1 2 ʻXây dựng và sử dụng bài tập định hướng năng lực trong dạy học Chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh 1 Lí do chọn đề tài Đổi mới phương pháp dạy học(PPDH).
Trang 1ʻXây dựng và sử dụng bài tập định hướng năng lực trong dạy học Chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) là một trong những vấn đề trọng tâm củanền giáo dục thế giới trong những năm gần đây và cũng là một trong những chủ trươngquan trọng về giáo dục của Đảng và nhà nước ta Trong chiến lược phát triển giáo dục
2011 – 2020, tại Quyết định số 711/QĐ-TTG ngày 13/6/2012, Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ XI đã dưa ra mục tiêu tổng quát cho nền giáo dục nước ta: ʻʻĐến năm
2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập”
Hiện nay có rất nhiều PPDH nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của HS, trong
đó DH sử dụng bài tập định hướng năng lực(BTĐHNL) là một biện pháp DH phù hợpvới xu hướng đổi mới DH hiện đại, mà người học phải mang những hiểu biết lí thuyết đểgiải quyết các BTĐHNL, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
Việc sử dụng BTĐHNL mang lí thuyết lại gần với thực tế, góp phần xây dựnghứng thú học tập và chuẩn bị kĩ năng cần thiết cho người học bước vào cuộc sống, xuất
phát từ những ưu điểm đó tôi đã chọn ʻʻXây dựng và sử dụng bài tập định hướng năng lực trong dạy học Chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
2 Mục đích của Đề tài
Xây dựng và sử dụng bài tập định hướng năng lực trong dạy học Chương Oxi – Lưuhuỳnh lớp 10 nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Thu thập các nguồn tài liệu lí luận
- Phân tích tổng quan các nguồn tài liệu đã thu thập
3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động DH chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 thông qua dự giờ, thămcác lớp đang học chương Oxi - Lưu huỳnh lớp 10 năm học 2020-2021, để thu thập thôngtin liên quan đến việc sử dụng BTĐHNL trong DH
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Thăm dò ý kiến giáo viên (GV) dạy lớp 10 bằng phiếu trưng cầu ý kiến hoặcphỏng vấn trực tiếp để nắm bắt số liệu sau mỗi tiết dạy
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
Căn cứ vào các dạng BTĐHNL trong giáo trình và các tài liệu khác để xây dựng
và sử dụng BTĐHNL trong DH cho phù hợp với HS trường
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Soạn giáo án và trực tiếp giảng dạy ứng dụng tổ chức PPDH có sử dụng BTĐHNL
Trang 2trong giờ dạy một số bài thuộc chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý thông tin
Sau khi thu nhập các thông tin và số liệu liên quan, chúng tôi sẽ tiến hành thống
kê, phân tích và đánh giá các số liệu đó
4 Tình trạng của giải pháp đã biết
Xây dựng và sử dụng BTĐHNL trong DH nói chung và dạy học môn hóa học nóiriêng là một trong những nội dung đang được quan tâm triển khai nghiên cứu trong thờigian gần đây Trong lĩnh vực hóa học phải kể đến nghiên cứu của một số tác giả như:
- Nguyễn Thị Phương Thúy (2017), Vận dụng dạy học dự án trong dạy học phần Hóa học hữu cơ nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở trường Trung học phổ thông miền núi phía Bắc, 2017, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội.
- Vũ Thái Ngọc (2016), Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tỉnh Điện Biên thông qua bài tập hóa học phần Hóa học phi kim lớp 10 trung học phổ thông,
Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội
- Nguyễn Thế Hùng (2016), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chương Cacbon – Silic (Hóa học 11) nhằm phát năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh THPT, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, ĐHSP Hà Nội và một số tác giả
khác, tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu sử dụng BTĐHNL như một phương pháp bổ trợtrong nghiên cứu của mình và cũng chưa nghiên cứu một cách đầy đủ về dạng bài tậpnày Đồng thời, qua tìm hiểu cũng cho thấy chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu cụthể về việc xây dựng và sử dụng BTĐHNL trong DH chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10
Do vậy tôi cho rằng việc nghiên cứu về xây dựng và sử dụng BTĐHNL trong DHchương Oxi – Lưu huỳnh Lớp 10 là có khả thi và có ý nghĩa về mặt năng lực
5 Giả thuyết khoa học
Vận dụng hệ thống BTĐHNL trong DH một cách hợp lí cùng sự kết hợp với một
số kĩ thuật DH tích cực sẽ giúp tích cực hóa hoạt động học tập của HS
6 Điểm mới/ tính mới của đề tài
- Phân loại BTĐHNL và sử dụng bài tập này trong quá trình DH theo mức độnhận thức, theo kiểu bài học
- Xây dựng hệ thống BTĐHNL tương đối đầy đủ và có hệ thống
- Nghiên cứu cách sử dụng BTĐHNL trong DH, phương pháp sử dụng hệ thốngBTĐHNL trong các điều bài lên lớp: Nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, hoàn thiện, vậndụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, kiểm tra – đánh giá kiến thức
- Điều tra thực trạng việc sử dụng BTĐHNL của một số GV dạy ở trường
- Cùng giáo viên bộ môn đưa ra BTĐHNL cụ thể sử dụng trong tiết học từ đónâng cao hiệu quả giờ học và yêu thích môn học
7 Nội dung của giải pháp đề nghị công nhận đề tài
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lý luận về bài tập hóa học
1.1.1 Khái niệm của bài tập hóa học
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: ʻʻBài tập là bài ra cho HS làm để tập vận dụngnhững điều đã học ̓ ̓
Trang 3Bài tập hóa học (BTHH) là một vấn đề mà trong trường hợp tổng quát được giảiquyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở cáckhái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học BTHH là phương tiện chính vàhết sức quan trọng dùng để rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức cho HS Là nhiệm vụhọc tập mà GV đặt ra cho người học, buộc người học vận dụng các kiến thức, năng lựccủa mình để giải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách tíchcực, hứng thú và sáng tạo Là phương tiện cơ bản để dạy HS tập vận dụng các kiến thứchóa học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học.
