Dù vậy, đại dịch này cũng định hình các xu hướng tạo ra các cơ hội phát triển kinh tế trong tương lai như ưu tiên vào an ninh an toàn và sáng tạo tăng trưởng thay vì lợi nhuận giảm chi p
Trang 1Cơ hội trong khủng hoảng từ đại dịch COVID-19: Hàm ý cho
cạnh tranh kinh tế Mỹ Trung
Nguyễn Hồng Bắc1 Viện kinh tế chính trị thế giới Đại dịch COVID-19 đã càn quét toàn cầu suốt hơn một năm qua và gây ra khủng hoảng tàn khốc trong nền kinh tế toàn cầu Dù vậy, đại dịch này cũng định hình các xu hướng tạo ra các cơ hội phát triển kinh tế trong tương lai như ưu tiên vào an ninh (an toàn) và sáng tạo (tăng trưởng) thay vì lợi nhuận (giảm chi phí); sự trỗi dậy của nền kinh tế số cùng với cơ hội từ việc xây dựng vào đảm bảo an toàn cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật số bao gồm năng lực số hóa nền kinh tế như ngân hàng, thị trường tài chính, sử dụng đồng tiền số … Tận dụng được cơ hội này sẽ là yếu tố quyết định thắng thua cho cạnh tranh kinh tế Mỹ - Trung trong tương lai Bài viết này trình bày những cơ hội lớn từ đại dịch Covid-19 như buộc các doanh nghiệp quan tâm tới tương lai khi ưu tiên vào các yếu tố dài hạn như sáng tạo cho tăng trưởng thay vì lợi nhuận, đồng thời là cú huých buộc họ chuyển sang nền tảng số, và phân tích khả năng vừa cạnh tranh vừa hợp tác giữa hai nền kinh tế Mỹ - Trung trong tương lai gần
1 Tái cấu trúc nền kinh tế thế giới theo hướng bền vững và
th ích ứng tốt hơn
Đại dịch Covid-19 là thách thức lớn nhất đối với thế giới trong thế kỷ qua Đây là đại dịch lan tràn trên toàn cầu nên không quốc gia nào có thể miễn nhiễm với virus này Dù vậy, do năng lực của các quốc gia khác nhau nên hiệu quả của các chính sách đối phó với Covid-19 cũng rất khác biệt Đại địch Covid-19 đã buộc các quốc gia phải đóng cửa
và ảnh hưởng rất lớn tới các chuỗi cung ứng toàn cầu, ngành du lịch, hoạt động vận chuyển hành khách cũng như hàng hóa hàng không Phần này sẽ trình bày ảnh hưởng
1 Tham luận hội thảo “Những thay đổi của kinh tế và chính trị thế giới dưới tác động của đại dịch Covid-19” tổ chức ngày 26/10/2021 tại Viện Kinh tế Chính trị Thế giới, Hà Nội
Trang 2của Covid-19 tới chuỗi cung ứng và xu hướng định hình chính sách phát triển bền vững trong đối phó với Covid-19
1.1 Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tới nền kinh tế thế giới
Theo báo cáo IMF vào tháng 07/2021, đại dịch Covid-19 bắt đầu vào năm 2020 đã kéo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới xuống còn -3,2% năm 2020 trong đó Mỹ (-3,5%), Trung Quốc (2,3%); và dự báo nền kinh tế thế giới hồi phục dần vào năm 2021 với tốc độ 6,0% trong đó Mỹ (7,0%), Trung Quốc (8,1%) Nếu so mức độ nghiêm trọng thì nền kinh tế năm 2009, sau khủng hoảng tài chính tiền tệ 2008 chỉ sụt giảm -0,1%
