Ước tính thiệt hại về kinh tế do 4 nhóm bệnh KLN chính tới năm 2035 chiếm khoảng 30 nghìn tỷ USD [9] Bệnh viện Hữu Nghị là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Y Tế, chuyên điều trị c
TỔNG QUAN
T ổng quan về bệnh mạn tính
1.1.1 Khái niệm về bệnh mạn tính
Theo Trung tâm quốc gia về thống kê y tế của Mỹ (National Center for Health Statistics), bệnh mạn tính được định nghĩa là một tình trạng kéo dài 3 tháng hoặc lâu hơn Các bệnh mạn tính thường không thể ngăn ngừa bằng vaccine hoặc chữa khỏi bằng thuốc, và cũng không thể tự biến mất.
WHO định nghĩa bệnh mạn tính là các bệnh không truyền từ người sang người, phát triển trong thời gian dài và thường tiến triển chậm Bốn bệnh mạn tính chính gồm bệnh tim mạch (như đau tim và đột quỵ), ung thư, bệnh hô hấp mãn tính (như COPD và hen suyễn) và bệnh tiểu đường Định nghĩa của AIHW (Australian Institute of Health And Welfare) đề cập đến các đặc điểm chung của bệnh mãn tính, nhấn mạnh vai trò của nhận diện và quản lý chúng trong chăm sóc sức khỏe.
- Quan hệ nhân quả phức tạp, với nhiều yếu tố dẫn đến sự khởi phát của bệnh
- Một giai đoạn phát triển dài, mà có thể không có triệu chứng
- Một đợt bệnh kéo dài, có thể dẫn đến các biến chứng sức khỏe khác
- Suy giảm chức năng hoặc các khuyết tật liên quan [51]
Vào năm 2016, Bộ Y tế ban hành Thông tư 46/2016/TT-BYT ban hành danh mục các bệnh cần chữa trị dài ngày Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa mô tả các đặc điểm của bệnh mạn tính và đối chiếu với danh mục bệnh của BYT để đảm bảo việc nhận diện và phân loại các bệnh được thực hiện chính xác, phù hợp với chuẩn của Bộ Y tế và tối ưu cho quá trình phân tích dữ liệu y tế.
1.1.2 Thực trạng bệnh mạn tính trên thế giới và tại Việt Nam
Mọi người ở mọi lứa tuổi, khu vực và quốc gia đều bị ảnh hưởng bởi bệnh mạn tính
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có hơn 15 triệu người ở độ tuổi 30–69 tử vong do các bệnh không lây nhiễm (NCDs) Các bệnh tim mạch chiếm phần lớn số ca tử vong do NCD, ước tính khoảng 17,9 triệu người mỗi năm; tiếp theo là ung thư với 9,3 triệu ca, bệnh hô hấp 4,1 triệu ca và tiểu đường 1,5 triệu ca Bốn nhóm bệnh này chiếm trên 80% tổng số ca tử vong sớm do bệnh không lây nhiễm.
Có mối quan hệ rõ ràng giữa tỷ lệ tử vong sớm do bệnh mạn tính không lây nhiễm và mức thu nhập của quốc gia Năm 2016, 78% tổng số ca tử vong do NCDs đã xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, và 85% số ca tử vong ở người trưởng thành diễn ra tại các nước này Người lớn ở các nước có thu nhập trung bình và thấp đối mặt với nguy cơ tử vong do NCD cao nhất, lần lượt là 21% và 23%, gần gấp đôi so với người lớn ở các nước có thu nhập cao (12%).
Xác suất tử vong do NCD ở người trưởng thành thay đổi theo khu vực, với mức cao hơn ở Châu Phi 22%, Đông Địa Trung Hải 24% và Đông Nam Á 23% so với Khu vực Châu Mỹ 15%, Châu Âu 17% và Tây Thái Bình Dương 16% Ở tất cả các khu vực của WHO, xác suất tử vong do bệnh không lây nhiễm ở nam cao hơn ở nữ.
Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng bệnh tật kép khi dịch bệnh lây nhiễm diễn biến phức tạp và gánh nặng từ các bệnh không lây nhiễm gây tử vong ngày càng cao Điều này đặt áp lực lớn lên hệ thống y tế và đòi hỏi chiến lược chăm sóc sức khỏe tổng thể, tập trung vào phòng ngừa, phát hiện sớm và quản lý bệnh mãn tính Để giảm thiểu tác động và nâng cao chất lượng sống cho người dân, Việt Nam cần tăng cường đầu tư cho y tế cơ sở, đổi mới y tế dự phòng và tăng cường truy cập điều trị cho cả các bệnh truyền nhiễm và không lây nhiễm.