BTHH gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏithuộc về hóa học GV đưa ra để HS vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, màtrong khi hoàn thành chúng HS nắm được một tri thức hay kỹ năng nhất định
1.1.2 Phân loại bài tập hóa học
Quá trình DH hóa học gồm 3 công đoạn là DH bài mới; ôn tập, hệ thống hóa kiếnthức và luyện tập; kiểm tra – đánh giá kết quả DH
a) Ở công đoạn DH bài mới ta nên phân loại BTHH theo nội dung để phục vụ choviệc DH và củng cố bài mới Tên của mỗi loại có thể như tên các chương trong sách giáokhoa (SGK)
Ví dụ ở lớp 10 THPT ta có:
- Bài tập về cấu tạo nguyên tử
- Bài tập về liên kết hóa học
- Bài tập xác định số oxi hóa
- Bài tập về phản ứng hóa học nói chung và phản ứng oxi hóa – khử
- Bài tập sử dụng phương pháp bảo tào electron
- Bài tập về nhóm halogen và các hợp chất
- Bài tập về nhóm Oxi – Lưu huỳnh
- Bài tập về tốc độ phản ứng – cân bằng hóa học
Mỗi loại ta cần có một hệ thống bài tập bảo đảm các yêu cầu như sau:
- Phủ kín kiến thức của chương hay của một vấn đề
- Số lượng cần đủ để hình thành các kĩ năng cần thiết
- Mở rộng và đào sâu thêm kiến thức của chương
- Có một số bài tập hay để phát triển năng lực tư duy, rèn trí thông minh cho HS.Muốn có một hệ thống bài tập như trên (ví dụ khoảng 20 bài) cần tuyển chọn từhàng 100 bài tập hiện có về loại đó
b) Ở công đoạn ôn tập, hệ thống hóa kiến thức và kiểm tra – đánh giá do mangtính chất tổng hợp, có sự phối hợp giũa các chương ta có thể phân loại dựa trên các cơ sởsau:
- Dựa vào hình thức, BTHH có thể chia thành: Bài tập trắc nghiệm tự luận(TNTL)(tự trả lời), bài tập trức nghiệm khách quan (TNKQ)
+ Bài tập TNTL là dạng bài tập yêu cầu HS phải kết hợp cả kiến thức hóa học,ngôn ngữ hóa học và công cụ toán học để trình bày nội dung của bài toán hóa học
+ Bài tập TNKQ là loại bài tập hay câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn và yêu cầu
HS suy nghĩ rồi dùng 1 ký hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời
- Dựa vào tính chất hoạt động của HS khi giải bài tập có thể chia thành bài tập lý
Trang 4thuyết (khi giải không phải làm thí nghiệm) và bài tập TN (khi giải phải làm thí nghiệm).
- Dựa vào chức năng của bài tập có thể chia thành bài tập đòi hỏi sự tái hiện kiếnthức (biết, hiểu, vận dụng), bài tập rèn tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánhgiá)
- Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành bài tập định tính và định lượng
- Dựa vào kiểu hay dạng bài tập có thể chia thành:
+ Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
có thể có phần TNKQ cùng với giải thích, viết phương trình hóa học…
Trong đó tôi tập trung nghiên cứu về BTĐHNL.
1.1.3 Vai trò của bài tập trong dạy học hóa học.
Bài tập có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình DH hóa học, gồm những vaitrò sau:
- Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng được các kiến thức đã học, biến nhữngkiến thức tiếp thu được qua các bài giảng thành kiến thức của chính mình Khi vận dụngđược một kiến thức nào đó, kiến thức đó sẽ được nhớ lâu
- Đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động phong phú, hấp dẫn.Chỉ có việc vận dụng được một kiến thức vào giải bài tập, HS mới nắm vững kiến thứcmột cách sâu sắc
- Ôn tập, củng cố và hệ thống kiến thức một cách thuận lợi nhất Trong khi ôn tậpnếu chỉ đơn thuần nhắc lại kiến thức, HS sẽ chán vì không có gì mới, hấp dẫn Thực tếcho thấy HS khả, giỏi chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập
- Rèn luyện được những kĩ năng cần thiết về hóa học như kĩ năng cân bằngphương trình phản ứng; kĩ năng tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóahọc; kĩ năng thực hành như đun nóng, sấy, hòa tan, lọc,… kỹ năng nhận biết các hóa chấtgiúp góp phần vào việc giáo dục kỹ năng tổng hợp cho HS
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS Một bài tập có nhiềucách giải thông thường theo các bước quen thuộc nhưng cũng có cách giải độc đáo, thôngminh, rất ngắn gọn mà lại chính xác Đưa ra một bài tập rồi yêu cầu HS giải bằng nhiềucách rèn luyện trí thông minh cho các em
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tác phương như rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thực,sang tạo, chính xác, khoa học Nâng cao lòng yêu thích học tập bộ môn Rèn luyện tácphong lao động có văn hóa, lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gang, ngăn nắp, sạch
sẽ nơi làm việc thông qua việc giải các BTĐHNL
Trang 51.1.4 Bài tập định hướng năng lực
1.1.4.1 Khái niệm.
BTĐHPTNL là dạng BT chú trọng đến sự vận dụng những hiểu biết riêng lẻ khácnhau để giải quyết một vấn đề mới với người học có gắn với thực tiễn đời sống Dạng BTnày giúp HS phát triển khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết các vấn đề trong cuộcsống
1.1.4.2 Vai trò của bài tập định hướng năng lực trong dạy học hóa hoc.
Trong DH hóa học, BTĐHNL đã được coi là PPDH có hiệu quả cao trong việc rènluyện kỹ năng hóa học Nó giữ vai trò quan trọng trong mọi khâu, mọi loại bài dạy hóahọc, là phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng DH hóa học
BTĐHNL vừa là mục đích, vừa là nội dung của việc dạy và học hóa học Bài tậpcung cấp cho HS kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và mang lại niềm vui khi pháthiện, tìm ra đáp số
BTĐHNL có chức năng DH, giáo dục, kiểm tra, phát triển Những chức năng nàyđều hướng tới việc thực hiện các mục đích DH Tuy nhiên trong thực tế các chức năngnày không tách rời với nhau
Đối với HS, BTĐHNL là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả, giúp HS nắmvững kiến thức hóa học, phát triển tư duy, hình thành kỹ năng, vận dụng kiến thức vàothực tế đời sống, sản xuất và nghiên cứu khoa học Từ đó làm giảm nhẹ sự năng nề, căngthẳng của khối lượng kiến thức lý thuyết và giúp tạo hứng thú say mê học tập cho HS
Đối với GV, BTĐHNL là phương tiện, là nguồn kiến thức để hình thành kháiniệm hóa học, tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trình DH cụ thể là:
+ BTĐHNL được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát triển kiếnthức, kỹ năng
+ BTĐHNL dùng để mô phỏng một số tình huống thực tế đời sống để HS vậndụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra
+ Sử dụng bài tập để tạo tình huống có vấn đề kích thích hoạt động tư duy tìm tòisáng tạo và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao hứng thú học tập bộmôn
Như vậy BTĐHNL được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, giúp HStìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức hóa học một cách sáng tạo từ đó giúp HS
có năng lực phát hiện vấn đề - giải quyết vấn đề học tập hoặc năng lực đặt ra có liên quanđến hóa học, giúp HS biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiếnthức của chính mình
Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A.Đanilôp nhậnđịnh: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúngvào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành"
BTĐHNL tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế, tạo cho HS sựhứng thú trong học tập và xây dựng cho thái độ đúng đắn, phương pháp học tập tích cực,sáng tạo, năng lực tự học, vận dụng kiến thức được học vào cuộc sống
Ngoài ra dạng bài tập này giúp cho HS có những hiểu biết về hệ tự nhiên, hoạtđộng và tác động của nó đối với cuộc sống của con người, nắm được những ảnh hưởnghoạt động của con người lên tự nhiên Từ đó, HS ý thức được vai trò của bản thân trongcuộc sống, có ý thức và trách nhiệm về vấn đề môi trường
Xây dựng cho các em kỹ năng quan sát, thu thập thông tin và phân tích thông tin
Trang 6hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học Phát triển cho các em kỹ năng nghiên cứunăng lực và kỹ năng tư duy để giải thích các hiện tượng, luôn chủ động trong cuộc sống.