Do mức độ nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 tới toàn bộ nền kinh tế thế giới và chưa thể dự đoán được thời gian kết thúc của đại dịch này nên một số nước đã lựa chọn sống chung với Covid-19 như Singapore, Anh, Indonesia, Fiji, Việt Nam, Đan Mạch, Thái Lan, Nam Phi Theo ADB (2020), Covid-19 tác động tới nền kinh tế toàn cầu qua ba kênh: 1) làm tăng chi phí giao dịch thương mại do tình trạng đóng cửa biên giới giữa các quốc gia, cũng như ngăn cách giữa các vùng trong một quốc gia khiến cho ngành
du lịch, hàng không đình trệ, và giảm lượng khách Đây là ảnh hưởng trực tiếp và nặng
nề nhất của Covid-19 tới chuỗi cung ứng toàn cầu, và ngành dịch vụ; 2) Ảnh hưởng tới nguồn cung bao gồm cả nguyên vật liệu và sản phẩm khi buộc các nhà máy phải đóng cửa, hạn chế người lao động tiếp cận cơ sở sản xuất, cũng như gây trở ngại cho quá trình vận chuyển; 3) Buộc chính phủ phải đưa ra các gói hỗ trợ cho chữa bệnh nhân nhiễm Covid-19, cách ly cũng như các gói kích thích hỗ trợ doanh nghiệp và người dân chịu ảnh hưởng của Covid-19
- Ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng
Đứt gãy nguồn cung: Khi Covid-19 tấn công vào công xưởng thì yếu tố quan trọng nhất
trong quá trình sản xuất là người lao động bị ảnh hưởng trước tiên Là đối tượng bị lây nhiễm, người lao động có thể bị cách ly, có thể không tiếp cận được nơi sản xuất do tình trạng phong tỏa Ngoài ra, quá trình vận chuyển vật tư, nguyên liệu cũng bị ngưng trệ Chuỗi cung ưng được thiết kế sao cho không còn sai sót và quá trình vận hành liên
tục để đảm bảo hiệu quả, nhưng trong bối cảnh đại dịch Covid-19 thiết kế này đã bị phá sản Đồng thời, các doanh nghiệp châu Âu cũng đã nhận ra họ đã quá phụ thuộc vào Trung Quốc trong các chuỗi cung ứng Hàng loạt các khu vực phải đóng cửa biên giới,
Trang 3đi cùng với các ngành công nghiệp phải đóng cửa thì các công xưởng tại phương Tây cũng phải ngừng sản xuất vì họ không thể vận hành dây chuyền khi thiếu nguyên liệu
từ Trung Quốc như dệt may và hàng tiêu dùng điện tử Báo cáo của McKinsey (2020) cho thấy Mỹ là nơi sản xuất / chế biến của 500 cơ sở dược, tập trung cao nhất trên thế giới và đứng trước rủi ro về chuỗi cung ứng mang tính chính trị và kinh tế Nguyên liệu 80% dược liệu được nhập từ Trung Quốc Theo WTO (2020), Mỹ, Đức và Trung Quốc
là ba quốc gia tham gia trao đổi về hàng y tế lớn nhất trên thế giới trong đó Trung Quốc
là nguồn cung chính Nhật bản đã đưa ra kế hoạch di chuyển công xưởng ra khỏi Trung Quốc với giá trị hỗ trợ lên tới USD 2,2 tỷ Covid-19 đã bộc lộ những điểm yếu của nền kinh tế trong khả năng thích ứng và đối phó với đại dịch trong chuỗi cung ứng trong các nền kinh tế mở Trung Quốc đóng vai trò trung tâm trong nền kinh tế toàn cầu, với
tỷ trọng cung cầu trong nền kinh tế toàn cầu tới 60% (GDP), 65% giá trị hàng chế tạo, 41% kim ngạch xuất khẩu hàng chế tạo (Baldwin & di Mauro, 2020)
Hình 1: Ảnh hưởng của Covid-19 tới chuỗi cung ứng (Trung Quốc giảm 2% kim ngạch xuất khẩu) triệu USD
Nguồn: UNCTAD (2020)
Hình 1 cho thấy ảnh hưởng của Trung Quốc tới chuỗi cung ứng trong tháng 1-2 năm
