ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CUỐI KÌ Môn Tác phẩm Văn học Câu 1 Khái niệm tác phẩm văn học, cấu trúc của tác phẩm văn học, vấn đề giải mã tác phẩm văn học Nêu quan niệm về nội dung, hình thức và mối quan hệ giữa h.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP CUỐI KÌ
Môn: Tác phẩm Văn học
Câu 1: Khái niệm tác phẩm văn học, cấu trúc của tác phẩm văn học, vấn đề giải mã
tác phẩm văn học Nêu quan niệm về nội dung, hình thức và mối quan hệ giữa haiyếu tố đó trong tác phẩm văn học
I Quan niệm chung
1.
Khái niệm “tác phẩm văn học”.
- Từ xưa đến nay “tác phẩm văn học” được quan niệm với một phạm vi khá
rộng rãi Đó có thể là một bài ca dao vài chục câu, một trường ca, một truyện thơ,một bài thơ dài hoặc một bài thơ chỉ có hai câu Nó có thể là một vở kịch, mộttruyện ngắn, một bút kí, một tiểu thuyết hoặc một bộ tiểu thuyết như “Sông Đông
êm đềm”
- Nhưng “tác phẩm văn học” ở đây không phải là những tác phẩm văn học
thuộc thể loại cụ thể như thế, mà là “tác phẩm văn học ở dạng thức chung nhất, ở
cấp độ khái quát nhất”, tác phẩm văn học với tư cách một chỉnh thể thẩm mĩ.
- Vai trò của văn học : xây dựng thế giới tâm hồn con người
+ Thạch Lam: “Văn chương làm cho lòng người trong sạch, phong phú hơn” +Nguyễn Minh Châu: “Nhà văn là tên mật thám của tâm hồn”
Trong cuộc sống hiện đại, con người coi trọng phát triển trí tuệ hơn mà coi nhẹ tâm
hồn vai trò của văn chương là khôi phục giá trị tâm hồn “Bi kịch của con người
trong thời đại chúng ta là thừa trí tuệ và thiếu tâm hồn” (một nhà văn Mê-hi-cô).
- Bản thân văn chương là một quá trình hình thành đời sống văn học
+ Hiện thực cuộc sống: đối tượng phản ánh
Trang 2+ Tác giả: không chỉ phản ánh cái khách quan mà còn có cái chủ quan là
chủ thể phản ánh.“Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
+ Tác phẩm văn học: là sản phẩm sáng tạo của tác giả là phương tiện
trong quá trình nhà văn phản ánh đời sống và biểu hiện chủ quan
+ Người đọc: người tiếp nhận các tác phẩm văn chương chủ thể tiếp
nhận.
Quyết định đời sống văn chương là tác giả và người đọc nhưng tác
phẩm văn học là trung tâm của đời sống đó “Không phải nhà văn sinh ra truyện
ngắn mà chính truyện ngắn sinh ra nhà văn”.
Quá trình tác giả phổ biến tác phẩm đến với người đọc là quá trình xã
hội hóa kinh nghiệm cá nhân của tác giả Quá trình người đọc tiếp nhận tác phẩm
và biến nó thành cái của riêng độc giả là quá trình cá nhân hóa kinh nghiệm xã hội Ví dụ: Có bao nhiêu người đọc “Chí Phèo” thì có bấy nhiêu cách nhìn nhận
đánh giá
- Ở phạm vi rộng: Trong phạm vi dung lượng văn bản, văn bản mang ticnhschất tĩnh, chỉ dừng lại ở mối quan hệ giữa nhà văn và tác giả Tác phẩm văn học điqua 2 vòng: văn nhân và công chúng Tác phẩm văn học trước hết là công trình nghệthuật được sáng tạo bằng ngôn từ và tồn tại qua con đường truyền miệng và văn tự.Dung lượng văn bản dù lớn dù nhỏ đến đâu thì vẫn có đầy đủ giá trị phản ánh củanó
2.
