1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập về lập kế hoạch trong khu vực công

16 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 85,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài 4: Bài tập về lập kế hoạch trong khu vực công A.Trình bày về mô hình kim cương của Michael Porter B.Hãy phân tích nội dung của một bản kế hoạch ngành A. Mô hình kim cương của Michael Porter Lợi thế cạnh tranh là các đặc điểm hay các biến số mà nhờ đó doanh nghiệp tạo ra một số tính trội hơn, ưu việt hơn so với đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Khả năng cạnh tranh của một quốc gia vùng lãnh thổ sẽ quyết định đến sự thịnh vượng của vùng lãnh thổ đó. Để phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia nhà kinh tế học Michael Porter đã xây dựng lên mô hình kim cương. Từ mô hình này chúng ta cũng có thể vận dụng để phân tích lợi thế cạnh tranh cho ngành. Mô hình kim cương của Michael Porter phân tích các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh gồm bố yếu tố cơ bản các điều kiện nhân tố sản xuất, các ngành hỗ trợ và có liên quan, các điều kiện nhân tố sản xuất, các ngành hỗ trợ và có liên quan, các điều kiện nhu cầu, chiến lược cơ cấu và sự cạnh tranh của ngành. Ngoài ra còn có 2 yếu tố khác có thể tác động tới bốn yếu tố cơ bản trên đó là chính sách của chính phủ và cơ hội.

Trang 1

Bài 4: Bài tập về lập kế hoạch trong khu vực công

A.Trình bày về mô hình kim cương của Michael Porter

B.Hãy phân tích nội dung của một bản kế hoạch ngành

A. Mô hình kim cương của Michael Porter

Lợi thế cạnh tranh là các đặc điểm hay các biến số mà nhờ đó doanh nghiệp tạo ra một số tính trội hơn, ưu việt hơn so với đối thủ cạnh tranh trực tiếp

Khả năng cạnh tranh của một quốc gia/ vùng lãnh thổ sẽ quyết định đến sự thịnh vượng của vùng/ lãnh thổ đó Để phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia nhà kinh

tế học Michael Porter đã xây dựng lên mô hình kim cương Từ mô hình này chúng ta cũng có thể vận dụng để phân tích lợi thế cạnh tranh cho ngành

Mô hình kim cương của Michael Porter phân tích các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh gồm bố yếu tố cơ bản các điều kiện nhân tố sản xuất, các ngành hỗ trợ và

có liên quan, các điều kiện nhân tố sản xuất, các ngành hỗ trợ và có liên quan, các điều kiện nhu cầu, chiến lược cơ cấu và sự cạnh tranh của ngành Ngoài ra còn có 2 yếu tố khác có thể tác động tới bốn yếu tố cơ bản trên đó là chính sách của chính phủ

và cơ hội

Trang 2

Điều kiện các yếu tố sản xuất: đó là điều kiện sẵn có của môi trường kinh doanh bao

gồm vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ thông tin, quản lý Các yếu tố natf cần được kết hợp một cách đầy đủ để tạo cơ sở hình thanhg lợi thế cạnh tranh

Các điều kiện nhu cầu: bản chất của nhu cầu thị trường nội địa được phản ánh bởi sự

tinh tế trong nhu cầu địa phương, những tiêu chuẩn quy định với những đòi hỏi khắt khe, những nhu cầu đặc biệt của địa phương trong những lĩnh vực có thể được phục

vụ ở quy mô quốc gia và toàn cầu

Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: sự hiện diện của các tổ chức hỗ trợ,

cung ứng dịch vụ và các ngành khác nhằm tạo ra năng lực cạnh tranh quốc tế cho các ngành sản xuất Các ngành hỗ trợ và liên quan có thể phối hợp và chia sẻ các hoạt động khi nó cạnh tranh và tiến nhanh hơn đến chi phí sản xuất hiệu quả

Chiến lược cơ cấu và sự cạnh tranh trong ngành: đặc tính quản lý kinh tế xã hội

của các quốc gia mà ngành đó được sinh ra Các quy định, cơ chế khuyến khích và áp lực chi phối loại hình, mức độ cạnh tranh địa phương tạo ra những chính sách thúc đẩy phát triển

