Khảo sát Kiến thức, thái độ, hành vi báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế các khoa lâm sàng...Nhiễm khuẩn bệnh viện là hậu quả không mong muốn trong thực hành khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc người bệnh, nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tăng tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian điều trị và đặc biệt là tăng tỷ lệ chi phí điều trị.
Trang 1Khảo sát Kiến thức, thái độ, hành vi báo cáo
sự cố y khoa của nhân viên y tế các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Vạn Ninh và một số yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo sự cố y khoa
năm 2021
Cơ quan chủ trì đề tài: TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VẠN NINH
Chủ nhiệm đề tài: Trần Văn Minh
Vạn Ninh, tháng 10 năm 2021
Trang 2
Khảo sát Kiến thức, thái độ, hành vi báo cáo
sự cố y khoa của nhân viên y tế các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Vạn Ninh và một số yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo sự cố y khoa
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 - TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
3
Chương 2 - MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4 Đối tượng nghiên cứu theo Trình độ chuyên môn 9
1.5 Đối tượng nghiên cứu theoVị trí công tác hiện tại 9
1.6 Đối tượng nghiên cứu theoThâm niên công tác 9
1.7 Số lượng người bệnh được điều trị/chăm sóc trung bình trong một
ngày
9
2 Kiến thức , thái độ , hành vi về báo cáo sự cố y khoa của nhân
viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninh:
10
2.1 Kiến thức báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa
lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninh
10
2.1.1 Tỷ lệ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa
huyện Vạn Ninh trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức báo cáo sự cố y
khoa
10
2.1.2 Tỷ lệ nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa
huyện Vạn Ninh trả lời đúng về các sự cố bắt buộc phải báo cáo
11
2.1.3 Kiến thức chung về báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế 12
2.2 Thái độ báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại các khoa lâm
sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninh
12
2.2.1 Thái độ của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa
khoa huyện Vạn Ninh về báo cáo sự cố y khoa
12
2.2.2 Thái độ chung của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện
Đa khoa huyện Vạn Ninh về báo cáo sự cố y khoa
14
2.3 Dự định hành vi báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế 14
3.2.3.1 Dự định hành vi báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế 14
2.3.2 Dự định hành vi chung của nhân viên y tế tại về báo cáo sự cố y
khoa
15
2.4 Tần suất báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế 16
Trang 43.1 Mối liên quan giữa kiến thức chung của nhân viên y tế từng khoa
3.3 Mối liên quan giữa kiến thức chung với hành vi của nhân viên y tế 19
3.4 Mối liên quan giữa thái độ với hành vi của nhân viên y tế 19
3.5 Mối liên quan giữa kiến thức với thái độ của nhân viên y tế 19
4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện báo cáo sự cố y khoa
ở nhân viên y tế
20
2 Kiến thức , thái độ , hành vi về báo cáo sự cố y khoa của nhân
viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninh
22
4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện báo cáo sự cố y khoa
YHCT-PHCN Y học cổ truyền – Phục hòi chức năng
TCYTTG
WHO Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.3 Đối tượng nghiên cứu theo Trình độ chuyên môn 9Bảng 3.4 Đối tượng nghiên cứu theo Vị trí công tác hiện tại 9Bảng 3.5 Đối tượng nghiên cứu theo Thâm niên công tác 9Bảng 3.6 Số lượng người bệnh được điều trị/chăm sóc trung bình trong
một ngày
10
Bảng 3.7 Tỷ lệ NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện
Vạn Ninh trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức báo cáo SCYK
10
Bảng 3.8 Tỷ lệ NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện
Vạn Ninh trả lời đúng về các sự cố bắt buộc phải báo cáo
11
Bảng 3.9 Phân tích thái độ của NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện
Đa khoa huyện Vạn Ninh về báo cáo SCYK
13
Bảng 3.10 Dự định hành vi của NVYT tại các khoa lâm sàng về báo cáo
SCYK
15
Bảng 3.11 Báo cáo SCYK của NVYT 16
Bảng 3.12 Phân tích kiến thức chung của NVYT từng khoa lâm sàng 17
