NHTW trực thuộc Chính phủ NHTW trực thuộc Chính phủ Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đả
Trang 1www.themegallery.com LOGO
Môn Ngân hàng trung ương
GVHD: Đặng Hương Giang
Trang 3Câu 3 – Chương 1
ngân hàng TW? Lấy VD minh họa
Trang 4Các loại mô hình của NHTW
Mô hình thứ nhất - Mô hình
NHTW trực thuộc Chính phủ:
+ NHTW là cơ quan ngang Bộ,
chịu sự lãnh đạo trực tiếp của
Chính phủ.
+ Chính phủ kiểm tra giám sát
hoạt động của NHTW
Các nước đang sử dụng mô hình
này: phần lớn là các nước Đông
Á (Hàn Quốc, Đài Loan,
Singapo, Việt Nam …)
Có 2 loại mô hình
tổ chức
Mô hình thứ hai – Mô hình
NHTW trực thuộc Quốc hội: + NHTW độc lập vs Chính phủ + Chính phủ không giám sát kiểm tra hoạt động
ở hầu hết các quốc gia phát triển như Mỹ , Đức , Nhật , Thụy Điển , Thụy Sỹ… thì mô hình tổ chức là độc lập với
chính phủ
Trang 5NHTW trực thuộc Chính phủ
NHTW trực thuộc Chính phủ
Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp
chính sách tiền tệ của ngân hàng
trung ương đồng bộ với các chính
sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm
bảo mức độ và liều lượng tác động
hiệu quả của tổng thể các chính
sách đối với các mục tiêu vĩ mô
trong từng thời kỳ.
MH được xem là phù hợp với yêu
cầu cần tập trung quyền lực để
khai thác tiềm năng xây dựng
trong thời kỳ tiền phát triển
Chính phủ dùng công cụ phát hành để bù đắp bội chi ngân sách
NN, gây ra lạm phátNHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ
Sự phụ thuộc vào Chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ , góp phần tăng trưởng kinh tế
Trang 6Ví dụ: NHTW Việt Nam
Ngày 16/6/2010 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội khóa XII chính thức thông qua và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2011 Theo đó, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang
bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam.
Trang 7Lợi ích từ việc sử dụng mô hình này
- Tạo được sự đồng bộ
trong mục tiêu phát triển kinh tế vs chính phủ
-Tương lai để tăng cường hiệu quả hoạt động vs tư cách
là 1 NHTW trong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao tính độc lập là hết sức cần thiết do đó sử dụng mô hình này là nền tảng cho những thay đổi mang tính độc lập sau này
- Giúp Chính phủ hoàn thành mục tiêu đề ra, giảm thâm hụt ngân sách NN
- Tạo niềm tin và hệ thống ngân hàng
Trang 8Các hạn chế:
Chính phủ quyết định chính sách (cả mục tiêu và chỉ tiêu hoạt động) Đây là 1 trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả HĐ của NHNN Việt Nam hiện nay
Mức độ độc lập tự chủ chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn chế bất cập làm giảm tính linh hoạt trong việc điều hành HĐ
Mất đi sự chủ động trong việc thực hiện CS tiền tệ Vì là
cơ quan của Chính phủ nên có khi NHNN phải thực hiện các nhiệm vụ không phù hợp vs CS tiền tệ
Trang 9dưới quyền quyết định của thủ tướng Thein Sein
dưới quyền quyết định của thủ tướng Thein Sein
Chính sách tiền tệ - "người hầu gái" cho chính sách tài khóa
Chi tiêu chính phủ duy
trì ở mức cao trong giai
đoạn 2000-2010, tương
ứng lượng tín dụng cung
cấp cho chính phủ cũng
gần ngang bằng
Có thể thấy, nguồn thu từ
thuế không bù đắp nổi
chi tiêu ngân sách, mà
chủ yếu được tài trợ bằng
Trang 10Chi tiêu chính phủ lớn nhưng không phục vụ cho đầu tư Bằng chứng là chi tiêu chính phủ lên tới 60% GDP năm 2006, trong khi tỷ lệ đầu tư của Myanmar thấp nhất trong khối nước Đông Nam Á Rõ ràng, chính phủ Myanmar đã lạm dụng tiền nhằm phục vụ cho chính trị thay vì kinh tế
Chi tiêu chính phủ cao, nhưng tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế Myanmar nằm trong nhóm thấp nhất khu vực ASEAN, trung bình 14,2% (Nguồn: ADB)
Trang 11cho chính phủ vay Nhưng cần lưu ý rằng, mức nợ chính phủ trong giai đoạn 1998-2008 trung bình xấp xỉ 100% GDP
Nợ chính phủ liên tục ở mức cao trong giai đoạn 1998-2008.