Bài tập về các hiện tượng tự nhiên làm cho HS thấy quá trình hóa học luôn xảy raquanh ta Giải thích được các hiện tượng tự nhiên, các em sẽ yêu thích môn hóa học hơn
1.1.4.3 Phân loại bài tập hóa học định hướng năng lực.
Dựa trên các bậc nhận thức và đặc điểm của học tập theo định hướng phát triển
NL, các BT được xây dựng theo các dạng sau:
- Các BT dạng tái hiện: yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức BT tái hiện không
phải trọng tâm của BT định hướng NL
- Các BT vận dụng: các BT vận dụng những kiến thức trong các tình huống không
thay đổi Các BT này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng cơ bản, chưa đòi hỏisáng tạo
- Các BT GQVĐ: các BT này đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng
kiến thức vào những tình huống thay đổi GQVĐ Dạng BT này đòi hỏi sự sáng tạo củangười học
- Các BT gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn :các BT vận dụng và GQVĐ gắn
các VĐ với bối cảnh và tình huống thực tiễn Những BT này là những BT mở, tạo cơ hộicho nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
1.2 Lý luận về tích cực hóa hoạt động học tập
Tính tích cực(TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại vàphát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạọ xãhội Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếucủa giáo dục
TTC học tập – về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cốgắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức TTC nhận thức tronghoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú.Hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên TTC TTC sảnsinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập sáng tạo sẽ phát triển tư giác, hứng thú, bồidưỡng động cơ học tập TTC học tập biểu hiện ở những dấu hiệu như: hăng hái trả lời cáccâu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trướcvấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủđộng vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vàovấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tâp, không nản trước những tình huống khókhăn…
TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt trước: Gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn
- Tìm tòi: Độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau vềmột số vấn đề…
- Sáng tạo: Tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
1.2.2 Biểu hiện của tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh
TTC nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trongquá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ởmức độ cao các chức năng tâm lí (như hứng thú, chú ý, ý chí…) nhằm đạt được mục đíchđặt ra với mức độ cao
GV muốn phát hiện được HS có TTC học tập không, cần dựa vào những dấu hiệu
Trang 7sau đây:
1 Có chú ý học tập không?
2 Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không (thể hiện
ở việc hăng hái phát biểu ý kiến, ghi chép…)?
3 Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao giao không?
4 Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không?
5 Có hiểu bài không?
6 Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?
7 Có vận dụng được các kiến thức đã học vào năng lực không?
8 Tốc độ học tập có nhanh không?
9 Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học?
10 Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
11 Có sáng tạo trong học tập không?
Về mức độ tích cực của HS trong quá trình học tập có thể không giống nhau, GV
có thể phát hiện được điều đó nhờ dựa vào một số dấu hiệu sau đây:
1 Tự giác học tập hay bị bắt buộc bởi những tác động bên ngoài (gia đình, bạn bè,
xã hội)
2 Thực hiện yêu cầu của thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa?
3 Tích cực nhất thời hay thường xuyên liên tục?
4 Tích cực tăng lên hay giảm dần?
5 Có kiên trì vượt khó hay không?
Một vài đặc điểm về TTC của HS:
1 TTC của HS có mặt tự phát và mặt tự giác:
+ Mặt tự phát: là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì,hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà HS đều có ở những mức độ khác nhau.Cần coi trọng những yếu tố tự phát này, nuôi dưỡng, phát triển chúng trong DH
+ Mặt tự giác: là trạng thái tâm lí có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạtđộng để chiếm lĩnh đối tượng đó TTC tự giác thể hiện ở óc quan sát, tình phê phán trong
tư duy, trí tò mò khoa học
2 TTC nhận thức phát sinh không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầusinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu văn hóa… Hạt nhân cơ bản củaTTC nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tao nên do sự thúc đẩy của hệ thốngnhu cầu đa dạng
3 TTC nhận thức và TTC học tập có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng khôngphải là một Có một số trường hợp, TTC học tập thể hiện ở hành động bên ngoài, màkhông phải là TTC trong tư duy
Đó là những điều cần lưu ý khi đánh giá TTC nhận thức của HS Gần đây, một sốnhà lí luận cho rằng: với những HS Khá, Giỏi, thông minh… việc sử dụng giáo cụ trựcquan, PPDH nêu vấn đề đôi khi như là một vật cản, làm chậm quá trình tư duy vốn diễn
ra rất nhanh và diễn ra qua trực giác của các em này
1.2.3 Sử dụng bài tập định hướng năng lực nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
1.2.3.1 Quy trình sử dụng bài tập định hướng năng lực trong dạy học hóa học
Trang 8BTĐHNL gắn với định hướng tình huống đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp, đánh giá
và vận dụng kiến thức riêng lẻ vào những định hướng, tình huống thực xảy ra trong nănglực Với những bài tập mở tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận, nhiều phương án giải quyếtkhác nhau, góp phần hình thành ở HS các năng lực như: năng lực xử lí thông tin, nănglực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào năng lực Với các bài tập nàykhông có một đáp án duy nhất, có thể chia thành các mức: mức đầy đủ, chưa đầy đủ vàkhông đạt
Trong DH hóa học, BTĐHNL có thể sử dụng trong các dạng bài học khác nhau vàtheo các mục đích khác nhau như hình thành kiến thức mới, ôn tập củng cố hoặc kiểm trađánh giá
Với bài dạy nghiên cứu tài liệu mới, GV có thể sử dụng BTĐHNL để tạo tìnhhuống có vấn đề, kích thích hoạt động tư duy của HS và tổ chức cho HS thảo luận nhóm
để đưa ra các câu trả lời cho các bài tập mở hoặc các cách giải quyết vấn đề năng lựckhác nhau Từ đó, yêu cầu HS đánh giá và xác định câu trả lời đầy đủ nhất, cách giảiquyết vấn đề tối ưu nhất
Với bài dạy luyện tập, GV dùng BTĐHNL để mở rộng, phát triển kiến thức, rèn kĩnăng và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào năng lực HS GV có thể tổ chức cho
HS tự đề xuất các vấn đề năng lực cần được tìm hiểu, giải thích và nêu ra dưới dạng câu
đố để các bạn cùng tìm câu trả lời Ví dụ: kim cương nhân tạo được sản xuất từ cácnguyên liệu nào? Có viên kim cương nào có kích thước to bằng Trái Đất không?
