1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC VỚI VIỆC GIÁO DỤC TRẺ EM VĂN HỌC

48 210 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 810,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC VỚI VIỆC GIÁO DỤC TRẺ EM VĂN HỌC GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ THỊ HIỀN Sinh viên thực hiện : Trần Hồng Nhung Lớp : GDTH D2020D... Tầm tiếp nhận

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI

………… o0o…………

CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC VỚI VIỆC GIÁO DỤC TRẺ EM

VĂN HỌC GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: LÊ THỊ HIỀN

Sinh viên thực hiện : Trần Hồng Nhung Lớp : GDTH D2020D

Trang 2

Mã sinh viên : 220000228

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tiểu luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban giám hiệu trường Đại Học Thủ đô Hà Nội vì đã tạo điều kiện về cơ sở vật chấtvới hệ thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìmkiếm, nghiên cứu thông tin

Xin cảm ơn giảng viên bộ môn – Cô Lê Thị Hiền đã giảng dạy tận tình, chi tiết để em

có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bài tiểu luận này

Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm để tài cũng như những hạn chế về kiến thức, trongbài tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sựnhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.Lời cuối cùng, em xin kính chúc cô nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong tiểu luận “Ca dao trong chươngtrình Tiếng Việt Tiểu học với việc giáo dục trẻ em” là hoàn toàn trung thực và không

có bất kỳ sự sao chép Mọi sự hỗ trợ cho việc thực hiện tiểu luận đều đã được cảm ơn.Tất cả những sự giúp đỡ cho việc xây dựng cơ sở lý luận cho bài tiểu luận đều đượctrích dẫn đầy đủ và ghi rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố Tôi xin hoàn toànchịu trách nhiệm cho việc không có sự trung thực, minh bạch trong quá trình sử dụngthông tin

Hà Nội, ngày… tháng… năm Sinh viên

Trần Hồng Nhung

Trang 4

4 Đối tượng nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

1.1.1 Khái quát chung về thể loại ca dao

1.1.1.1 Khái niệm ca dao

1.1.1.2 So sánh với các thể loại khác

Trang 5

1.1.2 Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của ca dao

1.1.2.1 Về nội dung mà ca dao đề cập

1.1.2.2 Hình thức nghệ thuật biểu hiện của ca dao

1.2 Tầm tiếp nhận của học sinh Tiểu học với ca dao

1.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học trong việc tiếp cận các giá trị văn học dân gian

1.2.2 Tầm tiếp nhận của thể loại ca dao với học sinh

Tiểu kết

CHƯƠNG 2: CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 2.1 Phân phối chương trình môn Tiếng Việt Tiểu học

2.2 Ca dao trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học

2.3 Những điểm cần lưu ý khi dạy ca dao cho học sinh Tiểu học

Tiểu kết

CHƯƠNG 3: CA DAO VỚI VIỆC GIÁO DỤC TRẺ EM

3.1 Ca dao bồi đắp tình yêu quê hương đất nước cho học sinh Tiểu học

3.2 Ca dao bồi dưỡng tình cảm đạo đức và nhân cách cho học sinh Tiểu học 3.3 Giáo dục thẩm mỹ cho học sinh qua ca dao

Tiểu kết

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng là tiếng hát bập bẹ của trẻ thơnhân dân Việt Nam, có vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân laođộng Trẻ em lớn lên trong tiếng hát ru êm đềm, trong những câu chuyện cổ tích thần

kì của bà và mẹ

Nhờ sự đa dạng của văn học dân gian mà những bài học kinh nghiệm, tình cảmchân thành, phong tục tập quán,… đã đi vào trí óc của trẻ em một cách tự nhiênnhất.Văn học dân gian trở thành cái nôi nuôi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn, bồi đắp giá trịđạo đức, nhân cách con người

Ngoài việc phản ánh chân thực tình cảm và kinh nghiệm trong đời sống thì ca daocòn thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình với những ước nguyện tốt đẹp về cuộcsống

Việc nhận biết, cảm thụ sâu sắc ý nghĩa ngôn từ của ca dao là điều rất cần thiết đốivới giáo viên tiểu học, bởi đây là cơ sở để giáo viên truyền đạt cho học sinh một cáchhiệu quả nhất

Trong chương trình Tiểu học, ca dao được đưa vào giảng dạy khá nhiều Nhưng cadao ở Tiểu học được tìm hiểu chủ yếu trên phương diện nội dung, cấu trúc và ýnghĩa Vấn đề giáo dục học sinh bằng ca dao cho các em vẫn chưa thực sự được quantâm đúng mức Giáo viên Tiểu học phải hiểu được những điều răn dạy của ông chađược đúc kết qua những câu ca dao để truyền đạt cho học sinh, giúp các em tiếp cậnthể loại này một cách dễ dàng

