Luận văn “Các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo” dưới góc nhìn ký hiệu học dưới ánh sáng của lý thuyết ký hiệu học: đặt chúng trong
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN BÁ THANH HUYỀN
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN BÁ THANH HUYỀN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN VĂN SÁNG
Đà Nẵng – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở công trình nghiên cứu khác
Đà Nẵng, ngày 27 tháng 06 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Bá Thanh Huyền
Trang 4THONG TIN KET QUA NGHIEN CUU CUA LU�N V A.N
cAc BI.EU THUC CHIEU VAT co Ti.J' "LU A" "SONG" "HAT GIONG" ' ' '
"MAM CAY" TRONG THO THANH THAO TU GOC NHIN KY HitU HQC
Nganh: Ng6n ngfr h9c
H9 ten h9c vien: Nguy�n Ba Thanh Ht!y�n
Nguoi hu&ng d�n khoa h9c: PGS TS Tn1n Van Sang
Ca sa dao t�o: Truong D�i H9c Su Ph�m - D�i H9c Da N�ng
Tom tilt: Lu?n van dii th6ng ke, phan l��i cite biSu thuc chiSu V?t c6 tir "I°i'ra", ''.song", "h�,t
gi6ng", "m§m cay" trong tho Thanh Thao vao nhfrng nh6m khac nhau DS thvc hi�n duqc di�u nay
chung t6i tlm hiSu ca so- ly thuySt v� chiSu V?t, trong ho�t d(mg giao tiSp ng6n ngfr van chuang Phan tich, mieu ta d�c diSm cua cite biSu thuc chiSu V?t duqc khao sat tren blnh di�n cai bit\u d�t va cai duc;rc biSu d�t Chung t6i c6 cai nhin t6ng quan v� cite bit\u thuc chit\u v?t duc;rc nghien cuu tu g6c nhln
chifo V?t qua the gi&i ti,r nhien, thS gi&i nhfin t�o, thS gi&i con nguoi, the gi&i tinh cam, the gi&i thoi
gian va thS gi&i cua tu duy va y thfrc Thong qua cac biSu thfrc chiSu V?t chung t6i hiSu va bi@t duqc cac ng\} y cua Thanh Thao trong each thS hi�n tho cua minh Tu cite ket qua khao sat, mieu ta, phan tich va so sanh tren hai binh di�n cai biSu d�t va cai duc;rc biSu d�t cua cite bieu thuc chi@u V?t, lu?n van cua ch(mg t6i ciing chi ra vai tro, gia tri ca ban cua cite biSu thuc chi@u v?t d6 trong tho Thanh Thao df>i v&i vi�c xay dµng nen cite hinh tuqng tieu biSu Tuy nhien, m6i quan h� gifra ngon ngfr va van h9c, ma C\} the la nhfrng frng d\}ng cua ngf r d\}ng h9c, ky hi�u h9c vao van h9c la vung d�t mau
ma, chua d&y nhfrng di�u bi �n thti vi, vtin dang la d� tai thu hut dong dao nha nghien cfru ngon ngfr tim hiSu, kham pha Trong thoi gian h�n h�p, lu?n van chua c6 dip di sau vao so sanh each su d\lng cite biSu thfrc chieu v?t trong tho Thanh Thao v&i cite nha tho khac cimg thoi Nhfrng n(>i dung nay se
la huong nghien cuu tiSp theo cua d� tai nay
Tu kh6a: BiSu thuc chieu V?t, Lua, Song, H�t gi6ng, M�m cay, Tho Thanh Thao, H� guy chiSu, Cai biSu d�t, Cai duc;rc biSu d�t
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
7 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 7
1.1 Lý thuyết chiếu vật 7
1.1.1 Sự chiếu vật (reference) 7
1.1.2 Biểu thức chiếu vật (referring expression) 8
1.1.3 Chiếu vật và hệ quy chiếu 9
1.2 Lý thuyết hoạt động giao tiếp 12
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 12
1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật 14
1.3 Lý thuyết ký hiệu học 17
1.3.1 Ký hiệu học hai bình diện (nhị diện) của F de Saussure 17
1.3.2 Kí hiệu học ba bình diện của C Pierce 19
1.4 Thanh Thảo, cuộc đời và thi phẩm 20
1.4.1 Vài nét về tác giả Thanh Thảo 20
1.4.2 Thơ Thanh Thảo, vài nét dẫn nhập 21
1.5 Tiểu kết 22
CHƯƠNG 2 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “LỬA”, “SÓNG”, “HẠT GIỐNG”, “MẦM CÂY” TRONG THƠ THANH THẢO NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT 24
2.1 Kết quả khảo sát 24
2.2 Cấu tạo của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 26
2.2.1 Biểu thức chiếu vật có cấu tạo là ngữ danh từ 26
2.2.2 Biểu thức chiếu vật có cấu tạo là danh từ 32
2.2.3 Biểu thức chiếu vật là kết cấu sóng đôi 35
2.2.4 Quan hệ kết hợp của các biểu thức chiếu vật về “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 36
Trang 72.3 Tiểu kết 38
CHƯƠNG 3 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “LỬA”, “SÓNG”, “HẠT GIỐNG”, “MẦM CÂY” TRONG THƠ THANH THẢO NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT 40
3.1 Giá trị biểu đạt của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 40
3.1.1 Phân loại chiếu vật của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 40
3.1.2 Chiếu vật trên hệ quy chiếu thế giới tự nhiên của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 42
3.1.3 Chiếu vật trên hệ quy chiếu thế giới nhân tạo của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 43
3.1.4 Chiếu vật trên hệ quy chiếu thế giới con người của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 43
3.1.5 Chiếu vật trên hệ quy chiếu tình cảm của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 44
3.1.6 Chiếu vật trên hệ quy chiếu thời gian của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 45
3.1.7 Chiếu vật trên hệ quy chiếu tư duy và ý thức của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 45
3.2 Giá trị nghệ thuật của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo 46
3.2.1 Các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” với việc xây dựng hình tượng và biểu tượng nghệ thuật trong thơ Thanh Thảo 46
3.2.2 Các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” với việc thể hiện cảm hứng sáng tác thơ Thanh Thảo 58
3.3 Tiểu kết 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC PL1
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTCV : Biểu thức chiết vật
CV : Chiếu vật
HQC : Hệ quy chiếu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Các nhóm BTCV có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm
2.2 Phân loại BTCV trong thơ Thanh Thảo theo kiểu cấu tạo 26
2.3 Bảng liệt kê các biểu thức chiếu vật là ngữ danh từ trong thơ
2.4 Cấu trúc của ngữ danh từ được thể hiện qua mô hình 30
2.5 Bảng tổng hợp thống kê BTCV là ngữ danh từ trong thơ
2.6 Các BTCV có cấu tạo là danh từ trong thơ Thanh Thảo 33
2.8 Các HQC của các BTCV có từ “lửa”, “sóng”, “hạt
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngôn ngữ trong giai đoạn hiện nay không chỉ đơn thuần là tiếng nói của con người dùng để biểu hiện các nội dung như ý nghĩ, tâm tư, tình cảm giữa con người với nhau trong đời sống hằng ngày mà còn là phương tiện giao tiếp quan trọng để gắn kết cộng đồng tộc người của một quốc gia, hoặc giữa quốc gia này với quốc gia khác Trong khoa học, ngôn ngữ bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi địa hạt ngôn ngữ là một mảnh đất màu mỡ để cho các nhà khoa học khai phá, nghiên cứu, đóng góp vào tri thức nhân loại
Nghệ thuật ngôn ngữ ra đời từ buổi bình minh của xã hội loài người và ngay từ thời đó, thơ đã có vị trí hết sức quan trọng Từ khi chưa có chữ viết, con người đã sáng tác và thưởng thức thơ qua con đường truyền miệng Những sáng tác văn học sớm nhất của nhân loại ngày nay ta được biết hầu hết là thơ Thơ có vị trí lớn như vậy trong nhu cầu đời sống tinh thần nên dễ hiểu khi các nhà khoa học nhân văn hơn hai nghìn năm nay
Ở Việt Nam, thơ có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn học và đời sống
xã hội Thơ là một thể loại văn học truyền thống của dân tộc Việt Nam Là một thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình nhưng bản chất của thơ lại rất đa dạng, với nhiều biến thái và màu sắc phong phú Thơ tác động đến người đọc vừa bằng ngôn từ giàu cảm xúc, bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc cụ thể: vừa gián tiếp thông qua liên tưởng và những tưởng tượng phong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn từ giàu nhạc điệu Thơ không chỉ thỏa mãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, một thú chơi tao nhã mà còn là phương tiện giao tiếp xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội Thơ gắn với cuộc sống khách quan, gắn với chiều sâu thế giới nội tâm…
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, lịch sử nước ta bước sang một thời kỳ mới, thời kỳ độc lập, bảo vệ nền độc lập, xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam Hơn nửa thế kỷ đó, nhân dân đã tiến hành hai cuộc kháng chiến gian khổ, lập nên kỳ tích đánh thắng những kẻ thù có tiềm lực kinh tế hơn hẳn mình, bảo vệ độc lập và sự toàn vẹn của đất nước Trong hoàn cảnh đầy thử thách này, nền văn học cách mạng đã ra đời và không ngừng phát triển, trong đó thơ là một thể loại tiêu biểu Cách mạng đã mang lại cho người nghệ sỹ những phẩm chất hoàn toàn mới trong lao động sáng tạo Bối cảnh lịch sử hào hùng và bi tráng của thời kỳ này là nội lực sâu xa để thở Việt Nam kế thừa tinh hoa trừ truyền thống đồng thời có
Trang 11những biến đổi về chất, cả nội dung và hình thức, làm phong phú thêm kho tàng thơ
dân tộc Nhà phê bình Hoài Thanh đã có nhận xét xác đáng: “Hầu hết những người
