Luận văn Danh nhân thời Trần và những đóng góp của họ trong lịch sử văn hóa Việt Nam trình bày những nhận biết danh nhân từ góc nhìn văn hoá học lịch sử; nêu thống kê tổng hợp về danh nhân nước Đại Việt thời Trần và những thành tựu văn hoá của họ.
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ DAO TAO: BO VAN HOA, THE THAO VA DU LICH
TRUONG DAI HQC VĂN HÓA HÀ NỘI TA hÊ g3
NGUYÊN THỊ TUYẾT
DANH NHÂN THỜI TRÀN VÀ NHỮNG ĐÓNG
GÓP CỦA HỌ TRONG LỊCH SỬ VĂN HOÁ
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số : 603106 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS HOÀNG VINH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2
khoa học của GS.TS Hoàng Vinh Những nội dung trình bay trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công
'bế dưới bắt kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người
khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường
VỀ sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 11 năm 2014 Tác
luận văn
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Chương 2: DANH NHÂN ĐỜI TRÀN NGUÒN TU’ LIEU DE NH
'NHỮNG NÉT VĂN HOÁ LỊCH SỬ THỜI THỊNH TRỊ CỦA VƯƠNG TRIÊU 37
2.1 Sơ lược giới thiệu sự phân chia các thời kỳ trong lịch sử văn hóa nước ta
2.3 Một số nhận biết về văn hóa - lịch sử thời thịnh của nhà Trần
2.3.1 Nhận biết về sự tiễn bộ văn hiến thời Trin 50
2.3.2 Nhận biết vẻ tên gọi chế độ chính trị của nhà Trần 34
2.3.3 Nhận biết về xu hướng vận động của vương triều Trần 58 2.3.4 Nhận biết về công việc lớn của nhà Trần thời thịnh trị 60
Trang 4
3.1 Những đóng góp của danh nhân thời Trần cho văn héa Vigt Nam
3.1.1 Đóng góp trong lĩnh vực tư tưởng chính trị - xã hội thời Trằn 1
3.1.2 Đóng góp trong lĩnh vực văn hóa - tôn giáo thời Trần 76
3.1.3 Đóng góp trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục 19
3.1.4 Đóng góp về văn hoá ~ nghệ thuật 81
3.1.5 Đóng góp trong các lĩnh vực khác thời Tran 85
3.2 Git danh nhân thời Trần trong văn hóa Việt Nam và những
3.2.1 Di sản của các vua Trần 89
3.2.2 Di chúc của Hưng Đạo Vuong Trần Quốc Tuan S1
3.2.3 Bài học về khoan thứ sức dân 92 3.2.4 Bài học về đoàn kết trong hoàng tộc 93
3.2.5 Bài học về ngoại giao mềm dẻo trong thái độ, nhưng cứng rắn về nguyên
3.3.1 Vài nét về thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị d sản văn hóa danh nhân95
3.3.2 Phương hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa danh nhân thời
Trang 5Uy ban nhân dân
United Nations Education Scientific and Cultural Organization
'Văn hóa Thông tin
Trang 61 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhân dân ta đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đắt nước, chủ động hội nhập
vào nền kinh tế thế giới Trong quá trình phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã
xác định ngày cảng rõ rằng rằng: văn hóa (trong đó có giá trị di sản danh nhân)
không chỉ là động lực và mục tiêu của sự phát triển, mà còn là nhân tố quan
trọng ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống xã hội trong giai đoạn phát triển mới Bài học kinh nghiệm từ nhiều thập kỷ qua trên thế giới đã chỉ ra rằng, những,
phương thức phát triển nào biết xem xét, coi trọng và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc thường có khả năng thành công cao và mang tính bền vững, ôn
xem dân tộc đó thé nào thi din tộc ấy cũng phải trình ra tờ giấy chứng minh nói
về các bậc hiển tài của đân tộc, như các nhà bác học, các văn nghệ sĩ, các nhà hoạt động chính trị lỗi lạc hay các vị tướng lĩnh, các doanh nhân tải giỏi Họ chính
là các vì sao danh nhân của đất nước, biểu hiện như các nhân cách văn hoá kiệt
xuất, toả sáng trên bầu trời văn hoá của dân tộc mình Chính họ làm nên bản sắc
iấy thông hành” để dân tộc hội nhập một
cách tự tin vào thể giới toàn cầu đa bản sắc
Ngày nay, tại thủ đô các nước văn minh, người ta thường dựng tượng đài
danh nhân ở các đền đài, cung điện văn hoá, trên các công viên, quảng trường,
Trang 7Bàn về vai trò của danh nhân, tức các bậc hào kiệt, hiền tài thời xưa không gi hơn là nhớ lại đoạn văn bia do Phó đô súy Hội Tao Đàn - Thân Nhân
Trung soạn vào năm Hồng Đức thứ 15 (1484), viết về khoa thi năm Đại Bảo
thứ 3 (1442) đời vua Lê Thái Tông Văn bia viết: “Hiển rải là nguyên khí của
quốc gia Nguyên khí thịnh thì thể nước mạnh rôi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp Bởi vậy các đắng đề vương chẳng ai lại không chăm lo việc bôi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trằng nguyên khí làm việc đâu tiên ” [L7, tr.5]
Nguyên khí nói ở đây chính là tiềm lực văn hoá tỉnh thần, kết tỉnh thành đội ngũ danh nhân hùng hậu của đất nước - nguồn lực quan trọng xây dựng nên nền thái bình thịnh trị, nói như ngày nay là tạo nên sự phát triển bền vững
Nhớ lại hồi đầu thế kỷ trước, cụ Phan Bội Châu - nhà cách mạng day
nhiệt huyết ở thời cận đại nước ta Năm 1905 cụ đang bôn ba tại nước Nhật, nghe tin Lương Khải Siêu nhà hoạt động Duy Tân của Trung quốc đang sống lưu vong tại Nhật Cụ liền viết thư xin gặp Nhận thấy lời lẽ trong thư thống thiết, sục sôi tắm lòng cứu nước, Lương tiên sinh bèn nhận lời tiếp cụ Trong
một lần trò chuyện, Lương Khải Siêu đã nói với cụ Phan như sau: “Quý quốc
chớ lo không có ngày độc lập, mà chỉ nên lo quốc dân không đủ tư cách độc lập mà thôi! Thực lực của quốc gia phải là dân trí, dân khí và nhân tai”
Suy ngẫm ra, nhận thấy ý kiến của Lương Khải Siêu cho đến ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá tri Bởi khi nước giành được độc lập mà dân trí thấp,
thì cũng khó mà duy trì được cái chủ quyển thiêng liêng ấy Nước không đủ nhân tài thì lấy ai mà bồi dưỡng nên dân trí và hun đúc nên dân khí? Dân trí,
dân khí và nhân tài là 3 thành tố nằm trong mồi quan hệ tương tác, tương sinh,
Trang 8Ong Lé Dur - m6t nhan si clia phong tro Dong du hoi dau thé ky trước,
đã thuật lại câu chuyện đăng trên báo Phụ nữ Tân văn số 107 ngày 5 tháng 11 năm 1931 Bài báo viết: “Nguyên khi nước Tàu mới phản chính (chỉ cuộc cách
mạng Tân Hợi năm 1911), Tôn Văn nhường chức tông thống cho Viên Thế
Khải rồi sang du lịch Tokyo Nhật Bản Hạ viện Nhật mở bữa tiệc long trọng
hoan nghênh Tôn thị Tiệc xong ngồi lại nói chuyện, ông Khuyển Dưỡng Nghị
~ thủ lĩnh Đảng quốc dân Nhật Bản nguyên là bạn thân của họ Tôn hỏi rằng:
Các ông nay đã thành công như vậy giỏi that! Ông xem tình hình Việt Nam như thế nào? Trong nước ấy có người nào tài giỏi không? Họ Tôn đáp lại rằng:
“Người An nam họ có căn tính nô lệ, tôi xem họ có cái gì là độc lập được đâu!"
