1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI.CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM – NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP

14 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội. Công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam – những mâu thuẫn cơ bản và giải pháp
Tác giả Phạm Hoàng Ngọc Ánh
Trường học Học Viện Tài Chính
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội, Công bằng xã hội, Giáo dục đại học
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 88,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, vấn đề công bằng xã hội luôn được đặt ra, giải quyết và đạt được những thành tựu quan trọng góp phần nâng cao đời sống vật chất v

Trang 1

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

KHOA NGÂN HÀNG-BẢO HIỂM

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

ĐỀ TÀI:

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI.CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM – NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP

Người thực hiện: PHẠM HOÀNG NGỌC ÁNH

Lớp: CQ57/15.02LT2

Số thứ tự: 16

Thời gian thực hiện: Từ ngày 02/06/2020 đến ngày 05/06/2020

HÀ NỘI NĂM 2020

Trang 2

A.Phần mở đầu:

1.Tính cấp thiết

Chủ nghĩa xã hội (CNXH) là hệ thống những quan điểm phản ánh nhu cầu, ước

mơ của các giai cấp lao động bị thống trị về con đường, cách thức và phương pháp đấu tranh nhằm thực hiện một chế độ xã hộ mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về

xã hội không có áp bức bóc lột, mọ người đều bình đẳng về mọi mặt và đều có cuộc sống tự do, hạnh phúc

Công bằng xã hội (CBXH) là một hiện tượng, một quá trình xã hội, vận hành cùng với sự phát triển của nhân loại CBXH phản ánh mục tiêu, khát vọng và là thước

đo những thành tựu của con người trong quá trình đấu tranh, xây dựng, cải tạo và phát triển xã hội

Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, vấn đề công bằng xã hội luôn được đặt ra, giải quyết và đạt được những thành tựu quan trọng góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị,

xã hội; các cơ hội phát triển mở rộng cho đông đảo nhân dân; lợi ích tăng trưởng càng lớn và phát triển trên quy mô rộng…Tuy nhiên trong quá trình phát triển, thực hiện chủ nghĩa xã hội còn không ít các mặt tiêu cực như sự phân hóa giàu, nghèo quá mức giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng; tình trạng thất

nghiệp,thiếu việc làm còn xảy ra nghiêm trọng và vấn đề công bằng xã hội trong giáo dục đại học ở nước ta vẫn còn nhiều thiếu sót

Công bằng xã hội trong giáo dục đại học là một phần quan trọng của chính sách giáo dục Phát triển giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội Công bằng

xã hội trong giáo dục là đảm bảo cơ hội học tập và cơ hội cho mọi người, từ đồng bằng đến vùng xa, từ trẻ em bình thường đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Chính sách này được Nhà nước và cộng đồng hỗ trợ

Phấn đấu vì công bằng xã hội đã trở thành mục tiêu chung của các Đảng Cộng sản trong quá trình lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) Bài viết này, tìm hiểu quan niệm về chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội (công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam - những mâu thuẫn cơ bản và giải pháp)

Trang 3

2.Kết cấu của đề tài

A.Tính cấp thiết

B.Phần nội dung

Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.Chủ nghĩa xã hội

1.1.Điều kiện ra đời của chủ nghĩa xã hội

1.1.1.Điều kiện kinh tế - xã hội

1.1.2 Những tiền đề văn hóa – tư tưởng (tiền đề lý luận)

2.Công bằng xã hội

2.2.1.Đặc trưng cơ bản của công bằng xã hội

2.2.2 Nguyên tắc của công bằng xã hội

2.2.3 Điều kiện để thực hiện công bằng xã hội

2.2.4 Công bằng xã hội – mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Phần 2: Vận dụng giải quyết những vấn đề thực tiến.