Bảng 3.13 Phân tíchmối liên quan giữa kiến thức chung của NVYT với vị
Bảng 3.15 Phân tíchmối liên quan giữa thái độ với hành vi của NVYT 19
Bảng 3.16 Phân tích mối liên quan giữa kiến thức với thái độ của NVYT 19
Bảng 3.17 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện báo cáo SCYK ở
NVYT
20
Trang 6DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
TrangBiểu đồ 3.1 Đối tượng nghiên cứu theo giới tính 8Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa
huyện Vạn Ninh trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức báocáo SCYK
11
Biểu đồ 3.3 Kiến thức đúng về SCYK bắt buộc phải báo cáo 12Biểu đồ 3.4 Kiến thức chung về báo cáo SCYK của NVYT 12Biểu đồ 3.5 Thái độ chung của NVYT về báo cáo SCYK 14Biểu đồ 3.6 Dự định hành vi chung của NVYT tại về báo cáo SCYK 16Biểu đồ 3.7 Kiến thức chung của NVYT từng khoa lâm sàng 17Biểu đồ 3.8 Phân tích mối liên quan giữa kiến thức chung của NVYT
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyên tắc hàng đầu của thực hành y khoa là “ Điều đầu tiên không gây
tổn hại cho người bệnh - First Do No Harm to patient” đang là điều trăn trở đối
với người hành nghề khám chữa bệnh và đã có những sự kiện y tế gây tâm lý bất
an cho cả người sử dụng và người cung cấp dịch vụ y tế Bằng chứng nghiên cứu
đa quốc gia đã khẳng định người bệnh đang phải gánh chịu nhiều thiệt hại do saisót chuyên môn và sự cố y khoa (SCYK) Mặc dù những sai sót và sự cố nàykhông ai muốn và không ai chấp nhận những nó vẫn xảy ra hàng ngày [1] KhiSCYK xảy ra, cả người bệnh và người thầy thuốc đều là gặp bất lợi Đối với ngườibệnh SCYK có thể gây ra các biến cố sức khỏe, gây ra khuyết tật tạm thời hayvĩnh viễn, thậm chí chết người [5]
Sự cố y khoa (Adverse Event) là các tình huống không mong muốn xảy ratrong quá trình chẩn đoán, chăm sóc và điều trị do các yếu tố khách quan, chủquan mà không phải do diễn biến bệnh lý hoặc cơ địa người bệnh, tác động sứckhỏe, tính mạng của người bệnh.[2]
Hiện nay, SCYK là một vấn đề đáng quan tâm không chỉ ở các nước pháttriển mà còn ở các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam Bộ Y tế Việt Nam
đã ban hành nhiều văn bản nhằm hạn chế SCYK như các quy chế chuyên môn,quy chế bệnh viện, hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, chương trình và tài liệu đàotạo an toàn người bệnh Bên cạnh đó Luật Khám bệnh, chữa bệnh cũng đã ghi rõnhững điều khoản về quyền lợi của người bệnh khi khám, chữa bệnh Tuy nhiên,vấn đề báo cáo SCYK cũng như những giải pháp phòng ngừa để bảo đảm an toànngười bệnh vẫn chưa được thực hiện tốt ở nhiều bệnh viện
Hiện nay, bức tranh về SCYK không đầy đủ do chưa có hệ thống báo cáobắt buộc SCYK Những thông tin trên đài, báo chí mới chỉ là phần nổi của tảngbăng lớn về SCYK Ngành Y tế thiếu thông tin để xác định quy mô và chiềuhướng của các SCYK nên chưa có biện pháp khắc phục và cải tiến hiệu quả
Báo cáo SCYK là việc thu thập các thông tin từ bất kỳ sự việc nào đó cónguy cơ gây hại hoặc đã gây hại cho người bệnh Hệ thống báo cáo SCYK đóngvai trò cơ bản trong việc rút kinh nghiệm từ thực tiễn các sai sót, thất bại đượcghi nhận lại trong các báo cáo sự cố, tăng cường an toàn người bệnh, ngăn chặntình trạng lặp lại cũng như giảm thiểu được nguy cơ xảy ra các sự cố tương tựtrong tương lai
Sự cố y khoa được báo cáo dưới hình thức văn bản giấy, thông tin điện tử(mail, website) hoặc điện thoại để ghi nhận những nguy cơ tiềm tàng hay thật sựxảy ra cho người bệnh Nhân viên tự giác tuân thủ qui trình báo cáo sự cố tại đơn
vị công tác
Để nâng cao nhận thức của nhân viên về các sự cố, sai sót, hoặc nhữngnguy cơ tiềm ẩn có rủi ro cao, Lãnh đạo bệnh viện cần xây dựng và duy trì môitrường khuyến khích mọi người báo cáo những sai sót, thừa nhận sai phạm, đưa
ra ý kiến và trao đổi ý kiến Khi nhân viên lo sợ bị trách phạt, họ ít khi báo cáosai sót và như vậy cơ sở y tế mất một nguồn thông tin giá trị về an toàn chongười bệnh Và để tăng số lượng và chất lượng báo cáo sự cố, bệnh viện nên cóphương cách bảo vệ người có liên quan khỏi các hình thức xử lý kỷ luật, cho
Trang 8phép báo cáo bí mật hoặc giấu tên người báo cáo, tách cơ quan thu thập, phântích các báo cáo ra khỏi cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, cung cấp cho ngườibáo cáo những thông tin phản hồi nhanh chóng, hữu ích, dễ hiểu; và đơn giản hóaqui trình báo cáo [6].