[Tôn Văn qua thăm Hà Nội vào năm 1904, tro sé nha 22 phé Hang Buém] Ong
chính khách Nhật cười mà nói:
` điểm này tôi xin phép không đồng ý với tiên sinh Lấy chỗ sở kiến của tôi, thi tôi cho người Việt Nam giỏi lắm, họ có cái đắc tính độc lập lắm chứ Ông không nhớ Quảng Đông, Quảng Tây của ông là
thuộc dòng Bách Việt, đằng ở một khu đất Giao Chỉ hay sao? Thế mà Lường Quảng phải mắt với người Tàu từ bao giờ, ông nay mới trở thành người Tầu ” [Tôn Văn vốn sinh tại Quảng Đông, thuộc tộc A - Khách (Hakka) - một chỉ tộc trong Bách Việt]
Người Việt Nam cũng dòng Bách Việt ấy, cũng ở khu đắt Giao Chỉ
ấy, thế mà họ độc lập riêng thành một nước Trải Tống, Nguyên,
Trang 9mở nước về phương Nam thành một bản đồ rộng rãi Ông nói họ
không có cái đắc tính độc lập mà được như vậy hay sao? Ngày nay
họ thua Pháp vì không có khí giới tối tân, nhưng cứ xét lịch sử thì trong số Bách Việt chỉ có họ là thoát khỏi không bị Hán hoá Tôi tin
rằng: một đân tộc biết tự bảo vệ một cách bén bỉ như vậy, thì thế nào sớm muộn cũng lấy lại được quyên tự chủ Tôn thị nghe xong, cười
mà không nói duge gil ” [56, tr217]
Câu chuyện này xây ra đã ngót trăm năm Ý kiến nhận xét của hai chính
khách Nhật và Trung Hoa đã được thực tiễn lịch sử nước ta soi sáng Điều nhận
thấy đáng nói là: Ông chính khách Nhật Bản do am hiểu lịch sử nước ta, nên
đưa ra một nhận xét khách quan và giàu thiện cảm, còn ông chính khách họ Tôn, xuất phát từ mặc cảm tự tôn nước lớn, và có lẽ ông không đọc lịch sử Việt Nam, hoặc chi đọc sử Việt do người nước ông soạn thảo, nên nhận xét của ông
có phần thiên kiến và đầy “ngộ nhận” Cách đây mười năm Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có cho ra đời cuốn sách “Chủ nghĩa tam dân” của Tôn Trung Sơn
Sách giới thiệu 5 bai giảng chính trị của Tôn Văn tại trường quân sự Hoàng
Phố (Quảng Châu) vào thập niên 20 của thế kỷ trước Trong các bài giảng này,, Tôn thị ba lần lên án triều đình Mãn Thanh “da dé mat An nam cho Pháp và
mắt Miến Điện cho Anh” trong thời cận đại Đây lại là một “
tgộ nhận” nữa của
Tôn tiên sinh, tuy nhiên nó không phải là hiện tượng đơn nhất Bởi phần đông
những người lãnh đạo mang tâm thức của chủ nghĩa bá quyển đại Hán tộc ngày nay đều có quan niệm như thết Chính vi vậy, chúng ta cằn tập trung quảng bá những thành tựu nghiên cứu lịch sử văn hoá nước nhà để trả lại hiện thực lịch
sử chính đáng cho đất nước Đây cũng là lý do để chúng tôi thực hiện luận văn
này.
Trang 10
Nhà Trần có một vị trí lịch sử đặc biệt với những chiến công hiển hách, với
những danh nhân đã đi vào ký ức của nhiều thế hệ như các vị vua anh minh sáng, suốt: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông , những vị tướng
quyết đoán tài ba đã ba lần chiến thắng đội quân xâm lược của đế quốc Nguyên
Mông như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuần, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật
cùng với nhiều di tích liên quan đến thời Trần, phân bó trên phạm vi rộng ở các
tỉnh: Nam Định, Thái Binh, Quảng Nĩnh Di sản văn hóa thời Trần là tài sản quý
giá do cha ông để lại cho hậu thế Trong thời kỳ hiện tại với xu thế hiện đại hóa đất nước và hội nhập với bốn bể năm châu, chân giá trị của di sản văn hoá thời Trần vẫn tỏa sáng chói lọi và trường tồn cùng dân tộc
Xuất phát từ nhận thức về việc phát huy vai trò của giá trị dĩ sản văn hóa
danh nhân đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Danh nhân thời Trân và
những đóng góp của họ trong lịch sử văn hóa Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp, hệ đào tạo thạc sĩ chuyên ngành văn hóa học tại trường Đại học Văn hoá Hà Nội
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
'Ở nước ta, vấn đề giá trị danh nhân được đặt ra từ lâu, đã thu hút sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy vậy, các nhà nghiên cứu, biên soạn thường
mới tập trung vào hướng sưu tầm, chỉnh lý và công bố tư liệu về danh nhân
dưới dạng những cuốn từ điển như: Lược truyện các tác gia Viet Nam (1971- 1972) do cụ Trần Văn Giáp chủ biên; Từ điền nhân vật lịch sử Việt Nam (năm
1992) của Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế; Từ điển nhân
Nam (2004) do GS Dinh Xuan Lam va GS Trương Hữu Quýnh chủ biên; Nhân vật chí Việt Nam (2009) do PGS Vũ Ngọc Khánh chủ biên Ngoài ra còn có sách Những vì sao đất nước của Nxb Thanh niên; Danh nhân Hà Nội (2004)
lịch sử Việt
Trang 11thuật Hưng Yên xuất bản; Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 — 1919) (1993)
do tác giả Ngô Đức Thọ chủ biên; Danh nhân Kinh Bắc (1999) của tac gia Tran
Đình Luyện và Huy Cờ, v.v
Riêng đối với lĩnh vực tôn vinh danh nhân, các nhà nghiên cứu nước
ta cũng đã có một số bài viết như: JẺ việc người xưa khen thưởng, GS.TS
Nguyễn Xuân Kính (Viện nghiên cứu Văn hóa), Tạp chí văn hoá nghệ thuật,
số 10 và 11 năm 1997; Từ chế độ đãi ngộ đối với tưởng sĩ trận vong trong
lịch sử suy nghĩ về truyền thống uống nước nhớ nguôn của dân tộc Việt Nam,
Ngô Thế Long (Viện Hán Nôm), Tạp chí văn hoá dân gian, số 3, năm 1995; Những hình thức tôn vinh danh nhân trong xã hội Viét Nam, Nguyễn Tiên
Thư, Tạp chí văn hoá nghệ thuật, số 6, năm 2008 Một số luận văn thạc sĩ
văn hoá học đã nghiên cứu về danh nhân như: Báo rổn và phát huy giá trị của danh nhân văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước
#a của Diêm Thị Đường - Giảng viên trường Đại học Văn hoá Hà Nội, bảo
vệ tại khoa Văn hoá xã hội chủ nghĩa, thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Viện văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị - quốc gia
Hồ Chí Minh) năm 1998; ước đâu tìm hiểu nữ danh nhân trong lich sử văn
hoá truyền thông Việt Nam của Nguyễn Thị Tuyết ~ Giám đốc Bao tang Phu
nữ Việt Nam, bảo vệ tại khoa Sau đại học, trường Đại học Văn hoá Hà Nội năm 2000; Những hình thức tôn vinh danh nhân ở nước ta thời kỳ trước cách
mạng tháng Tám năm 1945 của Nguyễn Tiễn Thư, bảo vệ tại khoa văn hoá
xã hội chủ nghĩa - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2005
Luận án Danh nhân và những hình thức tôn vinh danh nhân trong lịch sử xã
hội truyễn thống Việt Nam của tiễn sĩ Nguyễn Tiến Thư chuyên ngành văn
hóa học bảo vệ tại Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam năm 2012, đã lý giải
Trang 12vấn đề lý luận về danh nhân và tôn vinh danh nhân trong xã hội truyền thống
ở nước ta
Căn cứ vào nội dung của những tư liệu văn bản kể trên, có thể nhận ra
hai hướng nghiên cứu văn hoá học về danh nhân:
Hướng Ì: chọn đối tượng nghiên cứu là các cá nhân danh nhân, biểu hiện
như là một nhân cách văn hoá kiệt xuất, là người đại diện mang vác các giá trị
tiêu biểu của thời đại, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hoá mới, làm phong phú cho đời sống tỉnh thần của cộng đồng người
Hướng 2: chọn đối tượng nghiên cứu là những nhóm danh nhân Đây không phải là các nhóm xã hội theo nghĩa xã hội học mà là các nhóm danh nhân
ưu tú xuất hiện trong tiến trình lịch sử (như danh nhân trong lịch sử xã hội truyền thống, tức là xã hội tiền công nghiệp) hoặc tập hợp danh nhân theo giới tính (như tập hợp danh nhân nữ trong lịch sử xã hội truyền thống Việt Nam)
hoặc tập hợp danh nhân quy tụ vào một vương triều nhất định (như danh nhân thời Lý ở Kinh Bắc) Theo hướng nghiên cứu này, danh nhân được quan niệm như là bộ phận của di sản văn hoá dân tộc, những thành tựu trong hoạt động sáng tạo của danh nhân được vận dụng như các dữ kiện văn hoá - lịch sử để
nhận biết về lịch sử văn hoá nước ta; cuối cùng vấn đề đặt ra là cần tìm ra các giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của danh nhân, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước
Dé tài luận văn này triển khai theo hướng thứ hai: “Đanh nhân thời Trần
và những đóng góp của họ trong lịch sử văn hoá Việt Nam” Đề tài chủ yếu đi sâu tìm tòi, phân tích, hệ thống hoá tư liệu về những đóng góp của danh nhân
thời Trần trên các bình diện văn hoá dân tộc Tôn vinh danh nhân và giáo dục nhân cách văn hóa cho thé hé trẻ trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa
là ý nghĩa thực tiễn mà luận văn hướng tới.