Cấu trúc của tác phẩm văn học
- Tác phẩm văn học là văn bản mang thông tin, những thông tin này đã được
mã hóa, sắp xếp theo một cấu trúc xác định Com đường mã hóa là con đường của
nhà văn “Tôi viết truyện ngắn của tôi là để con người ngày càng người hơn” (Nam
Cao) Quá trình giải mã cấu trúc cũng chính là quá trình giải mã ngôn từ, con đườnggiải mã là dựa vào người tiếp nhận
- Tác phẩm văn học như một chỉnh thể nhiều lớp:
Trang 3+ Lớp 1: Ngôn từ - chịu sự quy định về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
+ Lớp 2: Chi tiết, tình tiết, sự kiện Văn chương là một tấm vải được dệt lên từcác sợi vải này Các “sợi vải” này chịu sự chi phối của quy luật kết cấu thông quabản tay tổ chức của tác giả
+ Lớp 3: Hình ảnh, hình tượng, thế giới nhân vật, cốt truyện, tứ thơ
+ Lớp 4: Tâm điểm – thông điệp của nhà văn, giá trị tư tưởng
Tất cả thế giới này (lớp 3 + 4) chịu sự tác động của tư tưởng tác giả.
II Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học
1.
Nội dung của tác phẩm văn học
- Tác phẩm văn học là phương tiện để phản ánh và biểu hiện nội dung làbiểu hiện của mối quan hệ giữa văn học và đời sống – nó vừa là nhận thức cuộcsống, vừa là sự đánh giá với cuộc sống đó – giữa chủ quan và khách quan
- Nội dung của tác phẩm KHÔNG phải là một phạm vi mà bao gồm 2 tầnglớp:
+ Trực tiếp: cụ thể và hiện thực biểu thị và phản ánh sinh động, kháchquan một phạm vi nào đó của đời sống
Bao gồm: đề tài
nhân vậtcốt truyện
tứ thơ+ Khái quát: biểu thị giá trị tư tưởng, khái quát đời sống
Bao gồm: chủ đề
tư tưởng tác phẩm
“Bản thân cốt truyện là nội dung, cách biểu hiện cốt truyện là nghệ thuật”
- Tính chất của nội dung:
+ Phản ánh khách quan, miêu tả cái vốn có phản ánh tự nhiên
Trang 4+ Phản ánh tô hồng lí tưởng hóa, thi vị hóa cuộc sống.
+ Phản ánh cuộc sống xấu xa hơn, đen tối hơn hiện thực vốn có (Vỡ đê –
Vũ Trọng Phụng) phản ánh bôi đen
- Bản thân cuộc sống yêu cầu văn học không miêu tả tô hồng, bôi đen hay tự
nhiên cuộc sống mà phải PHẢN ÁNH ĐƯỢC BẢN CHẤT của đời sống.
2.
Hình thức của tác phẩm
- Nội dung muốn biểu hiện được thì cần phải có cái biểu hiện cái biểu hiệnnày chính là hình thức Nó không phải là một yếu tố mà là hợp thành của nhiều yếutố: ngôn ngữ
loại thểquy định kết cấucác biện pháp thể hiện
- Khi các yếu tố hợp thành này biểu hiện nội dung thì tác phẩm mới trở thànhmột thể thống nhất và hoàn chỉnh
dụ: phân tích câu thơ
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”
Trang 5- Hình thức không hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung mà có tính độc lập tương
đối, logic của bản than: khi hình thức thay đổi, nội dung cũng ít nhiều thay đổi Vídụ: Bài thơ “Chia” – Nguyễn Trọng Tạo
3.
Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học
- Là một phạm trù triết học có liên quan đến mọi hiện tượng trong đời sống.