(Nguồn: Bộ Tài chính Myanmar)
Trang 12hụt ngân sách cho chính phủ Myanmar Tình trạng thâm hụt ngày càng nghiêm trọng từ năm 2001 đến nay, gây ra áp lực ngày càng lớn cho NHTW.
Thâm hụt ngân sách chính phủ Myanmar bắt đầu trầm trọng
từ năm 2001 cho đến nay
(Nguồn: Bộ Tài chính Myanmar)
Trang 13 Tài trợ cho chính phủ bằng cách in thêm tiền sẽ lành mạnh nếu có tài sản đảm bảo (vàng, chứng thư vàng, tài sản cố định,…) Ngược
lại, khi in tiền quá tay và không có tài sản đảm bảo, chắc chắn
lạm phát cao là điều nền Myanmar không thể tránh khỏi.
Không còn tin tưởng đồng kyat đã mất giá, không chấp nhận thứ
thuế ngầm đang bào mòn giá trị tài sản (thuế lạm phát), người dân Myanmar quay sang sử dụng đô la Mỹ, khiến cho tình trạng đô la hóa nền kinh tế trở nên phổ biến
Quyết định thả nổi đồng kyat hồi tháng 4/2012, được coi như sự
công nhận thất bại của chính phủ Myanmar sau nỗ lực cố định tỷ giá đã quá chênh lệch với thị trường chợ đen
Để cho nhân dân mất niềm tin vào đồng nội tệ chính là thất bại
lớn nhất của bất kì NHTW nào trên thế giới và không may, đó lại chính là trường hợp của NHTW Myanmar
Trang 14NHTW không trực thuộc Chính phủ
NHTW không trực thuộc Chính phủ
Ưu điểm
+ NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính sách
tiền tệ mà không bị áp lực chi tiêu của ngân sách hoặc các áp lực kinh tế
khác
+ NHTW do có vai trò hết sức quan trọng tới đời sống kinh tế nên không
thể đặt dưới quyền của chính phủ mà phải do quốc hôi kiểm soát.
+ Tăng hiệu quả của mục tiêu kiểm soát lạm phát , tăng trưởng kinh tế ,
giảm thâm hụt ngân sách và ổn định hệ thống tài chính
+ Được giao quyền lựa chọn mục tiêu , mà không chịu sự can thiệp chỉ đạo
từ Chính phủ hay cơ quan liên quan khác : rõ ràng , cụ thể, và thống nhất
+ Quyết định trong việc thực thi các chính sách nên tăng tính chủ động và
giảm độ trễ của chính sách tiền tệ
+ Có thể từ chối mục tiêu thâm hụt ngân sách
+ Tự chủ về cơ chế tổ chức và cơ chế tài chính nhân sự
Trang 15Nhược điểm
-Điểm bất lợi chủ yếu của mô hình này là khó có
thể kết hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ (do
NHTW thực hiện) và chính sách tài khóa (do
Chính phủ chi phối) để quản lý vĩ mô một cách
hiệu quả.