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu để làm sáng tỏ những đóng góp của các danh nhân thời Trần trong lịch sử văn hóa nước ta
3⁄2 Các nhiệm vụ nghiên cứu
~ Khái quát những đặc điểm về địa lý, lịch sử, xã hội - chính trị nước Đại
Việt thời Trần
~ Xây dựng cơ sở lý thuyết về danh nhân từ cách nhìn văn hoá học;
~ Xây dựng bảng thống kê tổng hợp về danh nhân nước Đại Việt thời Trần;
~ Khái quát về những thành tựu văn hoá của danh nhân đời Trần trong
lịch sử nước Đại Việt
~ Những bài học về văn hoá dựng nước và giữ nước từ kinh nghiệm nha Trin
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những đóng góp của những nhân vật tiêu biểu (danh nhân) của vương
triều Trần
4.2 Phạm vỉ nghiên cứu
Danh nhân nước Đại Việt thuộc vương thất nha Trin (1225-1400),
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn vận dụng các nguyên lý lý luận về văn hoá, các quan điểm của Đảng Công sản Việt Nam, của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá, trình bày danh nhân
như một bộ phận của di sản văn hoá dân tộc, đồng thời phân tích các thành tựu
Trang 14văn hoá của danh nhân như là nguồn tư liệu lịch sử để thức nhận các bài học
lịch sử về dựng nước và giữ nước do tiền nhân để lại
~ Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản của ngành sử học và văn hoá học như: phương pháp văn bản học, phương pháp luận sử học,
phương pháp liên ngành và các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu
6 Những kết qua và đóng góp của đề tài
~ Xây dựng hệ thống danh nhân thời Trần theo lịch đại và theo công trang;
~ Xây dựng hệ tiêu chí của danh nhân dé di t6i nhận diện đặc điểm của danh nhân thời Trần, góp phần làm phong phú thêm hệ thống tri thức về danh
nhân và tôn vinh danh nhân;
- Khăng định những đóng góp to lớn của danh nhân thời Trần;
~ Đề xuất một số giải pháp nhằm tôn vinh, giáo dục và phát huy giá trị danh nhân thời Trần trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
7 Kết cầu của luận văn
Ngoài phần mớ đâu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được xây dựng thành 3 chương
Chương 1: Nhận biết danh nhân từ góc nhìn văn hóa học lịch sử:
Chương 2: Danh nhân thời Trần nguồn tư liệu lịch sử để nhận biết
những nứt văn hóa lịch sử thời thịnh trị cña vương triều
Chương 3: Những đóng góp của danh nhân thời Trần đối với văn hóa
Việt Nam và những vấn đề đặt ra
Trang 15Chương 1 NHẬN BIẾT DANH NHÂN
GÓC NHÌN VĂN HOÁ HỌC LỊCH SỬ
Trong lịch sử hào hùng của đân tộc, danh nhân nước ta đã có những, cống hiễn to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền dân tộc, mở
mang bờ cõi Lúc sinh thời, bằng các hoạt động thực tiễn sáng tạo của mình,
danh nhân biểu hiện như những con chim đầu đàn, những người đi tiên phong
dẫn dắt quần chúng, cỗ vũ và phát huy tài năng cho mọi người, cùng phấn
đấu cho tiến bộ xã hội và cho lợi ích chung Khi khuất đi, nhân cách và vốn
kinh nghiệm của danh nhân hoá thành ký ức xã hội, tiềm nhập vào nguồn nội lực tỉnh thần, làm bệ đỡ vững chắc cho các thế hệ nói tiếp dự phóng vẻ tương
lại
Lần giở lại các trang sử cũ, nhận thấy trong thời kỳ có giặc ngoại xâm
đe doạ, ông cha ta thường nhắc lại những gương hy sinh lẫm liệt của các vị anh
hùng, hào kiệt, để tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ trẻ Các vị tướng tài trong lich
sử như: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ
khi cằm quân vào trận đều lấy chiến công của tổ tiên để động viên quân sĩ Trên đường hành quân, các vị tướng lĩnh đều kính cân thắp hương tại các đền thờ danh nhân, nhận thêm sức “âm phù” “đương trợ” để giành chiến thắng
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời khi đến thăm bộ đội cũng thường lấy sương trung liệt của các vị anh hùng dân tộc đề giáo dục cán bộ, chiến sĩ Người
Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà
Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng [38, tr.171-172]
Trang 16Danh nhân, có thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Chẳng hạn, có thể nghiên cứu tiểu sử danh nhân, rồi tập hợp lại xây dựng thành các bộ từ điển danh nhân tổng hợp hoặc chuyên ngành; danh nhân có thể nghiên cứu theo hướng tâm lý học sáng tạo, qua đó phục vụ cho việc đảo tạo nhân tài đât nước; danh nhân có thể nghiên cứu theo hướng xã hội học, để xem cần phải xây dựng thể chế xã hội như thế nào thì thu phục được nhân tài và phát huy được tài năng của họ Trong luận văn này, danh nhân được nghiên cứu theo cách tiếp cận văn hoá học lịch sử, xem danh nhân như những nhân cách văn hoá kiệt xuất, đã có những đóng góp sáng giá vào thời kỳ phục hưng văn hoá dân tộc
Đê tiến hành nghiên cứu danh nhân theo hướng phân tích văn hoá học
lịch sử, cần thống nhất quan niệm về một số khái niệm công cụ cơ bản được sử
dụng trong luận văn
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Trong đời sống xã hội, từ văn hoá được dùng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, vì thể nó trở thành đa nghĩa Cho nên, khi luận bàn các vấn đề liên quan đến văn hoá, người ta phải làm rõ nghĩa của thuật ngữ này
Trong hoạt động khoa học đã có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ văn
hoá Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng có một số điểm chung mà các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng: văn hoá là phương thức tổn tại (tức là hoạt động sáng
ống) chỉ có ở loài người, khác về cơ bản với t
các quần thé sinh vật trên trái đất Văn hoá là cái do con người học được mà
tạo để kiếm sí ức đời sống của
có, chứ không phải cái bẩm sinh do di truyền sinh học
Bàn về cội nguồn của văn hoá, nhà triết học, cỗ sinh vật học, linh mục
người Pháp Teilhard de Chardin (1881-1955) đã cho ra đời cuốn sách “Hiện
Trang 17* Van hoa la tống thể hoạt động sáng tạo, làm ra những sản phẩm mới gọi là những vật thể nhân tao (Artefactes), có người gọi là “ ;hiển nhiên thứ: hai” hay “thé giới nhân tạo”
* Hoạt động sáng tạo này diễn ra liên tục từ quá khứ đến hiện tại, nói lên
tính chất lịch sử của văn hoá Điều này có nghĩa là thế giới nhân tạo đang hiện
diện không phải tức khắc sinh thành mà nó được sáng tạo, sàng lọc qua thời
gian tích luỹ từ quá khứ đến hiện tại Đó là tính chất kế thừa lịch sử của hoạt
động văn hoá
* Hoạt động sáng tạo trong lịch sử đã hình thành nên một hệ thống các
giá trị, truyền thống và thị hiểu, gọi chung là “kệ thống các giá trị chuẩn mực
xã hội ” Đây chính là nội dung tinh than của khái niệm văn hoá
~ Thứ nhất, so với đồ đá đềo thì rìu đá mài được chế tác theo công nghệ
tinh vi hon, nhờ đó mà hiệu quả sử dụng cao hơn, đôi khi nó trở thành “vật
thiêng” được cả bộ lạc tôn thờ Đó là ý nghĩa tâm linh của công cụ sản xuất
- Thứ hai, nhờ quan sát trực tiếp, người ta có thể phân ra nhiều loại đá
khác nhau để 10 ra các loại công cụ và vũ khí khác nhau, thích hợp với
công năng của chúng và với nhu cầu của hoạt động sống của con người Điều
này nói lên ý nghĩa tiến bộ về nhận thức biểu thị trong công nghệ học
~ Thứ ba, công cụ được chế tác cân xứng, đôi khi có trang trí hoa văn,
nói lên ý nghĩa thâm mĩ mà chủ nhân của nó đạt được
Trang 18Xem như vậy, thì thế giới vật thể nhân tạo, xét về mặt tỉnh thn, chính là
thế giới ý nghĩa của văn hoá
GS người Nga A.X Ca-rơ-min, trong cuốn sách giáo khoa “Jăn hoá
“học ” của mình đã hình dung “thé giới ý nghĩa của văn hod" được cầu tạo thành
ba bình diện, có quan hệ “ương liên” và “ương tác ” qua lại với nhau trong một không gian văn hoá:
~ Thứ nhất, bình diện nhận thức nói về trình độ hiểu biết của thành viên trong xã hội;
~ Thứ hai, bình điện giá trị nói về hệ thống giá trị mà xã hội theo đuổi;
~ Thứ ba, bình diện điều tiết nói về luật pháp và các phong tục, tập quán được vận hành để điều chỉnh các hành vi xã hội
Ba bình diện trên là những trục cơ bản xác định không gian văn hoá của
một cộng đồng xã hội
* Cuối cùng, hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội được xem là cái tạo
nên bản sắc văn hoá của một cộng đồng người
Trong việc nghiên cứu văn hoá, các nhà khoa học còn chia thành hai
dạng: văn hoá cá nhân và văn hoá cộng đồng
- Văn hoá cá nhân nhấn mạnh vào tài năng sáng tạo của cá nhân, gồm
toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm tích luỹ vào một con người, biểu hiện ra ở
định hướng giá trị (lý tưởng) và toàn bộ phương thức hành xử của người ấy trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với bản thân người ấy Văn hoá
cá nhân phát triển đến đỉnh cao, thì trở thành danh nhân
~ Văn hoá công đồng là văn hoá của một nhóm xã hội, nó không phải là
số cộng giản đơn của những văn hoá cá nhân - thành viên của cộng đồng, mà
là toàn bộ hệ giá trị và chuẩn mực xã hội và các phương thức hành xử được các
Trang 19thành viên trong cộng đồng chia sẻ và tự giác thực hiện, đã trở thành truyền
thống của họ
“Trong luận văn này, văn hoá danh nhân là thuộc dạng văn hoá cá nhân,
còn văn hoá danh nhân đời Trần là thuộc dạng văn hoá cộng đồng Định nghĩa
văn hoá của Federico Mayor vừa giới thiệu trên đây là thuộc dạng thứ hai 1.1.2 Khái niệm danh nhân
“Theo nghĩa thông thường thì danh nhân là người có danh tiếng, được
nhiều người biết đến Danh tiếng ở đây phải là tiếng thơm, gắn với phẩm chất
cao quý cả về tài năng và đức độ, được số đông các thành viên trong cộng đồng
ngưỡng mộ
“Tuy vậy, không phải mọi người nỗi tiếng đều được gọi là danh nhân, bởi trong xã hội có một bộ phận người muốn “nổi danh” bằng bắt cứ giá nào thậm chí có người còn cố ý gây “tai tiếng” (xì - căng - đan) để mọi người biết tên
Đó là những người nỗi danh bằng động cơ “bắt chính”
Trong lịch sử thường có hai loại nhân vật: Chính diện là những người yêu nước, thương dân, suốt đời phấn đầu, hy sinh mưu hạnh phúc cho dân tộc Phản diện là những kẻ bán nước, buôn dân, làm việc gì cũng nhằm vào lợi ích vị kỷ, Hai loại nhân vật trên đều nỗi tiếng, nhưng anh hùng thì lưu danh muôn đời, còn
gian hùng thì lưu xú (tiếng xấu) vạn niên Đó là lẽ công bằng của tạo hóa
‘Tom lại, danh nhân là danh xưng chỉ chung các người nỗi tiếng, có những
đóng góp to lớn, xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học, giáo dục nghệ thuật, xã hội v.v góp phần thúc đây sự phát triển đất nước
trong từng giai đoạn lịch sử, có đạo đức trong sáng, được nhà nước tôn vinh và
tưởng lệ công trạng, được nhân dân suy tôn thành biểu tượng, treo gương cho hậu thế noi theo.