Nhờ có mối quan hệ này mà tác phẩm văn học mới tồn tại thành một chỉnh thể thốngnhất
- Nội dung muốn tồn tại phải thông qua hình thức Hình thức muốn có ý nghĩa
phải biểu hiện nội dung “Nội dung chẳng phải cái gì khác mà là sự chuyển hóa củahình thức và nội dung Và hình thức cũng chẳng phải là gì khác mà là sự chuyển hóagiữa nội dung và hình thức” (Heghen)
- Trong mối quan hệ này, nội dung là cái quyết định, là cái mang sức sống của
tác phẩm văn học, vì: chính nội dung là cái có trước và sự quyết định nội dung tớihình thức là thông qua ý thức của tác giả
- “Tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhất là tác phẩm ngôn từ, bao giờ cũng
là một phát ngôn về hình thức và một khám phá về nội dung” (Lêônốp)
Câu 2: Đề tài là gì? Nhận xét về khuynh hướng trong sự lựa chọn đề tài Thế nào là đề tài “nhỏ bé”, đề tài trung tâm?
Trang 6- Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện thực được miêu tả Có bao
nhiêu hiện thực đời sống thì có bấy nhiêu đề tài Bản thân đề tài không mang tính tưtưởng, nhưng cách thức lựa chọn đề tài trong tính hệ thống của quá trình sáng tác đãmang tính tư tưởng Phạm vi hiện thực mang tính khách quan nhưng sự phản ánhmang tính chủ quan
- Nếu như nói tác phẩm là một chỉnh thẻ thẩm mĩ thì đề tài là một vùng thẩm mĩ
vì ở đó tích tụ những năng lượng thẩm mĩ, dẫn dắt người đọc đến tư tưởng của tácphẩm
2 Tính khuynh hướng trong sự lựa chọn đề tài
- Bản thân đề tài vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan: phạm vi
đề tài là khách quan nhưng tác giả lựa chọn đề tài theo hướng chủ quan phạm vi lựachọn không mang tính khuynh hướng nhưng sự lựa chọn phạm vi là mang dấu ấn vàtính khuynh hướng trong cái chủ quan
Thiênnhiên
VN 1930 1945
+ Thạch Lam (Hai đứa trẻ)
- Văn học hiện thực phê phán:
+ Nam Cao (Chí Phèo, Lão Hạc,…)+ Ngô Tất Tố (Tắt đèn, )
- Văn học cách mạng:
+ Tố Hữu (Từ ấy, Khi con tu tú,…)
Trang 7 Phạm vi lựa chọn dù là bản chất hay thứ yếu thì qua sự lựa chọn chủ quan
của tác giả, nó đều có thể trở thành một đề tài mang nhiều giá trị.
3 Những hiện tượng đề tài đặc biệt
- Tác phẩm văn học có nhiều đề tài nhiều phạm vi hiện thực cụ thể, trong
đó phạm vi hiện thực quan trọng nhất được coi là đề tài chính Ví dụ: Truyện Kiều
có những phạm vi hiện thực:
+ Cuộc sống người phụ nữ qua nhân vật Thúy Kiều cuộc sống củangười tài hoa trong xã hội phong kiến xưa đề tài chính
+ Cuộc sống của tầng lớp quý tộc phong kiến
+ Cuộc nổi loạn chống triều đình của những người dân nghèo khổ
+ Tình yêu và hôn nhân trong xã hội phong kiến
Đề tài trung tâm:
- Đối với một nền văn học, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc đều có
những đề tài trung tâm tương ứng, những đề tài đó xuất hiện do có sự đổi mới trong
những quan hệ xã hội, đồng thời cũng do yêu cầu văn học phải nhận thức và phảnánh kịp thời những bước chuyển biến lớn lao của đời sống
- Khái niệm đề tài trung tâm được hiểu là một khái niệm lớn hơn, bao quát hơn