- Có nguy cơ bị thâu tóm cũng như sự kiểm soát
của tư nhân, các nhà tài phiệt ngân hàng, tài chính
nếu không có cơ chế phù hợp
Trang 16Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ – FED
Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ – FED
Ở Hoa Kỳ, năm 1908 Đạo luật Aldrich – Vreeland được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đã xác định rõ sự cần thiết phải quy
định hệ thống ngân hàng độc lập với Chính phủ Sau đó, năm
1913, Đạo luật về Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ khẳng định
NHTW Hoa Kỳ (Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ – FED) có vị
trí độc lập với Chính phủ, trực thuộc Quốc hội, độc lập trong
việc quyết định cung ứng tiền tệ và thực hiện CSTTQG
Theo đạo luật này, cơ quan lãnh đạo cao nhất của FED là Hội
đồng Thống đốc, người điều hành FED là Chủ tịch Hội đồng
gồm 7 thành viên, do Tổng thống bổ nhiệm, với sự tham vấn
và đồng thuận của Thượng viện (Phần 10, Điều 1), là cơ quan quyền lực đối với hoạt động của NHTW, mọi quyết định đều
được thông qua một cách dân chủ, đa số, tránh tình trạng lạm
quyền
Trang 17 Không một nghị sỹ nào trong Quốc hội được là thành viên của Hội đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ liên bang hoặc là cán bộ hay là Giám đốc của Ngân hàng Dự trữ liên bang
(Phần 4 Điều 13)
Hội đồng Thống đốc hoạt động theo quy chế độc lập, là cơ
quan chịu trách nhiệm trước Quốc hội Mỹ (Phần 2B, Khoản
a), có nhiệm vụ điều hòa tiền tệ, tín dụng trong quá trình phát triển của nền kinh tế Mỹ với mục đích đảm bảo sự ổn định giá trị đồng tiền USD và sự tăng trưởng kinh tế, có thẩm quyền quy định mức chiết khấu, mức dự trữ tối
thiểu, điều hòa chính sách thị trường mở, quyết định quy chế hoạt động của các ngân hàng dự trữ liên bang và các ngân hàng thành viên hệ thống dự trữ liên bang, giám sát
hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ
Trang 18Nhược điểm
FED bị khống chế bởi các nhà tài phiệt ngân hàng và tập đoàn công nghiệp hàng đầu tại Mỹ và châu Âu
FED luôn đóng vai trò là NHTW của Hoa Kỳ và cũng là
NHTW của thế giới, bởi FED luôn hội tụ những bậc kỳ tài về lĩnh vực tài chính ngân hàng (nói đúng hơn là
những nhà tài phiệt hàng đầu thế giới về lĩnh vực ngân hàng) nắm giữ vai trò điều hành FED
Họ là những thế lực có thể tạo ra bất cứ cuộc khủng
hoảng nào, nếu họ cần Vì vậy, bất cứ cuộc khủng
hoảng nào xảy ra, đều có nguyên nhân và ẩn chứa đằng sau đó là cả một thế lực thao túng
Trang 19Trong các năm 1857, 1870, 1907 vì muốn ép Chính phủ Mỹ xây dựng lại
NHTW tư hữu (tức FED ngày nay), các nhà tài phiệt ngân hàng
quốc tế liên tục hợp tác và cùng nhau tạo ra khủng hoảng tài chính, từ đó khống chế hoàn toàn quyền phát hành tiền của
Mỹ Chỉ tính riêng cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra tại Mỹ năm 1930 đến 1933, tổng cộng đã có 8.812 ngân hàng phải
đóng cửa
Đứng về người vay tiền, chỉ tính riêng 1 ngày, tại 1 bang của
Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng 1930-1933 đã có 60.000 ngôi nhà và nông trường bị phát mại Một thủ đoạn kiếm tiền khác của các ngân hàng quốc tế đó là tạo ra các cuộc suy thoái kinh tế
Trang 20Câu 3 – Chương 2
Trang 211
11 1
Lịch sử hình thành và
vị thế của đồng EURO
Dấu hiệu chống giả
3
33 3
Hình dạng đồng EURO
2
22 2