Trang 20“Từ cách nhìn văn hóa học có thể nhìn nhận danh nhân trong bắt cứ lĩnh vực hoạt động nào cũng có thể xem như một cá nhân có nhân cách văn hóa kiệt xuất, thể hiện ở ba tiêu chí sau:
~ Tài năng xuất chúng thể hiện ở những cống hiến quan trọng, đóng góp
vào tiến bộ xã hội;
- Đạo đức cao cả, biêu hiện ở tỉnh thần xả thân vì nghĩa lớn, nêu gương
sáng cho đời sau;
~ Do có tải đức vẹn toàn, nên danh nhân thường được nhà nước vinh danh
và ban thưởng công trạng, nhân dân suy tôn thành biểu tượng, mãi mãi đáng tự hào
1.1.2.1 Danh nhân - một nhân cách văn hóa kiệt xuất
Như phần trên đã phân tích, danh nhân thuộc dạng văn hóa cá nhân - tức
văn hóa của một con người Trong lịch sử hình thành và phát triển, con người
không ngừng sáng tạo ra các giá trị văn hóa Một trong giá trị ấy chính là nhân cách của nó,
'Cũng giống như văn hóa, nhân cách là một thuật ngữ có hàm lượng nghĩa
phong phú và phức tạp Khái niệm nhân cách lần đầu tiên được hai nhà tâm lý người Đức là Dilthey và Spranger đưa ra vào khoảng cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, đề nói về con người đã phát triển toàn điện Điều ấy có nghĩa là: Người ta không thể nói
ìn nhân cách của loài vượn, cũng không thê có nhân
cách ké sơ sinh
GS tâm lý học Xô viết A.N Lê-ôn-chỉ-ép quan niệm:
Thông qua hoạt động mà chủ yếu là lao động, mỗi người tự sinh thành, tạo dựng và phát triển ý thức của mình, nhờ đó mà cá thể người trở thành nhân cách Nhân cách là một cấu trúc tâm lý mới, được hình
thành trong các quan hệ sống của cá nhân, do hoạt động của người
đi mà thành [31, tr.197-198]
đó cải
Trang 21Nhà nghiên cứu văn hóa Xô viết E.V.Xô-cô-lốp trong cuốn sách “ăn khóa và nhân cách " [S6] đưa ra một quan niệm cho rằng: khái niệm nhân cách không chỉ đóng khung trong tâm lý học, mà nó được sử dụng rộng rãi trong các khoa học xã hội và nhân văn Mỗi khoa học nghiên cứu con người khi
xem xét về nhân cách thường tập trung chú ý vào tô hợp các thuộc tính đặc
trưng, cho tính toàn vẹn cá nhân, nhắn vào tính tự quyết và tính chủ động, tích cực của nó Chẳng hạn, nhà đạo đức học quan tâm đến con người như một chủ thể đạo đức, có ý thức về tự đo, nghĩa vụ, lương tâm, biết giữ gìn danh dự và phẩm chất có biểu thị tình cảm trước các hành động chính nghĩa va phi nghĩa
Đó là nhân cách đạo đức Theo quan điểm xã hội học thì nhân cách xã hội
vừa là sản phẩm của tổng thể các mối quan hệ xã hội, vừa là chủ thể của đời sống xã hội Đó là thành viên của một công đồng xã hội nhất định, nắm vững
và tự giác thực thi hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội của cộng đồng ấy Dựa vào sự phân tích trên đây, xuất phát từ góc nhìn văn hóa học, thì nhân cách văn hóa biểu hiện ra như là diện mạo người sáng tạo, người đại biểu
chuyên chở hệ giá trị và chuẩn mực của một cộng đồng xã hội nhất định Ở đây, đặc điểm trội nhất của nhân cách văn hóa biểu hiện ở năng lực sáng tạo của nó
Sáng tạo văn hóa chính là hình thức tự khẳng định, tự bộc lộ nhằm phát huy các lực lượng bản chất người của nhân cách văn hóa Trong lịch sử thế giới, mỗi nền văn hóa lớn thường sản sinh ra các mẫu nhân cách văn hóa tiêu biểu
Chăng hạn người ta nói: Tăng lữ là mẫu nhân cách văn hóa của nền văn hóa Án
Đô cổ đại; quân tử là mẫu nhân cách văn hóa của nền văn hóa Nho Giáo Trung Hoa cỗ - trung dai; triét gia va nghệ sĩ là hai mẫu nhân cách văn hóa của văn
hóa Hy Lạp cô điển; xa-mu-rai (võ sĩ) là mẫu nhân cách văn hóa của Nhật Bản
thời trung đại v.v,
1.1.2.2 Vấn đề phân loại và phân cấp danh nhân
Trang 22Phân loại là van dé khoa học, nhưng ở nước ta chính thức chưa có một khoa học về danh nhân Vì vậy, ở đây nói phân loại danh nhân là phân chia danh nhân theo tỉ
một vương triều Việc phân loại này dẫu sao vấn mang tính quy ước Các nhà
chí nghề nghiệp, để tiện cho việc miêu tả danh nhân của
sử học thời xưa không dùng thuật ngữ danh nhân mà gọi là nhân vật lịch sử ghỉ
trong các liệt truyện Theo quan niệm của chúng tôi, thì danh nhân và nhân vật
lịch sử vừa giống nhau lại vừa khác nhau Họ giống nhau ở chỗ đều là những người nôi tiếng, được nhiều người biết, nhưng khác nhau là: nhân vật lịch sử
có chính diện và phản diện, còn danh nhân thì luôn là những nhân vật tích cực, được người đời noi gương
Trong sách “Lịch triều hiến chương loại chí”, nhà sử học Phan Huy Chú
đã chia các nhân vật lịch sử thành 5 loại là:
~ Dòng chính thống các đề vương
~ Người phò tá có công lao, tài đức
~ Tướng có tiếng và tài giỏi
~ Nhà nho có đức nghiệp
~ Bề tôi tiết nghĩa [7, tr 153]
Hoặc như, sách “Nam hải di nhân liệt truyện” của cụ Phan Kế Bính chia
thành tám chương, mỗi chương là một loại nhân vật:
~ Các Bậc đại anh kiệt,
Trang 23Nhìn chung, các nhà nho xưa chưa quan tâm đến khoa học, nên phân loại
chưa được rành mạnh Sự kiện này đã được nhà văn Phan Khôi phân tích trong
bài “Người Việt Nam với óc khoa học” (Về sự phân loại) Bài viết đã đăng trên
báo Tao Dan số 3 ngày 1/4/1939 [35, tr 309-322]
Nhìn chung, các dân tộc có quá trình lịch sử lâu đời thường hình thành hai nhóm danh nhân: danh nhân huyền thoại và danh nhân lịch sử
~ Danh nhân huyền thoại là các nhân vật mà truyện kể về họ gắn liền với quá trình hình thành dân tộc đó, diễn ra từ thời hồng hoang của lịch sử Truyện được dân gian kể lại theo lối truyền khẩu từ thế hệ trước sang thé hệ sau Trong, lịch sử nước ta, các nhân vật văn hoá như: cha Lạc Long quân, mẹ Âu Cơ, các 'Vua Hùng, Sơn tỉnh, Thuỷ tỉnh, Thánh Gióng, Lang Liêu làm ra bánh chưng,
bánh dày, Mai An Tiêm tìm ra dưa hấu v.v là những danh nhân huyền thoại
~ Danh nhân lịch sử là những nhân vật lịch sử hiện thực, xuất hiện vào thời kỳ xã hội đã phân tầng sâu sắc, có thể đã có nhà nước và văn tự Danh nhân lịch sử nước ta có thể bao gồm các vị anh hùng dân tộc như: Bà Trưng, Bà
Triệu, Lý Bôn, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẫn và nhiều vị
anh hùng khá:
Khi xã hội đã phân hoá sâu sắc, thì đồng thời xuất hiện sự phân công giữa lao động chân tay và lao động trí óc Trong điều kiện ấy danh nhân được phân chia ra các dạng, tương ứng với các hoạt động xã hội - nghề nghiệp chính
yếu, đã được chuyên môn hoá, như: chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, khoa học, y dược, đạo đức, tôn giáo, văn nghệ, giải trí, thể thao v.v
“Các hoạt động xã hội - nghề nghiệp như chính trị, quân sự, kinh tế thì đã
rõ, riêng có các hoạt động đạo đức và tôn giáo, thì xin giải thích như sau;
Danh nhân nêu gương đạo đức có thể là những người dân bình thường
nhưng có hành vi cao cả, như: quên mình cứu nước, đám xả thân vì nghĩa lớn
Trang 24
+ Danh nhân quốc gia là các nhân vật văn hoá
nước, mở nước và trị nước Đó là các vị anh hùng dân tộc như: Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Cong Uan, Trin Hung
= lich sử đã có công cứu
Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ v v đã viết nên những trang sử vẻ vang của kỷ nguyên Đại Việt