mang ba lô lặng lẽ đi trên các nẻo đường kháng chiến trong một quyển sổ tay nào đó thế nào cũng có ít bài thơ Trong cuộc chiến tranh nhân dân của chúng ta, tiếng súng, tiếng nhạc, tiếng thơ cùng hòa điệu” (Dẫn theo Hoài Thanh, Nói chuyện thơ kháng chiến)
Hơn hai mươi năm đã trôi qua kể từ khi chiến tranh kết thúc, lịch sử đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển, hoạt động sáng tạo nghệ thuật cũng vận động, biến đổi theo Việc nghiên cứu thơ Thanh Thảo từ góc nhìn ngữ dụng học, phát hiện và làm sáng tỏ giá trị của thơ ca không những là trách nhiệm mà còn là sự thôi thúc của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình và các thế hệ độc giả
Văn học Việt Nam hiện đại ghi nhận sự đóng góp tích cực của nhiều thể loại Tận dụng những ưu thế của mình, mỗi thể loại đều đã có những tên tuổi được khẳng định trên văn đàn và trong lòng bạn đọc Thanh Thảo cũng có những đóng góp quan trọng của mình trong thành tựu của thi ca hiện đại Việt Nam Vì thế tìm hiểu và đánh giá các biểu thức chiếu vật trong thơ Thanh Thảo là một việc làm cần thiết Ông là nhà thơ không ngừng tiếp cận những trào lưu văn học mới, nhằm làm cho các sáng tác của mình ngày càng gần với hơi thở đương đại Những nỗ lực này dẫn đến một tất yếu là thơ Thanh Thảo ngày càng mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa hiện đại
Thanh Thảo là một nhà thơ khá đặc biệt bởi lối tư duy thơ mới mẻ, làm lạ hoá diện mạo thơ đương đại Thơ Thanh Thảo có những khoảng trắng, khoảng mờ gây nhiều
ám ảnh cho người đọc Thanh Thảo không bao giờ thỏa hiệp với chính mình mà luôn tìm tòi thể nghiệm, đem lại hình thức mới mẻ cho thơ đương đại Việt Nam Thơ Thanh Thảo là sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực ở phương Tây và truyền thống thơ ca dân tộc, tạo ra những tác phẩm độc đáo, hấp dẫn theo cách riêng
của Thanh Thảo
Trong diễn ngôn văn học, việc tìm hiểu hệ thống các phương tiện ngôn ngữ chiếu vật và “vật được quy chiếu” của chúng sẽ là những thao tác đầu tiên mà bất kỳ người đọc nào cũng phải tiến hành nếu muốn hiểu tác phẩm Trong thơ Thanh Thảo, các yếu
tố “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” có tần số xuất hiện ở nhóm cao nhất trong
số các từ chỉ thiên nhiên Luận văn “Các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”,
“hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo” dưới góc nhìn ký hiệu học dưới
ánh sáng của lý thuyết ký hiệu học: đặt chúng trong các biểu thức chiếu vật (BTCV)
được sử dụng trong diễn ngôn Luận văn cũng đặt các BTCV có từ “lửa”, “sóng”,
Trang 12“hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo dưới góc nhìn ký hiệu học để một
mặt, phần nào thấy được cách sử dụng những thi pháp và của ngôn từ nghệ thuật của tác giả, mặt khác, hiểu rõ hơn về những lí thuyết ký hiệu học được vận dụng qua cách phân tích những tập thơ để đời của Thanh Thảo
2 Lịch sử vấn đề
Khái niệm chiếu vật hay còn gọi là quy chiếu (referring expression) trong dụng
học được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ rất sớm Trên thế giới, phạm trù này được nhà ký hiệu học Mỹ Charles W Morris nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX Sau đó các nhà khoa học khác như Jacob L Mey, George Yule đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu làm tiền đề quan trọng cho các thế hệ sau
Lý thuyết chiếu vật, cho đến nay, có thể khái quát thành ba giai đoạn nghiên cứu chiếu vật trên thế giới gồm: giai đoạn thứ nhất (từ 1882 - khoảng 1950) - chiếu vật ngữ nghĩa (semantic reference); giai đoạn thứ hai (từ khoảng 1950 - cuối thế kỷ XX) - chiếu vật của người nói (speaker’sreference); giai đoạn thứ ba (khoảng từ cuối thế kỷ
XX - nay) - chiếu vật được nghiên cứu trong phối cảnh liên ngành (interdisciplinary perspectives)
Ngữ dụng học là một chuyên ngành chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp để đạt tới một mục đích nhất định Nó quan tâm đến việc vì sao việc truyền đạt nghĩa không chỉ phụ thuộc vào các kiến thức ngôn ngữ học như ngữ pháp, từ vựng của người nói và người nghe mà còn phụ thuộc vào ngữ cảnh của phát ngôn Một vấn đề đầu tiên trong việc nghiên cứu ngôn ngữ trong thực tế sử dụng, xác lập mối quan hệ giữa ngôn ngữ và người sử dụng đó là vấn
đề quy chiếu và sự lựa chọn biểu thức quy chiếu để chỉ đối tượng được nói đến
Nói đến công trình nghiên cứu về ngữ dụng học một cách đầy đủ nhất, chúng ta
không thể không kể đến Đỗ Hữu Châu Cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ
dụng học, Đỗ Hữu Châu đã dành trọn một chương đề cập đến chiếu vật và chỉ xuất Tác giả chỉ ra tầm quan trọng của chiếu vật và việc xác định được nội dung của câu quy chiếu về sự vật nào đóng vai trò thiết yếu để xác định giá trị chân lí của nó Quan trọng hơn cả là tác giả nêu ra các phương thức quy chiếu Vì quy chiếu là một hành động có tính chủ động của người nói cho nên nó phần nào thể hiện tính mục đích của người nói khi lựa chọn biểu thức quy chiếu Về lí thuyết các giáo trình về ngữ dụng học đều dành ít nhất một chương để trình bày các nội dung liên quan đến vấn đề này
Tiếp theo công trình được xem như nền móng của Đỗ Hữu Châu, nhiều nhà nghiên cứu đã dụng tâm bổ sung và công bố các công trình của mình Trước hết phải
Trang 13kể đến công trình Dụng học Việt ngữ (NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2000) của
Nguyễn Thiện Giáp Ở công trình này, nhà nghiên cứu cũng đã dành một phần để làm sáng tỏ hơn lý thuyết chiếu vật và xem đó là một nhân tố, một phương châm trong hoạt động giao tiếp Kế tiếp là công trình nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh và các tác giả trong
cuốn Từ ký hiệu đến biểu tượng (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018) Công trình
này đã kể đến các ký hiệu và sự liên kết chặt chẽ giữa ký hiệu với biểu tượng Trong
Ký hiệu và Liên ký hiệu (NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2018), nhà nghiên
cứu Lê Huy Bắc đã ưu ái dành toàn bộ cuốn sách để nghiên cứu về lý thuyết ký hiệu học, đồng thời xem đó là nhân tố không thể tách rời trong việc phân tích tác phẩm
Sự phát triển của nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ngoài trên khía cạnh chiếu vật đã ảnh hưởng rất lớn đối với ngành nghiên cứu ngôn ngữ ở nước ta Theo luồng ảnh hưởng đó, các tài liệu nước ngoài dần được tiếp nhận và được giới thiệu ở Việt Nam
Một trong những tài liệu được giới thiệu sớm nhất là công trình Dụng học của G Yule
do Diệp Quang Ban biên dịch Giáo trình được xem là bước khởi đầu có tính chuyên môn cao đối với quá trình tiếp cận và nghiên cứu ngôn ngữ học
Như vậy, nhờ những quá trình tiếp cận và học hỏi các kết quả nghiên cứu từ các công trình nghiên cứu của nước ngoài cũng như việc vận dụng sáng tạo vào thực tiện
sử dụng tiếng Việt, các nhà nghiên cứu trong nước đã xây dựng nên những công trình tiêu biểu về ngữ dụng học, trong đó có lý thuyết chiếu vật Các đóng góp của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiêu biểu như: Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp… sẽ là “kim chỉ nam” cho quá trình phát triển nghiên cứu ngôn ngữ sau này Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy những công trình nghiên cứu còn mang tính riêng biệt khi ứng dụng các lý thuyết của ngôn ngữ học và
ký hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương, khuynh hướng nghiên cứu này chưa thật sự nhiều và còn mang tính riêng lẻ
Trên nền tảng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, những năm gần đây hướng nghiên cứu về lý thuyết chiếu vật của ngữ dụng học đã được đề cao và chiếm được ưu thế ở nhiều công trình Trong đó phải kể đến một số công trình ở cấp độ luận văn thạc
sĩ Ngôn ngữ như: Các biểu thức chiếu vật về người phụ nữ trong ngôn ngữ thơ Hồ
Xuân Hương và thơ Xuân Quỳnh của Lê Thị Tuyết Hạnh năm 2017; Các biểu thức chiếu vật về người lính trong ngôn ngữ thơ Kháng chiến của Nguyễn Thị Yến Nga
năm 2019 Nhìn chung hai công trình này đã có sự đóng góp một phần cho hướng nghiên cứu về lý thuyết chiếu vật và tạo nên một bước tiếp cận mới về các biểu thức chiếu vật trong các tác phẩm văn chương được khảo sát
Trang 14Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về Các biểu thức chiếu vật
có chứa các từ “lửa”, “sóng”, “hạti giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo như
đề tài của chúng tôi Chúng tôi mong muốn công trình này sẽ góp một phần nhỏ lấp
đầy hơn tính riêng lẻ và ít ỏi của khuynh hướng nghiên cứu ứng dụng các lý thuyết chiếu vật của dụng học và ký hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ văn chương
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết chủ yếu phục vụ cho việc triển khai đề tài luận văn:
- Xác lập các tiêu chí để xác định và phân loại các BTCV có từ “lửa”, “sóng”,
“hạt giống”, “mầm cây” cũng như đối tượng được quy chiếu của chúng trong thơ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được luận văn xác định là: các biểu thức chiếu vật có từ
“lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo từ góc nhìn ký hiệu
học
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về phương diện khảo sát, luận văn của chúng tôi tiến hành khảo sát và nghiên cứu đối tượng kể trên ở các phương diện: cấu tạo, quan hệ kết hợp với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngôn cảnh, sự vật được quy chiếu trong ngữ cảnh sử dụng và so sánh
chúng với các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây”
tương ứng trong tuyển tập thơ Thanh Thảo
Về tư liệu khảo sát: luận văn khảo sát trên những tuyển tập thơ Thanh Thảo sau:
- Những người đi tới biển (trường ca, 1977)
- Dấu chân qua tràng cỏ (thơ, 1980)
- Khối vuông Rubic (thơ, 1985)
- Từ một đến một trăm (thơ, 1988)
- Trường ca chân đất (2012)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Trang 15Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các biểu thức chiếu vật
có trong thơ và phân loại theo những tiêu chí cụ thể
5.2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ
Sau khi thống kê, phân loại cơ sở ngữ liệu là các biểu thức chiếu vật, chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả đặc điểm cấutạo các biểu thức chiếu vật và đưa ra những nhận xét, đánh giá với các thủ pháp nghiên cứu sau: thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp phân tích vị từ - tham thể (vị tố - tham thể), thủ pháp phân tích ngôn cảnh/văn cảnh và thủ pháp phân tích vai nghĩa
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về lý luận: Củng cố và hệ thống hoá được các vấn đề cơ bản của lý thuyết
chiếu vật của ngôn ngữ học, góp phần làm rõ thêm các khái niệm quan yếu đối với việc nghiên cứu chiếu vật trong tác phẩm hư cấu; xác lập được một số cơ sở và thao tác để xác định CV của các BTCV được sử dụng trong hoạt động giao tiếp; gợi mở và bước đầu vận dụng hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa - văn học vào nghiên cứu chiếu vật của Việt ngữ, đặc biệt là chiếu vật trong tác phẩm văn học
- Về thực tiễn: Cung cấp thêm tư liệu và kết quả phân tích mới cho việc nghiên
cứu và giảng dạy về các BTCV trong thơ Thanh Thảo nói riêng và trong giao tiếp tiếng Việt nói chung; cung cấp thêm cơ sở và phương tiện ngôn ngữ cho việc khám phá các giá trị và nét độc đáo trong thơ Thanh Thảo, từ đó giúp ích thêm cho việc nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm dưới góc nhìn ký hiệu học
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan
Chương 2: Các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo nhìn từ bình diện cái biểu đạt
Chương 3: Các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo nhìn từ bình diện cái được biểu đạt
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1 Lý thuyết chiếu vật
1.1.1 Sự chiếu vật (reference)
Nếu ngữ dụng học là phân ngành trẻ tuổi nhất của ngôn ngữ học thì Chiếu
vật (Reference, còn dịch bằng sở chỉ, quy chiếu) là vấn đề đầu tiên được ngữ dụng học
đề cập tới Georgia M Green đưa ra khái niệm về chiếu vật như sau:
“Thuật ngữ chiếu vật được dùng để chỉ cái cách nhờ chúng mà người nói phát
âm ra một biểu thức ngôn ngữ với hy vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [8, Tr.193])
Cũng chính Green, đồng thời, đã chỉ rõ cái gọi là “một biểu thức ngôn ngữ”
(linguistic expression) trong định nghĩa trên của ông, khi nó thực hiện được chức năng
chiếu vật, được gọi là biểu thức chiếu vật (referring expression)
Theo Đỗ Hữu Châu: “Chiếu vật chính là quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với
các bộ phận tạo nên ngữ cảnh được gọi là sự chiếu vật… Chiếu vật là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên bởi vì nhờ chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh, từ đó mà có căn cứ đầu tiên để xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [8, Tr.193])
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp có cách nhìn nhận khác: “Quy chiếu là một hành
động trong đó người nói hoặc người viết dùng các hình thức ngôn ngữ cho phép người nghe, người đọc nhận diện cái gì đó Những hình thức ngôn ngữ ấy là những biểu thức quy chiếu” (referring expression)
Các biểu thức chiếu vật (BTCV) trong diễn ngôn có nghĩa chiếu vật (referent) Phạm vi nghĩa chiếu vật không chỉ hiểu đơn giản là một “sự vật, sự kiện” hay “cái
thực thể nào”, “sự kiện nào” đó được chiếu mà còn bao gồm cả “một quá trình, một hành động” hay “đặc tính nào, quan hệ nào” được người nói đưa vào diễn ngôn với ý
đồ chiếu vật Vì vậy “sự khảo sát thoả đáng các BTCV cần được mở rộng đến cả
những BTCV khác (ngoài BTCV là các danh từ, đại từ và cụm danh từ - chú thích của
người viết) nữa như tên giả (artifact names) tính từ, động từ, giới từ và phó từ” “Như
thế, đóng vai trò nghĩa chiếu vật ngoài sự vật, còn có cả đặc tính, quan hệ, sự kiện, hoạt động nữa” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [8, Tr.199]) Đây là một chỉ dẫn quan trọng
cho việc khảo sát, miêu tả các BTCV trong các diễn ngôn cụ thể
Trang 17Như vậy, trên cơ sở tiếp thu những quan niệm khác nhau về sự chiếu vật, chúng tôi đưa ra khái niệm về sự quy chiếu (hay chiếu vật): đó là sự tương ứng giữa từ (hoặc giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, con người, hoạt động, tính chất trong hiện thực
được nói tới Luận văn của chúng tôi sử dụng thuật ngữ sự chiếu vật (reference) và chiếu
vật (CV) (referent) là các danh từ, còn quy chiếu (to refer) với tư cách động từ
1.1.2 Biểu thức chiếu vật (referring expression)
1.1.2.1 Khái niệm biểu thức chiếu vật
Biểu thức chiếu vật (hay còn gọi là biểu thức quy chiếu) là khái niệm dùng để chỉ
“những hình thức ngôn ngữ mà người nói/ người viết sử dụng để thực hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát” [18, Tr.89]; tức cho người nghe/ người
đọc nhận diện một cái gì đó Cũng như các tín hiệu ngôn ngữ khác, biểu thức chiếu vật cũng có cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt của biểu thức chiếu vật là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó Cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu hay chiếu vật tương ứng
Biểu thức chiếu vật dù có cụ thể đến đâu không phải bao giờ cũng làm cho ngườii nghe, người đọc nhận biết ngay được sự vật được quy chiếu Việc nhận biết ngay sự vật được quy chiếu chỉ có thể xảy ra khi giao tiếp diễn ra mặt đối mặt nhờ động tác chỉ trỏ mà người nói thực hiện kèm theo biểu thức chiếu vật Nếu không có những điều kiện như vậy thì người nghe phải suy luận hay là suy ý từ biểu thức chiếu vật để nhận biết sự vật được quy chiếu đích thực là gì
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “biểu thức chiếu vật” để chỉ tất
cả các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát, bao gồm cả những BTCV có cấu tạo là từ vài tổ hợp từ Chúng tôi cũng đã phân biệt một số thuật ngữ có liên quan tới việc khảo sát đối tượng
và triển khai đề tài của luận văn là BTCV và biểu thức miêu tả, BTCV miêu tả và BTCV phi miêu tả
Theo đó, các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây”
trong thơ Thanh Thảo sẽ được luận văn này miêu tả trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt (hình thức cấu tạo và quan hệ kết hợp cả về ý nghĩa và cú pháp); bình diện cái được biểu đạt (sự vật được quy chiếu hay CV)
1.1.2.2 Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật
a) Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật nói chung
- Tiêu chí thứ nhất – Tiêu chí hình thức: BTCV có tính hoàn chỉnh, độc lập tương
đối của nó về mặt cấu tạo: hoặc là một từ, hoặc là một cụm từ
Trang 18- Tiêu chí thứ hai – Tiêu chí ngữ nghĩa: BTCV chỉ ra được một đối tượng, một
thực thể cụ thể nào đó, trong thế giới khả hữu – HQC của BTCV đang được tác giả hoặc nhân vật nói tới
b) Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”,
“mầm cây” trong thơ Thanh Thảo
Luận văn chỉ xét các BTCV mà trong cấu tạo của biểu thức ngôn ngữ thực hiện chức năng chiếu vật trong trường hợp được xét có xuất hiện ít nhất một trong các yếu
tố ngôn ngữ (từ/ thành tố cấu tạo từ) hoặc các yếu tố ngôn ngữ đồng nghĩa từ vựng;
hoặc các yếu tố ngôn ngữ biểu thị các sự vật có liên quan tới khái niệm “lửa”, “sóng”,
“hạt giống”, “mầm cây”
1.1.3 Chiếu vật và hệ quy chiếu
1.1.3.1 Khái niệm chiếu vật (referent)
Có thể nói, bên cạnh tâm lí học và triết học, ngôn ngữ học là ngành khoa học liên quan mật thiết nhất tới khoa học tri nhận Điều này gần như là hiển nhiên bởi một trong hai chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ chính là chức năng là công cụ của hoạt động nhận thức, tư duy của con người Ngôn ngữ không chỉ tham gia vào hoạt động nhận thức, tư duy của con người với vai trò của một phương tiện thực hiện mà còn là phương tiện để diễn đạt và lưu trữ kết quả của các hoạt động đó Ngược lại, các sản phẩm của hoạt động nhận thức, tư duy lại cung cấp cho ngôn ngữ mặt “cái được biểu đạt” của tín hiệu ngôn ngữ, làm đầy cái vỏ âm thanh của nó để cho ngôn ngữ trở