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đưa ra vấn đề nghiên cứu: “Ca dao trongchương trình Tiểu học với việc giáo dục trẻ em” với mục đích giúp giáo viên và học

Trang 7

sinh hiểu rõ hơn về nội dung, ý nghĩa và tính giáo dục của ca dao trong chương trìnhTiếng Việt Tiểu học.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Những công trình nghiên cứu về ca dao trong mấy thập kỷ qua là vô cùng phongphú và đa dạng với số lượng ngày càng tăng

Các công trình có tính chất sưu tầm vẫn chiếm đa số như :“Tục ngữ cao dao dân

ca Việt Nam” Vũ Ngọc Phan,“Kho tàng ca dao người Việt” (tập 1,2,3) do nhóm tácgiả Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật (chủ biên), tổng hợp tổng tập văn học dângian người Việt của trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia.Trong khi đónhững công trình nghiên cứu, phê bình bình giảng ca dao còn khá khiêm tốn Có thể

kể ra một số công trình nghiên cứu như: “Ca dao Việt Nam và những lời bình” tác giả

Vũ Thị Thu Hương (tuyển chọn), “Thi pháp ca dao” Nguyễn Xuân Kính, “Văn họcdân gian” của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh (chủ biên), “Bình giảng ca dao” tác giảTriều Nguyên,…

Sự nghiên cứu về ca dao trong việc giáo dục trẻ em lứa tuổi Tiểu học còn ít vàchưa phổ biến

Thứ hai, tìm hiểu tầm tiếp thu, sự ảnh hưởng của ca dao với trẻ và hướng dẫn họcsinh vận dụng ca dao trong cuộc sống thường nhật

Từ đó, suy ra tính giáo dục đối với trẻ em, đặc biệt là học sinh lứa tuổi Tiểu học

Trang 8

4 Đối tượng nghiên cứu

Ca dao trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu lí luận:

Các tài liệu nghiên cứu về cac dao trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học, cácnghiên cứu cùng nội dung của các khóa trước

5.1.2 Nghiên cứu thực tiễn:

Xem xét các bài ca dao trong chương trình Tiểu học

Để thực hiện nội dung vấn đề, tôi đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu Ngoài

ra tôi còn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để đạt được mục đích nghiêncứu

5.2 Cách nghiên cứu

Đầu tiên, tôi đọc tài liệu nghiên cứu để hiểu rõ nội dung của các câu ca dao

Tiếp theo, tôi quan sát thống kê các bài ca dao và số lần xuất hiện của ca dao trongchương trình tiếng Việt tiểu học

Sau đó, tôi tìm hiểu học sinh Tiểu học tiếp thu nội dung ca dao như thế nào

Đánh giá chung

6 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu về ca dao trong chương trình tiếng Việt Tiểu học với việc nghiên cứugiáo dục trẻ em

Trang 9

Phần nội dung:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Ca dao trong chương trình tiểu học

Chương 3: Ca dao với việc giáo dục trẻ em

Phần kết luận:

Tài liệu tham khảo

Trang 10

Chương 1: Cơ sở lý luận 1.1 Một số kiến thức về ca dao

1.1.1 Khái quát chung về thể loại ca dao

1.1.1.1 Khái niệm

Ca dao là một trong những thể loại của văn học dân gian, có giá trị vô cùng to lớn,góp phần làm phong phú làm giàu thêm văn học Việt Nam cả về sỗ lượng lẫn chấtlượng Ca dao là những bài thơ dân gian do nhân dân lao động sáng tác, thuộc thể loạitrữ tình đã diễn tả một cách sinh động và sâu sắc đời sống tâm hồn, tình cảm, tư tưởngcủa người lao động Ca dao thể hiện quan niệm, cách nhìn, tình cảm về cuộc sống,con người và các mối quan hệ cộng đồng

Ca dao được định nghĩa: theo Dương Quảng Hàm (2019) Việt Nam văn học sử yếu, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội “Ca dao (ca: hát; dao: bài hát ngắn không có

chương khúc) là những bài hát ngắn lưu truyền trong dân gian, thường tả tính tìnhphong tục của người dân Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong: phong tục)

nữa” [1;25]; theo Vũ Ngọc Phan (1978) Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam, nhà xuất

bản Khoa học Xã hội, Hà Nội “Theo định nghĩa về hình thức của ca dao, thì câu thànhkhúc điệu là , câu không thành khúc điệu là ca dao” [2;29]; theo Cao Đức Tiến-Dương Thị Hương (2005) Văn học- tài liệu đào tạo giáo viên, nhà xuất bản Giáo dục

và nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội “Ca dao là phần lời của bài hát dân gian(dân ca), là thơ ca dân gian truyền thống” [3;132], …