+ Danh nhân thế giới là những nhân vật văn hoá của nước ta được các tô
chức thế giới vinh danh hoặc kỷ niệm:
Vio thé ky XIX, nude ta có nhà bác học Trương Vĩnh Ký (1837- 1898) thông thạo nhiều ngoại ngữ, ông có nhiều công trình biên khảo, góp phần thúc đẩy sự hình thành nền văn chương quốc ngữ
“Thế kỷ XX nước ta có ba danh nhân được thế giới kỷ niệm là:
~ Nhà thơ Nguyễn Du (1765 - 1820) Nhân dịp 200 năm ngày sinh, năm
1965 ông được Hội đồng Hoà bình thế giới ky niệm
~ Nguyễn Trãi (1380 -1442) Nhân dip 600 năm ngày sinh, năm 1980 ông được UNESCO kỷ niệm
- Hồ Chí Minh (1890 - 1969) Nhân dip 100 năm ngày sinh, năm 1990 ông được UNESCO ra nghị quyết kỷ niệm
1.2 Danh nhân - bộ phận của di sản văn hoá dân tộc
Theo cach hiểu thông thường, thì di sản là tài sản của thế hệ (thời đại)
trước truyền lại cho thế hệ (hoặc thời đại) sau, làm nên sự liền mạch văn hoá,
vận động theo hướng tích luỹ làm cho vốn văn hoá của cộng đồng người ngày
một giàu có thêm lên
Ngay từ khi hình thành về mặt giống loài trong buôi bình minh của lịch
sử, con người đã có sở thích bản năng là thu giữ những kỷ vật của quá khứ, bảo
Trang 25tồn những kỷ niệm như là vốn kinh nghiệm sống trao truyền cho đời sau Các
bức tranh vẽ trên vách hang động, xuất hiện vào thời đại đồ đá cũ hậu kỳ cách đây 5 - 6 vạn năm, nói về cảnh chiến tranh giữa các thị tộc, cảnh săn bắn thú rừng, hoặc cảnh lễ hội, liên hoan xung quanh đống lửa được xem như là các bản thông điệp của quá khứ Các ngôi mộ vua, chúa, thủ lĩnh thời cổ đại thường,
có chôn theo các đồ tuỳ táng, gắn với đời sống xa hoa và quyền lực của chủ nhân, cũng nói lên ý nghĩa bảo tồn kỷ vật Sự ra đời của kho báu, các nhà sưu tập cổ vật, các nhà chép sử đều xuất phát từ ý niệm đó
Nói khác đi là, con người thuộc loài động vật duy nhất trên hành tỉnh
không chỉ sống bằng hiện tại, mà họ còn say mê tích luỹ quá khứ, nhờ đó ma
có khát vọng dự tính mạnh mẽ vẻ tương lai Khi hiện tại trở thành quá khứ, những tải sản do con người tích luỹ được sẽ trở thành vốn di sản văn hoá
Di sản văn hoá chính là cơ sở tảng nền của môi trường văn hoá - cái nôi hình thành và hun dúc nên nhân cách con người Trẻ em vừa ra dời là được
nuôi dưỡng trong môi trường văn hoá Đó là vốn tài sản văn hoá mà thế hệ trước đã giành sẵn cho chúng Trẻ có nhiệm vụ học tập, tiếp nhận tiến tới chiếm
lĩnh toàn bộ vốn văn hóa cộng đồng, để trở thành thành viên mang bản sắc văn hóa của công động ấy
Thế giới nhân tạo ấy vô cùng phong phú về loại hình Có những vật thể
do thiên nhiên tạo ra như dòng sông, trái núi, thú dữ, cây rừng, biển đảo v.v
Nhưng khi con người qua tìm tòi và trải nghiệm trong hoạt động sống đã thức nhận ra các vật thế ấy có thể mang lại lợi ích cho mình, bèn đặt tên cho các vật thể ấy Đặt tên cho sự vật được xem là hành động đánh dấu, biến các vật thể của tự nhiên thành vật thể thuộc quyền sở hữu của con người Tên họ, tên làng,
tên núi, tên sông đọc lên bao giờ cũng gây xúc động “thiêng liêng”, bởi chúng
Trang 26chính là sản phẩm của ý thức sáng tạo tập thể của cộng đồng người Vì vậy, chúng cũng là một bộ phận của thế giới nhân tạo, tức thể giới văn hóa
Thế giới văn hóa tồn tại dưới ba hình thái: Hình thái vật thẻ, hình thái
phi vật thể và hình thái người
~ Tài sản văn hóa vật thê mang tính chất hữu hình, nghĩa là nó tồn tại
dưới dạng những vật thê có chiếm hữu một không gian nhất định Vi dụ: công
cụ sản xuất, vũ khi, đền đài, lăng tâm, thành quách, tranh tượng là những tài
sản văn hóa vật
- Tài sản văn hóa phi vật thể tổn tại dưới dạng những vật không có hình
thể, như: Nhạc, múa, nghệ thuật trình diễn, lễ hội, chuyện kề, huyển thoại ;
- Tai sin văn hóa con người biểu hiện tập trung ở danh nhân - những nhân vật có nhân cách kiệt xuất, có tài năng độc sáng và đạo đức cao cả, đóng
góp to lớn cho tiến bộ xã hội, treo gương sáng cho các thế hệ noi theo
Mỗi con người là một cá thể tỉnh thần độc đáo, vì thế chúng tôi xếp riêng
ra một hình thái Nhưng khi cần hòa chung vào hai hình thai: vat thé/ phi vat thể, thì bản thân danh nhân cũng bao gồm đủ hai hình thái: danh nhân đang sống thuộc hình thái vật thể, danh nhân đã khuất để lại tắm gương nhân cách thuộc hình thái phi vật thé
Mỗi tài sản văn hóa dù là vật thé hay phi vat thể đều hàm chứa trong đó
một tổ hợp giá trị văn hóa
Giống như vậy, danh nhân một mặt là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn
hóa, mặt khác danh nhân còn là đại biểu mang vác các giá trị văn hóa do cộng động sáng tạo ra Đó là mẫu nhân cách - sản phẩm của công đồng văn hóa ấy
Nhân cách là một giá trị tức một tài sản văn hóa Vì thế các nhà tâm lý học
Trang 27thường nói: Con người bằng hoạt động của chính mình, đã sáng tạo ra nhân cách của mình
Giá trị nhân cách cũng phải được sàng lọc qua thời gian mới trở thành
tải sản văn hóa đặc sắc, tiềm nhập vào vốn di sản văn hóa chung của cộng đồng
Danh nhân là thuộc đạng nhân cách kiệt x
là tài sản văn hóa của dân tộc Xét về mặt lý thuyết, quan niệm danh nhân là bộ
phận của di sản văn hóa dân tộc, đã trở thành chân lý hiển nhiên
L đương nhiên phải được ghi nhận
Tuy vậy, trong thực tiễn phân công lao động xã hội hiện nay ở nước ta,
ngành quản lý di sản văn hóa mới chỉ quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy
hai dang di sản văn hóa: vat thé và phi vật thể Luật di sản văn hóa, được Quốc hội nước ta thông qua năm 2001, sửa đổi và bổ sung năm 2009, vẫn chưa xem danh nhân như một dạng tài sản văn hóa đặc biệt, đây là điều đáng tiếc, nhưng, chúng ta cần chờ đợi
Để phân biệt một tài sản văn hóa khác với một vật phẩm thông thường (cũng giống như phân biệt một danh nhân với một người bình thường) chúng tôi xin nêu lên một số điểm như sau:
“Thứ nhất, đặc trưng quan trọng của tài sản văn hóa (cũng như của danh
nhân) là ở phẩm chất sáng tạo độc đáo, biểu hiện bằng sự tích lũy thông tin, nói lên kỹ năng hoạt đông, kinh nghiệm sống, tri thức về tự nhiên, xã hội và con người mà chủ thể sáng tạo đã đạt được
Vi du: Giả định các hình khắc trên mặt và thân trống đồng được xem như
một thứ bia ký, ghỉ chép các chữ cỗ nói về các hình thái sinh hoạt của cư dân văn hóa Đông Sơn Nếu nhà nghiên cứu tìm ra được ngữ pháp (code) để đọc
các loại chữ cổ này Thì hoàn toàn có thể phục dựng lại diện mạo văn hóa - lịch
sử của cư dân chủ nhân của nền văn hóa này
Hoặc giả, Thánh Gióng là một danh nhân huyền thoại Truyện kể về ông
là một sáng tạo của sức tưởng tượng dân gian, nói về người nông dân vùng châu
Trang 28thổ Bắc bộ, vốn hiền lành ít nĩi nhưng khi cĩ giặc ngoại xâm thì bổng lớn vụt
lên như một thiên thần, cưỡi ngựa sắt cầm roi sắt xung trận với tỉnh thần bất khả chiến bại Dẹp xong giặc ơng lại hồn nhiên bay vẻ trời
Thứ hai, tài sản văn hĩa phải mang tính biểu tượng, bộc lộ ra ở hình thái biểu hiện đặc sắc và cơ đọng của nĩ, cĩ khả năng gây xúc động tỉnh cảm và lý