Vai trò của chính phủ có thể tác động đến tất cả bốn yếu tố trên thông qua các hành động như trợ cấp, chính sách thuế, các quy định như đầu tư, thị trường vốn, thành lập các tiêu chuẩn quy định về sản phẩm địa phương Chính phủ giữ vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên nếu chính phủ sử dụng nhiều chính sách bảo hộ thì có thể làm cho ngành đó mất khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới

Vai trò của cơ hội có thể xóa bỏ một số ưu thế của một số nhà cạnh tranh bởi những phát triển như những phát minh mới, những quyết định về chính trị của chính phủ nước ngoài, các thay đổi quan trọng trong thị trường tài chính thế giới hay việc thay

Trang 3

đổi tỷ giá hối đoái, hat các cuộc chiến tranh Tuy cơ hội ảnh hưởng quan trọng đến chiến lược kinh doanh quốc tế, nhưng khó có thể dự đoán và bảo vệ chống lại

B. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030

1 Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, các địa phương công bố, tuyên truyền, hướng dẫn, triển khai thực hiện Quy hoạch; kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch; kiến nghị với các cấp có thẩm quyền điều chỉnh cơ chế, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế trong quá trình thực hiện Quy hoạch

2 Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Khoa học và Công nghệ; Tài nguyên và Môi trường; Lao động Thương binh và Xã hội; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo thẩm quyền chức năng được giao, phối hợp với Bộ Công Thương trong việc tổ chức triển khai thực hiện Quy hoạch này

3 Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành liên quan sắp xếp, tìm nguồn vốn trong và ngoài nước, vốn ODA và FDI để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển ngành công nghiệp dệt may

4 Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với Bộ Công Thương và các Bộ, ngành cụ thể hóa Quy hoạch trên địa bàn tỉnh, thành phố phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Phối hợp với Bộ Công Thương kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy hoạch

5 Hiệp hội Dệt May Việt Nam nghiên cứu, đề xuất với các cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh các chính sách, cơ chế để phát triển ngành công nghiệp Dệt May theo Quy hoạch

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan có liên quan chịu trách nhiệmthi hành Quyết định này./

Trang 4

I. Phân tích môi trường

1. Tổng quan ngành dệt may Việt Nam

Ngành dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm qua Năm 2014 sản phẩm dệt may của Việt Nam xuất khẩu đến hơn 180 quốc gia, Vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 17,9 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ, chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và 10,5% GDP cả nước Tốc độ tăng trưởng của ngành dệt may đạt 14,5% / năm, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may nhanh nhất thế giới Các mặt hàng dệt may chủ yếu Việt Nam xuất khẩu ra thế giới là áo jacket, áo thun, quần và áo sơ mi Hoa Kỳ ,EU,Nhật Bản, Hàn Quốc là bốn đối tác nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam

Hiện nay cả nước có khoảng 6000 doanh nghiệp dệt may, thu hút khoảng 2,75 triệu lao động chiếm khoảng 25% lao động của khu vực kinh tế coog nghiệp Việt Nam Phần lớn các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân (84%), tập trung ở Đông Nam Bộ (60%) và đồng bằng sông Hồng Có doanh nghiệp dệt may chiếm khoảng 70% tổng số doanh nghiệp trong ngành hình thành xuất khẩu chủ yếu là CMT (85%)

2. Bối cảnh cho cạnh tranh

a) Vai trò của chính phủ đối với ngành dệt may Việt Nam

Chính phủ Việt Nam rất ưu tiên phát triển ngành dệt may nên đã có nhiều chính sách được đưa ra tạo điều kiện cho ngành phát triển Chính phủ có những biện pháp ưu tiên và khuyến khích đầu tư và ngành dệt may như ywy đãi thuế nhập khẩu các nguyên vật liệu thô với mục đích sản xuất các sản phẩm may tái xuất khẩu trong 3-4 tháng, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp Chính phủ

đã hỗ trợ 65,6 tỷ đồng để đào tạo nguồn lực dệt may

Chính phủ có những cam kết đối với cải cách, phát triển kinh tế, môi trường đầu

tư kinh doanh đã tạo được sức hấp dẫn với các nhà đầu tư, mở ra những thị trường mới và các quan hệ hợp tác mới