những đề tài cụ thể của từng tác phẩm, nó chính là những mảng hiện thực tập hợpnhững sự kiện, những hiện tượng, những diễn biến quan trọng nhất của đời sống xãhội, thể hiện nét bản chất nhất của thời kì lịch sử đó
- Ví dụ: Kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954)
+ Bản chất: chiến đấu vì Tổ quốc, độc lập, tự do
Trang 8+ “Đồng chí” (1948): cuộc sống của người nông dân mặc áo lính
+ “Tây Tiến” (1948): cuộc sống của thanh niên thành phố mặc áo lính+ “Vợ chồng A Phủ” (1953): cuộc sống của người dân Tây Bắc thời KCCP
là đề tài cụ thể của từng tác phẩm
Đề tài nhỏ bé:
- Khái niệm đề tài nhỏ bé dùng để chỉ những phạm vi hiện thực ít có ý nghĩa
với đời sống xã hội nhưng nếu nhà văn biết lựa chọn, khai thác những đề tài đó ởtầm cao của tư tưởng triết học – nhân sinh sâu sắc thì giá trị của chúng không phải là
“nhỏ bé”
- Ví dụ: Truyện “Bà già và khúc gỗ” chạm đến vấn đề: bản chất của con người,
sự yêu thương và vị tha
- “Đề tài nhỏ bé như một tỉnh nhỏ nhưng chớ coi thường tỉnh nhỏ vì đó thường là nơi sinh ra những vĩ nhân và thiên tài” (Patlenks)
Câu 3: Trình bày khái niệm chủ đề, sự bộc lộ chủ đề và những trường hợp đặc biệt về chủ đề.
1.
Khái niệm
- Trong nội dung cụ thể có: hình ảnh, đề tài, hình tượng, tứ thơ; trong nội dung
khái quát có: chủ đề, tư tưởng
- Chủ đề là vấn đề chủ yếu, vấn đề trung tâm được đặt ra từ toàn bộ hiện thực
mà tác phẩm thể hiện Nói cách khác, chủ đề của tác phẩm được hình thành từ nhữngvấn đề được đặt ra trong đời sống và lí giải những vấn đề đó một cách đúng đắn
- Ví dụ:
+ Đồng chí (Chính Hữu)
Đề tài: cuộc sống của người nông dân mặc áo lính trong KCCP
Vấn đề: tình đồng chí thể hiện ra sao? Có sức mạnh gì?
Trang 9+ Hai mầm cây và tảng đá (Ê-dốp)
Vấn đề: sự lựa chọn hướng đi trong cuộc đời
- Chủ đề vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan cho thấy trình
độ tư duy, khám phá đời sống của nhà văn
- Chủ đề có quan hệ thống nhất với tư tưởng, là khái quát của tư tưởng, tư
tưởng chỉ ra khuynh hướng của chủ đề
+ Vấn đề hạnh phúc và quan niệm về hạnh phúc trong chiến tranh chủ
đề Có tác phẩm “bài thơ về hạnh phúc” (Dương Hương Ly – 1966) nói về cái chếtcủa vợ mình nhan đề bài thơ đã chứa đựng vấn đề, “Thử nói về hạnh phúc” (ThanhThảo)
Lời phát biểu trực tiếp của tác giả : tác giả định hướng cho người đọc, phátbiểu trực tiếp trong tác phẩm của mình
- Ví dụ: “Cá nước” – Tố Hữu (1947), bản thân nhan đề đã có vấn đề: tìnhquân dân gắn bó như cá với nước
Trang 10- Ví dụ: Trong “Tắt đèn” (Ngô Tất Tố), người dân bị bần cùng hóa, khác vớitrong “Chí Phèo” (người dân bị lưu manh hóa) Họ bị bần cùng hóa vì sưu thuế, đặcbiệt là thuế thân thông qua thuế thân, Ngô Tất Tố đặt ra vấn đề quyền sống của conngười – con người tồn tại như trâu bòm bị đánh thuế Biến cố quan trọng nhất là đợtnộp sưu thuế - mâu thuẫn giữa nông dân và cường hào được đẩy lên mức cao nhất.