1 Lý thuyết chung

2.Thực trạng

2.1.Thành tựu

2.2.Hạn chế

2.3.Mâu thuẫn

3.Giải pháp

Phần kết luận

B Phần nội dung

Trang 4

Phần I: Lý luận chung về chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội

1 Chủ nghĩa xã hội

1.1.Điều kiện ra đời của chủ nghĩa xã hội:

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, cuộc cách mạng chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ tạo nên nền đại công nghiệp cơ khí làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

có bước phát triển vượt bậc

Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân hiện đại trưởng thành bước lên vũ đài đấu tranh chống giai cấp tư sản với tư cách là một lực lượng

xã hội độc lập Giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có khả năng giải quyết những mâu thuẫn mà chủ nghĩa tư bản đã tạo ra

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ, đã bắt đầu có tổ chức và trên quy mô rộng khắp Tiêu biểu cho các phong trào công nhân lúc đó là: cuộc khởi nghĩa công nhân thành phố Liông (Pháp) 1831 – 1834; cuộc khởi nghĩa công nhân dệt Xêlidi (Đức) 1844; phong trào Hiến chương (Anh) 1838 – 1848 Những phong trào đó có tính quần chúng và mang hình thức chính trị Sự lớn mạnh của phong trào công nhân đặt ra yêu cầu bức thiết phải xây dựng một hệ thống lý luận khoa học và cách mạng

Đó là những điều kiện kinh tế - xã hội khách quan cho chủ nghĩa xã hội khoa học

ra đời để thay thế các trào lưu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa đã tỏ ra lỗi thời, không còn có khả năng đáp ứng phong trào công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, đồng thời chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời phản ánh bằng lý luận phong trào công nhân

1.1.2.Những tiền đề văn hóa – tư tưởng (tiền đề lý luận)

Đến đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực khoa học, văn hóa và tư tưởng Về khoa học tự nhiên có: thuyết tế bào của M Sơlayđen

và T Savanxơ (Đức); thuyết tiến hóa của Đ Đácuyn (Anh); thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của M Lômônôxốp (Nga) Về khoa học xã hội có: triết học

cổ điển Đức (Ph Hêghen, L Phơbách,…), kinh tế chính trị học Anh (Ađam Smít,

Đ Ricácđô,…), chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán (H Xanhximông, S

Trang 5

Phuriê, R.Ôoen,…) Những thành tựu của khoa học, văn hóa, tư tưởng đã tạo ra những tiền đề tư tưởng – văn hóa cho sự ra đời chủ nghĩa Mác nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, không những vì đời sống và thực tiễn, nhất là thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân đòi hỏi phải có một lí luận sai đường mà còn vì những tiền đề cho sự ra đời của lí luận mới đã được nhân loại tạo ra

Khái niệm : Chủ nghĩa xã hội (CNXH)

=> Theo nghĩa rộng: Chủ nghĩa xã hội khoa học là chủ nghĩa Mác- Lênin, luận giải từ các giác độ triết học, kinh tế và chính trị- xã hội về sự chuyển biến tất yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

=> Theo nghĩa hẹp: Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác – Lênin

1.2 Những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội

- Đặc trưng thứ nhất: Cơ sở vật chất – kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất công nghiệp hiện đại

- Đặc trưng thứ hai: Chủ nghĩa xã hội đã xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu

- Đặc trưng thứ ba: Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới

- Đặc trưng thứ tư: Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động – nguyên tắc phân phối cơ bản nhất

- Đặc trưng thứ năm: Chủ nghĩa xã hội có Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân

- Đặc trưng thứ sáu: CNXH đã giải phóng con người thoát khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển toàn diện

2 Công bằng xã hội (CBXH)

Trang 6

2.1 Khái niệm CBXH: Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử, công bằng xã hội thể hiện khát vọng của con người và là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội Công bằng xã hội là một giá trị nhằm định hướng cho sự phát triển con người được hình thành trên cơ sở của bình đẳng giữa những con người về nghĩa vụ và quyền lợi, về cống hiến và hưởng thụ, giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát triển…trên mọi phương diện của đời sống xã hội, phù hợp với điều kiện hiện thực của xã hội

2.2 Nội dung của công bằng xã hội

2.2.1 Đặc trưng cơ bản của công bằng xã hội:

CBXH là một phạm trù lịch sử, công bằng xã hội là sản phẩm của đời sống xã hội, nó phản ánh quan hệ giữa người với người xung quanh vấn đề lợi ích Hơn nữa, không chỉ chịu sự tác động bởi điều kiện kinh tế, quan niệm về công bằng xã hội còn chịu sự chi phối của các hình thái ý thức xã hội như ý thức chính trị, đạo đức, văn hóa của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Do vậy, công bằng

xã hội luôn có tính lịch sử Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, công bằng xã hội được nhìn nhận và giải quyết khác nhau Đánh giá về vấn đề này, Ăngghen viết:

“Công bằng của những người Hy Lạp và La Mã là sự công bằng của chế độ nô lệ Công bằng của giai cấp tư sản năm 1789 là những đòi hỏi phải xóa bỏ chế độ phong kiến mà nó coi là bất công”

CBXH vừa có tính giai cấp, vừa có tính xã hội, địa vị của từng giai cấp, nhóm

xã hội trong sản xuất, phân phối và trao đổi sẽ là nhân tố quyết định nhu cầu và lợi ích của họ và từ đó, chi phối quan niệm về công bằng của chính họ.Nhu cầu và lợi ích trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định sẽ là cơ sở, tiêu chí để hình thành và đánh giá quan niệm về công bằng xã hội của mỗi giai cấp CBXH là một trường hợp riêng của bình đẳng xã hội Bình đẳng xã hội được hiểu là sự ngang bằng nhau giữa người với người về một (hoặc một vài) lĩnh vực xã hội Bình đẳng được thể hiện ở các mối quan hệ: sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ; sự bình đẳng trong việc được hưởng quyền lợi; sự tương ứng hay không tương ứng giữa sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ với sự bình đẳng trong việc hưởng thụ quyền lợi khi thực hiện cùng một nghĩa vụ ấy CBXH được hiểu trong trường hợp thứ ba Như vậy, bình đẳng xã hội có phạm vi rộng và bao quát hơn CBXH Công bằng xã hội có khía cạnh bình đẳng, đồng thời có khía cạnh bất bình đẳng Như vậy, xét

Trang 7

đến cùng, không có bình đẳng trừu tượng, mà bình đẳng phải được thể hiện ở việc thực hiện CBXH

2.2.2 Nguyên tắc của công bằng xã hội:

CBXH là một nguyên tắc phân phối lợi ích , thước đo của nó là sự bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, được thực hiện đã khiến cho không một cá nhân nào cảm thấy bị “thiệt thòi”; dựa trên sự tự nguyện của các cá nhân, thúc đẩy mỗi người tự nguyện” hoạt động hơn nữa”.Chính vì vậy, công bằng xã hội là một động lực tích cực tạo nên sự vận động và phát triển mạnh mẽ của xã hội

CBXH là công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển trước hết được hiểu là quyền của mọi người được tiếp cận ngang nhau với một cơ hội nào đó bất kỳ (ở đây chính

là bình đẳng về cơ hội) Về cơ bản, công bằng hàm ý một sự phân chia hay phân phối, còn khi không có sự phân biệt về quyền được tiếp cận các cơ hội phát triển thì đó là bình đẳng Việc đảm bảo công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển cũng chính là hình thức phân phối, chủ yếu dưới dạng phân phối gián tiếp, phân phối lại

từ các quỹ, các nguồn lực xã hội để tạo cho các cá nhân, các nhóm xã hội có điều kiện phát huy tối đa vai trò của mình đóng góp cho xã hội và được hưởng thụ công bằng Công bằng về cơ hội, điều kiện phát triển ở đây được xác định như là tiền đề

để đảm bảo CBXH thực sự

2.2.3.Điều kiện để thực hiện công bằng xã hội:

+ Kinh tế phát triển tạo tiền đề vật chất cần thiết cho việc đảm bảo thực hiện tốt các chính sách CBXH

+ Chế độ chính trị, đặc biệt là bản chất của giai cấp cầm quyền và của nhà nước ở mỗi nước chi phối, quy định CBXH và việc thực hiện CBXH ở nước đó