nên “có nghĩa” (dù “nghĩa” hiểu theo cách nào đi nữa) “Hiện thực khách quan phản
ánh trong não người hình thành nên thế giới tri nhận và cấu trúc tri nhận Ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc tri nhận, quy luật của cấu trúc tri nhận đối với ngôn ngữ” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, [19, Tr.206])
Ngôn ngữ học tri nhận đã và đang được coi là một cuộc cách mạng thứ ba trong lịch sử ngôn ngữ học thế giới, sau hai cuộc cách mạng đi trước: “cuộc cách mạng
Saussure” và “cuộc cách mạng Chomsky” bởi lẽ, với nguyên lí “dĩ nhân vi
trung” (anthropocentrism) được tuyên ngôn một cách khảng khái đã thay đổi hầu như
toàn bộ phương pháp luận của các nhà ngôn ngữ học đi theo hệ hình ngôn ngữ học cấu trúc tiền tri nhận
Mặc dù “trọng tâm của ngôn ngữ học tri nhận là ngữ nghĩa” nhưng “chính Ngữ
dụng học đã khiến người ta phải chú ý đến hệ thống tri nhận của con người Như ta biết, ngữ dụng học không bàn về nghĩa mà bàn về sự tạo nghĩa, về tiềm năng nghĩa, về
sự biểu lộ, sự thương lượng về nghĩa như thế nào trong tương tác ( ) Các nhà ngữ
Trang 19dụng học đã chứng minh được rằng trong quá trình sản sinh phát ngôn, người nói đã phải tính đến các giới hạn về xã hội, tâm lí, nhận thức của người nghe; và ngược lại, trong quá trình giải thích các phát ngôn, người nghe cần thiết phải tính đến những chế ước về xã hội khiến người nói tiến hành sản sinh phát ngôn theo một cách thức riêng biệt nào đó” (Dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp, [19, Tr.208]) Đây cũng chính là một
trong các phương pháp tiếp cận của các nhà nghiên cứu Ngữ dụng học khi xem xét vấn
đề nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ được sử dụng trong các ngữ cảnh giao tiếp cụ thể – tức nghĩa chiếu vật của chúng
1.1.3.2 Nghĩa - ý nghĩa - chiếu vật
Nghĩa hay ngữ nghĩa (theo nghĩa rộng: nghĩa của ngôn ngữ nói chung – meaning)
và ý nghĩa của từ (sense) đều có liên quan tới CV bằng ngôn ngữ Trước tiên, có thể
thấy, cả ý nghĩa của từ (và của tín hiệu ngôn ngữ nói chung) và CV đều là các bình diện của nghĩa (meaning) của đơn vị ngôn ngữ Ngoài hai bình diện này, ngữ nghĩa còn có một số bình diện được phản ánh trong các loại nghĩa khác nữa, chẳng hạn: nghĩa ngữ pháp, nghĩa sở dụng Tuy nhiên, giữa ý nghĩa của từ và CV của từ đó khi được sử dụng làm BTCV trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể lại có sự khác biệt tương đối
và chủ yếu nhất là chúng nằm ở hai bình diện khác nhau của ngôn ngữ: ý nghĩa thuộc bình diện hệ thống, mang tính trừu tượng, khái quát còn CV thuộc bình diện hoạt động của ngôn ngữ, mang tính cụ thể
Nghĩa chiếu vật hay vật được chiếu (referent) chính là bản thân các thực thể tồn
tại bên ngoài ngôn ngữ, trong thế giới hiện thực mà ở đó biểu thức ngôn ngữ chiếu vật (referring expressions) được sử dụng Chiếu vật thể hiện rõ nhất mối quan hệ bộ ba giữa người nói – ngôn ngữ – hiện thực khách quan Bởi, như phát ngôn kinh điển của
Strawson: “ý định (mentioning) và chiếu vật (referring) không phải là điều mà các
biểu thức ngôn ngữ có thể thực hiện được mà đó là do một người nào đó dùng chính các biểu thức đó để thực hiện” [40, Tr 326]
Xét về mặt tín hiệu học thì thứ nhất từ ngữ âm là cái biểu hiện của nghĩa của từ (cái được biểu hiện); thứ hai, từ ngữ âm cùng với nghĩa của mình lại là cái biểu hiện của cái sở chỉ; thứ ba, trong những phát ngôn cụ thể, toàn bộ tam giác ngữ nghĩa còn
có thể đóng vai trò là một tín hiệu của một sự vật khác Như vậy, nghĩa (sense) và sở chỉ là cái được biểu hiện Nhưng ý nghĩa (meaning) không phải là cái được 6 biểu hiện mà là mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện Ý (meaning) của từ (cũng như của các đơn vị ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân nó
Trang 201.1.3.3 Hệ quy chiếu
HQC là một khái niệm công cụ quan trọng mà chúng tôi lấy làm cơ sở lý thuyết cho việc triển khai đề tài Sự vật có thể tồn tại trong những thế giới rất khác nhau, có những thế giới hiện hữu, có thật và cũng có những “thế giới có thể có” (thường được gọi là “thế giới khả hữu”) mà trong đó sự vật có thể tồn tại theo một cách khác Cùng một lúc, có nhiều thế giới khả hữu khác nhau đồng thời tồn tại: thế giới thực hữu, thế giới tưởng tượng, hư cấu trong thần thoại, cổ tích hay truyền thuyết và các tác phẩm văn học; thế giới tâm linh, siêu nhiên với sự tồn tại của các hồn ma, bóng quỷ… Tuy nhiên, khi thực hiện quy chiếu bằng các BTCV trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, chỉ một thế giới khả hữu mà ở đó sự vật – CV tồn tại mới được người nói lựa chọn làm
“HQC” cho BTCV của mình và đưa vào trong ngữ cảnh thông qua phát ngôn
Theo G Yule: “Hệ quy chiếu, vì vậy gắn với mục đích, sự tin tưởng của người
nói, đó là người nói nói ra muốn để người nghe nhận biết cái gì; người nghe có mong đợi để mà người nói nói ra không Vì thế hệ quy chiếu muốn thành công phải luôn gắn chặt với suy luận (inference), bởi vì giữa các từ với các thực thể khách quan không có mối quan hệ nào mà chỉ là quan hệ võ đoán” [39, Tr 103]
Để nhận ra tính chiếu vật cần quan tâm đến những yếu tố sau:
- Người nói và người nghe trong hệ quy chiếu,
- Mục đích của hệ quy chiếu,
-Ngữ cảnh mà người nghe hiểu được hệ quy chiếu
- Đối tượng tiếp cận của hệ quy chiếu
Việc phân loại và miêu tả chiếu vật của các BTCV trong luận văn này cũng dựa vào việc xác định đúng thế giới khả hữu – hệ quy chiếu mà ở đó các sự vật được quy chiếu tồn tại Theo đó, thế giới hư cấu trong thơ Thanh Thảo có thể được phân chia
thành các bộ phận – hệ quy chiếu khác nhau như sau: thiên nhiên, con người/nhân vật,
đồ vật, tình cảm, cuộc đời, sự kiện, thời gian…
1.1.3.4 Chiếu vật trong tác phẩm văn chương
Một trong những thế giới khả hữu không có thực chính là thế giới khả hữu tồn tại trong các sản phẩm hư cấu – thế giới hư cấu (fictional world) Thế giới khả hữu của các nhân vật hư cấu chính là tác phẩm hư cấu mà ở đó nhân vật xuất hiện, hành động, nói năng… Trong thế giới khả hữu đó, nhân vật tồn tại thực sự và khi được quy chiếu bằng ngôn ngữ thì nó chính là “vật được chiếu” của BTCV được sử dụng Chiếu vật về các thực thể hư cấu cũng có nhiều loại: có chiếu vật của tác giả trong tác phẩm; chiếu vật của người đọc trong các diễn ngôn về tác phẩm; chiếu vật của chính nhân vật trong
Trang 21tác phẩm… Khi đó, ngoài chủ thể thực hiện quy chiếu là tác giả, còn có chủ thể thực hiện quy chiếu là nhân vật trong tác phẩm
Để giải mã được toàn bộ hệ quy chiếu xuất hiện trong các tác phẩm văn chương, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học không chỉ thấy được sự tương ứng giữa từ (hoặc giữa các đơn vị ngôn ngữ) với các sự vật, con người, hoạt động, tính chất trong hiện thực được nói tới mà còn đòi hỏi phải có một vốn hiểu biết sâu về lịch sử, văn hóa thời đại
ra đời tác phẩm (ngữ cảnh rộng); cuộc đời, sự nghiệp của tác giả (ngữ cảnh hẹp), ngữ cảnh trực tiếp,…để có được những tiền giả định chính xác, lập thành một hệ quy chiếu phù hợp và đưa ra những ý nghĩa xác đáng nhất
1.2 Lý thuyết hoạt động giao tiếp
Theo quan điểm ngữ dụng học thì có rất nhiều cách phân loại và miêu tả các nhân tố giao tiếp Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, cách khái quát nhất phải kể đến ba nhân
tố giao tiếp cơ bản là: Ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Tuy nhiên, “Chiếu vật là cái neo mà diễn ngôn thả vào ngữ cảnh” chính vì thế mà khóa luận đi vào trình bày chi tiết
về nhân tố ngữ cảnh còn hai nhân tố còn lại chỉ dừng lại ở mức độ khái quát nhất
1.2.1 Các nhân tố của hoạt động giao tiếp
1.2.1.1 Ngữ cảnh
Ngữ cảnh (situational context; context of situation): Thông thường, ngữ cảnh
được hiểu là “bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” Các hợp phần của ngữ cảnh gồm: đối ngôn và hiện thực ngoài diễn ngôn
Ngữ cảnh là yếu tố giúp cho câu nói trở nên cụ thể, khiến người nghe, người đọc
có thể dễ dàng xác định được nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, thời gian và không gian giao tiếp
Các nhân tố của ngữ cảnh
• Nhân vật giao tiếp
– Gồm tất cả các nhân vật tham gia giao tiếp: người nói (viết), người nghe (đọc) + Một người nói – một người nghei Song thoại
+ Nhiều người nói luân phiên vai nhau: Hội thoại
+ Người nói và nghe đều có một “vai” nhất định, đều có đặc điểm khác nhau về lứa tuổi, nghề nghiệp, cá tính, địa vị xã hội, …-> chi phối việc lĩnh hội lời nói
* Bối cảnh ngoài ngôn ngữ
– Bối cảnh giao tiếp rộng (còn gọi là bối cảnh văn hóa): Bối cảnh xã hội, lịch sử, địa lý, phong tục tập quán, chính trị… ở bên ngoài ngôn ngữ