Trang 22Một mặt việc hòa nhập kinh tế thông qua Liên minh thuế quan 1968 đã có những bước tiến dài, mặt khác sự
sụp đổ của hệ thống tỷ giá hối đoái Bretton
Woods dẫn đến việc tỷ giá hối đoái dao động mạnh mà theo như cách nhìn của giới chính trị thì đã cản trở
thương mại
Trang 23Năm 1970 lần đầu tiên ý tưởng về một liên minh tiền tệ
châu Âu được cụ thể hóa
Dự tính với mục đích thành lập liên minh này cho đến
năm 1980 đã thất bại mà một trong những nguyên nhân
là sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods
Thay vào đó Liên minh Tỷ giá hối đoái Châu Âu được
thành lập vào năm 1972 và sau đó là Hệ thống Tiền tệ Châu Âu vào năm 1979
Hệ thống tiền tệ châu Âu có nhiệm vụ ngăn cản việc các tiền tệ quốc gia dao động quá mạnh
Trang 24Đơn vị Tiền tệ Châu Âu (tiếng Anh: European Currency Unit – ECU), một đơn vị thanh toán, ra đời vì mục
đích này và có thể xem như là tiền thân của đồng
Euro
Năm 1988 một ủy ban xem xét về liên minh kinh tế và
tiền tệ dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Ủy ban châu
Âu, Jacques Delors, đã soạn thảo cái gọi là báo cáo Delors, dự định thành lập Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu qua 3 bước
1 Lịch sử hình thành đồng EURO
Trang 25Bước đầu tiên bắt đầu vào
ngày 01/07/1990, việc lưu chuyển vốn
được tự do hóa giữa các nước trong
Liên minh châu Âu
Vào ngày 01/01/1994 bước thứ hai bắt
đầu: Viện tiền tệ Châu Âu, tiền thân
của NHTW Châu Âu (ECB), được
thành lập và tình trạng ngân sách quốc
gia của các nước thành viên bắt đầu
được xem xét
Ngoài ra, vào ngày 16/12/1995 Hội đồng
Châu Âu tại Madrid (Tây Ban Nha) đã
quyết định tên của loại tiền tệ mới:
"Euro"
NHTW Châu Âu (ECB)
Trang 26Bước thứ ba của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu bắt đầu
có hiệu lực cùng với cuộc họp của Hội đồng châu Âu từ
ngày 01/05 đến ngày 03/05 năm 1998, xác định 11 quốc gia thành viên của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ theo các tiêu
chuẩn hội tụ được quy định trước
Ngày 19/06/2000 Hội đồng châu Âu đi đến "nhận định là Hy Lạp
đã đạt hội tụ bền vững ở mức độ cao và trên cơ sở này thỏa mãn các yêu cầu cần thiết để đưa tiền tệ chung vào sử dụng"
Vì thế 01/01/2001 Hy Lạp gia nhập vào Liên minh Kinh tế và
Tiền tệ châu Âu
1 Lịch sử hình thành đồng EURO
Trang 27Vào ngày 1 tháng 1 năm 1999 tỷ lệ hối đoái giữa Euro và các đơn vị tiền tệ quốc gia được quy
định không thể thay đổi và Euro trở thành tiền tệ chính thức
Ngay ngày hôm sau, ngày 02/01, các thị trường chứng khoán tại Milano (Ý), Paris (Pháp) và
Frankfurt am Main (Đức) đã định giá tất cả các chứng khoán bằng Euro
Trang 281 Lịch sử hình thành đồng EURO
Một thay đổi khác có liên quan với thời điểm đưa đồng Euro vào
sử dụng là việc thay thế cách ghi giá cho ngoại tệ
Trước ngày đã định, việc ghi theo giá (1 USD = xxx DEM) là
hình thức thông dụng Từ ngày 01/01/1999, trong mua bán
ngoại tệ tại các nước thành viên, giá trị của ngoại tệ được ghi theo lượng (1 EUR = xxx USD)
Thêm vào đó, có thể chuyển khoản bằng Euro (Tại Hy Lạp từ
01/01/2001) Các tài khoản và sổ tiết kiệm được phép ghi
bằng Euro và tiền cũ Cổ phiếu và các chứng khoán khác chỉ còn được phép mua bán bằng Euro Việc phát hành đồng Euro đến người tiêu dùng bắt đầu vào ngày 01/01/2002
Trang 29Khu vực Euro:
Khu vực Euro (17) Những quốc gia thuộc Liên Âu quy định sẽ phải gia nhập hệ thống Euro(8) Quốc gia thuộc Liên Âu có quyền rút khỏi hệ thống Euro(1)
Quốc gia Liên Âu dự định mở cuộc trưng cầu ý dân về việc gia nhập hệ thống Euro nhưng với quyền rút khỏi hệ thống(1)
Khu vực ngoài khối Liên Âu dùng Euro theo thỏa hiệp riêng(5)
Khu vực ngoài khối Liên Âu dùng Euro
mà không có thỏa hiệp(4) Các nước hay lãnh thổ ngoài Liên minh châu Âu nhưng sử dụng đồng Euro được
tô đậm bằng đường gạch màu xanh
2.1 Khu vực đồng EURO
Trang 31Vào 01/01/2014, Latvia sẽ là nước thứ 18
Một vài quốc gia khác đã tham gia vào liên minh tiền
tệ với thành viên trong vùng Euro và vì vậy cũng đưa đồng Euro vào sử dụng như là tiền tệ chính thức Các quốc gia này là:
Monaco San MarinoTòa thánh Vantican
Trang 32a, Các thành viên không chính thức
Bên cạnh các thành viên chính thức, một số quốc gia hay địa phận khác cũng đã tự quyết định chọn Euro làm tiền tệ chuẩn (không
có quyết định của EU):
Andorra (có ý định phát hành tiền kim loại Euro, cho đến nay vẫn không có sự đồng ý của EU)
KosovoMontenegroCác thành viên không chính thức này đã từ bỏ tiền tệ riêng hay từ
bỏ một trong số những tiền tệ trước đây và thay vào đó là dùng Euro, vì thế mà (về mặt đồng Euro) các thành viên này không còn độc quyền tiền tệ nhưng lại không có ảnh hưởng đến chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương châu Âu
Trang 33c, Các quốc gia trong EU tạm thời không sử dụng đồng Euro
Anh, Đan Mạch và Thụy Điển đã quyết định không dùng tiền tệ mới
và vẫn giữ tiền tệ chính thức của quốc gia
Tính tại thời điểm tháng 1 năm 2011, có 10 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu sau đây vẫn chưa tham gia vào khu vực đồng Euro:
Anh Ba Lan Bulgaria Cộng hòa Séc Đan Mạch Hungary
Latvia Litva Romania Thụy Điển
Trang 342.1 Tác động kinh tế
2 Vị thế đồng EURO
Đối với các nước thành viên EU.
- Thị trường cùng Châu Âu sẽ trở nên thực sự đồng nhất và có hiệu quả hơn
- Tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch ngoại hối
- Giảm rủi ro và chi phí bảo hiểm rủi ro
- Khuyến khích đầu tư kích thích tăng trưởng kinh tế
- Tăng cường hoạt động thương mại giữa các nước thành viên
- Tăng cường thu hút các nhà đầu tư từ bên ngoài vào và thúc đẩy hoạt động đầu tư trong khối.Các hoạt động du lịch sẽ được tăng cường có điều kiện phát triển do các khách du lịch sẽ có nhiều cơ hội tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ hơn từ sự đồng nhất của thị trường chung
Trang 35Đối với nền kinh tế thế giới.
Trên thị trường tài chính.
EURO tham gia vào lưu thông tiền tệ sẽ tác động đến những nước có sử dụng EURO nói riêng và đối với cả thế giới nói chung, trước hết là trên thị
trường tài chính
Ngoài EU, nhiều nước khác cũng sẽ chuyển một phần dự trữ ngoại tệ
của mình từ USD sang EURO để bớt lệ thuộc vào đồng USD Theo
một bản nghiên cứu của NHTW châu Âu tỷ lệ của đồng Euro trong dự trữ ngoại tệ trên toàn cầu tăng từ 13% năm 2001 lên 16,4% năm 2002 và đến 18,7% năm 2003, cũng trong thời gian này tỷ lệ của đồng Đô la Mỹ giảm
từ 68,3% (2001) xuống 67,5% (2002) và trong năm 2003 còn 64,5%
Sự ra đời của EURO còn làm đa dạng hoá các thị trường chứng
khoán Tỷ lệ chứng khoán tư nhân được phát hành bằng các đồng tiền
Châu Âu năm 1981 là 13% đã tăng lên 37% Các đồng tiền Châu Âu
trong trái phiếu quốc tế đã tăng lên gấp đôi và hiện nay đạt tới 37%