trí đối với người tiếp cận Ví dụ: Chùa Một cột cịn gọi là chùa Diên Hựu xây
dựng vào thời Lý Xét về quy mơ hình thái thì chùa khơng phải là một cơng
trình kiến trúc hồnh tráng, mà chỉ nhỏ như ngơi miếu xinh xắn, cĩ hình dáng giống như một bơng sen khiêm nhường ngọ lên từ hồ nước Điều đặc biệt là
cơng trình kiến trúc này là đã miêu tả được giấc mơ của vua Lý Thái Tơng
(1028- 1054) thay Phật bà Quan Âm hiện trên tịa sen
Mỗi danh nhân thường được xem như một tượng đài văn hĩa Vì thế, đến tham quan thủ đơ các nước văn minh, chỉ cần tiếp xúc với những tượng đài kỷ
niệm, người ta đã cĩ thể hình dung một cách khái quát về lịch sử văn hĩa nước
nay,
Thứ ba, mỗi tài sản văn hĩa cũng như cuộc đời của mỗi danh nhân cĩ thể
chứa đựng nhiều giá trị Ví dụ: chiếc trống đồng vừa giới thiệu ở trên cĩ thê cĩ giá trị thơng tin về nhận thức, nĩi lên người đương thời đã làm chủ về kỹ thuật đúc đồng đến mức nào; lại cĩ thể cĩ giá trị về đạo đức - tín ngưỡng, biểu thị ở việc tơn thờ các hiện tượng tự nhiên như thờ mặt trời, sắm sét; cĩ giá trị thâm
mỹ biểu thị ở bức tranh “hội mùa” trên mặt trống, trong đĩ cĩ sự phối hợp giữa cảnh đánh trồng, thơi khèn, tốp vũ cơng nhảy múa và cảnh giã gạo chày tay, cùng hoạt động nhịp nhàng vây quanh ngơi mặt trời ở giữa mặt trống
“Thứ tư, bắt cứ tài sản văn hĩa hoặc danh nhân nào cũng sinh ra trong một
toa dé lịch sử nhất định, vì vậy các tài sản văn hĩa và danh nhân trở thành những đại biểu mang giá trị lịch sử mà thời đại đã hiện hữu
Trang 29‘Tom lại, danh nhân là tài sản văn hóa vô giá của dân tộc, các giá trị thông, tin - nhận thức, đạo đức - tín ngưỡng, thẩm mỹ, lịch sử khai thác từ vốn di
sản văn hóa danh nhân là nguồn sử liệu vô cùng phong phú, giúp các nhà sử học có thể phục dựng lại diện mạo lịch sử của dân tộc, giúp cho các thế hệ hậu sinh có thể tiếp cận với quá khử hào hùng của tiền nhân, tiếp nối cha ông tiến
về tương lai
1.3 Tôn vinh danh nhân như là phương thức bảo tồn và phát triển
văn hoá
Trai qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, các thế hệ người Việt
‘Nam da tao dựng nên một di sản văn hoá tinh thần phong phú và đa dạng Trong,
di sản đó, nôi bật lên truyền thống tôn vinh danh nhân như là những giá trị bền
vững và trường tồn, tiêu biểu cho nhân cách và đạo lý của văn hoá Việt Nam
Chúng ta tự hào về các thế hệ ông cha, từ thời dựng nước đã sáng tạo, gìn giữ và phát huy truyền thống tôn vinh danh nhân Nhờ tỉnh thần quý trọng, hậu đãi hiền tài được dân tộc ta quán xuyến suốt trong chiều dài lịch sử, nên những tắm gương danh nhân luôn được phát huy cao độ, trở thành tải sản văn
hoá vô giá của dân tộc, đóng góp tích cực vào vào sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước
Lật giở những trang sử nhận thấy: Từ thời các vua Hùng dựng nước đến nay, ở bắt cứ nơi nào, những người lập được công lao to lớn cho đất nước cho
đân tộc đều được người đời sau vinh danh, tưởng niệm Trong các loại hình tôn
vinh xưa, hình thức lập đền miều thờ phụng là tương đối phô biến Khói hương nghi ngút thường hướng về danh nhân Hàng năm, dân làng tô chức lễ hội để
tôn vinh và tưởng nhớ công ơn của các vị đó Trong lễ hội, người ta tổ chức
những nghỉ thức giới thiệu thần phả, trình bày tiểu sử và công trạng của danh
nhân Hoặc có những lễ hội, trình diễn lại những nét đặc sắc nhất trong cuộc
đời của danh nhân, như những cảnh diễn về một trận đánh, những động tác lao.
Trang 30chỉ tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, còn tự làm phong phú thêm những hình thức tôn vinh cho mình
“Truyền thống tôn vinh danh nhân còn là nguồn đề tài vô tận cho giới văn
nghệ sĩ sáng tác, là chiếc cầu hữu nghị khi mở rộng sự giới thiệu danh nhân ra các nước xung quanh Giao lưu văn hoá thông qua hoạt động quảng bá những tắm gương danh nhân không chỉ góp phần tăng cường tình đoàn kết, hiểu biết
lẫn nhau giữa các dân tộc mà còn đem lại nhiều lợi ích thiết thực để phát triển
kinh tế xã hội
Cuối cùng, tôn vinh danh nhân cùng với di tích văn hoá danh nhân đã và đang trở thành những tải nguyên du lịch đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhân
dân cả nước và du khách quốc tế Các di tích văn hoá danh nhân như: Đền Hùng
(Phú Thọ), đền Gióng (Hà Nội), đền vua Đinh, Lê (Ninh Bình), đền Đô (Bắc Ninh), đền Kiếp Bạc (Hải Dương), đền Trần (Nam Định), khu di tích Nguyễn
Du (Hà Tĩnh), v.v đã hiện điện như các điểm du lịch hấp dẫn
Nhu vay, truyền thống tôn vinh danh nhân đã trực tiếp góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện con người Việt Nam Vì thế, tôn vinh danh nhân là phương thức hữu hiệu để bảo tổn và phát triển nền
văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
“Tiểu kết chương 1
Chương I trình bày thành 3 tiết:
+ Khái niệm công cụ: Văn hoá và danh nhân;
+ Danh nhân - bộ phận của di sản văn hoá;
n vinh danh nhân như là phương thức bảo tồn và phát triển văn hoá
Trong luận văn này, người viết đã vận dụng định nghĩa văn hoá của nguyên tổng thư ky UNESCO Federico Mayor, xem “Van hoa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong,
Trang 31hiện tại Hoạt động sáng tạo ấy đã tạo ra hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội, làm nên bản sắc văn hoá của cộng đồng người.”
Danh nhân là những người nồi tiếng, có những đóng góp to lớn, xuất sắc
trên các lĩnh vực hoạt động của xã hội, góp phần thúc đầy sự phát triển của đất
nước trong từng giai đoạn lịch sử, có đạo đức trong sáng, được nhà nước tôn vinh và thưởng công trạng, được nhân suy tôn thành biểu tượng, treo gương sáng cho hậu thé noi theo
Danh nhân trong bắt cứ lĩnh vực nào cũng được xem như một cá nhân có
nhân cách văn hoá kiệt xuất, thể hiện ở ba tiêu chí: tài năng xuất chúng, đạo
đức cao cả, được nhà nước và nhân dân tôn vinh
“Trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ, khi các hoạt động xã hội còn mang,
tính nguyên hợp, chưa có sự phân hoá rõ ràng, thì người có thành tích xuất sắc
ở bắt cứ phương diện nào đều được suy tôn là nhân vật văn hoá Khi xã hội phát triển, công việc sản xuất ngày càng được chuyên môn hoá sâu sắc, thì danh
nhân cũng được phân chia ra các dạng, tương ứng với các dạng hoạt động chính
yếu của xã hội
Là tài sản văn hoá phi vật thể mang giá trị của cộng đồng, nên danh nhân cũng cần được phân ra các cắp độ khác nhau Dựa vào thực trạng cơ cấu xã hội
truyền thống nước ta, chúng tôi nêu lên 4 cấp độ dé phân loại danh nhân thời xưa, đó là: danh nhân làng xã, danh nhân vùng, danh nhân quốc gia và danh nhân thể giới
Một tài sản văn hoá dù là vật thể hay phi vật thể đều hàm chứa trong đó một giá trị văn hoá cụ thé Cũng như vậy, danh nhân là tài sản văn hoá vô giá của dân tộc, những giá trị nhận thức khai thác từ vốn di sản văn hoá cũng như các bộ tiểu sử danh nhân là nguồn tư liệu phong phú để nhận biết về lịch sử văn
hoá truyền thống nước ta.
