1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học: Nạn tảo hôn của người Hmông ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La dưới góc nhìn văn hóa tộc người

106 14 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 14,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu Nạn tảo hôn của người Hmông ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La dưới góc nhìn văn hóa tộc người đã trình bày khái quát về người HMÔNG và thực trạng nạn tảo hôn ở nơi này; qua đó trình bày tác động của nạn tảo hôn tới sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Trang 1

NAN TAO HON CUAN

Ở HUYỆN MOQC CHAU, TINH SON LA

DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HOA TOC NGƯỜI

'CHUYÊN NGANH: VAN HOA HOC

MÃ SỐ: 6031 70 LUAN VAN THAC SI VAN HOA HOC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẤN BÌNH

HÀ NỘI _ 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

“Chương I: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI HMÔNG Ở HUYỆN MỘC CHAU

VÀ NHŨNG KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1.1 Khái quát vỀ người Hmông ở Mộc Châu

1.1.1 Đặc điểm tự nhiền, xã hội địa bàn cư trí

1.1.2 Nguồn gốc lịch sử, tốc danh, dân số và phân bổ cư trú

1.1.3 Đặc điểm đời ông kinh tế và mưu sinh

1.1.4 Hôn nhân và gia đình, đồng họ truyền thông

1.1.5 Đặc điểm văn hóa

2.1.1 Tảo hôn trong xã hội truyền thống

21.2 Tảo hôn hiện nay

tảo hôn của người Hmông ở Mộc Châu 22.1 Từ các đặc điểm man

Trang 3

431 Tác động xấu của tảo hôn tới phát triển kinh tế xã hội n 311.1 Tảo hôn hạn chế phát triển kinh tế gia đình và địa phương 72 3.12 Tảo hôn gây khó khăn cho phát tiển giáo dục, y ế và CSSK 75 3.13 Tảo hôn hạn chế hiệu quả công tác DS/ KHHGD 1 311.4 Tâo hôn làm bùng nổ dân số, tạo sứ ép dẫn đến di cư tư do 79 311.5 Tảo hôn hạn chế công tá chăm sóc bảo vệ bà mẹ và trẻ em 8Ï 3.16 Tảo hôn làm suy giảm chất lượng giống nòi 84

32 Motsé khuyén nghi gai php nhiim hgn ché,ngin chgn tio hd 86 3.2.1 Ning cao nhin thức 86 3.23 Đầu tư phát triển đồng bộ kinh tế xã hội 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO lôi

Trang 4

công đồng các dân tộc thiêu số ở miền núi, trong đó có dân tộc Hmông ở Mộc Chau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hầu hết, các dân tộc thiêu

số đều cư trú ở những vùng núi cao, biên giới có vị trí ổn lược quan trọng

ề phát riển kinh tế, quốc phòng, an nữnh, khai thắc ti nguyên khoảng sản thuỷ điền, giữ gin và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ rừng, Người din

ce din te thiểu số nói chung, dân tộc Hmông nồi riêng đều nhận thức được Tầng vận mệnh và tương ai của họ luôn gẫn liền với vận mệnh và tương li

ccủa quốc gia và của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam,

Mỗi tộc người trong lịch sử hình thành và phát triển đều sáng tao rà những giá tì văn hóa, cả về vật chất và tính thẳn để có th thích ứng được với

"mỗi trường sống trong những giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử xã hội khác nha