2020 khi kim ngạch xuất khẩu sụt giảm trong hầu như tất cả các mặt hàng từ điện tử, máy móc, đồ gỗ, nhựa, quần áo, thiết bị y tế Tác động “Bullwhip” này tới chuỗi cung ứng buộc các công ty đa quốc gia như Gap, Uniqlo, Nike, Toyota, General Motos, Volkswagon phải giảm công suất hay đóng cửa tại Trung Quốc (The Manufacturer, 2020) Rủi ro bị đứt gãy chuỗi cung ứng đã xuất hiện nhiều lần trong lịch sử với nhiều nguyên nhân khác nhau Ảnh hưởng của Covid-19 tới chuỗi cung ứng giữa các quốc gia cũng khác biệt, từ thuế quan, tới các hiệp định thương mại Ngành ô tô bị ảnh hưởng
Trang 4nặng, thiệt hại USD 61 tỷ nhưng hãng ô tô Bắc Mỹ và Nhật Bản (Toyota) bị ảnh hưởng
ít hơn nhờ đã tích trữ chip Thương chiến Mỹ Trung cũng làm giảm nguồn cung chip khi hạn chế xuất khẩu cho hãng sản xuất SMIC của Trung Quốc
Hình 2: Khủng hoảng ngành ô tô toàn cầu do thiếu chip dưới tác động của đại dịch Covid-19 (dự báo 2021)
Nguồn: AlixPartners theo Bloomberg (2021, 27 Jan)
Sụt giảm nhu cầu: Chuỗi cung ứng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, ban đầu là tác động của
nguồn cung bị đứt gãy, sau là nhu cầu sụt giảm trong một số ngành như hàng không, bán lẻ Việc hạn chế đi lại đã làm giảm cầu tiêu dùng, dù vậy tại các nước đã nới lỏng việc giãn cách xã hội thì nhận thức về rủi ro nhiễm bệnh Theo ICAO (2021), năm 2020,
do đại dịch Covid-19, số lượng ghế hành khách đã giảm 50%, lượng hành khách bay giảm 2,699 tỷ người, và giá trị thiệt hại USD 371 tỷ Ngành bán lẻ cũng bị ảnh hưởng
lớn Đại dịch đã làm giảm nhu cầu về các mặt hàng xa xỉ không thiết yếu
Như vậy, đại dịch đã buộc cho các quốc gia và doanh nghiệp phải thay đổi nhận thức
về kinh doanh vì lợi nhuận chạy theo hiệu quả dẫn tới quá phụ thuộc vào Trung Quốc trong chuỗi cung ứng Trong bối cảnh bị buộc phải chung sống với Covid-19 quản lý rủi ro chuỗi cung ứng hiện là ưu tiên hàng đầu
1.2 Xu hướng phát triển bền vững trong các nền kinh tế
Cuộc khủng hoảng 2008 có nguồn gốc từ hạn chế của ngành tài chính Mỹ, với những bong bóng tài chính trong khi cuộc khủng hoảng 2020 bắt nguồn từ cú sốc cung ứng Đầu năm 2020 khi các nhà máy buộc phải đóng cửa vì đại dịch Covid-19 thì các chuỗi
Trang 5cung ứng bị đứt gãy và bộ phận kho bãi bị dồn ứ Các quốc gia trong chuỗi cung ứng
đã buộc phải đối phó với hoàn cảnh trong thời dịch bệnh bằng cách mở rộng hơn, tích trữ nhiều hơn, cập nhật thông tin hơn trước mỗi rủi ro và cấu trúc đặc thù của chuỗi Như vậy, hệ thống chuỗi cung ứng sẽ trở nên linh hoạt hơn, nhưng cũng tạo ra nhiều rủi ro hơn Điều quan trọng trước hết là khả năng đối phó với những thông tin mới, nhận thức rủi ro và đánh giá để đưa ra quyết định với tầm nhìn trung hạn
- Xu hướng xây dựng khả năng độc lập kinh tế những hàng hóa thiết yếu
Covid-19 đã buộc các chính phủ phải đóng cửa biên giới với bên ngoài, khoảng 70% sân bay, cảng biển và cửa khẩu trên thế giới đã áp dụng các biện pháp hạn chế người nước ngoài Do vậy, các chính sách mang tính dân tộc chủ nghĩa cũng được ban hành như tại Mỹ cả hai đảng đã thông qua yêu cầu “mua hàng Mỹ”; tại Pháp Tổng thống Emmanuel Macron đưa ra các biện pháp để có thể đảm bảo an ninh, có khả năng độc lập sản xuất các thiết bị y tế thiết yếu; Nhật đang chuyển nhà máy rời khỏi Trung Quốc;