Từ những định nghĩa đã được trích dẫn ở trên, ta có thể rút ra khái niệm về ca daonhư sau: Ca dao là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câuhát, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc Ca dao vốn là một từHán Việt, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai.điệu, chương khúc

Trang 11

1.1.1.2 So sánh ca dao với các thể loại khác

Ca dao - một thể loại của văn học dân gian đã đi vào thế giới tâm hồn của chúng

ta từ rất sớm, nhưng vẫn còn có những vấn đề tranh cãi về khái niệm, thể loại,… giữanhững thể loại gần gũi với ca dao Những sản phẩm ngôn từ dễ gây nhầm lẫn với cadao là dân ca và tục ngữ

1.1.1.2.1 Phân biệt ca dao với dân ca

Cả ca dao và dân ca đều là thể loại của văn học dân gian và được lưu truyền trongdân gian không rõ tác giả Chúng có khái niệm khá là giống nhau khiến nhiều ngườihiểu lầm và gây nhiều tranh cãi

Theo Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam (1978) “Xét về

nguồn gốc hình thành thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong nhữnghoàn cảnh nhất định, trong những nghề nghiệp nhất định, hay ở những vùng miền địaphương nhất định Ví dụ như hát dặm Nghệ - Tĩnh, hát quan họ Bắc Ninh,…” [2;29]

Theo Lịch sử văn học Việt Nam của Bùi Văn Nguyên (tập 2): “Ca dao là những

bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lụcbát), để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm Dân ca là những bài hát có hoặckhông có chương khúc do nhân dân sáng tác lưu truyền trong dân gian ở từng vùnghoặc phổ biến ở nhiều vùng có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về nhạc” [4;38]

Ta rút ra được, dân ca là câu hát đã thành khúc điệu, là những bài hát có giai điệunhất định Giống với ca dao đều là thể loại của văn học dân gian và được lưu truyềntrong dân gian không rõ tác giả Ca dao chính là lời thơ được rút ra từ dân ca

Dân ca có nhiều hình thức thể hiện như ví, ngâm, vè,…Dân ca vẫn giữ nguyên lờihát của ca dao, chỉ thêm những âm luyến, âm đưa hơi, tiếng đệm, tiếng láy,… nhằmmục đích bộc lộ truyền cảm, da diết hơn

Ví dụ: Bài Trống Cơm

Trang 12

Trống cơm khéo vỗ nên vông,

Một bầy con xít lội sông đi tìm,

Thương ai con mắt lim dim,

Một bầy con nhện đi tìm giăng tơ.

Thương ai duyên nợ tang bồng.

Ca dao

Tình bằng có cái trống cơm

Khen ai khéo vỗ ô mấy vông mà nên vông

Ô mấyvông mà nên vông

Một bầy tang tình con xít

Một bầy tang tình con xít

Ô mấy lội lộilội sông

Ô mấy đi tìm Em nhớ thương ai?

Đôi con mắt Ô mấy lim dim

Đôi con mắt Ô mấy lim dim

Ô mấy giăng tơ

Giăng tơ ô mấy đi tìm em nhớ thương ai?

Duyên nợ cách tang bồng

Duyên nợ cách tang bồng

Dân ca

Trang 13

Những chữ in đậm trong dân ca là được thêm thắt tiếng đệm lót, giăng tơ, lội lội, vông nên vông là tiếng đưa hơi, duyên nợ cách tang bồng đưa vào đoạn điệp khúc Tất

cả các yếu tố trên khiến dân ca khác biệt hoàn toàn so với ca dao

1.1.1.2.2 Phân biệt ca dao với tục ngữ

Có những trường hợp, tục ngữ và ca dao giao thoa nhau khiến cho chúng ta rấtkhó trong việc phân biệt nhận diện chúng

Theo Mã Giang Lân trong Tục ngữ ca dao Việt Nam (1998): “Tục ngữ là lời ăn

tiếng nói của nhân dân đã được đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nộidung súc tích Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thứcthế giới, xã hội và con người” [5;76]