Với các BTĐHNL đòi hỏi sự tích hợp kiến thức của nhiều môn học để giải quyếtcác vấn đề phức hợp thì GV có thể xây dựng thành nội dung hóa học các kiến thức mônhọc khác liên quan đến những vấn đề xã hội, môi trường,… sẽ giúp HS phát triển đượccác năng lực chung và chuyên biệt đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức vào năng lựcđộc lập sáng tạo
Với đặc điểm đa dạng và phong phú của BTĐHNL, việc phát triển năng lực vậndụng kiến thức vào năng lực cho HS có thể thực hiện bằng việc sử dụng các phươngpháp, kỹ thuật DH tích cực và nhiều hình thức tổ chức DH khác nhau trong các loại bàidạy, kiểm tra đánh giá, hoạt động ngoại khóa (các cuộc thi, thăm quan,…) hoặc thực hiệncác đề tài nghiên cứu khoa học
1.2.3.2 Ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng bài tập có định hướng năng lực trong dạy học hóa học.
*Ưu điểm:
a) Về kiến thức
Thông qua giải BTĐHNL, HS hiểu kĩ hơn các khái niệm, tính chất hóa học; củng
cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hóa kiến thức; mở rộng sự hiểu biết mộtcách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề khối lượng kiến thức của HS
Bên cạnh đó, BTĐHNL giúp HS thêm hiểu biết về thiên nhiên, môi trường sống,ngành sản xuất hóa học, những vấn đề mang tính thời sự trong nước và quốc tế
BTĐHNL còn giúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức để lí giải và cải tạo nănglực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
b) Về kĩ năng
Việc giải BTĐHNL giúp HS:
- Rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhận thức, năng lực phát hiện và giảiquyết vấn đề liên quan đến thực tế cuộc sống
Trang 9- Rèn luyện và phát triển các kĩ năng thu thập thông tin, vận dụng kiến thức để giảiquyết tình huống có vấn đề của thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo.
c) Về giáo dục tư tưởng
Việc BTĐHNL có tác dụng:
- Rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác, sáng tạo tronghọc tập và trong quá trình giải quyết các vấn đề năng lực
- Thông qua nội dung bài tập giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học môn hóa học từ
đó tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết, làmtăng hứng thú học môn hóa học và từ đó có thể làm cho HS say mê nghiên cứu khoa học
và công nghệ giúp HS có những định hướng nghề nghiệp tương lai Ngoài ra, vì cácBTĐHNL gắn liền với đời sống của chính bản thân HS, của HS, của gia đình, của địnhphương và với môi trường xung quanh nên càng góp phần tăng động cơ học tập của HS:học tập để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và của cộng đồng Với những kếtquả ban đầu của việc vận dụng kiến thức hóa học phổ thông để giải quyết các vấn đềnăng lực HS thêm tự tin vào bản thân mình để tiếp tục học hỏi, tiếp tục phấn đấu và pháttriển
d) Giáodục kĩ thuật tổng hợp
Bộ môn hóa học có nhiệm vụ giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS, BTĐHNL tạođiều kiện tốt cho GV làm nhiệm vụ này Những vấn đề của kĩ thuật của nền sản xuất yêucầu được biến thành nội dung của các BTĐHNL, lôi cuốn HS suy nghĩ về các vấn đề của
kĩ thuật BTĐHNL còn cung cấp cho HS những số liệu lý thú của kĩ thuật, những số liệumới về phát minh, về năng suất lao động, về sản lượng ngành sản xuất hỗn hợp đạt đượcgiúp HS hòa nhịp với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật thời đại mình đang sống
- Đối với HS: đòi hỏi HS phải có kiến thức sâu rộng, kinh nghiệm sống phongphú, tư duy logic
1.3 Một số nguyên tắc khi xây dựng bài tập định hướng năng lực
1.3.1 Nội dung bài tập hóa học định hướng năng lực phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại
Trong một BTĐHNL, bên cạnh nội dung hóa học nó còn có những dữ liệu nănglực Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác, không tùy tiện thayđổi Ví dụ: Na được thu nhận vào cơ thể chủ yếu dưới dạng ion Na+ (muối NaCl ).Thường mỗi ngày mỗi người trưởng thành thì cần khoảng 4-5 gam Na+ tương ứng với 10-12,5 gam muối ăn được đưa vào cơ thể Khi xây dựng bài tập năng lực không thể tùy tiệnđổi hàm lượng này Làm như vậy là phi thực tế, không chính xác khoa học
Trong một số bài tập về sản xuất hóa học nên đưa vào dây chuyền công nghệ đangđược sử dụng ở Việt Nam hoặc trên Thế giới, không nên đưa các công nghệ đã quá cũ vàlạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng
1.3.2 Bài tập hóa học định hướng năng lực phải gũi với kinh nghiệm của học sinh
Trang 10Những vấn đề năng lực có liên quan đến hóa học thì rất nhiều, rất rộng NếuBTĐHNL có nội dung về những vấn đề gần gũi với kinh nghiệm, với đời sống và môitrường xung quanh HS thì sẽ tạo cho các em động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi giải.
Ví dụ:
1) Khi người ta bị cảm thường đánh cảm bằng dây bạc và khi đó dây bạc bị hóađen Hãy giải thích hiện tượng đó và cho biết để dây bạc trắng trở lại trong dân gianngười ta thường làm gì?
2) Các chữ mạ vàng trên bìa sách có phải làm từ vàng thật không? Đó là gì?
3) Ở các cây xăng ta thường nhìn thấy ghi A83, A90,
HS với kinh nghiệm có được trong đời sống và kiến thức hóa học đã được học sẽlựa chọn phương án trả lời, giải thích sự lựa chọn của mình
HS sẽ có sự háo hức chờ đời thầy cô đưa ra đáp án đúng để khẳng định
- HS phân tích và giải thích đúng Đây là sẽ niềm vui rất lớn đối với HS vì kinhnghiệm của mình là đúng theo khoa học hóa học
- HS phân tích và giải thích gần đúng hoạc đúng một phần nào đó
Khi HS phân tích và giải thích gần đúng hoặc đúng một phần nào đó thì HS sẽcảm thấy tiếc nuối vì bản thân đã gần tìm ra câu trả lời, từ đó HS sẽ có động lực để quansát năng lực và vận dụng kiến thức hóa học một cách linh hoạt hơn để giải thích các tìnhhuống năng lực hoặc thay đổi việc làm theo thói quen chưa đúng khoa học của bản thân
1.3.3 Bài tập định hướng năng lực phải bám sát nội dung chương trình
Các BTĐHNL cần có nội dung sát với chương trình mà HS được học NếuBTĐHNL có nội dung hoàn toàn mới về kiến thức hóa học thì sẽ không tạo được độnglực cho HS để giải bài tập đó
Ví dụ: Khi dạy bài Ankin (SGK hóa học 11) có thể đưa câu hỏi " Ở ngoài chợ, tạicác vựa trái cây, người ta thường làm chín trái cây bằng gì? Giải thích?"
Hoặc khi dạy bài Nguồn hidrocacbon thiên nhiên (SGK hóa học 11) có thể đưacâu hỏi "Hắc ín là 1 sản phẩm của quá trình chưng cất dầu mỏ, thường dùng làm nhựatrải đường Nếu bị hắc ín dính vào quần áo, người ta phải dùng xăng (dầu hỏa) để tẩy màkhông dùng nước thường Hãy giải thích tại sao?"