Trang 5

Tuy nhiên chính phủ có các chính sách khuyến khích đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ nhưng các địa phương có xu hướng không thu hút ddaaucf tư vào ngành dệt nhuộm vì vấn đề môi trường

b) Vai trò của cơ hội đối với ngành dệt may Việt Nam

Hiệp định TPP có hiệu lực là cơ hội rất lớn cho ngành dệt may Việt Nam, theo đó sec có hơn 90% mặt hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ được điểu chỉnh thuế suất về mức 0% so với mức trung bình là 17% như hiện tại Hiệp định TPP cũng giúp cho kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tăng 28,4% so với mức chưa tính tác động của TPP, từ 239 tỷ lên 307 tỷ USD vào năm 2025

Tuy nhiên Trung Quốc lại chưa tham gia TPP mà Việt Nam lại nhập khẩu nguyên phụ liệu chính từ Trung Quốc, do đó mức thuế quan nhập khẩu không được giảm theo lộ trình giống như các nước tham gia TPP Do đó Việt Nam phải chuyển dần sang đối tác nhập khẩu TPP

Việc gia nhập TPP mang lại nhiều cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam, nên phải tận dụng tối đa cơ hội đó để thúc đẩy ngành dệt may phát triển mạnh mẽ hơn Mặc dù TPP cũng có những quy định khắt khe hơn về nguồn gốc xuất xứ, công nghệ và lao động có khả năng tăng chi phí doanh nghiệp nhưng điều đó có thể được bù đắp bởi sự gia tăng sản lượng xuất khẩu

3. Các điều kiện nhân tố sản xuất của ngành dệt may Việt Nam.

a) Nguồn nhân lực

Việt Nam có lực lượng lao động trong các ngành khoảng 53,9 triệu người, trong đó lao động trong ngành dệt may là 2,75 triệu người, chiếm 5% lực lượng lao động cả nước, chiếm 25% lực lượng lao động khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam là nước có dân số trẻ, nên nguồn lực lao động dồi dào, đáp ứng được nhu cầu về yếu tố lao động của ngành dệt may

Tuy nhiên năng suất lao động của khu vực sản xuất của Việt Nam lại thấp Hiện nay năng suất lao động trung bình trong ngành bằng 1/3 so với Hồng công, 1/4 so với Trung Quốc và bằng 1/8 so với Hàn Quốc Điều này ảnh hưởng nhiều đến giá thành, làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm

Trang 6

Người lao động Việt Nam có tay nghề và khéo léo, chăm chỉ nhưng thiếu nguồn lao động có tay nghề cao về công nghệ, thiết kế và quản lý

Chi phí lao động dệt may ngày nay ngày càng tăng, do đặc thù là ngành thâm dụng lao động nên chi phí lương tăng sẽ anhe hưởng đáng kể đến chi phí sản xuất của các doanh nghiệp dệt may, điều đó có thể làm giảm lợi thế của ngành này Tuy mức lương cơ bản tăng khá nhiều nhưng Việt Nam chỉ hơn Lào, Campuchia và vẫn cạnh tranh so với Indonexia, Trung Quốc

b) Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng, kỹ thuật

Theo báo cáo về mức độ cạnh tranh toàn cầu “ Global Competitiveness” của diễn đàn kinh tế thế giới, điểm cơ sở hạ tầng của Việt Nam đã được cải thiện trong những năm gần đây, cho thấy sức tăng trưởng mạnh và được hỗ trợ bởi các dòng vốn đầu tư trức tiệp nước ngoài lớn hơn Tuy nhiên Việt Nam vẫn chỉ xếp thứ 77 ở hạng mục cơ sở vật chất nên lợi thế của Việt Nam thể hiện ở hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế và vọ trí giao thương quốc

tế Theo thống kê của Vụ Quản lý các khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

cả nước có hơn 330 khu công nghiệp và 17 khu kinh tế, trong đó tập trung nhiều ở các tỉnh thành phố như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Các khu kinh tế này đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu hàng năm, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, bên cạnh