Trang 32Chương 2 DANH NHÂN ĐỜI TRÀN - NGUON TU LIEU LICH SU DE NHAN
BIẾT NHỮNG NÉT VĂN HOÁ LICH SU THOL THINH TRI CUA
VUONG TRIEU
‘Thang 12 năm Nguyên Phong thứ 7 (1257) quân Mông Cổ do tướng Ngột
Lương Hợp Thai chỉ huy từ Vân Nam tràn xuống cánh đồng Bình Lệ (phía Nam
huyện Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ) Vua Trần Thái Tông đứng ra chỉ huy cuộc
chiến đấu chống giặc Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “
đốc chiến, xông pha tên đạn ” [1 1, tr.46-46§]
Để ghi nhớ chiến công này, về sau vua Tran Nhân Tông đã có thơ ca ngợi
Bạch đầu quân sĩ tại
Vang vàng thuyết Nguyên Phong
Dịch
Người lính già đầu bạc,
KẾ mãi chuyện Nguyên Phong
Hai câu thơ của “Phật Hoàng” Trần Nhân Tông là một khúc vinh danh
tưởng thưởng cho những người lính còn sống sau cuộc kháng chiến giữ nước
vĩ đại Họ đã trở về các miễn quê với cuộc sống đời thường cùng với những
ký ức hào hùng của một thời oanh liệt Họ có quyền tự hào kể mãi về những
chiến công rực rỡ cho những người đương thời và con cháu họ nghe, chia sẻ
với họ về những phút thăng hoa ngây ngắt mỗi khi nhắc đến hào khí “Đông,
Aan
Trang 33(Đông A là triết tự: chữ A + chữ Đông = chữ Trần)
Sau một cuộc hỗn chiến, đất nước trở lại cảnh thanh bình, vua Trần Thái
Tông nhường ngôi cho thái tử Hoảng (tức vua Trần Thánh Tông), rời “bỏ ngôi báu như trút đôi giầy rách” (Lời phiêm bình của sử gia Ngô Thì Sĩ (1726-1780), chép trong sách “Việt sử tiêu án”) Vua lui về lập am Thái Vi ở vùng rừng núi 'Vĩ Lâm thuộc Hoa Lư (Ninh Bình) dé an dân, lập ấp, viết sách và tu Phật
Cé thể xem sự lựa chọn của vua Trần Thái Tông là một biểu hiện khác của khí chất anh hùng - triết gia - những người đã làm nên văn hóa Dong A toa sáng một thời
Để nhận biết diện mạo của văn hóa Đông A, trong chương 2 này, chúng tôi sẽ tìm tòi, tập hợp những thông tin về danh nhân đời Trần, qua đó nêu lên
những nhận
Chương này gồm một số tiết như sau:
về văn hoá - lịch sử giai đoạn thịnh trị của vương triều Trần
~ Sơ lược giới thiệu bộ khung phân loại lịch sử - văn hoá Việt Nam và sự
ra đời của nhà Trần
~ Nguồn tư liệu về danh nhân thời Trần
~ Xây dựng Bản tổng hợp danh nhân thời Trần
~ Một số nhận biết về văn hoá - lịch sử thời thịnh trị của vương triều Trần 2.1 Sơ lược giới thiệu sự phân chia các thời kỳ trong lịch sử văn hóa nước ta và sự ra đời của nhà Trần
Luận văn có một phần bàn về những đóng góp của danh nhân thời Trần
đối với văn hóa Đại Việt Vì vậy, chúng tôi thấy cần giới thiệu sơ lược về khung
phân kỳ của lịch sử văn hóa nước ta để tiện theo dõi
Nhìn bao quát, lịch sử văn hóa nước ta có thể cha ra hai kỷ nguyên lớn:
Trang 34~ Kỷ nguyên văn hóa của xã hội truyền thống khởi lên từ thời các vua Hùng mở nước và kết thúc vào khoảng cuối thế kỳ XIX, trước khi có sự giao
thoa và tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa nước ta và thế giới phương Tây;
- Kỷ nguyên văn hóa của xã hội hiện đại, đánh dấu bằng việc các nhà nho cấp tiến mở trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội và tiếp theo đó là
phong trào “Duy Tân” phát triển trong cả nước vào đầu thế kỷ XX
Pham vi nghiên cứu của luận văn chỉ liên quan đến một phần kỷ nguyên thứ nhất, nằm trong khuôn khổ của lịch sử xã hội truyền thống
Dựa vào những thành tựu nghiên cứu của giới sử học văn hóa của nước
ta trong vài chục năm gần đây, chúng tôi trình bày khung phân kỳ lịch sử văn
hóa truyền thống theo một lược đồ như sau
2.1.1 Phân kỳ lịch sử
Lịch sử văn hóa truyền thống Việt Nam chia thành 3 thời kỳ lớn:
~ Thời kỳ dựng nước (còn gọi là thời huyền sử)
Sử cũ gọi thời này là thời kỳ ra đời của nước Văn Lang - Âu Lạc Dựa theo quan niệm của nhà sử học Lê Văn Hưu (đời vua Trần Thánh Tông) chúng tôi đặt nước Việt Nam của nhà Triệu vào hệ thống lịch sử người Việt
~ Thời kỳ đấu tranh chống lại sự đồng hóa của các dé chế phương Bắc
(từ Hán đến Đường)
“Thời kỳ này diễn ra vào khoảng thiên niên kỷ I SCN, khởi đầu từ sự suy
vong của nhà nước Nam Việt, bao gồm cả lãnh thô nước Au Lac vao nam 111 TCN và kết thúc với chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyển chỉ huy vào năm
938, lập lại nền tự trị của người Việt
Sử cũ thường gọi thời kỳ này là thời “Bắc thuộc” Chúng tôi nhận thấy:
Cách gọi như trên là không thỏa đáng Vì rằng, đúng là vào thiên niên ky I SCN
có sự cai trị không liên tục của các viên thái thú phương Bắc Đây là lối cai trị
ràng buộc (Kimi) lỏng lẻo, và đấy cũng chỉ là nhìn văn hóa ở khía cạnh chính
Trang 35Pháp tịnh dụng: Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX Giai đoạn này có 4 triều đại
Lê, Mạc, Tây Sơn và Nguyễn
Luận văn này chỉ bàn về văn hóa danh nhân đời Trần vào khoảng hai thế
kỹ XIII-XIV
2.1.2 Nhà Trần thành lập
Sau gần 200 năm trị vì, đến đầu thế kỷ XIII nhà Lý lâm vào tình trạng
suy thoái
'Vua Lý Cao Tông ham chơi bời, chễnh mảng chính sự, hay săn bắn xây
dựng cung điện tốn kém, giặc dã nồi lên khắp nơi Ví dụ:
~ Năm 1208 ở Nghệ An có Phạm Du chiêu nạp những người vong mạng cho đi cướp trong các thôn dân;
- Đoàn Thượng ở Hồng Châu (Hải Dương) chiếm đất Đường Hào, tự
xưng làm vua;
- Nguyễn Nộn ở Bắc Giang tự mình xưng vương tại làng Phù Đồng;
Ngoài ra, ở mạn Quốc Oai có người Mường khởi loạn
Đối với vùng Nghệ An vua Cao Tông đã sai tướng Phạm Binh Di đi đánh dẹp Binh Di đã tịch biên của cải, san bằng nhà cửa của Phạm Du
Du một mặt cho người về Kinh dùng vàng bạc hối lộ, vu cho Binh Di lim việc hung bạo Sau đó, Phạm Du về triều khiếu oan Vua Cao Tông nghe lời triệu Pham Du vào chầu, đồng thời cho gọi Binh Di về Kinh Di về đến nơi liền
bị bắt giam trị tội Tướng của Binh Di là Quách Bốc đem quân phá cửa thành, xông vào trại giam cứu chủ tướng Vua Cao Tông thấy thế bèn cho giết Binh Di,
rồi cùng với thái từ chạy lên mạn Quy Hóa (Tam Nông, Phú Thọ)
Riêng thái tử Sảm thì chạy về nhà Trần Lý ở Hải Ap thuộc phủ Long Hung (Thai Bình) Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: Ông nội của Trần Lý
là Trần Kinh đầu tiên đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (Nam Định),
Trang 36Kinh sinh ra Hap, Hap sinh ra Lý Đến đời Hắp thì một phần gia tộc họ Trần chuyển sang Hải Áp để mở mang công việc chai lưới
Gia tộc Trần Lý lúc này đã trở thành một cư tộc giàu có, nhiều người theo phục, trong nhà nuôi nhiều thực khách Khi thái tử Sảm chạy về ở, thấy con gái Trần Lý có nhan sắc, bèn lấy làm vợ, rồi phong cho Trần Lý tước Minh
tự, phong cho cậu vợ là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ
Anh em nhà họ Trần mộ quân vẻ Kinh dẹp loạn Quách Bốc, rồi lên Quy Hóa đón vua Cao Tông về cung Cao Tông về Kinh được một năm thì lâm bệnh mắt Ông trị nước được 35 năm, hưởng dương 38 tuổi Năm 1211, thai tr Sam