1.3.4 Bài tập hóa học định hướng năng lực phải đảm bảo logic sư phạm
- Các tình huống năng lực thường phức tạp hơn những kiến thức hóa học phổthông trong chương trình, nên khi xây dựng BTĐHNL cho HS phổ thông cần phải cóbước xử lý sư phạm để làm đơn giải tình huống năng lực Các yêu cầu giải BTĐHNLcũng phải phù hợp với trình độ, khả năng của HS Cụ thể:
- Với HS yếu hoặc trung bình nên sử dụng câu hỏi mức 1 và 2 ( dựa trên mức độnhận thức của HS )
- Với HS khá hoặc giỏi nên sử dụng câu hỏi mức 3 và 4
- Khi kiểm tra – đánh giá cần sử dụng các loại BTHH ở các mức 1, 2 và 3 để tạođiều kiện cho tất cả các HS đều có thể trả lời được câu hỏi kiểm tra
1.3.5 Bài tập hóa học định hướng năng lực phải có tính hệ thống, logic
Các BTĐHNL trong chương trình cần phải sắp xếp theo chương, bài theo mức độphát triển của HS Trong mỗi chương, bài nên có tất cả các loại, dạng BTĐHNL
Trong quá trình DH, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xây dựng những bàitập năng lực ở mức độ vừa và cao hơn một chút so với mức độ nhận thức của HS để nâng
Trang 11dần trình độ, khả năng nhận thức của HS.
Biến hóa nội dung bài tập năng lực theo phương pháp tiếp cận mođun Xây dựngmột số BTĐHNL điển hình (xây dựng theo phương pháp tiếp cận mođun) và từ đó có thểlắp ráp chúng vào các tình huống năng lực cụ thể, nội dung bài học cụ thể, hoặc tháo gỡbài toán phức tạp thành những bài toán đơn giản, tạo ra những bài tập mới
1.4 Thực trạng của việc sử dụng bài tập năng lực trong dạy học hóa học ở trường
Qua thực tế giảng dạy, tìm hiểm và tham khảo GV tại trường, tôi nhận thấy:
- BTĐHNL đã được GV quan tâm sử dụng trong quá trình DH, tuy nhiên mức độchưa thường xuyên do còn gặp nhiều khó khăn trong sử dụng
- Phần lớn GV sử dụng BT có sẵn trong SGK, SBT cho nhanh, ít khi cho HS làmbài tập vận dụng, thực nghiệm, thí nghiệm hay vận dụng kiến thức vào năng lực đời sống,sản xuất
- GV thường lựa chọn các dạng BTHH truyền thống, quen thuộc, ít phải đầu tưthời gian, kinh phí để chuẩn bị cho mặt bài dạy
- Xuất phát từ thực tế đó dẫn tới hiệu quả mà BTĐHNL đem lại trong qúa trình
DH chưa cao, chưa khuyến kích được TTC, chủ động, sáng tạo của HS
- Nguyên nhân: do BTĐHNL thường mất nhiều thời gian để giải quyết nên GV sợ
bị ảnh hưởng tới quá trình DH Mặt khác sự nhìn nhận về vai trò và hiệu quả của loại bàitập này chưa cụ thể, rõ ràng và tâm lí ngại tìm tòi, vận dụng các kiến thức có tính thời sự,
xã hội mà dẫn tới mức độ và hiệu quả trong việc sử dụng dạng bài tập này trong quá trình
DH chưa cao
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG OXI – LƯU HUỲNH LỚP 10
2.1 Phân tích nội dụng và cấu trúc chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10
2.1.1 Mục tiêu dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10
a) Mục tiêu về kiến thức
Trang 12Thông qua các bài giảng chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 giúp HS nắm được cáckiến thức như sau:
- Biết vị trí nguyên tố oxi, lưu huỳnh trong bảng tuần hoàn, viết được cấu hìnhelectron nguyên tử và cấu tạo phân tử của chúng
- Hiểu được mối quan hệ giữa cấu tạo nguyên tử và tính chất hóa học của nguyên
tố oxi, lưu huỳnh
- Biết được các dạng thù hình và trạng thái tự nhiên của nguyên tố oxi, lưu huỳnh
- Biết những vai trò quan trọng trong đời sống và sản xuất, phương pháp điều chếnguyên tố oxi, lưu huỳnh; ứng dụng, phương pháp điều chế, cách nhận biết các hợp chấtmuối và axit của nguyên tố oxi, lưu huỳnh
b) Mục tiêu về kỹ năng
Rèn luyện cho HS các kỹ năng sau:
- Từ vị trí, cấu tạo nguyên tử, phân tử dự doán tính chất hóa học của đơn chất vàhợp chất nguyên tố oxi, lưu huỳnh ở chương trình hóa học lớp 10
- Vận dụng các kiến thức cơ bản trên để giải bài tập Rèn luyện các kỹ năng giảicác bài tập liên quan
- Giải thích được một số hiện tượng tự nhiên
- Rèn luyện kỹ năng thao tác thí nghiệm an toàn, chính xác
c) Mục tiêu về thái độ
Qua các bài giảng giúp HS:
- Có ý thức tích cực, tự giác và hợp tác trong học tập Nâng cao hứng thú học tập
bộ môn
- Có ý thức bảo vệ môi trường
2.1.2 Nội dung kiến thức chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10
PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC CHƯƠNG OXI – LƯU HUỲNH LỚP 10
thế, bổ xung, tích hợp, lồng ghép
Hướng dẫn thực hiện
Tiết
47,48 Bài 29 Oxi- Ozon. Mục A Oxi
Tích hợp khi dạy bài 29:
- Viết PTHH minh họa tính
chất hóa học và điều chế
Tích hợp BVMT, BĐKH vào mục A,B,C
huỳnh ( 10 tiết)
Trang 13ND1: Lưu huỳnh Mục II.2 Ảnh hưởng
của…
Mục II.1 Hai dạng thù hình của lưu huỳnh
Mục IV Ứng dụng của lưu huỳnh
Mục IV Ứng dụng của lưu huỳnh
Mục V Trạng thái tự nhiên
và sản xuất lưu huỳnh
Yêu cầu cần đạt:
+ Hai d ng thù hình ph bi n ạng thù hình phổ biến ổ biến ến
c a l u huỳnhủa lưu huỳnh ưu huỳnh+ ng d ng, tr ng thái t ứng dụng, trạng thái tự ụng, trạng thái tự ạng thù hình phổ biến ự nhiên, Phưu huỳnhơng pháp sản xuất ng pháp s n xu t ản xuất ất
l u huỳnhưu huỳnhBài thực
hành số 4:
Tính chất của oxi, lưu huỳnh
Thí nghiệm 3, 4 (bài 31)ND2: Hợp
chất của Lưu huỳnh:
Hiđro sunfua Lưu huỳnh đioxit Lưu huỳnh trioxit
Mục điều chế SO2 và SO3(bài 32)
Tích hợp BVMT
Tích hợp vào mục sản xuất
H 2 SO 4
Mục điều chế SO2 và SO3 (bài32)
Tích hợp BVMT Tích hợp vào mục A.B.C
Axit sunfuric
Muối sunfat
Tích hợp BVMT Tích hợp BVMT vào mục I, II
Bài thực hành số 5:
Tính chất các hợp chất của lưu huỳnh
Thí nghiệm 1, 3 (bài 35) Tích hợp khi dạy chủ đề:
Lưu huỳnh và hợp chất của lưu huỳnh