Để phòng tránh được các SCYK, việc nhận diện sự cố, báo cáo sự cố, vàhọc hỏi từ sự cố, sai sót, chú trọng xác định nguyên nhân gốc rễ vấn đề và cóhoạt động thích hợp cải thiện cho tương lai là hết sức quan trọng
SCYK có thể được giảm thiểu nếu được phát hiện, báo cáo kịp thời,phân tích và rút kinh nghiệm Tuy nhiên, rào cản chính đối với việc ghi nhận vàbáo cáo sự cố là nhận thức và tâm lý lo ngại bị buộc tội và trừng phạt ở nhân viên
Để có một cái nhìn khách quan về kiến thức, thái độ, hành vi và một sốyếu tố ảnh hưởng trong báo cáo SCYK của NVYT tại các khoa lâm sàng bệnhviện Đa khoa Vạn Ninh, nhằm cung cấp các bằng chứng khoa học phục vụ côngtác quản lý bệnh viện nói chung và công tác đảm bảo an toàn người bệnh tạiBệnh viện Đa khoa Vạn Ninh nói riêng, chủ động phòng ngừa những sự cố, sai
sót lặp lại, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Khảo sát Kiến thức, thái độ, hành vi báo cáo SCYK của NVYT các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Vạn Ninh và một số yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo SCYK năm 2021.” Qua kết quả
nghiên cứu tác giả mong muốn đưa ra được những giải pháp, đề xuất các kiếnnghị nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng công tác báo cáo SCYK tại bệnh viện
Đa khoa Vạn Ninh
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): SCYK không mong muốn là tổnthương làm cho người bệnh mất khả năng tạm thời hoặc vĩnh viễn, kéo dài ngàynằm viện hoặc chết Nguyên nhân do công tác quản lý khám chữa bệnh hơn là dobiến chứng bệnh của người bệnh [14]
Theo tài liệu đào tạo An toàn người bệnh của Bộ Y tế có hướng dẫn cáchthức phân tích nguyên nhân gây ra sự cố bằng phân tích nguyên nhân gốc với môhình phân tích nguyên nhân sự cố theo Reason J Cathey
Mô hình pho-mát Thụy Sĩ giải thích cách thức các sự cố xảy ra trong hệthống Mô hình cho thấy lỗi ở một tầng của hệ thống chăm sóc sức khỏe thườngchưa đủ để gây sự cố, nó là kết quả của nhiều tầng lớp bảo vệ khác nhau trong đóphân thành lỗi cá nhân và lỗi hệ thống
Lỗi cá nhân hay còn gọi là lỗi hoạt động, là những người thuộc tầng phòngthủ cuối cùng trực tiếp chăm sóc, tiếp xúc người bệnh, và khi sự cố xảy ra họthường bị đổ lỗi Tuy nhiên thực tế cho thấy có nhiều lỗi cá nhân do hệ thống gây
ra và 80% sự cố do lỗi hệ thống Lỗi hệ thống liên quan đến các qui trình, qui địnhcủa tổ chức, các chính sách không phù hợp và các yếu tố này không được chú ýkhi xem xét phân tích nguyên nhân sự cố, do đó các lỗi tương tự tiếp tục xảy ra
Trong y tế, lỗi hoạt động liên quan trực tiếp tới người hành nghề vì họ ở lớphàng rào phòng ngự cuối cùng trực tiếp với người bệnh Khi sự cố xảy ra ngườilàm công tác khám chữa bệnh trực tiếp (bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh…) dễ bị gánlỗi Tuy nhiên, các yếu tố hệ thống có vai trò rất quan trọng liên quan tới các sự cố
đó là công tác quản lý, tổ chức lao động, môi trường làm việc, và thường ít đượcchú ý xem xét về sự liên quan Các nhà nghiên cứu nhận định cứ có một lỗi hoạtđộng thường có 3 – 4 yếu tố liên quan tới lỗi hệ thống
Hình 1.1 Mô hình các lớp hàng rào bảo vệ của hệ thống phòng ngừa sự cố