Hệ thống hình tượng, hệ thống nhân vật: “Trong tiểu thuyết, nhà văn tư duybằng hình tượng” đây là khía cạnh bộc lộ quan trọng nhất
- Ví dụ:
+“Đôi mắt” (Nam Cao) bộc lộ vấn đề thông qua hệ thống nhân vật Độ
và Hoàng có cách nhìn đối lập nhau: Độ nhìn HCM như một quý nhân, một ngườibình thường trong khi Hoàng chỉ luôn thấy HCM là một vĩ nhân) trong hệ thốnghình tượng, tác giả phải chọn được hình tượng chính, trong hệ thống nhân vật phải
chọn được nhân vật chính để bộc lộ chủ đề “Sức mạnh của sự khẳng định nằm ngay
trong sự phê phán”
+Chủ đề chủ nghĩa nhân đạo của người chiến thắng sau 1975, Nguyễn
Minh Châu viết “Miền cháy” (1978) trả lời câu hỏi: “Người chiến thắng đã đối xử rasao với kẻ chiến bại?” thông qua hình tượng mẹ Êm – “đạn Mỹ bắn nhầm con, nhưbắn vào tim mẹ” và ông chọn mảnh đất Quảng Trị - chiến trướng khốc liệt nhất
Trang 11ĐỜI SỐNG VĂN NGHỆ
THỜI ĐẦU ĐỔI MỚI
Mục lục
Nguồn: Văn nghệ, Hà Nội, số 34 (22-8-1987)
TƯ TƯỞNG LÝ LUẬN CỦA NHÀ VĂN
VÀ SÁNG TÁC VĂN HỌC
LÊ NGỌC TRÀ
Nghệ thuật nhận thức và đánh giá cuộc sống một cách trực tiếp Tác phẩm văn học làtiếng nói của những ấn tượng, những suy nghĩ vừa như xác định, vừa như chưa xácđịnh, vừa như trọn vẹn, vừa như có giới hạn, lại vừa như miên man, vô bờ bến Đó lànhững cảm giác mang tính hình tượng Nhà văn sáng tác là khi cảm thấy đau ở đâuđấy trong tâm hồn, khi có điều gì đó muốn chia sẻ gửi gắm Văn học chính là nỗi buồn
và cái đẹp, về lý tưởng, là nỗi đau giằng xé về số phận con người, là sự cắn rứt lươngtri không yên, là cuộc đấu tranh nội tâm giữa hai phần tối và sáng, giữa thiện và ác,khi con người đã có khả năng tự phân đôi
Vì vậy tuy là ở cùng cấp độ, nhưng ý thức nghệ thuật không đồng nhất với ý thứcthông thường Để có được năng lực nhận thức và đánh giá trực tiếp cuộc sống theokiểu nhà văn đòi hỏi phải nghiền ngẫm sâu sắc cảm giác và những điều trông thấy(không phải là tất cả mọi sự nghiền ngẫm đều diễn ra ở cấp độ lý luận), nhất là phải cótính tích cực xã hội cao, tức là cái chí hướng mãnh liệt muốn lên tiếng, muốn chia sẻnhững suy nghĩ, ấn tượng của mình nhằm tố cáo, kết án, bênh vực hay dự báo mộtđiều gì đó cho toàn bộ xã hội
Có nỗi đau, có ấn tượng phong phú về đời sống và có ngôn ngữ thì trong một chừngmực nào đó cũng có nghĩa là đã có văn học Ngành nghệ thuật này trông có vẻ như dễlàm là vậy Và sở dĩ có quá nhiều người tự xưng hay được gọi là "nhà văn", "nhà thơ"
Trang 12cũng vì thế! Song, cũng giống như tuy gọi là hoa nhưng có trăm ngàn loại khác nhau,đâu phải hoa nào cũng xứng với tên hoa, đâu phải hoa nào cũng thơm cũng đẹp, vănhọc cũng có rất nhiều thứ, nhiều hạng Cái hay và độ lớn của một bài thơ, một truyệnngắn hoặc cuốn tiểu thuyết phụ thuộc vào chiều sâu của cảm xúc, sự đa dạng của các
ấn tượng, độ chín của những ý nghĩ và sự từng trải về đời sống, khả năng làm chủtiếng mẹ đẻ, đến mức có thể cảm thấy được độ nặng nhẹ, sáng tối, mặt sấp ngửa củatừng chữ Mà cái đó thì đâu phải "nhà văn", "nhà thơ" nào cũng có!