Cao Đức Tiến trong Văn học - tài liệu đào tạo giáo viên viết: “Tục ngữ có cấutrúc điển hình là cấu trúc đối xứng, tục ngữ thường gồm hai vế có quan hệ chặt chẽvới nhau, cân bằng số lượng từ, cân xứng về từ loại và chức năng Tục ngữ có âmđiệu nhẹ nhàng, nhịp ngữ âm và nhịp logic, tức là nhịp điệu và sự tổ chức ý tứ rấttương ứng, hài hòa với nhau” [3;135]

Các sản phẩm ngôn từ cô đọng trong một dòng có nội dung đúc kết kinh nghiệmchính là tục ngữ Đặc biệt lưu ý, cũng có những bài ca dao nêu lên nhận định về cuộcsống, xã hội, Mã Giang Lân cũng đã đề cập tới vấn đề này “Thực ra giữa hai thể loạitục ngữ và ca dao, không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau.Trong ca dao cũng có xen tục ngữ và cũng có những câu ca dao chỉ có hình thức là cadao còn nội dung lại là tục ngữ!”[5; 75]

Câu tục ngữ có những yếu tố cảm xúc như than ôi ai ơi , thì đã chạm tới khái niệmcủa ca dao

Ví dụ:

Ai ơi đừng chóng thì chày

Trang 14

Có công mài sắt có ngày nên kim

1.1.1.3 Phân loại ca dao

Có thể phân loại ca dao theo từng vùng miền: ca dao miền Bắc, ca dao Bắc Trung

Bộ, ca dao Nam Trung Bộ, ca dao Nam Bộ,…

Nhưng để cho dễ hiểu dễ tiếp thu, chúng ta chia ca dao theo mục đích sử dụng: Cadao lao động, ca dao ru con, ca dao trào phúng, ca dao trữ tình

Ca dao lao động ngợi ca về thành quả lao động, công sức lao động, những bài cadao tồn tại như một phần của qúa trình lao động Đặc biệt là nó có sự gắn bó chặt chẽgiữa nhịp điệu lao động và cảm xúc con người

Ví dụ: Hò giật chỉ (hò kéo lưới) Nam Trung Bộ:

- Ra đi sóng biển mịt mù, Trời cho lưới nặng dô hò kéo lên.

Nảy sinh trên những công việc có tính lặp đi lặp lại, tùy theo vị trí của lưới đánh

cá mà người dân hát nhanh hay chậm Lưới đang ở xa nhân dân hát chậm đồng thời

Trang 15

kéo chậm, lưới cá đang ở gần thì nhân dân hát nhanh, nhịp điệu gấp đồng thời dộngtác kéo lưới cũng nhanh cùng nhịp với điệu hò.

Lời ru hiện nay đã được cải tiến thành những video âm nhạc lưu truyền trên cáctrang mạng xã hội, hoặc được thu dưới dạng ca khúc, những hình thức này đều được ítngười biết đến hoặc có thể biết nhưng không có hứng thú tìm hiểu Lời ru của bà và

mẹ có lẽ chỉ đang tồn tại ở những làng xã nhỏ mà thôi

À ơi… Con cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

À ơi Ông ơi, ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

À ơi Có xáo thì xáo nước trong Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

Những cụm từ à ơi chậm rãi ở đầu dòng câu sáu chữ vừa làm cho bài thơ da diếttâm tình thêm chút xót xa cho số phận con cò kiếm ăn đêm, lại vừa khiến cho đứa trẻ

dễ đi vào giấc ngủ

Ca dao trào phúng là loại ca dao có tình tiết gây cười, hài hước, nhưng ẩn sâu trong

đó là sự trào phúng với hành động, nhân vật hoặc tầng lớp con người nào đó được ámchỉ

Sông bao nhiêu nước cho vừa, Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.

Nôi dung ám chỉ tính trăng hoa, tham lam, đứng núi này trông núi nọ của ngườiđàn ông thời kỳ phong kiến ngày xưa

Trang 16

Ca dao trữ tình là ca dao thể hiện tình cảm bộc lộ cảm xúc, là tiếng nói tế nhị, làlời tỏ lòng của đôi tình nhân, đôi khi táo bạo, đôi khi lại thẹn thùng, e ấp Ca dao trữtình gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình, nhân vật trữ tình có thể là một cô gái,một chàng trai, có khi là hình tượng người mẹ, hoặc là tâm tư của tầng lớp bình dânđối với cuộc sống mong muốn sau này.

Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà.