Trang 22– Bối cảnh giao tiếp hẹp (còn gọi là bối cảnh tình huống): Đó là thời gian, địa điểm cụ thể, tình huống cụ thể
– Hiện thực được nói tới (gồm hiện thực bên ngoài và hiện thực bên trong của các nhân vật giao tiếp): Gồm các sự kiện, biến cố, sự việc, hoạt động… diễn ra trong thực
tế và các trạng thái, tâm trạng, tình cảm của con người
* Văn cảnh
– Bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ cùng có mặt trong văn bản, đi trước hoặc sau một yếu tố ngôn ngữ nào đó Văn cảnh có ở dạng ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói
1.2.1.2 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ (language): Mỗi cuộc giao tiếp đều sử dụng một ngôn ngữ cụ thể nào
đó làm phương tiện, nên nói tới ngôn ngữ trong vai trò là nhân tố giao tiếp cũng chính
là nói tới ngôn ngữ cụ thể mà các đối ngôn sử dụng trong cuộc giao tiếp của họ
Một định nghĩa coi ngôn ngữ là một hệ thống hình thức của các dấu hiệu được điều chỉnh bởi các quy tắc kết hợp theo ngữ pháp để truyền tải ý nghĩa Định nghĩa này nhấn mạnh rằng ngôn ngữ con người có thể được mô tả như hệ thống kết cấu khép kín bao gồm các quy tắc ánh xạ các dấu hiệu đặc biệt tới các ý nghĩa đặc biệt Cách nhìn ngôn ngữ có cấu trúc như thế này lần đầu tiên được F de Saussure giới thiệu và cấu trúc cơ bản của ông trở thành cấu trúc cơ bản của nhiều cách tiếp cận ngôn ngữ
1.2.1.3 Diễn ngôn
Trong lí luận hiện nay có ba khuynh hướng nghiên cứu Một là ngữ học do các nhà ngữ học đề xuất Hai là lí luận văn học do M Bakhtin nêu ra và ba là xã hội học, lịch sử tư tưởng mà tiêu biểu là Foucault Các thuật ngữ như diễn ngôn tính dục, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn nữ quyền… đều dùng theo hướng xã hội học, nhìn văn học theo giác độ xã hội học Trong khi đó khái niệm diễn ngôn văn học hầu như ít được nhắc đến, mà đó là công việc của nhà lí luận văn học
Khái niệm diễn ngôn trở thành thuật ngữ khi người ta phát hiện thấy ngôn ngữ học cấu trúc của F de Sausure, đem đối lập ngôn ngữ với lời nói, và ngôn ngữ học chỉ nghiên cứu ngôn ngữ, tức là hệ thống các nguyên tắc chi phối việc sử dụng ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp Lời nói thuộc phạm vi cá nhân không thuộc đối tượng nghiên cứu của ngữ học Một số nhà ngữ học thấy không thể không nghiên cứu văn bản, diễn ngôn (ngôn bản) như là những đơn vị biểu đạt trên câu tồn tại trong thực tiễn đời sống Và diễn ngôn được đề xuất như là đối tượng mới của ngữ văn học
Diễn ngôn là bộ phận hợp thành sự kiện lời nói và tổ hợp các sự kiện lời nói hình thành một cuộc giao tiếp Các chức năng giao tiếp được thực hiện bằng các diễn ngôn
Trang 23và cụ thể hóa thành phần của diễn ngôn” Diễn ngôn có hai phương diện: hình thức và nội dung Hình thức của diễn ngôn bao gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ (thuộc ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp, ngữ dụng…) và các yếu tố phi ngôn ngữ (yếu tố kèm lời và phi lời) được dùng khi các đối ngôn tạo ra diễn ngôn
Như vậy, diễn ngôn là khái niệm chỉ sản phẩm sau cùng của cuộc giao tiếp giữa các đối ngôn, trong đó lại bao gồm các diễn ngôn riêng của từng đối ngôn trong giao tiếp Thơ Thanh Thảo là một diễn ngôn vừa tiêu biểu vừa độc đáo: tồn tại đồng thời ở
cả dạng nói và dạng viết là sản phẩm của hoạt động giao tiếp gián tiếp và đa thoại
1.2.2 Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật
Hoạt động giao tiếp chính là tương tác liên tục giữa con người với con người, với tất cả nguồn lực của cá nhân, để tạo ra và tiếp nhận các BTCV trong hoạt động hành chức của ngôn ngữ Mỗi diễn ngôn trong thơ Thanh Thảo đều có tư cách như là sản phẩm của các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (giao tiếp nghệ thuật), và trong hoạt động đó luôn tồn tại sự tương tác giữa các nhân tố giao tiếp như các đối ngôn (tác giả
và bạn đọc), ngữ cảnh, tình huống giao tiếp (có sự giãn cách đặc biệt về thời gian, không gian và bối cảnh văn hóa, xã hội giữa các bên đối ngôn) và ngôn ngữ (ngôn ngữ nghệ thuật) Tất cả các nhân tố này đều được vận dụng trong việc nhận diện các BTCV
và CV của chúng trong luận văn
1.2.2.1 Đối ngôn (tác giả và bạn đọc)
Trong giao tiếp văn chương, quá trình tiếp nhận và độc giả đóng vai trò quan trọng Độc giả đóng vai trò tích cực, không chỉ tham gia trong việc lĩnh hội tác phẩm sau khi nhà văn hoàn thành nó mà chi phối ngay từ khi tác phẩm được thai nghén và ở trong quá trình sáng tác Xét về mối quan hệ giữa tác giả và độc giả, giữa quá trình sáng tác và quá trình tiếp nhận và độc giả góp phần sự sống của tác phẩm Khi nào có
sự tiếp nhận của độc giả thì khi đó có tác phẩm mới thực sự có cuộc sống của nó và chừng nào còn người đọc thì chừng đó tác phẩm còn tiếp tục sự sống
Bạn đọc là người đánh giá tác phẩm và đồng sáng tạo với tác giả Nếu tác giả tồn tại nhờ tác phẩm thì người đọc chính là người cấp “chứng minh thư” cho tác phẩm để tác phẩm và tác giả trở nên bất tử với cuộc đời
Bởi vậy, khi tiếp nhận một tác phẩm, người đọc chỉ hứng thú khi tác phẩm đó thể hiện được cách nhìn mới, tô đậm được nét tính cách độc đáo của nhà văn trong đó Những cái nhìn giống nhau, cách cảm nhận tương tự nhau sẽ bị người đọc quên lãng, đào thải
Trang 24Như vậy, để có được những tác phẩm có giá trị lay động được tới trái tim bạn đọc thì cần có một trái tim nóng bỏng, một tâm hồn nhạy cảm tinh tế; những gì viết ra cần phải xuất phát từ tình cảm chân thật sâu sắc Muốn vậy trái tim người nghệ sĩ phải
để ở giữa cuộc đời và vì cuộc đời
1.2.2.2 Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp
Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ làm cơ sở cho việc sử dụng từ ngữ và tạo lập lời nói, đồng thời làm căn cứ để lĩnh hội thấu đáo lời nói Ngữ cảnh có vai trò quan trọng với quá trình tạo lập và quá trình lĩnh hội lời nói Đối với người nói người viết: ngữ cảnh là cơ sở của việc dùng từ, đặt câu, kết hợp từ ngữ Đối với người nghe, người đọc: ngữ cảnh là căn cứ để lĩnh hội câu văn, hiểu được nội dung ý nghĩa của văn bản, lời nói
Tình huống giao tiếp là khả năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt suy nghĩ, ý kiến, cảm nhận một cách rõ ràng và thuyết phục; đồng thời thúc đẩy được giao tiếp
Tình huống giao tiếp biểu hiện hành vi ở các mức độ:
cho mình
- Mức độ 3 - Mức độ khá
Ở mức độ này, cá nhân có thể vận dụng được năng lực trong những tình huống khó khăn, dù đôi khi vẫn cần được chỉ dẫn từ người khác
Trang 25Có khả năng diễn đạt rành mạch, rõ ràng các nội dung cơ bản tới nhiều đối tượng
khác nhau Thường vận dụng được đúng giọng điệu và ngôn ngữ trong các trường hợp giao tiếp Thường xuyên lắng nghe, quan tâm tới đối phương và biết khơi gợi giao tiếp hai chiều một cách khéo léo
- Mức độ 2 - Mức độ cơ bản
Ở mức độ này, cá nhân có thể vận dụng được năng lực trong những tình huống với độ khó trung bình và vẫn thường cần được hỗ trợ, hướng dẫn từ người khác
Có khả năng diễn đạt rành mạch tới nhiều đối tượng, tuy nhiên ngôn ngữ và
giọng điệu trong nhiều trường hợp không chính xác Có ý thức khơi gợi giao tiếp hai chiều, dù đôi khi không thực sự khéo léo Chủi động lắng nghe, thể hiện được thái độ quan tâm tới đối phương
- Mức độ 1 - Mức độ kém
Ở mức độ này, cá nhân chỉ vận dụng được năng lực trong những tình huống cơ bản nhất và sẽ cần rất nhiều chỉ dẫn từ người khác
Có khả năng diễn đạt được ý kiến của mình, dù không phải lúc nào cũng mạch
lạc và chính xác Chủ động lắng nghe, nhưng không biết cách khơi gợi được phản hồi
của đối phương
Tình huống giao tiếp là trạng thái trực tiếp do tác động của các nhân tố giao tiếp trong một cuộc giao tiếp cụ thể mà có Mỗi tác phẩm thơ Thanh Thảo đều có tư cách như là sản phẩm của các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (giao tiếp nghệ thuật) và trong hoạt động đó luôn tồn tại sự tương tác giữa các nhân tố giao tiếp như các đối ngôn (tác giả và bạn đọc), ngữ cảnh, tình huống giao tiếp và ngôn ngữ (ngôn ngữ nghệ thuật) Tất cả các nhân tố này đều được vận dụng trong việc nhận diện các BTCV và
CV của chúng trong luận văn
tư duy Có điều hoạt động nhận thức tư duy trong nghệ thuật có đặc tính riêng, mang
Trang 26tính nghệ thuật nên thường được gọi là tư duy hình tượng để phân biệt với tư duy bằng ngôn ngữ trong sinh hoạt hàng ngày hay trong lĩnh vực khoa học Ngôn ngữ nghệ thuật
là phong cách được dùng trong sáng tác văn chương
– Đặc trưng:
+ Tính hình tượng:
Xây dựng hình tượng chủ yếu bằng các biện pháp tu từ: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh, hoán dụ, điệp…
+ Tính truyền cảm: ngôn ngữ của người nói, người viết có khả năng gây cảm
xúc, ấn tượng mạnh với người nghe, người đọc
+ Tính cái thể: Là dấu ấn riêng của mỗi người, lặp đi lặp lại nhiều lần qua trang
viết, tạo thành phong cách nghệ thuật riêng Tính cá thể hóa của ngôn ngữ còn thể hiện trongi lời nói của nhân vật trong tác phẩm
