động

Một là, thương lượng góp phần khẳng định vị thế của các bên trong quan

hệ lao động Trên bàn thương lượng mỗi bên của quan hệ lao động đều có quyền như nhau Các bên tham gia quan hệ lao động được tự do thỏa thuận các vấn đề phù hợp với đặc điểm và điều kiện của mình trong khuôn khổ pháp luật và hệ thống chính sách của Nhà nước Mặc dù vậy, như đã phân tích đặc trưng của quan hệ lao động vừa "bình đẳng" và vừa "không bình đẳng" do năng lực, do điều kiện của mỗi chủ thể là khác nhau Thương lượng lao động cho phép khắc phục tình trạng lạm quyền của người sử dụng lao động, nâng cao vị thế của người lao động hay tập thể người lao động, tránh tình trạng quá khác biệt giữa những người lao động trong doanh nghiệp Mặt khác, thương lượng lao động cũng giúp người sử dụng lao động tránh được sự đòi hỏi quá đáng của những người lao động khi họ đoàn kết lại và được sự trợ giúp của những cán bộ công đoàn có năng lực quan hệ lao động tốt Như vậy, nhờ thương lượng mà vị thế của các chủ thể quan hệ lao động trở nên hài hòa hơn, các chủ thể thực hiện "tròn vai" hơn danh phận của chủ thể quan hệ lao động

Hai là, thương lượng góp phần phòng ngừa tranh chấp lao động và giải

quyết các tranh chấp lao động đã phát sinh Thương lượng góp phần phòng ngừa tranh chấp, thật vậy thương lượng như những liều "vắc xin" hữu hiệu để hạn chế những mâu thuẫn trong quan hệ lao động Thương lượng là công cụ được các chủ thể sử dụng ngay từ thời điểm đầu tiên khi họ tìm đến với nhau

Họ thương lượng để tìm được sự thỏa thuận về các điều kiện làm việc để rồi

từ đó quan hệ lao động được thiết lập Thương lượng tiếp tục là những liều thuốc quý để các bên sử dụng trong suốt quá trình diễn biến và diễn tiến của quan hệ lao động khi những thông số của môi trường quan hệ lao động thay đổi Thương lượng vẫn có giá trị cho đến khi một trong hai bên không còn muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ lao động nữa Cứ như vậy thương lượng

Trang 7

là một sợi chỉ đỏ kết nối những lợi ích, các nhu cầu, nhiều mong muốn của từng chủ thể quan hệ lao động trên cơ sở lợi ích chung, phòng tránh cũng như phát hiện kịp thời được những xung đột tiềm ẩn từ xa Thương lượng góp phần giải quyết tranh chấp lao động Khi tranh chấp lao động nảy sinh, trước khi phải nhờ đến sự giúp đỡ của các bên trung gian việc thương lượng trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hay giữa các tổ chức đại diện của họ sẽ giúp họ hiểu nhau hơn và đặc biệt sẽ làm rõ nguyên nhân dẫn đến xung đột

Ba là, thương lượng góp phần phát triển môi trường văn hóa trong tổ

chức Thương lượng là nghệ thuật ứng xử Thương lượng là kết quả của nỗ lực của cả hai bên quan hệ lao động trong việc tìm đến một sự thỏa thuận chung Kết quả thương lượng tốt là cả hai bên cùng "thắng" có nghĩa là người lao động hay người sử dụng lao động đều có lợi, doanh nghiệp phát triển và ngày càng khẳng định được uy tín và thương hiệu Thương lượng là quá trình dân chủ hoá, cùng gánh vác trách nhiệm trong lao động giữa người sử dụng

và người lao động Việc gắn trách nhiệm của từng người với công việc được giao sẽ giúp cho mỗi người phát huy được tính tự chủ, sáng tạo trong lao động, giúp cho nhịp độ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp được ổn định, nhịp nhàng, có nề nếp Thương lượng trên cơ sở tôn trọng và hợp tác là cách ứng xử văn hóa và nó chỉ có thể tồn tại trong một môi trường văn hóa (môi trường mà sự quan tâm, chia sẻ, trách nhiệm, chân thành tồn tại trong mỗi con người)