EU cũng hạn chế đầu tư nước ngoài và các hoạt động thôn tính và sáp nhập doanh nghiệp Khoảng 90 nước đã cấm xuất khẩu thiết bị y tế và 20 nước cấm xuất khẩu lương thực Pascal Lamy, cựu tổng giám đốc World Trade Organization (WTO) cũng cho rằng cần chuyển hướng các chuỗi cung ứng từ tập trung vào hiệu quả sang khả năng thích ứng để hạn chế hậu quả của tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng Trên thực tế các công ty đa quốc gia đã thực sự cân nhắc tìm địa điểm xây dựng công xưởng thay thế cho Trung Quốc để giảm sự phụ thuộc vào nước này như Komatsu, Daikin Industries, Asics, Google, Microsoft, Mazda, Kasai Kogyo, Koito… (Nakafuji & Moriyasu, 2020)
- Đầu tư xanh và nền kinh tế tuần hoàn
Đổi mới thường diễn ra sau các giai đoạn khủng hoảng, sau đại dịch, nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm xanh tốt cho sức khỏe tăng thúc đẩy đầu tư xanh vào các sản phẩm an toàn đối với sức khỏe con người Đồng thời, các doanh nghiệp cũng đang chuyển hướng tạo ra những sản phẩm có khả năng tái sinh và tiến tới xây dựng nền kinh tế tuần hoàn
- Lực lượng lao động có xu hướng rời các khu đô thị
Cùng với sự tiện dụng của các phương tiện hỗ trợ làm việc từ xa, nhu cầu sống tại ngoại
ô, gần gũi thiên nhiên, mật độ dân cư thấp sẽ là xu hướng lâu dài Xu hướng này có tác động tích cực, giảm áp lực cho hạ tầng đô thị, chuyển dịch dân số ra khỏi đô thị đã quá
Trang 6đông Do vậy, đầu tư bất động sản cũng chuyển hướng tới những khu vực xa đô thị hơn Trước đại dịch, sự mất cân bằng giữa đô thị và nông thôn đang là một vấn đề nan giải, Covid-19 tạo ra một sự cân bằng mới cần các chính sách thúc đẩy xu hướng tích cực này
Như vậy, Covid-19 đã tạo ra một cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị xã hội sâu rộng nhưng đồng thời cũng tạo cơ hội chuyển hướng nền kinh tế sang hướng bền vững và thích ứng hơn trước các rủi ro Nhưng để bước từ nhận thức sang thực hiện là cả một khoảng cách và công nghệ số đang là công cụ giúp người lao động, doanh nghiệp và
chính quyền thực hiện nhiệm vụ này
2 Sự trỗi dậy của nền kinh tế số trong khủng hoảng Covid-19
COVID-19 đang tàn phá nền kinh tế thế giới, nhưng cũng tạo ra cơ hội Cơ hội chủ yếu xuất hiện từ việc lan tỏa công nghệ nhanh chóng, và quá trình này có thể thúc đẩy năng suất, cải thiện về học tập và chuyển đổi thể chế nhà nước Cuộc chuyển hướng số hóa nền kinh tế là lâu dài tuy ban đầu chỉ để đối phó với đại dịch, nhưng nay đã trở thành một nhân tố phát triển bền vững cho nền kinh tế Đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy việc
áp dụng kỹ thuật số trên toàn thế giới
2.1 S ự hình thành cộng đồng người tiêu dùng số
Mua sắm trực tuyến và “giao dịch không chạm” là những yếu tố mới và cũng là điều kiện mới nẩy sinh trong thời đại dịch Covid-19 Các doanh nghiệp cũng phải đáp ứng được yêu cầu này để tiếp tục hoạt động và đảm bảo lòng trung thành của khách hàng hiện tại và trong tương lai Các công ty đã tạo ra các ứng dụng (app) trên năm công cụ kinh tế số như mạng xã hội, video trực tuyến, tin nhắn trực tiếp, thương mại trực tuyến