Bệnh lý không lây (BKLN), gồm chủ yếu các nhóm bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường và bệnh hô hấp mạn tính, đang gia tăng nhanh tại Việt Nam; BKLN là nguyên nhân tử vong hàng đầu, vượt cả các nguyên nhân tử vong khác cộng lại Năm 2019, ước tính có khoảng 592.000 ca tử vong do BKLN, chiếm 81,4% tổng số ca tử vong trên toàn quốc, trong đó bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư và bệnh hô hấp mạn tính chiếm 66,2% tổng số tử vong Tại Việt Nam, 41,5% ca tử vong do BKLN là tử vong sớm xảy ra trước tuổi 70.
Hiện nay tỷ lệ hiện mắc các bệnh không lây nhiễm (BKLN) phổ biến đang tăng nhanh theo các năm và số người mắc bệnh trong cộng đồng ngày càng lớn Theo điều tra năm 2021, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp ở người trưởng thành là 26,2%, tương đương khoảng 17 triệu người; tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường hoặc tăng đường huyết ở người trưởng thành là 7,06%, tương đương 4,6 triệu người Đối với ung thư, theo ước tính của IARC năm 2020, Việt Nam có 182.500 ca mắc mới ung thư Dựa trên một nghiên cứu dịch tễ học, tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên là 4,2%.
Ở Việt Nam năm 2019, gánh nặng của các bệnh không lây nhiễm (NCD) chiếm 73,7% tổng gánh nặng bệnh tật và tử vong được đo bằng DALY Các bệnh tim mạch đóng góp lớn nhất với 20,5% tổng gánh nặng, theo sau là ung thư với 13,3%, bệnh hô hấp mạn tính 4% và đái tháo đường 3,9% Các rối loạn tâm thần kinh (gồm rối loạn tâm thần, động kinh, sa sút trí tuệ và các rối loạn khác) chiếm 5,3% tổng số tử vong và gây gánh nặng bệnh tật rất lớn, chiếm tới 9,8% tổng DALY do mọi nguyên nhân.
T ổng quan về bệnh tăng huyết áp
1.2.1 Khái niệm tăng huyết áp
Hiệp hội THA Châu Âu và Hiệp hội Tim mạch châu Âu (ESH/ESC) định nghĩa tăng huyết áp như huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg, bất kể tuổi, giới tính hay các bệnh đi kèm, là ngưỡng chuẩn để chẩn đoán THA [31].
Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “Tăng huyết áp được chẩn đoán nếu, khi đo vào hai ngày khác nhau, số đo huyết áp tâm thu của cả hai ngày là ≥ 140 mmHg và/ hoặc số đo huyết áp tâm trương ở cả hai ngày là ≥90 mmHg”[50]
Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam định nghĩa tăng huyết áp “khi một người có huyết áp tâm thu (HATT) đo ở phòng khám là ≥ 140mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) là ≥90mmHg” [11]
Có thể thấy khái niệm THA của BYT, VNHA, ESH/ESC tương đồng nhau
1.2.2 Phân loại tăng huyết áp
Hướng dẫn ESH/ESC năm 2018 và Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam 2018 sử dụng hệ thống phân loại:[11], [31]
Bảng 1.1.Phân độ các mức huyết áp (HA) [11], [31]
Khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương của bệnh nhân ở hai mức khác nhau, việc phân loại được dựa trên giá trị cao hơn giữa hai chỉ số này Tăng huyết áp tâm thu đơn độc cũng được phân thành độ 1, độ 2 và độ 3 dựa trên trị số huyết áp tâm thu.
Theo hướng dẫn điều trị của BYT và VNHA,
- Mục tiêu điều trị là đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tim mạch”
Huyết áp mục tiêu nên đạt dưới 140/90 mmHg và có thể thấp hơn nếu người bệnh dung nạp được; đối với người có nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao, mục tiêu huyết áp cần đạt dưới 130/80 mmHg [4].
Phân loại HA tâm thu
Bình thường cao 130-139 và/hoặc 85-89
Tăng HA độ 1 140-159 và/hoặc 90-99
Tăng HA độ 2 160-179 và/hoặc 100-109
Tăng HA độ 3 ≥ 180 và/hoặc ≥ 110
Tăng HA tâm thu đơn độc ≥ 140 và < 90
- Chọn phương thức điều trị có chứng cứ giảm tối đa nguy cơ lâu dài toàn bộ về bệnh suất và tử suất tim mạch, tử vong chung [11]
- Xác định ngưỡng HA ban đầu cần điều trị và đích huyết áp cần đạt theo cá nhân hóa: dựa vào độ THA, bệnh phối hợp và nhóm tuổi [11]
- Điều trị kiểm soát cùng lúc tất cả các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm và các bệnh đồng mắc theo các khuyến cáo hiện hành [11]
- Xác định các yếu tố cản trở sự tuân thủ điều trị [11]
Theo hướng dẫn của BYT, VNHA:
- Khuyến cáo chung đích tác dụng đối với bệnh nhân THA [4], [11]
+ Đích đầu tiên chung cho tất cả bệnh nhân THA là HA