Nguồn: Reason J Carthey, Diagnosing vulnerable system sysdrome
Việc phân tích xác định nguyên nhân gốc không chỉ đơn giản là tìm kiếm lỗi
cá nhân mang tính triệu chứng mà phải loại bỏ các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn giántiếp thúc đẩy sự cố xảy ra Việc phân tích nguyên nhân gốc và thực hiện các hànhđộng khắc phục được coi là quá trình cải tiến liên tục của cơ sở y tế
Trang 10CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN SCYKTheo thống kê tại Canada hàng năm có 2,5 triệu người nhập viện và ướctính có 185.000 người bệnh gặp SCYK Các chuyên gia y tế Mỹ ước tính ít nhất có44.000 đến 98.000 người bệnh tử vong trong các bệnh viện của Mỹ hàng năm doSCYK Số người chết vì SCYK trong các bệnh viện của Mỹ cao hơn tử vong dotai nạn giao thông, ung thư vú, tử vong do HIV [10].Một sự cố, rủi ro xảy ra chongười bệnh gây ra những mất mát, đau thương cho người bệnh, gia đình ngườibệnh và gây những tổn thất về kinh tế là điều đau lòng, không ai mong muốn Cáccuộc điều tra tại Mỹ vào cuối thế kỷ 20 cho thấy SCYK không thể được nhận diện
và ngăn chặn vì nó không được báo cáo, các điều dưỡng ngại báo cáo sai sót củabản thân mình hay của người khác khi gặp phải sự cố vì thủ tục báo cáo rườm ràdẫn đến tâm lý ít thay đổi, sợ kiện cáo [12]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Vincent (1999) về lý do không báo cáoSCYK khi tiến hành điều tra thực nghiệm đối với 42 bác sỹ sản khoa và 156 nữ hộsinh tại hai đơn vị sản khoa năm 1998 Hầu hết các nhân viên biết về sự cố và hệthống báo cáo tại đơn vị Nữ hộ sinh báo cáo sự cố cao hơn so với các bác sỹ, vànhân viên báo cáo sự cố nhiều hơn cấp lãnh đạo Những lý do chính cho việckhông báo cáo cũng lo ngại bị đổ lỗi, khối lượng công việc cao và niềm tin (mặc
dù vụ việc đã được chỉ định là phải báo cáo) [8]
Nghiên cứu của tác giả Albert (2000) về sự cần thiết giúp đỡ NVYT gây ra
sự cố cho thấy rào cản đối với báo cáo sự cố: sợ bị phát hiện, sợ bị trừng phạt,đồng nghiệp chỉ trích, đổ lỗi cho người khác, sợ bị tổn thương, im lặng, bị lên ántrong các cuộc họp [9]
Nghiên cứu về thái độ và rào cản đối với báo cáo SCYK từ năm 2001 đến
2003 của tác giả Evans chỉ ra rằng, điều dưỡng có trên 5 năm kinh nghiệm đã từnghoàn thành báo cáo sự cố cao hơn những người thâm niên công tác dưới 5 năm,bác sỹ có thời gian công tác dưới 5 năm báo cáo sự cố nhiều hơn bác sỹ trên 5 nămkinh nghiệm Và lãnh đạo báo cáo sự cố ít hơn nhân viên [11]
Một cuộc điều tra 186 bác sỹ và 587 điều dưỡng về thái độ của bác sỹ vàđiều dưỡng ở Nam Úc của tác giả Kingston MJ1 và cộng sự năm 2004 bằngphương pháp định tính cho thấy hầu hết các bác sỹ và điều dưỡng (98,3%) biếtrằng bệnh viện của họ có một hệ thống báo cáo sự cố Điều dưỡng biết làm thế nào
để truy cập báo cáo chiếm tỉ lệ 88,3%, trong khi bác sỹ là 43%; đã từng hoàn thànhmột báo cáo ở điều dưỡng là 89,2% và bác sỹ là 64,4%; và biết phải làm gì với báocáo hoàn thành nhóm điều dưỡng cũng chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm bác sỹ với tỉ lệlần lượt là 81,9% và 49,7%