và giao thực phẩm Những ứng dụng này đã tạo ra một hướng tiêu dùng mới 85% người tiêu dùng số tại khắp Đông Nam Á mới sử dụng đầu năm 2020 Trong đó mức tăng cao nhất là mạng xã hội (38%), video trực tiếp (35%), tin nhắn (30%), thương mại điện tử (23%), và mạng lưới giao thực phẩm (17%) (Bain & Company & Facebook, 2020) Hình 3: 30-60% người tiêu dùng đang chuyển sang mua sắm trực tuyến
Trang 7Nguồn: McKinsey (2020)
Theo McKinsey (2020b), 30-60% người tiêu dùng đang chuyển sang mua sắm trực tuyến tùy các quốc gia trong đó Indonesia cao nhất với 60%, và Trung Quốc thấp nhất với 30%
Như vậy, xu hướng chuyển sang sử dụng thương mại điện tử đang bắt đầu phát triển Cùng với xu hướng này là sự chuyển động của hàng loạt các ngành công nghiệp như ngân hàng (Internet banking) hay tài chính (dịch vụ đấu thầu nhà cung ứng cho các chuỗi cung ứng)
2.2 S ự phát triển mạnh mẽ môi trường số hóa doanh nghiệp
McKinsey (2020a, Oct) đã cho thấy Covid-19 đã đẩy mạnh quá trình số hóa tương tác giữa khách hàng và chuỗi cung ứng, tương tác nội bộ doanh nghiệp Quá trình này đã
đi trước kế hoạch ba năm tại Bắc Mỹ và châu Âu, bốn năm tại châu Á- Thái Bình Dương Hoạt động số hóa được nhu cầu người tiêu dùng khởi động khi chuyển sang các
Trang 8kênh trực tuyến Tốc độ tạo ra các dịch vụ kỹ thuật số và nâng cao kỹ thuật số đã gia tăng mạnh mẽ với mức tăng bảy năm trên toàn cầu, châu Á - Thái Bình Dương là mười năm, châu Âu là bảy năm và Bắc Mỹ là sáu năm
Đại dịch buộc các doanh nghiệp phải đánh giá lại các hoạt động của họ, và đẩy nhanh đổi mới công nghệ Theo James Manyika & Michael Spence (2021), các công ty đã ứng dụng công nghệ số có thể duy trì hoạt động trong tình trạng bị ảnh hưởng từ biện pháp kiềm chế lây lan vi-rút Nhờ vậy, năng suất lao động tăng và phúc lợi được cải thiện Đại dịch đã gây ra nạn thất nghiệp tràn lan khắp các ngành nghề, người lao động buộc
phải thay đổi cách thức làm việc và doanh nghiệp phải thay đổi cách thức vận hành đã đẩy nhanh tiến trình số hóa Cơ hội việc làm của người lao động có thể bị thay thế bởi máy móc và thay vì tạo thêm việc làm thì quá trình tái cấu trúc này tạo ra rào cản cao hơn để người lao động có thể tìm kiếm việc làm Xu thế tự động hoá và ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất kinh doanh tiếp tục giảm nhu cầu sử dụng lao động trong doanh nghiệp Tại Mỹ 40% lực lượng có thể đáp ứng nhu cầu, 15% cần được đào tạo thêm, 15% có thể bổ sung mới vào các ngành nghề mới được tạo thêm, 10% trong các ngành nghề khác không thể làm việc từ xa, và 20% có thể làm việc từ xa hiệu quả Dưới tác động của đại dịch ngành ngân hàng và tài chính là những ngành phát triển mạnh mẽ Ngành ngân hàng tài chính đã xây dựng được cấu trúc hệ thống tốt hơn so với cuộc khủng hoảng 2008 Hoạt động của ngành ngân hàng đã hỗ trợ tốt cho quá trình thực hiện các gói cứu trợ của chính quyền có tác dụng như là lớp đệm giảm bớt sự tàn phá của đại dịch Tác động của Covid-19 trong lĩnh vực ngân hàng mang tính chất sâu rộng và lâu dài Cách dịch vụ đã chuyển sang trực tuyến tại các ngân hàng thời