Tầm cỡ của nhà văn và tác phẩm phụ thuộc vào chiều sâu của cảm xúc và độ chín củasuy nghĩ Nhưng đến lượt mình, khả năng nhận thức và đánh giá trực tiếp cuộc sốngnày lại chịu ảnh hưởng hết sức quan trọng của một yếu tố khác nằm ngoài nó, của mộtmặt khác trong thế giới quan của nhà văn Đó chính là các tư tưởng lý luận, các quanniệm triết học, chính trị, đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ của tác giả
Tư tưởng, ở cấp độ này không phải là nguồn gốc trực tiếp của nội dung nghệ thuật.Mọi sự diễn giải các lý thuyết, các quan điểm bằng hình ảnh, hình tượng, trữ tình hóamột chân lý hay nhận thức chính trị, văn vần hóa những chủ trương chính sách, khẩuhiệu, lâu nay theo thói quen vẫn gọi là văn học, nhưng thực ra ở đây chất văn họckhông nhiều Ngoài một số rung cảm nhất định, chất văn trong các sáng tác kiểu nàychủ yếu nằm ở phần ngôn ngữ và ở những hình tượng có tính chất minh họa mà nhiềukhi thường bị hiểu nhầm như dấu hiệu đặc trưng của nghệ thuật
Ý nghĩa thực sự quan trọng của tư tưởng lý luận đối với sáng tác văn học là nó làmcho suy nghĩ và cảm xúc của nhà văn sâu hơn, rộng hơn, có tầm cỡ dân tộc, thời đại.Nhà thơ Đức H Heiner đã từng viết:
Thế giới chẻ làm đôi
Vết nứt xuyên qua trái tim nhà thơ
Đó chính là biện chứng của cái chung và cái riêng trong văn học Quan tâm đến cáiriêng là bổn phận của nhà văn Nghệ sĩ không được phép chỉ nói đến nỗi đau chungtrừu tượng Văn học không yêu cầu anh đau hộ cho người khác, cho cuộc đời mà bản
Trang 13thân mình trong lòng lại nguội lạnh Trước hết chính anh phải đau, trước hết phải lànỗi đau của anh Nhưng cần hơn, nỗi đau của anh phải là "nỗi đau nhân loại" Mà đểđược như thế nhà văn đồng thời cũng phải là nhà tư tưởng lớn, phải theo đuổi nhữngquan niệm triết học lớn, phải có những chính kiến xã hội lớn, có những quan điểm sâusắc và triệt để về đạo đức, tôn giáo và nghệ thuật Bài học sáng tác của Shakespeare,Goethe, Balzac, Dostoevski, L Tolstoi, Turgheniev, Gorki, Th Mann, B Brecht, củaNguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu và các nhà văn vĩ đại đều như vậy.