1.1.2 Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của ca dao

1.1.2.1 Về nội dung mà ca dao đề cập

Ca dao cung cấp cho các bạn đọc của mọi thời đại những quan niệm xã hội, đạođức của nhân dân lao động, của các dân tộc, đồng thời nó còn cung cấp những tri thức

bổ ích về tự nhiên xã hội, góp phần quan trọng về sự hình thành nhân cách con người

Ca dao bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thốngyêu nước, yêu gia đình, tinh thần hướng thiện, trọng nhân nghĩa, giàu tình thương,

Ca dao Việt Nam được xem là khoa học tự nhiên của nhân dân lao động Việt Nambởi nó có thể dự báo các hiện tượng thời tiết như gió, mưa, sấm, chớp, … phục vụhoạt động sản xuất nông nghiệp Được xem là lịch sử bởi nó ghi lại quá trình sống,lao động sản xuất, chống thiên tai của nhân dân Nó cũng chính là triết học của nhândân lao động Việt Nam bởi vì nó bao gồm một hệ thống những quan niệm sinh động,sâu sắc về thiên nhiên, xã hội và con người Ca dao Việt Nam là kho tri thức đa dạng,quý báu của con người về mọi mặt của cuộc sống Nhưng khi sáng tác ca dao, conngười không nghĩ rằng họ đang sáng tạo và những sáng tạo của họ bao gồm cả nhữngnội dung trên

Trang 17

Ca dao thể hiện sâu sắc đạo lý truyền thống dân tộc: đề cao chữ hiếu, xem trọngquan hệ ruột thịt, giáo dục tình cảm đoàn kết trong gia đình Nhân dân Việt Nam rấtyêu gia đình, yêu thôn xóm và tình yêu này lan tỏa tới mọi người xung quanh vớinhững người nhà, người làng, người cùng nước, cả cộng đồng Không chỉ thế nộidung của ca dao còn thể hiện tính triết lý sống Câu ca dao mang tính giáo dục cácanh chị em trong nhà thì nên đoàn kết, giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn khó khăn, hiểuđược đạo lý “môi hở răng lạnh” Giáo dục học sinh yêu thương anh chị em mình,không tị nạnh tranh cãi nhau, san sẻ công việc với nhau, tình cảm trong gia đình cũngdần được hình thành chặt chẽ hơn

- Anh em như thế chân tay Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần

Tình yêu gia đình, yêu xóm làng là cơ sở hình thành của tình yêu thiên nhiên, tìnhyêu quê hương đất nước, niềm tự hào về vẻ đẹp, sự giàu có của quê hương Các emcảm nhận được sự giàu có của đất nước qua cảnh đẹp thiên nhiên hùng vỹ, giúp họcsinh thêm tự hào, thêm yêu quý trân trọng quê hương đất nước, từ đó ý thức đước sứmệnh trong tương lai là duy trì và phát huy truyền thống cao đẹp của nhân dân ViệtNam, khiến đất nước trở nên giàu có, phát triển hơn

- Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương.

Mịt mù khói toả ngàn sương, Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

Chỉ với bốn câu thơ lục bát ngắn ngủi, ca dao đã phác họa ra một bức tranh tuyệtđẹp cảnh sáng sớm ở kinh thành Thăng Long Nó giúp ta thêm hiểu biết hơn khôngchỉ là lịch sử mà còn là văn hóa, truyền thống dân tộc, cảm thụ được tinh hoa của tổtiên đã xây dựng và gìn giữ Qua đó giáo dục người đọc, người nghe thêm yêu quê

Trang 18

hương và cảm nhận được trách nhiệm gìn giữ, phát triển non sông Việt Nam càng trởnên giàu mạnh hơn.

Ca dao bày tỏ mọi cung bậc tình cảm sâu kín của người lao động Trai gái gặp gỡnhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè, đình đám, vui xuân Mọisắc thái biểu cảm được bộc lộ chẳng hạn như nỗi tương tư, yêu thầm hoặc sự ngangtrái, khổ đau, sự oán trách,…

Có yêu thì nói rằng yêu, Chẳng yêu thì nói một điều cho xong.

Làm chi dở đục dở trong,

Lờ lờ nước hến cho lòng tương tư.

Chúng ta có thể hiểu câu ca dao trên như mối quan hệ mập mờ không rõ, ngườitương tư sầu khổ vì người ấy không dứt khoát, không rõ ràng trong việc xác định mốiquan hệ, thể hiện sự mạnh bạo trong tình yêu, thêm vào đó là thái độ dứt khoát đối vớitình yêu

Ca dao trở thành lời tâm tình của những tâm hồn đau khổ trong các mối quan hệ

xã hội Là lời than oán của giai cấp nông dân trong thời kỳ phong kiến thể hiện lòngcăm thù và lên án một cách mạnh mẽ Những tầng lớp bị áp bức không thể nói lêntiếng lòng đầy căm phẫn bằng lời, mà đưa điều này vào trong ca dao, vừa như oánthán, lại vừa như lên án những con người tầng lớp địa chủ thời kỳ phong kiến ngàyxưa

- Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Câu ca dao trên đã vạch trần bộ mặt xấu xa cùng những tội ác của bọn quan lại.Chúng trắng trợn bóc lột sức lao động, tước đoạt của cải, ruộng đất của người dân và

Trang 19

đẩy họ vào bế tắc và sự cùng khổ Thể hiện sự cùng khổ của người nông dân dưới ách

đô hộ của thực dân phong kiến, cảm thụ được sự ác độc của tham quan, mở rộng vốnhiểu biết về lịch sử Việt Nam, thể hiện sự đồng cảm thương tiếc cho những người dânchịu áp bức

1.1.2.2 Hình thức nghệ thuật biểu hiện của ca dao

Ngôn ngữ ca dao mang đậm tính triết lí song hình thức biểu đạt lại bình dị, dễhiểu Người dân lao động thường dùng những cách nói trong giao tiếp hàng ngày đểdiễn đạt tư tưởng, tình cảm cũng như đúc kết kinh nghiệm sống

a Nghệ thuật cấu tứ của ca dao

Trong ca dao, lối nói nghệ thuật với nhiều thể loại : thể lục bát, song thất lục báthoặc các biến thể của nó, thể thơ bốn, năm chữ Đặc biệt, thể lục bát được dùng phổbiến hơn cả Ngoài ra, người ta còn chia ca dao dựa theo cấu tứ thể hiện là thể phú,thể hứng và thể tỉ

Cấu tứ là hình thức, cách biểu đạt, cách tổ chức nội dung của tác phẩm

Thế phú là trình bày, mô tả nội dung tác phẩm Kể lại sự việc, tự sự hành động,diễn biến cuộc đời Dựa vào câu chuyện mà bộc lộ những ý định, cảm xúc, tình cảmcủa nhân vật Đây cũng là lối viết được sử dụng nhiều nhất

Thể hứng là biểu lộ cảm xúc với ngoại cảnh để gợi hứng, bằng cách mở đầu bài

ca dao bằng những câu thơ tả cảnh, sau đó tác giả mới thể hiện suy nghĩ, nỗi lòng củamình

Thể tỉ là so sánh, không nói thẳng ra từ lúc ban đầu mà mượn hình ảnh, để gửigắm những tâm sự, ngụ ý Ca dao trữ tình chuyên nói về tình cảm nên rất khó diễn tả.Bởi vậy ca dao trữ tình rất ưa sử dụng thể tỉ, là một phương pháp nghệ thuật đặc sắc,giúp cho ý tứ diễn đạt thêm rõ ràng, linh động mà tình cảm bộc lộ cũng có phần kínđáo tế nhị

Trang 20

b Nghệ thuật miêu tả và biểu hiện

Ca dao thường sử dụng các biện pháp tu từ như: so sánh, ẩn dụ, nhân hoá, để.hình dung một cách cụ thể thông qua những hình ảnh quen thuộc như: hạt mưa, tấmlụa đào, cái giếng, cây đa, bến nước, con thuyền, con đò,

So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tươngđồng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt Phép so sánh trong ca daothường sử dụng các từ ngữ chỉ quan hệ so sánh: như, như là, như thể, bằng, hơn,…nhưng cũng có khi các từ này được lược bỏ Trong ca dao, phép so sánh thể hiện cáchnhìn, cảm nghĩ về đối tượng được so sánh

Ví dụ:

- Tình anh như nước dâng cao Tình em như dải lụa đào tẩm hương.

- Anh như tán tía, tán vàng

Em như manh chiếu nhà hàng bỏ quên.

Ẩn dụ là lối so sánh ngầm dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự,không có từ ngữ chỉ sự so sánh nhưng chúng ta có thể hiểu được hình tượng nhân vật

so sánh đang nhắc tới là ai, đại biểu cho cái gì, từ đó rút ra ý nghĩa được che dấu Ẩn

dụ trong ca dao giúp khả năng liên tưởng của con người được mở rộng, góp phần kháiquát sự vật hiện tượng, mặt khác tăng ý tế nhị, kín đáo trong việc thể hiện tình cảmcủa con người Trong ca dao, ẩn dụ có ý nghĩa nhận thức và biểu cảm

Trang 21

Ai ngờ giếng cạn, em tiếc hoài sợi dây.