1.3 Lý thuyết ký hiệu học
1.3.1 Ký hiệu học hai bình diện (nhị diện) của F de Saussure
1.3.1.1 Tín hiệu ngôn ngữ: cái biểu đạt và cái được biểu đạt
Ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt Tín hiệu ngôn ngữ được xác định là loại tín hiệu thính giác, tín hiệu giao tiếp, tín hiệu nhân tạo, ước hiệu (võ đoán)… Như vậy, dưới góc nhìn kí hiệu học, ở bất kỳ góc độ nào, một tín hiệu ngôn ngữ cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (cái biểu đạt) tương ứng với một nội dung ngữ nghĩa (cái được biểu đạt) và ở bất kỳ cấp độ nào, giá trị tín hiệu ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định
Về vấn đề này được nhà ngôn ngữ học F.de Saussure đề cập trong Giáo trình
ngôn ngữ học đại cương, chia ra hai loại quan hệ hệ thống có tính phổ biến trong ngôn
ngữ Đó là: quan hệ đồng nhất - đối lập và quan hệ khác biệt; quan hệ liên tưởng và quan hệ ngữ đoạn
Trình bày về cặp quan hệ thứ nhất, đối với F.de Saussure thì “trong ngôn ngữ chỉ
có những sự phân biệt mà thôi” Một tín hiệu ngôn ngữ có nghĩa không phải bản thân
tự nó có nghĩa Nó có nghĩa là vì nó ở thế đối lập với các yếu tố khác cùng hệ thống, một yếu tố ngôn ngữ nào đó mới có nghĩa
Trình bày về cặp quan hệ thứ hai, F.de Saussure lưu ý đến tương quan ngữ đoạn nối kết các từ theo một trật từ tuyến tính, nó xác định nghĩa cho các từ, và tương quan liên tưởng giữa một từ với các từ có một hay một số nét chung nào đó do ký ức ta gợi
nên Mỗi nhóm như vậy “tạo nên chuỗi tiềm tại trong trí nhớ, kho ký ức” theo nhận
xét của R Barthes
Trang 27Ngôn ngữ học hiện đại bổ sung các loại quan hệ mới, sau hai cặp quan hệ mới Saussure đã đề ra Đó là: quan hệ tôn ti giữa các cấp độ ngôn ngữ; quan hệ hiện thực hóa bình diện trừu tượng và cụ thể, giữa điển dạng và hiện dạng của tín hiệu
Khi nói ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, và không phải mọi tín hiệu đều là ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ thường chú ý đến vấn đề chức năng và tính đa chức năng của tín hiệu ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện được dùng không chỉ để giao tiếp mà
còn phục vụ cho tư duy: “Một đơn vị ngôn ngữ phải vừa phục cho giao tiếp vừa phục
vụ cho tư duy Đây là đặc trưng cơ bản phân biệt tín hiệu ngôn ngữ và các tín hiệu khác của hệ thống giao tiếp thuần túy với các tín hiệu tư duy thuần túy” theo như nhận
định của Đỗ Hữu Châu Mặt khác, ngôn ngữ trong khi làm nhiệm vụ quan trọng của mình, ngoài chức năng làm phương tiện để giao tiếp và công cụ để tư duy còn thực hiện chức năng làm công cụ để tổ chức xã hội, duy trì những quan hệ giữa người với người, duy trì sự sống của con người cũng như góp phần lưu trữ kinh nghiệm của dân tộc tích lũy hàng ngàn năm lịch sử
Về tính đa chức năng của ngôn ngữ, ý kiến của nhà ngôn ngữ học R Jakobson có đóng góp quan trọng trong việc nhận diện các đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ R Jakobson dựa vào những tiến bộ của lý thuyết thông tin để phân tích một hiện tượng giao tiếp bằng cách phân nhỏ thành sáu yếu tố: người gửi, bối cảnh, thông điệp, kênh,
mã, người nhận Trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ thực hiện sáu chức năng cơ bản ứng với sáu yếu tố nêu trên: chức năng biểu cảm, chức năng quy chiếu, chức năng thẩm mỹ (thi pháp), chức năng tiếp xúc, chức năng thỉnh cầu, chức năng siêu ngôn ngữ Điểm R Jakobson lưu ý là chức năng thẩm mỹ trở nên quan trọng khi ngôn ngữ được sử dụng một cách nghệ thuật nhằm sáng tạo ra những công trình văn chương Chúng tôi nhận thấy rằng, chức năng thẩm mĩ thường được coi là chức năng riêng biệt của thơ ca, nhưng thực ra trong các hoạt động ngôn ngữ khác, sự phân tích ngôn ngữ học về vă chương cũng không nên bị hạn chế trong chức năng thẩm mỹ Nếu nội dung phân tích ngôn ngữ về chức năng thẩm mĩ phải vượt ra ngoài ranh giới văn chương, thì mặt khác, sự phân tích ngôn ngữ học về văn chương cũng không nên bị giới hạn trong chức năng thẩm mĩ và phải bao quát mọi quan hệ biện chứng giữa chức năng thẩm mĩ với các chức năng khác
Như vậy, tính đa chức năng đã làm cho ngôn ngữ và các yếu tố của nó phân biệt
rõ ràng với các hệ thống giao tiếp khác của con người Xuất phát từ cơ sở của giao tiếp, tác giả Đỗ Hữu Châu lưu ý đến tính đa chức năng của ngôn ngữ thông qua việc thực hóa các từ trong hoạt động nói năng Theo đó, ngôn ngữ có chức năng miêu tả,
Trang 28chức năng dụng học, chức năng phát ngôn và chức năng cú học
1.3.1.2 Các đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ
Nói đến tín hiệu ngôn ngữ là nói đến tính võ đoán, tính hình tuyến của cái biểu
đạt và tính hệ thống cấu trúc Vì thế, có thể xác định ý nghĩa “tín hiệu” của ngôn ngữ
trên tất cả các đơn vị mang nghĩa ở nhiều cấp độ khác nhau: từ, ngữ, câu, đoạn, văn bản Một từ, một phát ngôn không những thực hiện chức năng miêu tả, chức năng định danh mà còn thực hiện chức năng bộc lộ, thỉnh cầu, chức năng siêu ngôn ngữ, chức
năng thẩm mĩ…Một phát ngôn như “xin lỗi!” hoàn toàn có chức năng thỉnh cầu khi nó chỉ có nghĩa là “Xin tránh đường cho tôi!” Một người có thể nói “Trời rét nhỉ!” mà
không nhằm miêu tả về thời tiết mà chỉ nhằm mục đích gợi chuyện để làm quen với người khác
Như vậy, các đặc trưng kí hiệu học của ngôn ngữ, những nguyên tắc của đồng nhất và đối lập, của kết hợp và liên tưởng, của trừu tượng và cụ thể… trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ cũng chính là những vấn đề cốt yếu giúp cho việc lý giải về tín hiệu ngôn ngữ trong quá trình hoạt động, thực hiện các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, và trong giao tiếp nghệ thuật nói riêng
1.3.2 Kí hiệu học ba bình diện của C Pierce
Cùng thời với F de Saussure, Ch S Peirce xuất phát từ triết học ngữ nghĩa đã trở thành người nghiên cứu kí hiệu học vào loại sớm nhất Ông cho rằng tư duy chính
là kí hiệu và nó tồn tại đương nhiên trong các kí hiệu Tất cả mọi vật đều được tri giác
là kí hiệu nếu nó được mã hóa/ kí hiệu hóa (Semiosis), theo đó kí hiệu là một tam phân
với ba diện:
- Cái biểu đạt (Representament), là phương tiện chuyển tải và tri giác được
- Đối tượng (Objet) là cái được biểu đạt/ được đại diện là vật thể tương liên với
cái biểu đạt
- Cái thuyết giải (Interpretant) là cái trung gian giữa hai cái trên (cái biểu đạt và
đối tượng), là cái lí giải quan hệ giữa hai cái đó, nghĩa là nhờ nó, trong tư duy người
tiếp nhận sẽ có một tín hiệu tương thích được tạo ra
Theo phân tích tam diện, Ch S Peirce có nhận thức khác với F de Sausure, theo
đó kí hiệu là “một hợp thể ba mặt, không thể xem xét tách rời từng cặp nhị diện một”
và bản thân cái biểu đạt (Representament) có tính vật lí, và là một kí hiệu một khi
được mã hóa Nhà kí hiệu học cũng cho rằng mã hóa là quá trình sử dụng tư duy để làm trung gian cho mối quan hệ giữa cái biểu đạt (kí hiệu) và đối tượng Trọng tâm lí
Trang 29luận của Ch S Peirce đặt vào cương vị giải quyết kí hiệu trong công đoạn kí hiệu hóa (Semiosis)
Ngôn ngữ học hậu cấu trúc ra đời với các khuynh hướng nghiên cứu như lí thuyết phân tích diễn ngôn, ngữ dụng học, ngữ pháp chức năng, lí thuyết ba bình diện trong phân tích câu… đều được hình thành trên cơ sở và gợi dẫn từ lí thuyết kí hiệu học ba bình diện của Ch S Peirce và C Morris; đặc biệt là vai trò của bình diện thứ ba: bình diện dụng học, bình diện người lí giải
1.4 Thanh Thảo, cuộc đời và thi phẩm
1.4.1 Vài nét về tác giả Thanh Thảo
Nhà thơ Thanh Thảo tên khai sinh là Hồ Thành Công, sinh ra trong một gia đình
có truyền thống cách mạng ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, ông đã vào chiến trường miền Nam làm báo và sáng tác văn học
Thanh Thảo là cây bút đa năng, viết nhiều thể loại, nhưng sở trường vẫn là thơ, đặc biệt thành công với một số trường ca viết sau chiến tranh Thơ Thanh Thảo là tiếng nói của người tri thức nhiều suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội và thời đại Ông được công chúng chú ý qua những tập thơ và trường ca mang diện mạo độc đáo viết về chiến tranh và thời hậu chiến
Hiện ông là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, phó chủ tịch Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam
Ông từng được nhận các giải thưởng như: Giải thưởng của Ban văn học Quốc
phòng An ninh, Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 cho tập trường ca Những ngọn sóng
mặt trời
Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Dấu chân qua trảng cỏ năm
1979
Giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Giải
thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Hội Âm nhạc Việt Nam cho tập Trường
ca chân đất (2012)
Nhà thơ Thanh Thảo đã bước vào thi đàn Việt Nam từ những năm 70 của thế kỉ trước, từ bấy đến nay ông vẫn chung thủy với con đường của mình Từ một nhà thơ chiến trường, vào thời bình ông tiếp tục hòa mình vào dòng chảy của thơ ca đương đại