Nhờ đứng trên đỉnh cao của các tư tưởng lý luận lớn, nhà văn có khả năng khám phá
và nhận thức hiện thực sâu hơn, rộng hơn "Con người là cả một bí mật lớn"(Dostoevski) Nhưng để hiểu con người không phải chỉ cần đi sâu vào chính nó, mà lạicần phải hiểu vũ trụ, các quan hệ xã hội, lịch sử, các quan hệ của con người với tựnhiên Tấm gương tinh thần và đời sống tâm hồn của mỗi người phức tạp đến mức nào
là do khả năng của nó sống và cảm nhận tất cả những biến động và mối liên hệ muônmàu muôn vẻ của thế giới Không hiểu đầy đủ và sáng rõ các sự kiện và các mối liên
hệ này sẽ khó nhìn ra những đường dây phức tạp trong tâm lý, tính cách con người, từ
đó cũng khó mà có được khám phá gì sâu sắc và độc đáo về con người, khó mà từ sựmiêu tả các tính cách cụ thể nói lên được vấn đề gì lớn liên quan đến số phận chungcủa cả xã hội, của dân tộc hay của một trào lưu lịch sử
Ý nghĩa của các quan điểm lý luận đối với sáng tác văn học bộc lộ đặc biệt rõ rệt trongvấn đề hình thành khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm Những ngộ nhận về chính trị,những lầm lẫn về triết học, những tìm tòi sai lạc về tôn giáo, đạo đức và thẩm mỹthường phản ánh vào tác phẩm, nhất là trong việc đánh giá, phán xét các tính cách haycác hiện tượng xã hội được miêu tả Đôi khi nhà văn đề cao, đứng về phía cái khôngđáng được ca ngợi và khẳng định, như trường hợp Gogol trong phần II của Những linhhồn chết, Nguyễn Công Hoan trong Thanh đạm hay J Steinbeck trong những bút ký
về chiến tranh Việt Nam, hoặc ngược lại chế giễu và công kích cái mới, những lựclượng tiến bộ, như Turgheniev trong tiểu thuyết Mây khói hoặc nhà văn Nauy - K.Hamsun trong tác phẩm Trước cổng hoàng cung
Trang 14Việc nhà văn có những hệ thống quan điểm tư tưởng riêng nói lên độ chín của các suynghĩ và tính chất da diết triệt để của những tìm tòi nhiều khi đau khổ, phải trả giá,trong suốt cả cuộc đời sáng tạo của mình Quá trình đó thường không tách rời việc tiếpxúc, học hỏi để chiếm lĩnh và đối thoại với những di sản văn hóa lớn, với các họcthuyết triết học và các tư tưởng chính trị, đạo đức lớn của thời đại Ở đây rõ ràng nghệ
sĩ không phải chỉ cần có trái tim lớn mà còn phải có trí tuệ lớn, không phải chỉ cần cócảm xúc và tưởng tượng mà còn cần phải có khả năng đọc, tìm hiểu, nghiền ngẫm Điđến chân lý trên con đường nào cũng chẳng bao giờ thanh thản cả Dostoevski nói:
"Trong đau khổ có tư tưởng" Đau khổ về vật chất và nghèo đói làm hao mòn nghệthuật, còn đau khổ về tinh thần thì lại đẻ ra nghệ thuật
Chính vì phải trả giá cho những tìm tòi để có được một chính kiến, một quan niệm hay
để tỉnh ra, hiểu ra chân lý - trong văn học đó không phải lúc nào cũng là chân lý mới
mà thường lại là những giá trị thực sự bị che đậy hay bị thời gian phủ bụi - nên lòngyêu ghét trong các tác phẩm được viết ra mới có thể dữ dội, có thể lôi cuốn người đọcmạnh mẽ Chính lúc đó nhà văn mới có thể viết ra như "máu chảy ở đầu ngọn bút"được Giá trị nhân đạo vĩ đại của Truyện Kiều chắc không phải chỉ có được do Nguyễn