kế ngôi, tức là vua Lý Huệ Tông Huệ Tông sai người đi đón Trần Thị Dung từ Hải ấp về phong làm Nguyên Phi
Bấy giờ Trần Lý bị giặc cướp giết, Huệ Tông bẻn phong cho Trin Tu
Khánh - con thứ của Trần Lý làm Chương tín
Nguyên Phi là Tô Trung Từ làm Thái úy phụ chính du, lai phong người cậu của
Năm 1216, nội tình trong cung rất căng thăng Huệ Tông là người yếu
đuối, thái hậu họ Đàm điều khiên chính sự, mọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ
Mông - người có chức quyền lớn, nhưng ít học và không có mưu lược, tính khí lại nhu nhược, không quyết đoán, chính sự cảng thêm đỗ nát
Đàm thái hậu lại tỏ ý nghỉ Tự Khánh làm phản, thường si vả Nguyên Phi, định bỏ thuốc độc để gây hại Huệ Tông biết ý đã can gián và ra sức che chở, cho Nguyên Phi Sau vì Thái hậu làm ngặt quá, Lý Huệ Tông đã bí mật rời bỏ hoàng cung, cùng với Nguyên Phi Trần Thị trốn đến trại đóng quân của Trần
Trang 37Khi ấy Huệ Tông mắc bệnh, thỉnh thoảng lên cơn điên cứ uống rượu say
ngủ cả ngày, công việc chính sự hoàn toàn phụ thuộc vào anh em nhà họ Trần
Năm 1223 Trần Tự Khánh mắt, Huệ Tông phong Trần Thừa làm phụ quốc Thái úy, lại phong người em họ hoàng hậu là Trần Thủ Độ làm điện tiền chỉ huy sứ Từ đó mọi việc trong triều đều do Thủ Độ quyết định hết cả
Bệnh tình của Huệ Tông không khỏi, thái tử chưa có Trin Thi chỉ sinh
được hai con gái: chị là công chúa Thuận Thiên đem gả cho Trần Liễu là con
trưởng của Trần Thừa, người em là công chúa Chiêu Thánh tên là Phật Kim được Huệ Tông lập làm thái tử
Tháng 10 năm 1224, Huệ Tông truyền ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi bỏ đi tu ở chủa Chân giáo Chiêu Thánh lên ngôi lúc 7 tuổi, tức vua Lý
Chiêu Hoàng Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lấy con trai thứ của Trằn Thừa là Trần Cảnh lên § tuổi Một năm sau vào tháng 12 âm lịch năm 1225 Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng Nhà Trần bắt đầu nắm
quyền cai tri từ ấy Khi lên ngôi Trần Cảnh còn nhỏ, mọi việc triều chính đều
nằm trong tay thái sư Trần Thủ Độ và cha là thái thượng hoàng Trần Thừa
quyết định cả
Phần trên đã nói, nước Đại Việt vào đầu thế kỷ XIII đã hình thành nên
một số tập đoàn phong kiến cát cứ, tiêu biểu là ba họ:
- Ho Doan - Đoàn Thượng ở mạn Hải Dương và Hải Phong;
- Họ Nguyễn - Nguyễn Nộn ở Bắc Giang;
Trang 38'Vương triều Trần vừa thành lập xong, thì Nguyễn Nộn đã tiêu diệt Đoàn Thượng vào năm 1228 Đến cuối năm 1229 Nguyễn Nộn ôm chết, các lực lượng cát cứ tự tan rã Thể là, nhà Trần mới lên đã chấm dứt được nạn cát cứ do thời trước để lại
Vuong triều Trần kéo dài được 175 năm, trải qua 13 đời vua thì kết thúc Thời gian tổn tại của vương triều diễn ra chủ yếu là vào hai thế kỷ XIII
và XIV, gần trùng với thời gian hình thành và tồn tại của đế quốc Mông Nguyên ở phương Bắc Dé quốc Mông Cổ có “duyên nợ” với triều Trần ở chỗ, đã ba lần thất trận khi tắn công Đại Việt, trong khi vó ngựa viễn chỉnh của họ đã làm mưa, làm gió trên lục địa Á - Âu trong gần hai thế kỷ! Chính
vì vậy ở đây chúng tôi giới thiệu sơ lược về đế quốc này đề tham khảo [PI1.1,
tr111]
2.2 Xây dựng bảng thống kê tổng hợp danh nhân thời Trần (gọi tắt
là Bảng thống kê danh nhân)
Phần trên đã trình bay, danh nhân được xem như một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc, mà tài sản văn hóa bản thân nó chính là một dang tw liệu lịch
sử, chứa đựng những thông tin đa dạng, có thể giúp chúng ta tìm hiểu khám phá, nhận biết và có thể phục dựng lại diện mạo xã hội của thời đã qua
Danh nhân là những nhân chứng đã từng tồn tại trong lịch sử như những nhân cách văn hóa độc đáo, tiểu sử ghỉ chép thành tích hoạt động của họ là những tập hợp thông tin đa dạng, phong phú, khắc họa nên chân dung của những tượng đài lịch sử đương thời
“Chính vì vậy, một nhiệm vụ quan trọng của chương này là phải xây dựng, Bảng thống kê tổng hợp danh nhân thời Trần
Để thực hiện ý tưởng trên đây, luận văn phải thực hiện một
như sau:
Trang 39Dựa vào nội dung của 5 cuốn từ điển trên, chúng tôi chia chúng thành hai loại
+ Loại từ điên danh nhân (bao gồm cả nhân vật chí), gồm có: Các từ điên
số 1, số 3 và số 5,
+ Loại từ điển nhân vật lịch sử: các từ điển số 2, số 4
Nhân vật chí là thuật ngữ được nhà sử học Phan Huy Chú (1782-1840)
sử dụng trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí của ông Ông đã chọn
các nhân vật có công trong lịch sử nước ta và chia thành 5 loại:
~ Dòng chính thống các để vương;
~ Người phò tá có công lao tài đức;
~ Các vị tướng có tiếng và tài giỏi;
~ Nhà Nho có đức nghiệp;
~ Bề tôi tiết nghĩa
Theo cách lựa chọn và phân loại trên đây thì nhân vật chí cũng là danh nhân, theo cách nhìn nhận và đánh giá của đương thời
Nhân vật lịch sử theo quan niệm của các tác giả hai cuốn từ điển số 2 và
số 4 bao gồm hai dạng: chính diện và phản diện
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam giải thích
Chính diện là những nhân vật được trang trọng ghi tên vào sử sách, đã
góp phân tích cực vào công cuộc đấu tranh giữ vững độc lập dân tộc đưa đất
nước tiến lên, được nhân dân quý trọng đời đời tôn kính Phản diện là những
người có trọng trách với đất nước, nhưng đã tỏ ra yếu hèn khi vận mệnh Tổ
quốc lâm nguy, đã bắt tay với giặc làm những việc phản dân, hại nước, bị nhân
dân căm thù, lên án [52, tr.5]
Như vậy, có thể nói: danh nhân chỉ bao gồm các nhân vật lịch sử chính diện, không phải bắt cứ nhân vật lịch sử nào cũng được kể là danh nhân Điểm
Trang 40khác nhau giữa danh nhân và nhân vật lịch sử là ở phẩm chất đạo đức của nhân
vật
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của hai tác giả Nguyễn Q.Thắng và
Nguyễn Bá Thế, do quan niệm “trung tính” về lịch sử (không phân biệt chính
dign/phan diện) đã giới thiệu 2.104 nhân vật (gấp hai lần các từ điển khác), trong đó đã liệt kê các vị hoàng để bao gồm cả những ông vua đầu hàng theo giặc như Trần Ích Tắc đời Trần, hoặc vua bại trận lưu vong như Lê Chiêu
lịch sử nước ta thời cận, hiện đại
Nhìn chung, hai cuốn Từ điển nhân vật lịch sử vừa kể trên có tư liệu
phong phú, sau khi loại bỏ đi các nhân vật không thích hợp, chúng trở thành tư
liệu tham khảo có ích, cho việc xây dựng Bảng thống kê tổng hợp danh nhân đời Trần
Ngoài việc khai thác tư liệu danh nhân từ 5 cuốn từ điễn trên, chúng tôi
còn tham khảo một số sách chuyên viết về danh nhân, như: Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1 của Trần Văn Giáp, Kê chuyện danh nhân Việt Nam của
Lê Minh Quốc, Danh tướng Việt Nam trong lịch sử của Đỗ Đức Hùng, Danh
nhân tỉnh Nam Hà, v.v
2.2.2 Bảng thông kê danh nhân thời Trần
Dựa vào yêu cầu tìm hiểu về danh nhân, về những thông tin có thể khai
thác ở danh nhân, hướng tới việc nhận định khái quát về những đóng góp của
họ đối với lịch sử văn hóa nước ta, chúng tôi xây dựng “Bảng thống kê danh.