Do đó, tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Thanh Thảo là một cách tiếpcận hiệu quả một trong những khuynh hướng thơ, cũng tức là thông qua một phong cách tiêu biểu để hình
dung gương mặt của một giai đoạn thơ phát triển phong phú, phức tạp như hiện nay
Trang 30Thanh Thảo là nhà thơ có sức viết dồi dào cùng ý thức cách tân sâu sắc Phong cách thơ ông được định hình ngày càng rõ rệt qua hàng loạt những thể nghiệm mới mẻ ở
đủ các khía cạnh của thơ ca, từ ngôn từ, giọng điệu đến thể loại, cấu trúc Thanh Thảo hiện vẫn đang tiếp tục làm thơ, thế giới thơ ông là một nguồn năng lượng chưa được khám phá trọn vẹn Cùng với những thành phẩm và những ấp ủ nghệ thuật của mình, Thanh Thảo là một cá tính cần được nghiên cứu kĩ lưỡng, không chỉ vì những đóng góp ông đem lại cho nền thơ Việt Nam, mà còn bởi chính lối đi riêng ông đã chọn cho thơ mình Nghiên cứu thế giới thơ Thanh Thảo không là gì khác hơn việc tìm hiểu thấu đáo phong cách nghệ thuật của ông, những quan niệm nghệ thuật độc đáo mà trong những tiểu luận, phê bình, tản văn hay bài trả lời phỏng vấn ông chưa thể tỏ bày hết được Đặc biệt, trong khi khám phá thơ Thanh Thảo như một tổng thể hoàn chỉnh, ta cũng đồng thời góp phần “giải mã” những giá trị của thơ ông ở một góc nhìn bao quát, khách quan,
từ những bài thơ đầu tiên cho đến những thi phẩm mới được công bố
1.4.2 Thơ Thanh Thảo, vài nét dẫn nhập
Hành trình đến với thơ của Thanh Thảo là một quá trình biến đổi tinh vi và lâu
dài Thanh Thảo quan niệm: “Thơ là cái lặng lẽ của con hổ Ngay con hổ cũng có lúc
giật mình vì một tiếng lá rụng Thơ đi giữa can trường và hoảng hốt, đi giữa cái liều
và nỗi sợ… Thơ là con dao găm “tôi ném vào khoảng trống” (Văn Cao) nhưng người
bị thương lại chính là tôi Thơ là chữ nghĩa cũng không phải chữ nghĩa, là ý thức mà không phải ý thức, là vô thức mà không hẳn vô thức Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ Quan niệm này giúp Thanh Thảo vận hành tiến trình thơ ông đến với khuynh hướng tượng trưng, siêu thực
Nhà thơ đặc biệt hướng ngòi bút của mình về phía cuộc sống hiện đại để phát hiện, thể hiện trong thơ những ngổn ngang những điều mắt không muốn nhìn, tai không muốn nghe và “bụi bặm” ngập đầy trong cuộc sống với xu hướng trở về cái tôi
cá nhân, những âu lo của đời sống thường nhật Không có gì mất đi hay bị lãng quên
mà chìm dần, mờ đi, lan tỏa trong hiện tại với những ranh giới mờ ảo giữa thực và hư, giữa hiện tại và quá khứ, giữa tâm thức và tiềm thức Thi nhân có ý thức cách tân về mặt ngôn ngữi tạo ra hàng loạt từ ngữ và câu thơ mới lạ có sức gợi cảm mạnh mẽ và luôn tạo nghĩa, phái sinh cảm xúc…
Từ quan niệm thơ phản ánh hiện thực đến lối tư duy thơ hiện đại và mới mẻ đầy những khoảng trống, khoảng mờ, khoảng lặng và những đoạn bỏ ngõ lửng lơ Thơ Thanh Thảo đầy những ảo giác, những vùng khuất vùng mờ tâm linh, những mảnh vỡ
Trang 31ký ức hòa quyện với thực tại mông lung, tâm thức và tiềm thức đan xen Thanh Thảo
đi từ cái tôi hướng ngoại đến cái tôi hướng nội phức cảm
Những tuyển tập thơ Thanh Thảo sau:
- Những người đi tới biển (trường ca, 1977)
- Dấu chân qua tràng cỏ (thơ, 1980)
- Khối vuông Rubic (thơ, 1985)
- Từ một đến một trăm (thơ, 1988)
- Trường ca chân đất (2012)
Bàn về thi pháp, Thanh Thảo bắt đầu bằng sự liên tưởng từ bóng đá (mà tên tuổi ông xuất hiện thường xuyên với cách bình luận rất riêng): dấu ấn thi pháp của từng nhà thơ chính là những “cú sút” từ ngữ trong thơ, “sút lọt” vào “khung thành ẩn hiện của thơ” Thi pháp của một nhà thơ “được coi như một thứ kĩ thuật đi bống, dắt bóng”, chỉ khác là “khung thành trong bóng đá luôn hiện rõ trước mắt cầu thủ, còn “khung thành” trong thơ lại lúc ẩn lúc hiện, và người là thơ chẳng biết khi nào thì đưa được ngôn từ vào đúng dòng thơ, vào “lọt” bài thơ Những “cú sút” từ ngữ trong thơ mang nặng dấu
ấn thi pháp của từng nhà thơ”
Về ngôn ngữ, hình tượng, biểu tượng thơ, Thanh Thảo quan niệm: chớ nên tưởng rằng “ngôn ngữ thơ là làm phong phú ngôn ngữ con người”, mà “nó chỉ chắt lọc tinh túy của ngôn ngữ con người”; cũng đừng nghĩ rằng: những hình ảnh, những biểu tượng thơ chỉ có kích thích trí tưởng tượng của con người, mà “nó còn khiến con người vững tin rằng ngoài những hình ảnh thế giới mà mình thấy được, cảm nhận được còn những hình ảnh mà mình chưa thấy nhưng sẽ thấy, chưa cảm được nhưng sẽ cảm được Có những giấc mơ mình sẽ mơ, và có những cuộc đời mình sẽ sống cùng
với cuộc đời chính mình đang sống”
Là một nhà thơ có một giọng điệu thơ “lạ” ngay từ những ngày đầu cầm bút, sau những thành công ban đầu, Thanh Thảo không “chững lại” mà luôn tự vượt lên mình
Là một người say mê nghiên cứu các lý thuyết, các trào lưu văn học hiện đại phương Tây kết hợp với thực tiễn sáng tác của mình, Thanh Thảo đã có những quan niệm thơ đáng để ta ghi nhận
1.5 Tiểu kết
Chương 1 luận văn đã trình bày một cách có hệ thống về lý luận và những vấn đề
liên quan đến đề tài nghiên cứu Làm rõ khái niệm sự chiếu vật (reference); Biểu thức
chiếu vật (referring expression); hệ quy chiếu; Nghĩa - ý nghĩa - chiếu vật
Trang 32Luận văn cũng tập trung làm rõ lý thuyết hoạt động giao tiếp Các nhân tố của hoạt động giao tiếp như:
Ngữ cảnh yếu tố giúp cho câu nói trở nên cụ thể, khiến người nghe, người đọc có
thể dễ dàng xác định được nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, thời gian và không gian giao tiếp
Ngôn ngữ một hệ thống hình thức của các dấu hiệu được điều chỉnh bởi các quy
tắc kết hợp theo ngữ pháp để truyền tải ý nghĩa
Diễn ngôn bộ phận hợp thành sự kiện lời nói và tổ hợp các sự kiện lời nói hình
thành một cuộc giao tiếp
Luận văn cũng chỉ ra ký hiệu học hai bình diện (nhị diện) và ký hiệu học ba bình diện (tam diện); Chiếu vật và bình diện ký hiệu học của chiếu vật
Từ đó, luận văn nêu lên một cách khái quát về tác giả Thanh Thảo và những tập thơ gắn liền với tên tuổi của Thanh Thảo Tất cả nội dung chương 1 là cơ sở để tiếp tục làm rõ nội dung ở chương 2
Trang 33CHƯƠNG 2 CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CÓ TỪ “LỬA”, “SÓNG”, “HẠT GIỐNG”,
“MẦM CÂY” TRONG THƠ THANH THẢO NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT
Như đã trình bày ở chương 1, BTCV cũng có hai mặt: cái biểu đạt và cái được
biểu đạt Ở chương này, luận văn sẽ miêu tả các BTCV có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo trên bình diện thứ nhất – bình diện cái biểu
đạt của chúng trên hai phương diện cơ bản: cấu tạo và quan hệ kết hợp trên trục ngữ đoạn của chúng Điều này nhằm mục đích tìm ra các đặc điểm hình thức của các phương tiện ngôn ngữ được tác giả sử dụng để quy chiếu trong diễn ngôn Với đặc điểm đó, nó cho thấy những nét riêng trong cách tổ chức ngôn từ nghệ thuật và hiệu quả mà chúng đem lại
2.1 Kết quả khảo sát
Với các tiêu chí xác định đối tượng khảo sát của khóa luận như đã trình bày ở chương 1, chúng tôi đã phân các BTCV khảo sát được thành 4 nhóm: nhóm BTCV có
từ “lửa”, nhóm BTCV có từ “sóng”, nhóm BTCV có từ “hạt giống”, nhóm BTCV có
từ “mầm cây” Kết quả khảo sát tổng quát của khóa luận được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1 Các nhóm BTCV có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây”
trong thơ Thanh Thảo
1 Lửa Khói bếp, lửa, cỏ cháy, vòm lá đỏ, ngọn
đèn, ánh đuốc đỏ, đốm nhang đỏ, mặt trời 47 61
4 Mầm cây Nảy chồi, cỏ, mầm cây, chồi cây, mạ non,
lá me non, chồi non, nụ 12 16
Số liệu bảng 2.1 cho thấy:
- Nhóm BTCV có từ “lửa” và “mầm cây” có các yếu tố ngôn ngữ được khảo sát
chiếm số lượng bằng nhau (8 = 8 cùng chiếm 42%) và nhiều hơn so với hai BTCV còn lại, tuy nhiên giữa hai nhóm BTCV lại có số lượng khác nhau Nhóm BTCV có từ
“lửa” chiếm tỉ lệ nhiều hơn với 47/77 BTCV và chiếm 61%, trong khi đó nhóm
Trang 34BTCV có từ “mầm cây” chiếm tỉ lệ thấp hơn với 12/77 BTCV và chiếm 16% Mặt khác, BTCV có từ “lửa” vị trí sử dụng số 1 này còn cho thấy sự “ưu tiên” của tác giả
và khả năng quy chiếu của các BTCV trong thơ Thanh Thảo
- Nhóm BTCV đứng vị trí số 3 là nhóm BTCV có từ “sóng” với 15/77 BTCV và
chiếm 19% Dẫu cho các yếu tố ngôn ngữ được khảo sát thuộc nhóm BTCV có từ
“sóng” chiếm tỉ lệ thấp nhất trong tổng số 19 yếu tố ngôn ngữ (1/19 = 5%) Tuy nhiên,
điều đó cũng sẽ không ảnh hưởng tới quá trình quy chiếu của nhóm BTCV này
- Nhóm BTCV chiếm tỉ lệ thấp nhất là nhóm BTCV có từ “hạt giống” với 3/77
BTCV và chiếm chỉ 4%
Theo ngữ liệu của luận văn, có tất cả 19 yếu tố ngôn ngữ xuất hiện trong 77
BTCV thuộc 4 nhóm BTCV có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” kể trên
Tuy nhiên, trên thực tế, có sự xuất hiện nhiều hơn về số lượng của các BTCV nhưng chúng thường xuất hiện thành cặp đi liền trong từng cặp thơ Chúng tôi chỉ tính với số lượng là 1 và chỉ lấy BTCV đầu tiên trong câu Cụ thể như các trường hợp sau:
Mười tám hai mươi sắc như cỏ
Dày như cỏ Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ
(Khúc bảy – Chương 1 - Những người đi tới biển)
Khi sóng lớn chỉ biết là sóng lớn
(Khúc mười ba – Chương 2 - Những người đi tới biển)
tôi tin chồi tin nụ
(Trường ca chân đất) Trong khi tiến hành khảo sát ngữ liệu trên bình diện cái biểu đạt, chúng tôi xét kiểu cấu tạo của các BTCV dựa theo các tiêu chí ngôn ngữ học thường dùng để phân định các đơn vị ngôn ngữ nói chung và các đơn vị từ vựng, đơn vị ngữ pháp nói riêng
Ở luận văn này này, chúng tôi chỉ xét các BTCV có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”,
“mầm cây” ở dạng cấu tạo phổ biến nhất là danh từ và ngữ danh từ và một dạng cấu
tạo BTCV đặc biệt là kết cấu sóng đôi Số lượng và tỷ lệ giữa các kiểu cấu tạo BTCV này khá chênh lệnh, thể hiện ở bảng dưới đây:
Trang 35Bảng 2.2 Phân loại BTCV trong thơ Thanh Thảo theo kiểu cấu tạo
Số liệu thống kê trong bảng cho thấy, các BTCV có cấu tạo là ngữ danh từ chiếm
ưu thế hơn cả (40/77, chiếm 52%), tiếp theo là đến các BTCV có cấu tạo là danh từ (28/77, chiếm 36%) Các BTCV có cấu tạo là kết cấu sóng đôi có số lượng và tỷ lệ thấp nhất (9/77, chiếm 12%) Các BTCV có cấu tạo là danh từ và ngữ danh từ cùng chiếm tỷ lệ cao hơn đã khẳng định thêm một lần nữa ưu thế, vai trò quan trọng của các danh từ và tổ hợp mang danh từ tính trong việc thực hiện sự chiếu vật bằng ngôn ngữ
Tiếp theo đây, chúng tôi sẽ miêu tả đặc điểm cấu tạo của các BTCV có từ “lửa”,
“sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” trong thơ Thanh Thảo theo thứ tự các kiểu cấu tạo
có tỷ lệ từ cao tới thấp
2.2 Cấu tạo của các biểu thức chiếu vật có từ “lửa”, “sóng”, “hạt giống”,
“mầm cây” trong thơ Thanh Thảo
2.2.1 Biểu thức chiếu vật có cấu tạo là ngữ danh từ
Để thấy được đặc điểm của cấu tạo của các biểu thức chiếu vật là danh từ, luận văn đã tiến hành phân loại chúng dựa trên tiêu chí phương thức cấu tạo bao gồm: danh
từ, động từ, tính từ và các tổ hợp từ (như ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ…) Theo phương thức cấu tạo của tiếng Việt, các biểu thức chiếu vật trong thơ Thanh Thảo mà luận văn tập trung khảo sát là ngữ danh từ, danh từ và quan hệ kết hợp của các BTCV ở cấp độ cụm từ, cấp độ câu
Ngữ danh từ (hay cụm danh từ) là tổ hợp tự do có quan hệ chính phụ giữa thành
tố chính và thành tố phụ trong đó thành tố chính là danh từ
Trang 36Bảng 2.3 Bảng liệt kê các biểu thức chiếu vật là ngữ danh từ
trong thơ Thanh Thảo
1 4 Khói bếp mẹ con mình chợt ngừng
trên mái rạ
Khúc một – Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
2 29 Bằng ngọn lửa riêng bền bỉ suốt đời
mình
Khúc bốn– Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
3 37 Đập giữa rễ cây và chồi cây Khúc năm– Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
4 38 Như ngọn đèn ban đêm con mắt ban
ngày
Khúc năm– Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
5 40 Trong bếp lửa và chén canh môn
thục
Khúc năm– Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
6 60 Cây cổ thụ rồi còn sống lại mỗi chồi
cây
Khúc năm– Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
7 73 Khi nắng trưa dội lửa xuống đầu Khúc năm– Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
8 10 Đêm đốt lửa thấy xum quanh bạn bè Khúc sáu – Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
9 12 Xích gần đống lửa cây xoè tay hơ Khúc sáu – Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
10 20 Ấm như cầm một mầm cây nhựa
bừng
Khúc sáu– Chương 1
Những người đi tới biển (1977)
11 13 Ngoài trảng tranh âm ấm nảy chồi Khúc một – Chương 2
Những người đi tới biển (1977)
12 7 Một khoảng ngắn giữa hai chấm lửa Khúc hai – Chương 2
Những người đi tới biển (1977)
13 22 Đốm nhang đỏ mắt ai nhìn nhức
nhối
Khúc bốn – Chương 2 Những người đi tới biển (1977)
Trang 37Stt Câu BTCV (in đậm) Trong bài thơ
Những người đi tới biển (1977)
15 11 Ép vào ngực tôi con sóng đen hào
hển
Khúc năm – Chương 2 Những người đi tới biển (1977)
16 11 Tàn lửa như sao băng tung toé khắp
trời
Khúc sáu – Chương 2 Những người đi tới biển (1977)
17 26 Giống lúa mới xem chừng chịu đất Khúc bảy – Chương 2
Những người đi tới biển (1977)
18 17 Biết quạt khói ban ngày che lửa ban
đêm
Khúc chín – Chương 2 Những người đi tới biển (1977)
19 20 Khi sóng lớn chỉ biết là sóng lớn Khúc mười ba – Chương 2
Những người đi tới biển (1977)
19 22 Con quý một chồi non mẹ dưỡng hết
cánh rừng
Khúc mười ba – Chương 2 Những người đi tới biển (1977)
20 8 Bắt đầu lại thời mạ non và hạt giống Khúc mười bốn – Chương 2
Những người đi tới biển (1977)
22 16 Biển hồn nhiên vỗ sóng đến vô cùng Khúc mười bốn – Chương 2
Những người đi tới biển (1977)
23 50 Trong ánh đuốc đỏ rần căm giận
Mục IV - Thử phác lại mấy chân
dung – Chương 3 Những người đi tới biển (1977)
24 103 Rất yên ổn mầm cây nở chìm trong
đất
Những gương mặt địa hình –
Chương 3 Những người đi tới biển (1977)
25 113 Màu lửa hoà trong màu ráng đỏ
Những gương mặt địa hình –
Chương 3 Những người đi tới biển (1977)
26 5 Sài Gòn chuyển rào rào muôn đợt lá
me non ngày chúng ta toàn thắng
Những người đã qua cung đàn
nhỏ – Chương 3 Những người đi tới biển (1977)
27 2 Có khi nỗi vui của ta trào sóng trắng Tám Hùng – Chương 3
Những người đi tới biển (1977)
28 34 Những chồi non sáng quắc giữa đêm Tám Hùng – Chương 3
Trang 38Stt Câu BTCV (in đậm) Trong bài thơ
đen Những người đi tới biển (1977)
29 83 Chúng tôi ngồi quanh ngọn đèn vặn
nhỏ
Không phải truyền thuyết –
Chương 3 Những người đi tới biển (1977)
Cấu tạo ngữ danh từ được thể hiện qua mô hình sau: thường gồm 3 phần chia làm
6 vị trí cụ thể và có ranh giới tương đối rõ ràng như sau:
Trang 39Bảng 2.4 Cấu trúc của ngữ danh từ được thể hiện qua mô hình
Vị trí-3 Vị trí-2 Vị trí-1 Vị trí 0 Vị trí 1 Vị trí 2 yếu tố chỉ
tổng thể
yếu tố chỉ lượng
vị trí như trên
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp thống kê BTCV là ngữ danh từ trong thơ Thanh Thảo
Số lượng
Tỷ lệ % trong tổng BTCV
*Đặc điểm cấu tạo của thành tố trung tâm trong ngữ danh từ làm BTCV
Theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, phần trung tâm của ngữ danh từ có thể gồm hai từ: danh từ đơn vị + danh từ chỉ sự vật Khi các danh từ thuộc các nhóm
“lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” nằm ở vị trí trung tâm, hầu hết chúng đều kết hợp với 1 danh từ chỉ đơn vị quy ước hoặc đơn vị chỉ loại để cùng làm trung tâm của
cả ngữ danh từ
Từ bảng số liệu trên cho thấy, thành tố trung tâm của các ngữ danh từ làm các
BTCV (Trong bếp lửa, con sóng, ngọn lửa, chân sóng, mỗi làn sóng, một ngọn lửa,
những giấc mơ quá lửa, những bài ca quá lửa, những chồi non, muôn đợt lá me non, Trong ánh đuốc đỏ, một chồi non, hai chấm lửa, một mầm cây, mỗi chồi cây…)
*Đặc điểm của thành tố phụ trước trong các ngữ danh từ làm BTCV
Số các BTCV “lửa”, “sóng”, “hạt giống”, “mầm cây” là ngữ danh từ có thành tố phần phụ khá nhiều nhưng không phong phú về mặt vị trí, chủ yếu là vị trí (-2) - chỉ lượng Trong đó có các thành tố phụ trước chỉ lượng xác định xuất hiện rất nhiều (những, mỗi, một, hai, ngọn, đốm, con…) và các thành tố phụ trước chỉ lượng ước
chừng (đợt, mấy, đống…), (ngọn lửa, ngọn đèn, mỗi chồi cây, đống lửa, một mầm cây,
Trang 40hai chấm lửa, đốm nhang đỏ, con sóng, một chồi non, đợt lá me non, ngọn đèn, những bài ca quá lửa, một ngọn lửa, mỗi làn sóng…)
Số các BTCV có cấu tạo ngữ danh từ có thành tố phần phụ ở vị trí -1 – yếu tố chỉ
xuất khá ít chỉ vài biểu thức “Chót vót trên kia thắm một vòm lá đỏ”
Thèm một ngọn lửa màu rơm
*Đặc điểm thành tố phụ sau trong các ngữ danh từ làm BTCV
Các BTCV có từ là ngữ danh từ có thành tố phụ sau chiếm số lượng nhiều hơn ngữ danh từ có thành tố phụ trước Cụm từ thành tố phụ sau ở vị trí 1 đa số xuất hiện nhiều hơn ở cụm từ thành tố phụ sau ở vị trí 2 Do vậy, số lượng các miêu tả tố trong một BTCV là ngữ danh từ cũng thường không nhiều Điều này gây một mặt nào đó khó khăn cho việc tiếp nhận của người đọc và nhận diện thực thể được quy chiếu Mặt khác, việc sử dụng các BTCV với ít miêu tả tố cũng do áp lực của cấu trúc các thể thơ, diễn ngôn trong thơ mang lại Tuy nhiên, với các thể thơ với nhịp điệu hài hòa trong câu chữ cũng phần nào đó tạo nên tính biểu đạt cao với khả năng diễn đạt của chúng là phong phú, đa dạng và tinh tế
Xét về cấu tạo (từ loại), thành tố phụ sau của các ngữ danh từ có thể là danh từ,
động từ, tính từ (đỏ, nâu, xanh, màu rơm, đen, hồng, lung linh sống động, hồn nhiên,
cháy, xô, đêm rừng…)
-Thành tố phụ sau của các ngữ danh từ là tính từ:
Những vòm cây lipa bùng ngọn lửa xanh ngời
- Thành tố phụ sau của các ngữ danh từ là danh từ/ngữ danh từ:
Tiếng ghita bếp lửa đêm rừng