Thí nghiệm 2, 4 (bài 35)
Tích hợp BVMT
ND3: Luyện tập: lưu huỳnh và hợp chất củalưu huỳnh
Tích hợp khi dạy bài 29:
Trang 14năng lực trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10
Để xây dựng bài tập hóa học định hướng năng lực đảm bảo tính chính xác, tínhkhoa học, tính hiện đại; gần gũi với kinh nghiệm của HS; dựa trên nội dung học tập; đảmbảo tính logic sư phạm điều quan trọng là lựa chọn nội dung kiến thức phù hợp
Trong phần hóa học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 lượng kiến thức lớn nhưng
để xây dựng bài tập hóa học định hướng năng lực có thể lựa chọn dựa theo những nguyêntắc sau:
- Nội dung kiến thức có ứng dụng nhiều trong thực tiễn
- Nội dung kiến thức đơn giản gần gũi với HS
- Kiến thức đưa vào bài tập phải là kiến thức đã học
2.2.2 Quy trình thiết kế bài tập định hướng năng lực
Việc xây dựng BTĐHNL được thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu, dạng bài tập và lựa chọn nội dung học tập, hiện tượng, tìnhhuống thực tiễn có liên quan
Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết từ nội dung học tập, vấn đề thực tiễn, đảmbảo mâu thuẫn hoặc vấn đề này có thể giải quyết được trên cơ sở tri thức đã có của HS
Bước 3: Thiết kế bài tập: Lựa chọn các dữ liệu xuất phát hoặc bối cảnh tình huống(kiến thức đã có, tranh, ảnh…) nêu yêu cầu đặt ra và diễn đạt bằng lời
Bước 4: Xây dựng đáp án và chỉnh sửa ban đầu
Bước 5: Tiến hành thử nghiệm và hoàn thiện Bài tập khi xây dựng xong cần chokiểm tra thử và hoàn thiện cho đảm bảo các yêu cầu đặt ra Các bài tập sau khi đã thửnghiệm và chỉnh sửa được sắp xếp thành hệ thống bài tập đảm bảo tính khoa học và tiệnlợi trong quá trình sử dụng
Ví dụ xây dựng bài tập về tính chất của các oxit cacbon.
Bước 1: Xác định mục tiêu, dạng bài tập, lựa chọn nội dung học tập: Giải thíchđược sự khác nhau về tính chất hoá học của hai oxit cacbon; sử dụng bài tập giải quyếtvấn đề; nội dung kiến thức về tính chất hóa học của các hợp chất cacbon
Bước 2: Xây dựng mâu thuẫn nhận thức, nêu vấn đề cần giải quyết: Tại sao cùng làoxit của nguyên tố cacbon nhưng chúng lại có những tính chất hoá học khác nhau?
Bước 3: Thiết kế bài tập
Xây dựng bài tập: (bài tập 1 hay bài tập 2 đều hướng tới giải quyết cùng mâuthuẫn nhận thức, vấn đề cần giải quyết)
Bài tập : Tại sao cacbon monooxit được dùng làm nhiên liệu khí còn CO2 lại đượcdùng để dập tắt đám cháy? Theo em cacbon đioxit có thể dập tắt được mọi đám cháykhông? Giải thích
Trang 15Bước 4: Xây dựng đáp án và chỉnh sửa ban đầu.
Phân tử CO và CO2 khác nhau về số nguyên tử O và số oxi hóa của C trong hợp chất(+2 và +4) Do đó:
- CO có tính khử do C có số oxi hoá +2 nên tác dụng được với O2 (cháy đượctrong oxi và trong không khí) và khử được một số oxit kim loại ở nhiệt độ cao
PTHH: 2CO + O2 → 2CO2
CO + CuO t0
CO2 + Cu
- CO2 có tính oxi hóa do C có số oxi hoá cao nhất +4, không cháy và không duy trì
sự cháy của nhiều chất
- Cacbon đioxit không thể dập tắt được mọi đám cháy do có tính oxi hoá nênkhông dập được đám cháy của chất có tính khử mạnh như các kim loại mạnh (kim loạikiềm, kiềm thổ ) hoặc khí hidro
PTHH: CO2 + 2Mg t0
2MgO + CBước 5: Tiến hành thử nghiệm và hoàn thiện Bài tập sau khi xây dựng xong tiếnhành cho kiểm tra thử và hoàn thiện để đảm bảo các yêu cầu đặt ra
2.2.3 Xây dựng các bài tập định hướng năng lực trong dạy học phần hóa học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10
2.2.3.1 Bài tập có lời giải
2 Quá trình quang hợp của cây xanh giúp hấp thụ khí CO2 và sản sinh ra khí O2,quá trình này diễn ra một cách liên tục Do vậy có thể nói rừng là nhà máy sản xuất oxi tựnhiên và giữ cho hàm lượng oxi trong không khí luôn không đổi
- Để bảo vệ rừng: Trồng cây xanh, quản lí và khai thác lâm sản một cách hợp lí,làm tốt công tác định canh định cư…
3 Cháy rừng gây ô nhiễm không khí, mất cân bằng sinh thái, làm biến đổi khí hậu
- Biện pháp phòng cháy rừng: Nâng cao nhận thức người dân, tăng cường công táckiểm tra bảo vệ rừng và xử lí nghiêm những hành vi phá hoại rừng
Bài 2 Vì sao nguyên tử oxi và lưu huỳnh đều có 6e lớp ngoài cùng nhưng oxi chỉ
thể hiện tính oxi hóa mạnh còn lưu huỳnh lại vừa có tính khử, vừa có tính oxi hóa?
Hướng dẫn giải:
Nguyên tử oxi và lưu huỳnh đều có 6e lớp ngoài cùng nhưng oxi chỉ thể hiện tính oxi hóa mạnh còn lưu huỳnh lại vừa có tính khử, vừa có tính oxi hóa vì:
Trang 16- Nguyên tử oxi không có phân lớp d, có 2 e độc thân ở phân lớp p Oxi có độ âmđiện lớn (3,44), do vậy trong các phản ứng với các nguyên tố có độ âm điện nhỏ hơn oxi
có xu hướng nhận thêm 2e để có cấu hình electron bền vững và có thể tạo hợp chất cómức oxi hóa -2, thể hiện tính oxi hóa mạnh
- Lưu huỳnh, ở trạng thái cơ bản cũng có 2e ở phân lớp p và có phân lớp d trốngnên nó cũng có xu hướng nhận thêm 2e tạo mức oxi hóa -2, thể hiện tính oxi hóa Tuynhiên khi ở trạng thái kích thích, các e ghép đôi ở các obitan 3s và 3p có thể chuyển lêncác obitan 3d trống tạo 4e và 6e độc thân Do vậy khi tham gia phản ứng với nhữngnguyên tố có độ âm điện lớn hơn nó có khả năng tạo nên những hợp chất có liên kết cộnghoá trị, trong đó chúng có mức oxi hóa +4 hoặc +6 nên lưu huỳnh có cả tính oxi hóa vàkhử
Hướng dẫn giải:
1 Khi để dung dịch H2S lâu ngoài không khí, H2S sẽ bị oxi hóa chậm tạo ra Skhông tan, PTHH của phản ứng: 2H2S + O2 → 2S + 2H2O
2 Do khí H2S có tính khử mạnh nên nó tác dụng luôn với các chất oxi hoá
như O2 của không khí hoặc SO2 có trong khí thải
Bài 4.