1.2 Tầm tiếp nhận của học sinh Tiểu học với ca dao

Tiếp nhận văn học là quá trình giao thoa giữa người đọc và tác phẩm, là kết tinh củangười đọc trở thành một yếu tố tinh thần nào đó sau khi thưởng thức tác phẩm Sựtiếp nhận của độc giả thông qua tri giác, cảm thụ tác phẩm, xúc cảm, ý nghĩ đối vớimạch văn, tình tiết câu chuyện Riêng với học sinh Tiểu học thì tầm tiếp nhận của các

em vẫn chưa được tốt và phải phụ thuộc nhiều vào cách giáo viên truyền đạt

1.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học trong việc tiếp nhận các giá trị văn học dân gian

Chúng ta đều biết, học sinh Tiểu học là trẻ em có độ tuổi từ 6 đến 11 tuổi đangtheo học các lớp của trường Tiểu học Ở tuổi này, các bé có những thay đổi nhất định

cả về tâm lý lẫn sinh lý Bộ máy chức năng cơ thể đang được hoàn thiện, các cơxương phát triển nhanh chóng, lực cơ của các em còn yếu cho nên hạn chế cho các emhoạt động quá mạnh Học sinh từ môi trường vui chơi là chính (Mầm non) sang môitrường có học tập là hoạt động chủ đạo (Tiểu học) nên khó tránh khỏi có những emkhông thể thích ứng nổi Điều này đòi hỏi các giáo viên phải có biện pháp khắc phục,hơn nữa liên hệ với gia đình học sinh để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất.Trẻ con ở tuổi này thường hiếu động, ham chơi và dễ xúc động, tính cách hồnnhiên ngay thẳng trong sáng, vì vậy có thể khả năng tập trung của các bé còn thiếu và

dễ bị phân tán trong học tập Nếu như nội dung bài giảng nhàm chán không thể thuhút được sự chú ý của các em thì giáo viên phải xem xét và sửa lại phương pháp giảngdạy sao cho việc truyền đạt kiến thức đến với các em đạt hiệu quả tốt nhất Các emtuy còn nhỏ tuổi nhưng đã có khả năng liên tưởng, trí tưởng tượng phong phú, mộttâm hồn non nớt ham học hỏi

Học sinh nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh, giáo viên cần nắm rõ điểm này và tổchức tiết ôn tập hoặc mời các em trả lời câu hỏi liên quan đến nội dung nhằm nhắc lại,

Trang 22

gợi lại kiến thức Lối tư duy ở đầu cấp (lớp 1, 2, 3) còn mang tính trực quan nhiềuhơn, cụ thể là các bé nhớ sự việc và kiến thức thông qua các hình ảnh minh họa trongsách giáo khoa; và lối tư duy mang tính khái quát nhiều hơn khi ở cuối cấp (lớp 4, 5),sách giáo khoa thường có những mục ghi nhớ, tổng hợp kiến thức của buổi học được

in đậm hoặc in có màu để học sinh dễ thấy dễ nhớ lại

Trong quá trình dạy học, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này Vì vậy, giáo viêncần đảm bảo tính trực quan thể hiện qua dùng hình ảnh sát với bài giảng và lấy ví dụminh họa, dạy học kết hợp với hành động để phát triển tư duy cho học sinh Giáo viêncần hướng dẫn học sinh phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, kháiquát hóa, khả năng phán đoán và suy luận qua các hoạt động với thầy, với bạn Thêmvào đó, giáo viên phải biết cách kích thích lối tư duy tích cực và hạn chế những ýnghĩ, tác động tiêu cực của học sinh

Để phù hợp với học sinh, các tác phẩm văn học dân gian mang tính giáo dục cao,nhưng lại dễ học dễ hiểu đối với lứa tuổi trẻ em Tiểu học- lứa tuổi đang có sự nhậnthức đơn giản mà nhạy cảm Văn học dân gian, đặc biệt là ca dao trong chương trình

có nội dung gợi hình gợi cảm đơn giản có triết lý giáo dục, thêm vào đó, chú thích củagiáo viên và sách giáo khoa đơn giản hóa từ ngữ, giúp các em học tập dễ dàng hơn.Dạy các em yêu thiên nhiên đất nước, dạy các em lòng nhân ái, nhân hậu, đoàn kết,…những đức tính tốt làm giàu nhân cách con người, tăng giá trị thẩm mỹ của học sinhnói riêng và tất cả người dân Việt Nam nói chung

1.2.2 Tầm tiếp nhận của thể loại ca dao đối với học sinh

Nhà văn Tô Hoài, người có nhiều kinh nghiệm trong sáng tác cho trẻ em đã khẳngđịnh tầm quan trọng của văn học đối với giáo dục trẻ thơ: “Nội dung một tác phẩmvăn học viết cho thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính conngười Nói thì thừa, cần nhắc lại và thật giản dị, một tác phẩm chân chính có giá trị

Trang 23

đối với tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạnđọc ấy.”