“Các gi tr văn hóa truyền thống của mỗi tộc người được thể hiện ở ỗi sống, cách thức tổ chức công đồng, phong tục ấp quán, ín ngường được coi là sồi nguồn văn hóa dân tộc, là bộ phân quan trọng cấu thình nên văn hóa của

mi tốc người và văn hóa quốc gia

"Người Hmông là một trong 54 công đông tộc người ở Việt Nam, thuộc

nhôm ngôn ngữ Hmông - Dao, là một tộc người có s dân tương đổi đồng và

Bảo lưu được nhiều nét vấn hóa truyền thông, Họ có

cũng là tộc người c

những phong tục tập quán, bản sắc văn hoá riêng Tuy nhiên, trong những

phong tục tập quần ấy cũng có những vẫn đề là hậu quả của chế độ

NO di ăn sâu vào tâm lý, tập quản và trở thành những hủ

nhiều hủ tục lạc

Trang 5

không đưa đến các cơ sở y tẾ, Hiện nay, do hoàn cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân tí, nhận thứ của người dân tộc thiểu số còn nhiễu hạn chế nên trong cộng đồng các dân tộc nổi chung và người Hmông nỗi riêng còn duy tì một số hủ tục lạc hậu Những hủ tục này hiện nay không những không phủ hợp với tỉnh hình mới mà còn có nguy eơ

nh hướng rất lớn đến ôi giống, chất lượng cuộc sống, phát tiển kinh = x8 hội địa phương và tương lai sau này của tộc người Hmông Tảo hôn của

"người Hmông ở Mộc Châu (Sơn La) hiện nay chính là một trong những hủ tue nguy bai đó Hũ tục này đã, đang đặt ra nhiễu vin để cần có sự quan tâm đăng mức, đúng hướng của các cắp uỷ chính quyền cũng như sự nhận thức ding din của người người Hmông nơi đây Chính vì thể, nghiền cứu thực trạng, tìm ra cân nguyên để đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế, ngân chân nạn tảo hôn đang là đồi hồi cấp thiết

Ban thân là một người con của dân tộc HHmông, sinh ra và trưởng thành

ở huyện Mộc Châu (Sơn La) Chúng tôi nhận thấy trách nhiệm không chỉ thuộc về các cấp uỷ chính quyền địa phương mà côn thuộc về mỗi thình viên

“của cộng đồng người Himông ở Mộc Châu, trong đỏ có mình Chúng tôi nhận thấy, mình phải có những hoạt động thiết thực để góp phần vào việc giúp bà

son mình nhận thức được bầu quả của nạn tảo hôn Từ đó từng bước hạn chế

hủ tục nguy bại này Dặc iu với việc lựa chọn đề tải này, sẽ là cơ hội để bản

thân chúng tôi biểu biế thêm về văn bóa của dồn tộc Hmông

Với các lý do trên đây, ôi chọn Nạn ráo hôn của người Hồng ở huyền

Me Chet, nh Sơn la dưới góc nhìn văn hỏa tộc người làm đề luận van

tốt nghiệp cao học chuyên ngành Văn hóa học của mình.

Trang 6

tải được nhiễu người quan tâm khá thác, nghiền cứu Cĩ khá nhiều những

"nghiên cứu về văn hĩa Hmơng, tiêu biểu cĩ một số cơng trình sau

Trong cuỗn sách “Văn đố Hmơng” xu bản năm 1996 của tác giả Trần Hữu Sơn đã khái quát một cách há tồn diện về văn hĩa của người

Hmơng ở nước ta từ mơi trường sinh sống, lịch sử tộc người, tộc danh, hoạt

ơng kính tế, thiết chế tổ chức xã hội, văn hĩa vật chất, tỉnh thần và đặc biệt

đi sâu nghiên cứu vỀ văn hĩa tình thần, tác giả đã đưa ra những đánh giá về

ân hĩa trong quá tình phát tiễn của tộc người Hmơng

“Trong cuơn sách Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tình phía Bắc)

xuất bản năm 1978 của Viện Dân tộc học và cuỗn Đán rộc Mĩng ở Việt Nam uất bản năm 1994 cđa ai tác giả Cự Hịa Vẫn và Hồng Nam là những cơng trình đã để cập khá chỉ ất, rõ nét về văn hĩa tộc người Hmơng ở nước ta Cuốn sách Dân tộc Hmơng Sơn La với việc giải quyết vẫn dé tin

"ngường tơn giảo hiện nay xuit bin năm 2109 của tác giả Thảo Xuân Sing Chủ biển) là cuốn sách mới nhất cung cắp những hiểu biết cơ bản về người