Một điều tra về báo cáo các SCYK để nâng cao an toàn cho người bệnh củatác giả Kaldjian và cộng sự năm 2008 thực hiện trên 338 bác sỹ nội trú cho thấyhầu hết đồng ý báo cáo sự cố để cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh trongtương lai chiếm tỉ lệ (84,3%), 73% là tỉ lệ báo cáo các sai sót nhỏ, 92% là tỉ lệ báocáo các sai sót gây tổn hại đến người bệnh Tuy nhiên thực tế cho thấy chỉ 17,8%người trả lời đã từng báo cáo các sai sót nhỏ (kết quả điều trị kéo dài hoặc khóchịu), 3,8% báo cáo các sai sót nghiêm trọng (dẫn đến khuyết tật hoặc tử vong)
Có tới 54,8% biết được làm thế nào để báo cáo và 39,5% biết được các lỗi cần báocáo [13]
Trang 11Nghiên cứu định tính của tác giả Adriana Parrella và cộng sự năm 2013 vềbáo cáo tác dụng phụ sau tiêm chủng tại Úc cho thấy trở ngại đối với báo cáo baogồm các ràng buộc thời gian và qui trình báo cáo không đạt yêu cầu, không biếtlàm thế nào để báo cáo, các định nghĩa không rõ ràng, sự nhầm lẫn ở người cótrách nhiệm báo cáo [7].
Một cuộc điều tra của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh về SCYK không mongmuốn trên 89 điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Cai Lậy tỉnh Tiền Giangcho thấy các SCYK không mong muốn liên quan đến thuốc chiếm tỉ lệ 30,42%; sự
cố liên quan cận lâm sàng chiếm tỉ lệ 12,54%; rủi ro nghề nghiệp chiếm tỉ lệ16,03%, chuyên khoa ngoại sản chiếm tỉ lệ 7,61% và các SCYK khác chiếm tỉ lệ
là 33,4% [4]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Yến năm 2015, phỏng vấn
271 nhân viên và kết quả cho thấy rằng 12% có kiến thức chung đúng về báo cáo
sự cố và những người có kiến thức đúng đã từng báo cáo sự cố cao gấp 3,3 lầnnhững người có kiến thức chưa đúng Đa số nhân viên ủng hộ báo cáo sự cố68,3%, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người lo sợ khi tham gia báo cáo sự cố 60,9%,nhóm kỹ thuật viên có thái độ lo sợ cao hơn bác sỹ [6]
Các nghiên cứu trên về báo cáo sự cố cho thấy báo cáo dẫn đến những cảitiến đáng kể về an toàn thông qua các cuộc điều tra có hệ thống các sự cố từ đónhân viên hiểu và sửa chữa những thất bại của họ Tuy nhiên, trong khi một số tổchức thành công trong việc xây dựng hệ thống báo cáo, thì những tổ chức khác lạigặp nhiều khó khăn Lý do hệ thống báo cáo không thành công rất nhiều và đadạng Về cơ bản sợ trách nhiệm và trả thù, cảm giác tội lỗi, sợ hành động trừngphạt, văn hóa an toàn kém trong một tổ chức, thiếu sự hiểu biết giữa các bác sỹ vềnhững gì cần được báo cáo, thiếu hiểu biết về cách thức báo cáo và làm thế nàobáo cáo dẫn đến những thay đổi để cải thiện an toàn người bệnh Đặc biệt, thiếu hệthống phân tích các báo cáo và thông tin phản hồi trực tiếp với các bác sỹ đượcxem là rào cản lớn đối với sự tham gia của lâm sàng Báo cáo sự cố được đánh giánhư là một phần quan trọng trong khuôn khổ quản lý rủi ro của mỗi bệnh viện
Trang 12Chương 2 – MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi báo cáo SCYK của NVYT tạicác khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Vạn Ninh năm 2021;
2.Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện báo cáo SCYK củaNVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Vạn Ninh năm 2021
II.NỘI DUNG
1 Kiến thức, thái độ, hành vi báo cáo SCYK của NVYT các khoa lâm sàngBệnh viện Đa khoa Vạn Ninh:
1.1 Kiến thức báo cáo SCYK của NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện
1.2 Thái độ báo cáo SCYK của NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện 1.3.Hành vi báo cáo SCYK của NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện 1.4.Tần suất báo cáo SCYK của NVYT tại các khoa lâm sàng bệnh viện
2 Một số yếu tố liên quan giữa đặc tính mẫu với Kiến thức, thái độ, hành vibáo cáo SCYK của NVYT các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Vạn Ninh:
Mối liên quan giữa hành vi báo cáo SCYK đúng với kiến thức, thái độ báocáo SCYK và đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo SCYK
III ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
và hoàn thành đầy đủ biểu mẫu nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Bác sỹ, điều dưỡng đang học việc, đang đi học dàihạn, nghỉ phép dài hạn, nghỉ thai sản tại thời điểm khảo sát hoặc không hoàn thànhbiểu mẫu nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp cắt ngang mô tả
- Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: Biến số nghiên cứu bao gồmbiến số nền (tuổi, giới, trình độ chuyên môn, nơi làm việc, thâm niên công tác…)
-Phiếu Khảo sát thực trạng Kiến thức, thái độ, hành vi báo cáo SCYK củaNVYT các khoa lâm sàng.(Phụ lục)
2.2 Cỡ mẫu: toàn bộ
2.3 Kỹ thuật thu thập số liệu
Trang 13Dữ liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi soạnsẵn Các dữ liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm Giá trị p<0.05 đượcxem như là mức thống kê có ý nghĩa.
2.4 Xử lý số liệu
- Làm sạch số liệu trước khi nhập số liệu Nhập bằng phần mềm MicrosoftExcel
- Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS
- Các số liệu được tính ra trị số trung bình hay tỷ lệ %
- So sánh các trị số trung bình bằng thuật toán T-student
- So sánh 2 hay nhiều tỷ lệ % bằng thuật toán khi bình bình phương (χ2),kiểm định tỷ lệ (prtest)
- Dùng OR, 95%CI để xác định mối liên quan giữa Đối tượng nghiên cứuvới một số yếu tố
3 Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu này được tiến hành sau khi hội đồng xét đề cương của Trungtâm Y tế Vạn Ninh phê duyệt và được sự đồng ý của lãnh đạo Trung tâm cũng như
sự tự nguyện tham gia của đối tượng nghiên cứu, sau khi đã được giải thích rõ mụcđích nghiên cứu
- Khi có kết quả nghiên cứu sẽ có phản hồi đến lãnh đạo Trung tâm Y tếVạn Ninh và người tham gia nghiên cứu
- Nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích nâng cao chất lượng phục vụ khámchữa bệnh cho người bệnh ngoài ra không còn mục đích nào khác
Trang 14CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ
1 Đặc tính mẫu của đối tượng nghiên cứu
1.1 Đối tượng nghiên cứu theo các khoa
Bảng 3.1Đối tượng nghiên cứu theo các khoa
Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu được phân bố không đồng đều giữa các khoa.
Khoa nội nhiều nhất chiếm 16.2% và thấp nhất là khoa YHCT-PHCN và LCK(7.6%)
1.2 Đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
Bảng 3.2Đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi
1.3 Đối tượng nghiên cứu theo giới tính
Nhận xét: Giới tính nữ hơn gấp 3 lần giới tính nam.