Ca dao - thể loại đặc biệt mang tính nhạc của văn học dân gian Các bài ca daothường có những giai điệu nhẹ nhàng, ngôn ngữ trong sáng, thanh điệu có vần vớinhau, khi học thường có sự linh hoạt giữa môn Âm nhạc và môn Tiếng Việt Nên các

em rất thích khi học ca dao Những tiết học có liên quan đến ca dao, các học sinhthường học rất nhanh và rất thích thú trong việc đọc bài Điều này làm rõ, ca daokhiến các em học dễ dàng hơn, có sự chú ý hơn những bài học khác Sự xuất hiện của

ca dao ở xung quanh cuộc sống sinh hoạt lại hiện diện trong công tác học tập giảngdạy, khiến cho bài học có sự đổi mới, các em sẽ không thấy nhàm chán khi phải họcmôn Tiếng Việt nữa Bên cạnh đó, có thể bồi dưỡng cho học sinh những thói quen, kỹnăng tốt như niềm yêu thích đọc sách, yêu thích cảm thụ văn học, yêu thích văn họcdân gian

Học sinh có thể tiếp nhận ca dao một cách nhanh chóng, bởi ca dao có đặc điểm đó

là thường có những âm vần có quy luật kết hợp với nhau tạo nên thanh điệu tươi mát,biện pháp tu từ được sử dụng hài hòa với nhau, không chỉ mở rộng vốn từ mà cònphát triển lối tư duy theo hướng hình ảnh hóa, giúp học sinh nhớ lâu, áp dụng vàonhững phân môn khác ngoài môn tiếng Việt, khiến các em có được những thành tíchtốt trên con đường học tập và rèn luyện

Tiểu kết

Như vậy, từ chương 1 ta có thể rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, ca dao là một thể loại văn học dân gian Việt Nam do nhân dân lao độngsáng tác thể hiện quan niệm, cách nhìn, tình cảm về cuộc sống, con người và các mốiquan hệ cộng đồng Vì rất thân thuộc gần gũi với đời sống sinh hoạt hàng ngày mà đôikhi chúng ta không thể phân biệt chúng với các thể loại văn học dân gian khác Giữa

ca dao với dân ca và ca dao với tục ngữ, có sự giao thoa cả về hình thức lẫn nội dung

Trang 24

Ca dao dùng trong lời ăn tiếng nói thường ngày, truyền miệng dưới dạng những câuhát, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc; dân ca là câu hát đãthành khúc điệu, là những bài hát có giai điệu nhất định; tục ngữ là lời ăn tiếng nóicủa nhân dân đã được đúc kết mang nội dung súc tích, biểu hiện trí tuệ của nhân dântrong cuộc sống lao động sản xuất Chúng ta phân loại ca dao như sau: Ca dao laođộng, ca dao ru con, ca dao trào phúng, ca dao trữ tình Ca dao lao động ngợi ca vềthành quả lao động; ca dao ru con là những bài thơ lục bát có âm điệu dễ nghe, dễ đưatrẻ vào giấc ngủ; ca dao trào phúng có tình tiết gây cười, hài hước, nhưng ẩn sâu là sựtrào phúng với nhân vật hoặc tầng lớp con người nào đó; ca dao trữ tình là ca dao thểhiện tình cảm bộc lộ cảm xúc, là tiếng nói tế nhị, là lời tỏ lòng của đôi tình nhân, đôikhi táo bạo, đôi khi lại thẹn thùng Ca dao thể hiện sâu sắc đạo lý truyền thống dân tộchình thành của tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về vẻđẹp, sự giàu có của quê hương, bày tỏ mọi cung bậc tình cảm sâu kín của người laođộng, lời tâm tình của những tâm hồn đau khổ trong các mối quan hệ xã hội, lời tâmtình của những tâm hồn đau khổ trong các mối quan hệ xã hội Ca dao có nghệ thuậtcấu tứ thể hiện là thể phú, thể hứng và thể tỉ, thường sử dụng các biện pháp tu từ sosánh, ẩn dụ, nhân hoá, để hình dung một cách cụ thể sự vật hiện tượng được nhắcđến.

Thứ hai, bàn về sự tiếp nhận của văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêngcủa học sinh Tiểu học thông qua đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, từ đó rút ra được ca daophù hợp với năng lực nhận thức và suy nghĩ ở trẻ

Ngày đăng: 20/08/2022, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w