1.2 Các hình thức và sản phẩm của thương lượng trong quan hệ lao động

1.2.1 Các hình thức thương lượng trong quan hệ lao động

Theo chủ thể thương lượng, thương lượng được chia làm hai loại thương

lượng cá nhân và thương lượng tập thể

- Thương lượng cá nhân chỉ xảy ra trong phạm vi doanh nghiệp là cuộc thương lượng giữa người lao động duy nhất với người sử dụng lao động hay đại diện người sử dụng lao động và các vấn đề liên quan đến việc làm cá nhân, điều kiện làm việc cá nhân, tiền lương và các khoản thu nhập cá nhân khi người lao động thực hiện loại lao động cụ thể nào đó

- Thương lượng tập thể được thực hiện giữa đại diện người lao động hay

tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hay tổ chức đại diện người sử dụng lao động về những vấn đề liên quan đến lao động, sử dụng lao động chung của những người lao động trong tập thể lao động trong một thời gian xác định

Theo mục đích thương lượng có hai loại thương lượng phòng ngừa tranh

chấp và thương lượng giải quyết tranh chấp Thương lượng phòng ngừa tranh chấp được thực hiện trước khi mâu thuẫn, tranh chấp lao động xảy

Trang 8

ra, loại thương lượng này thể hiện tính chủ động, tinh thần hợp tác của các bên trong việc tìm ra sự thống nhất những điều kiện lao động hợp lý chuẩn

bị những thuận lợi cho quan hệ lao động Thương lượng giải quyết tranh chấp được thực hiện khi mâu thuẫn, tranh chấp lao động đã xuất hiện, loại thương lượng này là tìm sự thống nhất cho việc hóa giải những mâu thuẫn

để tiếp tục duy trì quan hệ lao động và mở ra giai đoạn phát triển mới cho quan hệ lao động

Theo cấp tiến hành thương lượng, thương lượng được chia làm ba loại:

thương lượng cấp doanh nghiệp, thương lượng cấp ngành và thương lượng cấp quốc gia Thương lượng cấp doanh nghiệp là thương lượng giữa tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động hay đại diện người sử dụng lao động về các vấn đề thương lượng liên quan đến vấn đề điều kiện lao động, sử dụng lao động và giải quyết tranh chấp lao động trong phạm vi toàn doanh nghiệp Thương lượng cấp ngành là thương lượng giữa tổ chức đại diện người lao động cấp ngành với tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp ngành về các nội dung liên quan đến điều kiện lao động, sử dụng lao động áp dụng trong một ngành Thương lượng cấp quốc gia là thương lượng giữa tổ chức đại diện người lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp quốc gia với cơ quan quản lý nhà nước

về các nội dung liên quan đến thiết lập, chuẩn hóa thay đổi các điều kiện việc làm, tiêu chuẩn lao động quốc gia

Ngoài ra, còn phải kể đến một số hình thức thương lượng tập thể khác như thương lượng chủ chốt, thương lượng theo mẫu Thương lượng chủ chốt là hình thức thương lượng về một vấn đề quan trọng, vấn đề chủ chốt trước (như thương lượng về tiền lương), sau đó, các bên tiếp tục tìm kiếm để mở rộng nguyên tắc trong thỏa thuận với các vấn đề khác (như phúc lợi, trợ cấp, tiền thưởng ) và với các bên khác (nhóm người khác) Thương lượng theo mẫu là một hình thức thương lượng, trong đó người lao động hoặc tổ chức công đoàn thương lượng với một hoặc một nhóm người sử dụng lao động trong một doanh nghiệp hoặc một ngành dựa trên những thoả thuận đã đạt được tại các doanh nghiệp, các ngành khác (được coi là mẫu điển hình, cuộc thương lượng

ở các doanh nghiệp, ngành này còn là cuộc thương lượng điểm để các doanh nghiệp khác, ngành khác noi theo)

1.2.2 Các sản phẩm của thương lượng trong quan hệ lao động

- Hợp đồng lao động là sản phẩm của thương lượng lao động cá nhân Hợp đồng lao động là một thỏa thuận, thể hiện sự thống nhất ý chí giữa người sử dụng lao động và cá nhân người lao động về điều kiện lao động và điều kiện

sử dụng lao động trong quan hệ lao động, có tính ràng buộc về mặt pháp lý với các bên cam kết Thực chất của hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa một bên là người có nhu cầu về việc làm và một bên là người sử dụng lao