Covid-19 bao gồm hoạt động đơn giản như đổi số PIN, cho tới thay đổi thời hạn vay, hay phức tạp như thanh toán tại siêu thị và hoàn tất các mẫu đơn ngân hàng Các dịch vụ cung cấp tài chính cũng rất phát triển khi 71% khách hàng trên toàn cầu sử dụng dịch vụ tài chính hàng tuần (Kevin Martin, 2020) Xu hướng sử dụng ngân hàng số thay thế tiền mặt đang dần định hình thời kỳ hậu Covid-19 Ngoài ra các ngân hàng đang áp dụng công nghệ AI trong các dịch vụ trả lời khách hàng
Trang 9Hình 4: Hoạt động cho vay của ngân hàng cho khu vực tư nhân ngoài ngân hàng trong đại dịch Covid-19
Nguồn: FSB (2021)
Hình 4 cho thấy hoạt động cho vay của ngân hàng vẫn phát triển mạnh trong giai đoạn dịch Covid-19 bùng phát Tài sản của các ngân hàng cũng lớn hơn và phạm vi hoạt động
với nhiều kênh hơn so với khủng hoảng 2008 Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp của ngân hàng đã tốt hơn So với các nền kinh tế phát triển, chính phủ các nền kinh tế mới nổi (EMEs) không có khả năng tốt bằng phản ánh những khó khăn mà các nền kinh tế này
phải đối mặt
2.3 N ỗ lực chuyển đổi số của các quốc gia
Đại dịch Covid-19 đã buộc nhiều quốc gia đẩy mạnh tốc độ chuyển sang chính phủ số Công nghệ chính phủ số với khả năng chia sẻ thông tin, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức
khỏe trực tuyến (khám bệnh trực tuyến, đặt hẹn…) đã kết nối người dân cùng các dịch
vụ số của chính phủ kết nối Công nghệ số cũng giúp đẩy nhanh quá trình ra quyết định,
và phối hợp thực hiện quyết định Chuyển đổi số cần được thực hiện ở cấp quốc gia
Trang 10theo hệ thống, và được tiếp cận theo đa lĩnh vực trong nỗ lực cải thiện cơ sở hạ tầng số cùng với khả năng tiếp cận công nghệ, xây dựng lòng tin vào các ứng dụng công nghệ
số như chăm sóc sức khỏe, ngân hàng Các quốc gia có thể xây dựng một nền tảng số thống nhất, hội nhập cả kênh trực tuyến và truyền thống đồng thời xây dựng các dịch
vụ số của chính quyền Chính phủ có thể chia sẻ thông tin qua các cổng thông tin quốc gia, ứng dụng trên điện thoại di động, và các mạng xã hội An ninh số đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi số cùng với vai trò của chính phủ trong đào tạo lại người lao động để có thể làm việc lại trong môi trường số
Hình 5: Giá trị trung bình của chỉ số chính phủ số cùng các bộ phận cấu thành trong các năm 2016, 2018, và 2020
Nguồn: United Nations E-Government Surveys (2016), (2018), (2020)
Giá trị trung bình của chỉ số chính phủ số tăng liên tục từ 0,55 năm 2018, lên 0,6 trong năm 2020 Giá trị năng lực con người- HCI (Human Capacity Index), và dịch vụ trực tuyến- OSI (Online Services Index) năm 2018 cao hơn so với năm 2020, nhưng cơ sở
hạ tầng viễn thông- TII (Telecommunications Infrastructure Index) có cải thiện trong
2020 Nguyên nhân sụt giảm của HCI và OSI một phần là do sự thay đổi trong phương