+ Các giá trị văn hoá và truyền thống lịch sử dân tộc của mỗi nước tác động và là một trong những động lực của sự phát triển của người dân và xã hội, hướng tới xã hội tươi đẹp, công bằng, nhân ái, văn minh chi phối mạnh mẽ việc thực hiện CBXH

+ Tính chất của thời đại Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa, kinh tế tri thức một mặt tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện tốt hơn CBXH.Tuy nhiên

nó cũng những mặt trái nhất định như sự phân chia giàu nghèo rõ rệt đòi hỏi các

Trang 8

quốc gia điều chỉnh các chính sách phù hợp với việc thực hiện CBXH đi đôi với xu thế phát triển chung của thời đại

2.2.4.Công bằng xã hội – mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Công bằng xã hội được coi là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội vì nó là một động lực phát triển kinh tế - xã hội, là yếu tố có tác động trực tiếp đến lợi ích của chủ thể hoạt động và do vậy, nó kích thích tính năng động, sáng tạo của mọi thành viên xã hội, huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực trong và ngoài nước vào việc phát triển kinh tế Có công bằng xã hội, người lao động mới phát huy hết nhiệt tình

và khả năng lao động, không ngừng nâng cao năng suất lao động để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có chất lượng cao Có công bằng xã hội, các nhà kinh doanh mới chịu bỏ vốn, chấp nhận rủi ro để đầu tư cho sản xuất Theo đó, có thể nói, công bằng xã hội là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo tăng trưởng kinh tế một cách ổn định, lâu dài, theo hướng tiến bộ xã hội

Tuy nhiên, tính giai cấp của công bằng xã hội cũng quy định, trong xã hội quan niệm công bằng của giai cấp thống trị sẽ luôn chi phối quan niệm công bằng chung của toàn xã hội Mặt khác, cũng không thể có công bằng xã hội chỉ có lợi cho một giai cấp duy nhất mà lại được toàn thể xã hội chấp nhận, vì rằng, tính giai cấp của công bằng xã hội chỉ có thể tồn tại trong tổng thể và dung hòa với ý chí, lợi ích chung của toàn xã hội với công bằng của từng cá nhân, giai cấp và nhóm người.Vì thế, chưa phải là công bằng xã hội thực sự, công bằng xã hội còn có tính xã hội, tức là công bằng chung, phổ biến của toàn xã hội, đó là điều kiện, môi trường để tính giai cấp của khái niệm này tồn tại và phát triển Xã hội càng phát triển, nhu cầu và năng lực thực thi công bằng xã hội của người lao động càng cao, càng đòi hỏi sự thống nhất trong thuộc tính giai cấp và thuộc tính xã hội của công bằng xã hội Như vậy, công bằng xã hội là mục tiêu phát triển của chủ nghĩa xã hội từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, mỗi bước phát triển của công bằng xã hội vừa là thước đo,vừa là điều kiện của trình độ văn minh và tiến bộ xã hội

Phần II: Vận dụng thực tiễn

1.Lý thuyết chung

Công bằng xã hội trong giáo dục luôn được coi là một nội dung quan trọng của chính sách giáo dục vĩ mô Điều 10 Luật Giáo dục (năm 2005) nêu rõ: “Học tập là

Trang 9

quyền và nghĩa vụ của công dân Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con

em dân tộc thiểu số, con em gia đình vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật và đối tượng hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.”

Thứ nhất, công bằng trong giáo dục đại học nói riêng và giáo dục nói chung là một phạm trù mang tính tương đối.Bất cứ công trình nào cũng chỉ là tương đối, là căn

cứ dựa trên một tiêu chuẩn nhất định nào đó, không có sự công bằng tuyệt

đối.Công bằng được chia thành nhiều cấp khác nhau: công bằng khởi điểm, công bằng trong quá trình và công bằng trong kết quả.Nên thực hiện công bằng trong giáo dục dựa vào việc phân loại các cấp, loại hình và thuộc tính dịch vụ công cộng của các loại hình dịch vụ khác nhau, đồng thời không ngừng nâng cao tiêu chuẩn công bằng trong quá trình phát triển giáo dục