Trang 9

động có nhu cầu thuê mướn sức lao động Hợp đồng lao động chính là cơ sở cho việc hình thành quan hệ lao động cá nhân

- Thỏa ước lao động tập thể là sản phẩm thương lượng tập thể Thỏa ước lao động tập thể còn được gọi là tập hợp khế ước, hay cộng đồng hiệp ước lao động, hay hợp đồng lao động tập thể,… Thực chất thoả ước lao động tập thể

là những quy định nội bộ của doanh nghiệp, trong đó bao gồm những thỏa thuận giữa tập thể người lao động và tập thể người sử dụng lao động về những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động Đây là kết quả của thương lượng tập thể giữa hai bên ở cấp doanh nghiệp, đồng thời là cơ sở để thiết lập quan hệ lao động tập thể Thỏa ước tập thể là một sự tiến bộ xã hội, thừa nhận quyền của người lao động làm công ăn lương, được thông qua đại diện của mình là công đoàn để xác định một cách tập thể những điều kiện lao động, nhất là những điều kiện có lợi cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật lao động

1.3 Tổ chức thương lượng trong quan hệ lao động

1.3.1 Chuẩn bị thương lượng

- Mục đích: Giai đoạn chuẩn bị thương lượng được thực hiện với mục đích chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình thương lượng, xác lập các mục tiêu mong muốn từ thương lượng, xây dựng kế hoạch thương lượng, xác định

rõ những hậu quả trong trường hợp cuộc thương lượng lao động tập thể không

đi đến kết quả

- Cách thức thực hiện:

1.3.2 Tiến hành thương lượng

- Mục đích: Đây là giai đoạn đánh dấu quá trình thương lượng lao động thực

sự diễn ra Mục đích của giai đoạn này là các bên đưa ra những đề xuất,

Trang 10

nhượng bộ lẫn nhau về chủ đề thương lượng trên cơ sở hiểu rõ quan điểm, lập trường của nhau

- Cách thức thực hiện:

1.3.3 Kết thúc thương lượng

- Mục đích: Giai đoạn kết thúc thương lượng diễn ra khi người sử dụng lao động và người lao động đã đạt được thoả thuận thống nhất giữa hai bên Song

sự thỏa thuận đó mới được trao đổi trên bàn thương lượng nên phải được chính thức hóa Mặc dù đây là giai đoạn khép lại cuộc thương lượng nhưng lại

mở ra một tương lai mới cho quan hệ lao động giữa hai bên

- Cách thức thực hiện:

+ Thống nhất lại những thoả thuận đã đạt được Tất cả những vấn đề thỏa thuận sẽ được tập hợp một cách hệ thống trước khi được ghi thành văn bản Các bên xác lập lại đã hiểu rõ về những gì thực tế đã thống nhất được trong suốt quá trình thương lượng tập thể

+ Văn bản hoá các kết quả đạt được Những kết quả thu được trong quá trình thương lượng lao động cần được thể hiện rõ ràng, chính xác bằng văn bản Văn bản này có được xây dựng dưới hình thức bản thỏa thuận nên thường được cấu trúc thành chương, điều, khoản, mục…

+ Ký bản thỏa thuận Khi đã đạt được mục tiêu thương lượng đặt ra, các văn bản xác lập kết quả thương lượng được xây dựng Văn bản này chỉ có giá trị khi người lao động hay đại diện của tổ chức công đoàn và người sử dụng lao động cùng ký Văn bản thường được ký thành nhiều bản, mỗi bên đối tác của quan hệ lao động giữ một bản và những bản còn lại gửi tới cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

+ Ghi chép và lưu trữ hồ sơ Ghi chép hồ sơ cuộc thương lượng là công việc mà mỗi bên đối tác cần chủ động lựa chọn người thực hiện một cách cẩn thận và chính xác Đây là công việc ghi lại diễn biến của quá trình thương lượng lao động tập thể, giúp các bên có được thông tin chính xác phục vụ cho các cuộc thương lượng kế tiếp Đối với cuộc thương lượng đang tiến hành, hồ

Ngày đăng: 21/08/2022, 12:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w