Câu 1 Vì sao nhỏ axit H2SO4 đặc vào tinh bột hoặc đường trắng thì chúng bị đen
đi và có khí bay lên còn nhỏ HCl đặc vào tinh bột hoặc đường trắng thì không có hiệntượng này?
Câu 2 Không dùng phương pháp hóa học, có cách nào đơn giản nhất để nhận rahai lọ đựng H2SO4 đặc và HCl đặc?
Câu 3 Axit H2SO4 đặc thường được dùng để làm khô khí ẩm Có phải mọi khí
ẩm đều có thể dùng H2SO4 đặc để làm khô không? Giải thích và cho ví dụ minh họa
Câu 4 Vì sao khi pha loãng H2SO4 đặc cần đổ từ từ axit vào nước mà không đượclàm ngược lại?
Hướng dẫn giải:
1 Do axit H2SO4 đặc có tính oxi hóa mạnh và tính háo nước còn axit HCl không
có tính chất này
2 Cách đơn giản nhất để nhận ra hai lọ đựng H2SO4 đặc và HCl đặc
- H2SO4 đặc: Sánh như dầu, không bốc khói khi mở nắp lọ, cầm nặng tay hơn (với
2 lọ đựng 2 axit cùng thể tích)
- HCl đặc: Mở nắp thấy có khói bay ra
3 Không, vì với một số khí ẩm (có tính khử hoặc tính bazơ) nếu dùng axit H2SO4đặc để làm khô thì nó sẽ bị axit sunfuric đặc oxi hoá hoặc tác dụng để tạo ra chất khác
Không dùng H2SO4 đặc để làm khô một số khí như H2S, NH3, CO, NO
H2S + H2SO4 → SO2 + H2O
NH3 + H2SO4 → (NH4)2SO4
Trang 174 axit H2SO4 đặc rất háo nước và toả nhiệt mạnh, nếu rót nước vào axit sunfuric sẽ làmcho lượng nước rót vào bị sôi lên, bắn ra ngoài cùng với axit, gây bỏng,…
Bài 5 Khi bị cảm lạnh, cơ thể người không bài
tiết được các khí độc được tạo ra trong quá trình tiêu hóa
thức ăn qua tuyến mồ hôi Do vậy cơ thể thấy mệt mỏi,
sốt cao Khi đó, người dân tộc thường dùng đồng tiền
bằng bạc hoặc đồ trang sức bằng bạc để giải cảm Nếu
đồng tiền bằng bạc đen đi thì xác nhận người đó bị cảm
lạnh hay trúng gió Hãy giải thích:
Người phụ nữ Dao
- Vì sao khi dùng đồng tiền bằng bạc giải cảm cho người cảm lạnh thì đồng tiềnbằng bạc lại bị đen đi? Người vùng cao thường dùng biện pháp nào để đồng bạc trắng trởlại?
- Vì sao đồng bào dân tộc thường sử dụng đồ trang sức bằng bạc mà ít dùng đồtrang sức bằng vàng? Có ý kiến cho rằng dùng đồ trang sức bằng bạc để bảo vệ sức khoẻ,
ý kiến đó đúng hay sai?
Hướng dẫn giải:
- Cảm lạnh là trạng thái con người bị nhiễm lạnh đột ngột, làm cho các lỗ chân
lông bị đóng lại, không thải được khí thải ra ngoài qua da Các khí độc này sinh ra trongquá trình hạt động sống của các tế bào như khí NH3, H2S, bị lưu trong cơ thể làm cho cơthể mệt mỏi, sốt cao, không ra mồ hôi Khi đánh cảm bằng chất nóng (rượu gừng, dầucao ) và dụng cụ bằng bạc (Ag), thì làm cho lỗ chân lông được mở ra, các khí độc, hơinước thoát ra làm hạ sốt, người bệnh thấy dễ chịu Khí độc có chứa hợp chất của lưuhuỳnh đã tác dụng với bạc tạo Ag2S màu đen nên thấy đồng bạc bị đen đi
2Ag + S2- → Ag2S (đen)
- Để đồng bạc trắng trở lại người ta thường dùng các cách: Ngâm đồng bạc trongnước tiểu trẻ em, đánh đồng bạc bằng tro bếp, ngâm trong nước chanh hoặc dùng kemđánh răng bôi lên rồi dùng bàn chải đánh sạch
- Ngoài việc để làm đẹp, trang sức bằng bạc với người dân tộc miền núi còn manggiá trị văn hóa tinh thần, tín ngưỡng, bởi quan niệm đeo bạc trên người sẽ trừ được tà ma,tránh gió, tránh bệnh tật và được thần linh phù hộ
2.2.3.2 Bài tập tham khảo
Trang 18Bài 9.Hiện nay, trên thị trường xuất hiện
bột samphet được dùng làm chất bảo quản
thực phẩm (thịt, đồ hải sản) nhằm chống vi
khuẩn xâm nhập, tẩy trắng và kéo dài thời gian
bảo quản Thịt để lâu bị phân hủy, chuyển màu
có mùi hôi thối nhưng khi ngâm trong dung
dịch này vài phút thì miếng thịt lại chuyển
Dùng bột samphet để xử lí thực
phẩm ôi thiu
Các chuyên gia về công nghệ thực phẩm khẳng định khi sử dụng bột samphet (mộtloại hợp chất của lưu huỳnh) để xử lí thịt ôi thiu, hợp chất này sẽ đọng lại trên thịt, ngườidùng sẽ rất nguy hiểm Các chất này sẽ chuyển hoá thành axit H2SO4, ngấm vào máu, gây lởloétnội tạng, rối loạn sự chuyển hóa protein và đường trong cơ thể Dựa vào các thông tintrên hãy trả lời các câu hỏi sau
Câu 1 Trong bột samphet có loại muối nào cũng có tác dụng tẩy trắng, chống vikhuẩn như SO2?
Câu 2 Sử dụng thực phẩm ôi thiu xử lý bằng dung dịch bột samphet gây ra táchại gì đối với sức khỏe con người? Làm thế nào để nhận ra thịt được xử lý bằng bộtsamphet?
Câu 3 Người dân miền núi thường bảo quản thịt, cá bằng những cách nào đểkhông bị ôi thiu? Cơ sở khoa học của các phương pháp bảo quản này?