đó cũng góp phần hiện đại hóa công nghệ sản xuất nhà nước, phát triển cơ

sở hạ tầng, giảm bớt thủ tục hành chính cũng như chi phí vận hành quản lý

và thúc đẩy liên kết mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế

Tuy nhiên để nắm bắt những cơ hội thông qua TPP, rất nhiều tập đoàn dệt may đã có kế hoạch đầu tư lớn Tập đoàn dệt may đã có kế hoạch đầu tư lớn Tập đoàn Julun Gian Tô của Trung Quốc đã nhận được giấy phép xây dựng nhà máy dệt may., nhuộm, và sợi trong khu công nghiệp của tỉnh Nam Định Nhà máy sẽ đi vào hoạt động vào giữa năm 2016 với công suất 9.816 tấn sợi, 21.6 triệu mét vải, nhuộm 24 triệu mét cả sợi lẫn vải mỗi năm.Hay công

ty Forever Glorious thuộc tập đoàn Sheico của Đài Loan, cam kết đầu tư

Trang 7

xây dựng nhà máy sản xuất quần áo và phụ kiện thể thao dưới nước tại thành phố Hồ Chí Minh Dự kiến nhà máy cần 3.500 lao động Với những khoản đầu tư lớn này, cơ sở vật chất hạ tầng của ngành dệt may Việt Nam sẽ được cải thiện đáng kể

c) Nguồn vốn tài chính

Chính phủ tạo điều kiện để các doanh nghiệp dệt may tiếp cận với nguồn vốn thông qua các chính sách hỗ trợ vay vốn với các ngân hàng Các thủ tục vay vốn được rút gọn, giúp các doanh nghiệp có thể vay được vốn nhanh hơn

d) Điều kiện tự nhiên

Việt Nam có vị trí địa lý vô cùng thuận lợi cho việc giao thương quốc tế Lãnh thổ Việt Nam có hai mặt giáp biển, hai mặt giáp lục địa với tổng chiều dài đường biên giới hơn 4500km và đường biển hơn 3200km Việt Nam là trung tâm trung chuyển hàng hóa quốc tế trên trục giao thương Châu Á-Tháo Bình Dương, có đủ điều kiện để mở rộng giao thương với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Tạo điều kiện thực hiện các chính sách mở cửa, hội nhập với các nước trên thế giới, thu hút đầu tư nước ngoài

e) Nguồn tri thức

Giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều đổi mới, tuy nhiên nội dung, phương pháp giáo dục tại Việt Nam vẫn còn chậm phát triển, chưa gắn chặt đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp Sinh viên ra trường chưa ứng dụng công việc được ngay, doanh nghiệp lại phải mất thời gian đào tạo thêm hoặc đào tạo lại

4. Các ngành hỗ trợ và có liên quan

Ngành sản xuất nguyên liệu (bông, sợi)

Đối với ngành dệt may Việt Nam đa phần nguyên liệu sản xuất vẫn phải nhập khẩu Trên thực tế dệt may Việt Nam đang phụ thuộc tới 70% vào nguyên liệu nhập khẩu Hiện taih cả nước có 10 hecta trồng bông với sản lượng hàng năm chỉ đáp ứng được 2% nhu cầu bông, 1/8 nhu cầu vải Theo

Trang 8

dự báo của hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS) trong vài năm tới nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu trong lĩnh vực dệt may vẫn tăng do một phần diện tích trồng bông của Việt Nam chưa được đầu tư tương ứng với quy mô của ngành Nguyên nhân chính dẫn tới sự kém phát triển của ngành bông, xơ là

do nước ta không có lợi thế cạnh tranh tự nhiên và không chú trọng đầu tư trong việc trồng bông và sản xuất xơ Cả nước hiện tại sử dụng 600 nghìn tấn bông tự nhiên, 400 nghìn tấn xơ sợi mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu

589 nghìn tấn bông chiếm 99% nhu cầu bông, về xơ các loại nhập khẩu 220 nghìn tấn, chiếm 54% tổng nhu cầu về xơ

Chương trình phát triển cây bông Việt Nam 2015- 2020 (Nguồn: Cục xúc tiến thương mại)

Năng suất bông có tưới bình

quân

Ngành sản xuất phụ liệu

Sản xuất phụ liệu là mắt xích quan trọng hỗ trợ ngành may mặc phát triển Ngành sản xuất phụ liệu đã đáp ứng được 20% nhu cầu trong nước, phần còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài

Ngành dệt, in nhuộm

Ngành dệt chủng loại chưa đa dạng, nhiều loại vải cao cấp chưa dệt được, ngoài ra sản lượng ngành dệt cũng không đáp ứng đủ nhu cầu ngành may Năm 2012 ngành may cí nhu cầu sử dụng là 7 tỷ mét vải, nhưng phải

Trang 9

nhập khẩu 6 tỷ mét vải, tương đương 86% nhu cầu Nước ta có khả năng nhuộm và hoàn tất 80.000 tấn vải đan và 700 triệu tấn vải dệt mỗi năm Tuy nhiên, chỉ khoảng 20-25% lượng vải dệt này đủ chất lượng để sản xuất thành phẩm xuất khẩu, trong khi vải đan hầu hết không đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu và chỉ được dùng cho thị trường trong nước

Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của ngành dệt trong chuỗi giá trị dệt may Việt Nam là do mâu thuẫn chính sách khuyến khích đầu tư vào ngành dệt may và chính sách hạn chế đầu tư vào ngành gây ô nhiễm môi trường Quy mô doanh nghiệp dệt nhỏ, công nghệ lạc hậu

Ngành may

Các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm may mặc của Việt Nam hiện nay vẫn đang sản xuất theo phương thức gia công đơn giản Ngành may mặc Việt Nam đang rất yếu ở mảng thiết kế sản phẩm vì thiếu các nhà thiết kế giỏi, khó tiếp cận và thiếu thông tin về nhu cầu khách hàng, xa thị trường tiêu dùng cuối cùng

Ngành sản xuất máy móc thiết bị

Việt nam chưa tự chủ được nguồn máy móc thiết bị hầu hết các máy móc thiết bị đều được nhập khẩu từ Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc Trung Quốc là nước cung cấp rất nhiều máy móc thiết thiết bị phục vụ ngành dệt may trên thế giới

5. Các điều kiện nhu cầu

Theo đánh giá của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, với dân số hơn 96 triệu người, mức tiêu dùng hàng dệt may hiện nay chiếm khoảng 5-6% chi tiêu của người dân, tương đương khoảng 3,5 tỷ USD, cho thấy đây lf thị trường rất tiềm năng đối với các doanh nghiệp nội địa Thời gian qua chúng ta tập trung sản xuất phục vụ nhu

Trang 10

cầu xuất khẩu, không chú ý đến thị trường trong nước nên thị phần của hàng dệt may trong nước chiếm tỷ trọng khiêm tốn chỉ khoảng 10% Gần đây đã có một số doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh phát triển thị trường nội địa nhưng hiệu quả mang lại chưa cao do phải cạnh tranh với rất nhiều nguồn hàng đến từ các nước tỏng khu vực và trên thế giới Vì vậy các doanh nghiệp trong nước cần phải có các giải pháp phát triển dài hạn cùng với các chiến lược tiếp thị sản phẩm phù hợp để từng bước giành laij thị trường đã mất

Mặt khác, cùng với Nhật Bản, New Zealand, Việt Nam là một nền kinh tế hướng ngoại, hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, ngpaif thị trường tiềm nặng trong nước, ngành dệt mat còn có thị trường tiêu thụ rộng lớn ở nước ngoài Đặc biệt, chúng

ta đã tham gia CPTPP và vừa ký hiệp định thương mại tự do Việt Nam- EU là điều kiện hết sức quan trọng để ngành dệt may tạo sự đột phá về kim ngạch xuất khẩu trong tương lai

II. Mục tiêu kế hoạch

a) Mục tiêu tổng quát

- Xây dựng ngành công nghiệp dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, hướng về xuất khẩu và có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng cao; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc vào nền kinh tế khu vực và thế giới;

- Đảm bảo cho ngành dệt may phát triển bền vững, hiệu quả trên cơ sở công nghệ hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng, quản lý lao động, quản lý môi trường theo các chuẩn mực quốc tế;

- Phân bố dệt may ở các vùng phù hợp: thuận lợi về nguồn cung cấp lao động, giao thông, cảng biển;

- Đến năm 2020, ngành dệt may xây dựng được một số thương hiệu nổi tiếng b) Mục tiêu cụ thể

Ngày đăng: 20/08/2022, 20:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w