Du biết xúc động trước "những điều trông thấy" Khúc Đoạn trường tân thanh về cuộcđời cay đắng ê chề của một người con gái tài hoa chính là nỗi đau và sự nghiền ngẫmnhiều năm của nhà thơ bật lên thành tiếng, gắn liền với cả một quan niệm của Nguyễn
Du về công lý xã hội, với cả một triết học bi đát về sợi dây ràng buộc oan nghiệtkhông có cách gì cởi bỏ được của số phận làm người Cái triết lý đó có thể duy tâm,lầm lạc nhưng biết đâu chính nhờ nó mà tiếng kêu trở nên đau đớn hơn, sự phê phántrở nên như không khoan nhượng hơn
Khả năng lập thuyết, dựng lên các mô hình xã hội và lịch sử chỉ có ở thiên tài, khôngphải nhà văn nào cũng làm được Nhưng tự mình lựa chọn, tự mình đi đến, giải thích,phát triển các tư tưởng và học thuyết đã có thì không phải là quá siêu phàm, hơn nữa
nó là điều bắt buộc đối với nhà văn nếu anh ta muốn có được những tác phẩm lớn đểđời Cái chính là phải tự mình tìm lấy, đi đến bằng cái đầu của mình rồi sống hết mình
Trang 15với nó, bằng tất cả máu thịt của mình Mọi sự sáng tạo đều giống nhau ở chỗ tâmhuyết với đời, lại có thêm tâm huyết với một lý tưởng - đó chính là sức mạnh nhân đôicủa hai sự sáng tạo gặp nhau cộng lại.
Ở ta đôi khi uy tín và sự phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin làm cho nhiều người lườisuy nghĩ, không tìm tòi trong lĩnh vực nhận thức Việc tuyên truyền rộng rãi triết họcmác-xít trong quần chúng là cần thiết, nhưng đối với các nhà khoa học và nghệ sĩ, đótuyệt nhiên không phải là thứ cung cấp sẵn Chủ nghĩa Mác chỉ trở thành động lực của
sự sáng tạo khi nhà văn bắt gặp nó trên con đường tìm tòi tư tưởng gian khó của chínhmình Còn nếu chỉ học tiếp nhận nó và để đó, lâu lâu lấy ra dùng thì đối với sáng tạonghệ thuật, triết học mác-xít vẫn chỉ đóng vai trò là một thứ trang sức, đem lại cho tácphẩm một màu sắc lập trường, chứ chưa có được sức mạnh như của một thứ chínhkiến, triết lý, hỗ trợ cho sự cảm nhận trực tiếp cuộc sống của nhà văn
Để hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác, cũng như để có được những quan niệm riêng về thếgiới, nhà văn phải học, phải đọc và tìm hiểu hết sức rộng rãi, phải tiếp xúc với nhiều disản tư tưởng khác nhau, với cả những tìm tòi thành công hay chưa thành công, thậmchí sai lạc, phản động Trong một bức thư gửi M Gorki, Lênin viết: "Tôi cho rằngnghệ sĩ có thể khai thác cho mình nhiều điều bổ ích trong mọi thứ triết học Cuối cùng,tôi hoàn toàn nhất trí về chỗ, trong vấn đề sáng tạo nghệ thuật, anh phải làm chủ tất cảcác sách và nếu biết rút ra những quan điểm kiểu này từ kinh nghiệm nghệ thuật củabản thân mình cũng như từ triết học cho dù duy tâm đi nữa anh có thể đi đến nhữngkết luận hết sức có lợi cho Đảng của giai cấp công nhân" (Toàn tập, tiếng Nga, t.47,tr.143)
Trên con đường tìm tòi như vậy khó mà có ai lúc nào cũng chỉ đi đúng, đúng Đi đứngkiểu đó tức là chỉ đi trên con đường có sẵn, còn không đi theo đường mòn thì thế nàocũng có khi đi lạc Song, cần phân biệt người muốn tìm ra con đường đúng mà đi lạcvới kẻ thấy chân lý rồi mà lảng ra xa Có người khoe rằng mấy chục năm rồi mìnhchẳng có gì sai Vị tất như thế đã hay Cách mạng cũng có lúc sa sẩy, Đảng cũng có