1.4 Đối tượng nghiên cứu theo Trình độ chuyên môn
Bảng 3.3Đối tượng nghiên cứu theo Trình độ chuyên môn
21.00%
79.00%
Biểu đồ 3 1 Phân bố theo giới tính
Nam Nữ
Trang 15Trình độ chuyên môn Số lượng Tỷ lệ %
1.5 Đối tượng nghiên cứu theoVị trí công tác hiện tại
Bảng 3.4Đối tượng nghiên cứu theo Vị trí công tác hiện tại (N=105)
Nhận xét: Bảng 3.4 cho thấy điều dưỡng/kỹ thuật viên tham gia nghiên cứu chiếm
tỷ lệ cao nhất 68,6%, có 5 trưởng/ phó khoa tham gia nghiên cứu ( 4,8%)
1.6 Đối tượng nghiên cứu theoThâm niên công tác
Bảng 3.5Đối tượng nghiên cứu theo Thâm niên công tác
Nhận xét: Bảng 3.5 cho thấy phần lớn nhân viên có thâm niên công tác từ 5 năm
đến dưới 15 năm, chiếm tỷ lệ 64,7% Những người có thời gian công tác >20 nămchiếm tỷ lệ thấp 5,7%
1.7 Số lượng người bệnh được điều trị/chăm sóc trung bình trong một ngày
Bảng 3.6Số lượng người bệnh được điều trị/chăm sóc trung bình trong một ngày
Số lượng người bệnh được điều trị
Trang 162 Kiến thức , thái độ , hành vi về báo cáo SCYK của NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninh:
2.1 Kiến thức báo cáo SCYK của NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đakhoa huyện Vạn Ninh
2.1.1 Tỷ lệ NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninh trảlời đúng các câu hỏi về kiến thức báo cáo SCYK
Bảng 3.7 Tỷ lệ NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninhtrả lời đúng các câu hỏi về kiến thức báo cáo SCYK
đúng
Tỷ lệ
3 Khi có sự cố xảy ra Anh/Chị báo cáo cho ai? 56 53.3
6 Khi xảy ra sự cố, ai là người chịu trách
nhiệm báo cáo sự cố trong khoa của
Anh/Chị?
7 có bao nhiêu loại SCYK nghiêm trọng
(NC3) bắt buộc phải báo cáo?
8 phân loại bao nhiêu mức độ ảnh hưởng
đến người bệnh của sự cố?
Nhận xét: Bảng 3.7 cho thấy có 57,1% NVYT định nghĩa đúng về sự cố và có
67,6% NVYT định nghĩa đúng về SCYK Tỷ lệ nhân viên có câu trả lời đúng vềngười quản lý sự cố chiếm 53,3%.Có 93,3% NVYT được nghiên cứu trả lời đúng
về mục đích báo cáo sự cố; về trình tự báo cáo sự cố có 55,2% nhân viên trả lờiđúng;Tỷ lệ NVYT biết được người chịu trách nhiệm báo cáo sự cố chiếm 64,8%.Bảng 3.7 còn cho thấy chỉ có 48,6% và 13,3% số NVYT được nghiên cứu có câutrả lời đúng về phân loại mức độ ảnh hưởng đến người bệnh và danh mục các sự
cố nghiêm trọng bắt buộc phải báo cáo
Trang 17Sự cố (Event) là gì
sự cố y khoa(Adverse Event)?
Khi có sự cố xảy ra Anh/Chị báo cáo cho ai?
Mục đích của việc báo cáo sự cố?
Trình tự báo cáo sự cố tại khoa Khi xảy ra sự cố, ai là người chịu trách nhiệm báo cáo sự cố trong khoa của Anh/Chị?
có bao nhiêu loại sự cố y khoa nghiêm trọng (NC3) bắt buộc phải báo cáo?
phân loại bao nhiêu mức độ ảnh hưởng đến người bệnh của sự cố?