Thứ hai, công bằng trong giáo dục đại học nói riêng và giáo dục nói chung là một phạm trù lịch sử, mang tính lịch sử.Trong lịch sử, xét từ góc độ “ai có thể tiếp nhận giáo dục” , công bằng trong giáo dục đã trải qua các giai đoạn công bằng “quyền lực”, công bằng “tiền bạc”, công bằng “năng lực” Nhân tố quyết định công bằng trong giáo dục phát triển từ mức độ thấp lên mức độ cao chính là trình độ sức sản xuất và tính chất xã hội

Thứ ba, công bằng trong giáo dục đại học nói riêng và giáo dục nói chung là một phạm trù mang tính khu vực Con người thường sống và lao động trong một phạm

vi nhất định và có liên hệ với thế giới bên ngoài, xã hội tiến hành quản lý dựa trên phạm vi khu vực đó; cảm nhận của con người về mức độ của công bằng cũng bắt nguồn từ việc so sánh với đối tượng khác ở trong cùng khu vực

Thứ tư, công bằng trong giáo dục đại học nói riêng và giáo dục nói chung là một phạm trù phán đoán giá trị, mang tính chủ quan.Khái niệm của công bằng là sự đánh giá của con người đối với hiện thực xã hội

2 Thực trạng và mâu thuẫn cơ bản trong công bằng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

2.1.Thành tựu

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Trưởng ban Đào tạo đại học và sau đại học, ĐH Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh giáo dục đại học (GDĐH) là cấu thành vô cùng quan trọng của hệ thống giáo dục, bởi nói đến GDĐH là nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao - chính là giá trị cốt lõi - là chìa khóa để đất nước chúng ta

có thể nắm bắt được những thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại và những vận hội mới, đưa đất nước ta vượt qua thách thức, tiến lên phía trước, sánh vai với các nước năm châu

-GDĐH Việt Nam hội nhập và tiếp cận chuẩn mực quốc tế, có sự đổi mới toàn diện và hội nhập của GDĐH Việt Nam so với quốc tế trong thời gian qua

+ Tính đến nay (05/2020) đã có 143 trường đại học được công nhận đạt chuẩn chất lượng cơ sở đào tạo theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế Đối với từng chương trình đào tạo, có tất cả 222 chương trình của 31 trường đại học được đánh giá, công nhận chuẩn trong nước và quốc tế Trong đó có 65 chương trình được đánh giá, công nhận theo chuẩn trong nước và 157 chương trình theo chuẩn nước ngoài + 10 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng; 06 trường đại học được đánh giá ngoài và được công nhận theo tiêu chuẩn đánh giá cơ sở giáo dục của Hội đồng Cấp cao về Đánh giá nghiên cứu và GDĐH Pháp (HCERES) và Mạng lưới đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN (AUN-QA); 107 chương trình đào tạo được đánh giá ngoài và công nhận + Vào năm 2018, có 2 Đại học Quốc gia có tên trong danh sách xếp hạng 1000 trường hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS; trên 10 cơ sở GDĐH của Việt Nam có tên trong các bảng xếp hạng nghiên cứu SCImago Có 3 cơ sở GDĐH được chứng nhận 3 sao theo QS-Stars

-Tạo được sự đột phá, chuyển biến về chất lượng Chất lượng đội ngũ đã tăng lên từng bước, từng năm theo chuẩn quốc tế (không phải lo ngại về vấn đề kiến thức còn hạn hẹp)

+Năm 2013, trước khi có NQ29, tổng công bố quốc tế của cả Việt Nam hết sức khiêm tốn, ở mức 2309 bài, thì theo thống kê mới đây nhất của nhóm nghiên cứu độc lập của ĐH Duy Tân, tính từ 2017 đến thời điểm công bố vào tháng 6.2018, chỉ riêng các công bố quốc tế của 30 trường đại học Việt Nam hàng đầu trong danh

Ngày đăng: 19/08/2022, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w