Bài 10 Theo thông tin trên https://vi.wikipedia.org/wiki/M%C6%B0a_axit
Hiện nay, tình trạng mưa axit
đang tăng lên đáng kể Mưa axit tập
trung chủ yếu ở các thành phố lớn cũng
là các khu công nghiệp, khu chế xuất: Hà
Nội, Hải Phòng, Việt Trì, Đà Nẵng, Cần
Thơ, thành phố Hồ Chí Minh….Trong cả
nước, mưa axit chiếm tới 30-50% số lần
mưa Những nơi có tần suất cao lên tới
INCLUDEPICTURE
"http://thaydungdayhoa.com/uploads/ news/hoa-doi-song/2016/mua-
axit.jpg" \* MERGEFORMATINET INCLUDEPICTURE
"http://thaydungdayhoa.com/uploads/ news/hoa-doi-song/2016/mua-
axit.jpg" \* MERGEFORMATINET
Quá trình tạo mưa axit
50% Điều này dẫn đến tình trạng số bệnh nhân mắc các bệnh về đường hô hấp và tiêuhóa ở các khu vực này ngày càng gia tăng Dựa vào các thông tin trên và tìm hiểu cácnguồn thông tin khác để trả lời các câu hỏi dưới đây
Câu 1 Hiện tượng mưa axit là gì? Nguyên nhân gây ra mưa axit?
Trang 19Câu 2 Ảnh hưởng của mưa axit tới sự sống của con người và động thực vật?Câu 3 Vì sao tình trạng mưa axit lại tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và cáckhu công nghiệp?
Câu 4 Biện pháp khắc phục giảm thiểu tác hại của hiện tượng mưa axit?
Bài 11 Măng khôlà lọại thực phẩm
phổ biến trong bữa cơm truyền thống của
mỗi gia đình ngày tết Để bảo quản măng
khô, người ta hay xông măng khô bằng
hơi lưu huỳnh Lưu huỳnh khi cháy tạo
SO2 sẽ tiêu diệt vi sinh vật ở trong măng
làm cho măng không bị mốc SO2 bao phủ
trên bề mặt của măng nên sẽ tác động lên
bề mặt miếng măng
Măng khô được xử lý bằng SO 2
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo, hàm lượng lưu huỳnh được sử dụngtrong thực phẩm không nên quá 20 mg/1kg sản phẩm Sử dụng thực phẩm chứa lưuhuỳnh với nồng độ cao, lâu dài sẽ gây tổn thương thần kinh, ảnh hưởng hệ thống tuầnhoàn, chức năng tim mạch, tổn thương mắt, giảm thị lực, ảnh thưởng tới chức năng sinhsản Trường hợp cấp tính người ăn sẽ có biểu hiện ngạt mũi, chảy nước mắt, đau đầu,tức ngực, thậm chí nhiễm độc máu Dựa vào các thông tin trên và tìm hiểu các nguồnthông tin khác để trả lời các câu hỏi dưới đây
Câu 1 Hãy liệt kê một số tác hại khi sử dụng thực phẩm có chứa hàm lượng lưuhuỳnh ở nồng độ cao?
Câu 2 Có thể phát hiện măng khô được sấy lưu huỳnh bằng cách nào? Trong đờisống, để loại bỏ độc tố SO2 trong măng khô, người ta thường sơ chế măng khô như thếnào?
Câu 3 Theo em có nên dùng lưu huỳnh để bảo quản măng khô hay không? Ở địaphương em, người dân chế biến và bảo quản măng khô như thế nào?
Bài 12 Sơn La được biết đến là
địa phương có nhiều danh lam thắng
cảnh và đặc sản du lịch văn hóa trong đó,
các suối nước nóng đã tạo nên những
điểm nhấn đem lại những trải nghiệm thú
vị riêng cho việc phát triển du lịch Sơn
La Nước khoáng nóng có hòa tan nhiều
hợp chất của lưu huỳnh như muối sunfit,
SO2, H2S, … có tác dụng tốt cho sức
khỏe, chữa được nhiều bệnh
Suối nước nóng Ngọc Chiến – Sơn La
Mỗi nguồn suối nước nóng có thành phần các chất khác nhau và có tác dụng chữabệnh khác nhau Nước chứa nhiều lưu huỳnh có tác dụng tốt với bệnh ngoài da, nướcchứa nhiều bicarbonat có tác dụng tốt với người bị bệnh hô hấp mạn tính, bệnh gút, đáitháo đường… Dựa vào các thông tin trên và tìm hiểu các nguồn thông tin khác để trả lời
Trang 20các câu hỏi dưới đây.
Câu 1 Trong suối nước nóng có chứa hóa chất nào có tác dụng chữa bệnh ngoàida? Tắm suối nước nóng còn chữa được những bệnh gì khác nữa?
Câu 2 Có ý kiến cho rằng tắm tại các suối nước nóng thường xuyên trong mộtthời gian dài thường khiến cơ thể có cảm giác mệt mỏi Vì sao lại có hiện tượng này?
Câu 3 Ở vùng Tây Bắc có những suối nước nóng nào? Theo em nguồn nước nóng
có bị cạn kiệt không? Chúng ta cần có biện pháp như thế nào để bảo vệ và khai thácnguồn tài nguyên quý giá này?
Câu 4 Ngoài việc sử dụng suối nước nóng, người dân vùng Tây Bắc còn sử dụngloại nước tắm nào khác nữa để tăng cường sức khỏe?
Bài 13: Theo các nghiên cứu đã chứng minh, thủy ngân kim loại ở trạng thái lỏng
tương đối trơ và có độc tính thấp Nhưng hơi thủy ngân lại rất độc, do thủy ngân ở dạnghơi sẽ dễ dàng bị hấp thu ở phổi rồi vào máu và não trong quá trình hô hấp dẫn đến hủy
hoại hệ thần kinh trung ương Thủy ngân có trong các nhiệt kế, vậy khi nhiệt kế bị vỡ và
thủy ngân rơi ra ta cần sử lý như thế nào tại nhà để tránh nhiễm độc bằng phương pháphóa học?
2.2.4 Sử dụng một số bài tập định hướng năng lực trong dạy học Chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 trong thiết kế kế hoạch bài dạy.
Câu 3 Cháy rừng gây ra những tác hại gì đến môi trường và đời sốngngười dân miền núi? Hãy nêu những biện pháp phòng cháy rừng
49,
50 Bài:Lưu huỳnh
Bài 13: Theo các nghiên cứu đã chứng minh, thủy ngân kim loại ở
trạng thái lỏng tương đối trơ và có độc tính thấp Nhưng hơi thủy ngânlại rất độc, do thủy ngân ở dạng hơi sẽ dễ dàng bị hấp thu ở phổi rồi
vào máu và não trong quá trình hô hấp dẫn đến hủy hoại hệ thần kinh trung ương Thủy ngân có trong các nhiệt kế, vậy khi nhiệt kế bị vỡ và
thủy ngân rơi ra ta cần sử lý như thế nào tại nhà để tránh nhiễm độcbằng phương pháp hóa học?