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
57.1 67.6 53.3
93.3 55.2
64.8 48.6 13.3
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninh trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức báo cáo SCYK
2.1.2 Tỷ lệ NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninh trảlời đúng về các sự cố bắt buộc phải báo cáo
Bảng 3.8 Tỷ lệ NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Vạn Ninhtrả lời đúng về các sự cố bắt buộc phải báo cáo
1 Phẫu thuật nhầm vị trí trên người bệnh 101 96.2
2 Cháy nổ bình oxy, bình ga tại kho chứa 75 71.4
3 Phẫu thuật sai phương pháp trên người bệnh 96 91.4
Nhận xét: Kết quả nghiên cứu tại Bảng 3.8 cho thấy nhân viên trả lời đúng các sự
cố bắt buộc phải báo cáo có tỷ lệ lần lượt là 100% nhân viên báo cáo khi ngườibệnh di chứng nghiêm trọng do té ngã trong BV; 96,2% báo cáo khi có phẫu thuậtnhầm vị trí trên người bệnh; 95,2% báo cáo khi sót gạc dụng cụ trong cơ thể ngườibệnh Đặc biệt có 71.4% báo cáo khi cháy nổ bình oxy, bình ga tại kho chứa vàvẫn có 77,1% báo cáo khi Gạch bị bong tróc và 67.6% báo cáo khi hệ thốngđiện/nước bị ngắt/cúp
Trang 182.1.3 Kiến thức chung về báo cáo SCYK của NVYT
38.10
61.90
Biểu đồ 3.4.Tỷ lệ kiến thức đúng
Kiến thức đúng Kiến thức không đúng
C1.Anh/Chị có trách 6 5,8 12 11,4 87 82,9 4,52 ,942
Phẫu thuật nhầm vị trí trên người bệnh Cháy nổ bình oxy, bình ga tại kho chứa Phẫu thuật sai phương pháp trên người bệnh
Sót gạc dụng cụ trên người bệnh Người bệnh di chứng nghiêm trọng do té ngã trong BV
Gạch bị bong tróc
Hệ thống điện/nước bị ngắt/cúp
96.2 71.4
91.4 95.2 100 77.1
67.6
Biểu đồ 3.3.Kiến thức đúng về SCYK bắt buộc phải báo cáo
Trang 19nhiệm báo cáo khi có
sự cố nghiêm trọng
xảy ra
C2.Báo cáo sự cố
ngay khi xảy ra sự cố
trước khi bị phát hiện 5 4,8 7 6.7 93 88,6 4,52 ,952C3.Báo cáo sự cố
chưa xảy ra nhưng có
khả năng xảy ra trong
C7.Không che giấu
thông tin gây bất lợi
cho bản thân/khoa 2 1,9 3 2.9 100 95,2 4,71 ,703C8.Phối hợp với
C11.Báo cáo giúp cải
thiện việc điều trị,
chăm sóc người bệnh 19 18,1 19 18,1 67 63,8 4,02 1,240C12.Báo cáo sự cố
giúp phòng tránh sai
sót tốt hơn 24 22,9 18 17,1 63 60 3,90 1,270
C13.Không có trách
C14.Lãnh đạo khoa
không cho phép báo
Trang 20Nhận xét: Kết quả nghiên cứu tại Bảng 3.9 đa số NVYT có thái độ đồng ý với các
nội dung “Không che giấu thông tin gây bất lợi cho bản thân/khoa” (95,2%),
“Báo cáo khẩn đối với sự cố nghiêm trọng” (94,3%), “Báo cáo được mô tả đúng nội dung sự cố, thời gian, địa điểm”(93,4%)
Tuy nhiên, vẫn còn có 32,4% số NVYT có thái độ không đồng ý “Báo cáo
sự cố chưa xảy ra nhưng có khả năng xảy ra trong tương lai”, 22,9% NVYT có
thái độ không đồng ý “Báo cáo sự cố giúp phòng tránh sai sót tốt hơn” Mặc khác, còn có 16,2% NVYT cho là “Sự cố thuộc về chuyên môn mới báo cáo”, 14,3% cho là “Báo cáo sự cố mất nhiều thời gian” và 10,5% có quan điểm “Báo cáo sự
cố không thay đổi được gì”.
2.2.2 Thái độ chung của NVYT tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyệnVạn Ninh về báo cáo SCYK
92.38
7.62
Biểu đồ 3 5.Tỷ lệ thái độ của NVYT
Thái độ tích cực Thái độ chưa tích cực
Nhận xét: Có hầu hết NVYT có thái độ tích cực (92,38%)
2.3 Dự định hành vi báo cáo SCYK của NVYT
2.3.1 Dự định hành vi báo cáo SCYK của NVYT
Bảng 3.10 Dự định hành vi của NVYT tại các khoa lâm sàng về báo cáo SCYK
Không bao giờ báo cáo
Hiếm khi báo cáo
Đôi khi
Thường siêng báo cáo
Luôn luôn báo cáo
Trung bình