Son La trong đĩ cĩ đề cập đến những yếu ổ văn hĩa ở gĩc độ

Trong cuỗn sích: Văn hĩa tấm nh của người Hmơng ở Việt Nam

bản năm 2005 của tác giả Vương Duy Quang đã

các vẫn đề tơn giáo, tín ngưỡng của người Hmơng,

"Ngồi ra cơn cĩ một số cơng rình nghiên cứu về hơn nhân và gia định

người HHmơng, thực trang giáo dục ở vùng người Hmơng như: Luận văn cao

Trang 7

Tất học của trẻ em người Hing ở Mộc Châu, Sơn la của tắc giả Nguyễn Thị Mãi, Đây đều là những công trình tâm huyết được các tác giả nghiên

cứu và trình bảy một cách chỉ tiết, tỉ mi về các khía cạnh liên quan đến nghiên

cửu của người viết

"Đây là những tả liệu quan trọng để người viết có thể qua đó đối chiếu

so sinh dé tim ra những nét tương đồng và khác bit giữa người HImông ở Mộc Châu với người mông ở các vùng khác trên đẫt nước ta, đặc biệt về vin

"an tảo hôn của người Hmông và những hầu quả do nạn tảo hôn để lại ANghiên cứu về tảo hôn của người Hmông: Văn hóa tộc người Hmông

đi lâu đã được nhiễu nhà khoa học quan tim nghiền cứu, y nhiên về vẫn nạn tảo hôn cho ến nay chưa có một công tình nào nghiên cứu chuyên sâu, chỉ it

mà mới ở góc độ được dễ cập chung rong một số bả viết, sách như:

Bài viết Thực ọng lớn nhân ở các dân tộc miền nút phía Bắc của tác giả Đỗ Thúy Bình đăng trên Tạp chí Dân tộc học, số 02/1991

Cuốn Hôn nhân và gia đình các dân tộc Huống, Dao ở lai tỉnh Lai

nhóm tác gia Đỗ Ngọc Tin, Ding

(Chau vi Cao Bing xuất bản năm 2001

“Thị Hoa, Nguyễn Thị Thanh

Bài viết SỐ con trong các gia đănh dân tộc íf người của tc giá Tí Bình đăng trên Tạp chí Dẫn số và phát tiễn, Ủy ban Dân số/

Long Lung (Mộc Châu),

ay, dia ban trong điểm được chọn để thực hiện mô hình

í điểm là

Trang 8

nhất là ảo bôn của người Hmông ở Mộc Châu (Sơn La)

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kể tha, tiếp thụ kết quả của các nhà khoa học di rước,

trong khuôn khô luận văn, người viết tập trung vào giải quyết hai vấn đề và

chính, đồ là:

+ Tiếp cận, nghiên cứu hiện trạng tảo hôn

CChâu tong xã hội truyền thống và hiện nay, những tác động tới phát tiển Xinh - xã hội đa phương

+ Nhìn nhận, lý giải các nguyên nhân dẫn đến nạn tảo hôn dưới góc độ

ăn hóa tộc người để từ đó bước đầu để xuất các giái pháp nhằm hạn chế, khắc phục và dẫn dẫn loại bỏ nạn tảo hôn rong cí

4, Đối tượng và phạm vĩ nghiên cứu

cũng là hai mục:

la người Hmông ở Mộc

1g đồng người Hmong,

~ Đối tượng nghiên cứu: Cộng đồng người Himông ở huyện Mộc Châu

trọng điểm là người Hmông ở ba xã: Lóng Luông, Vân Hỗ và Tân Lập (Văn

"hoá, kinh tế, xã hội) Trong đó, đối tượng cụ th là nạn tảo hôn của họ

~ Địa bản nghiền cứu chính ti ba xã: Lông Luông, Văn Hồ, Tân Lập

“của huyện Mộc Châu (Sơn La), ừ năm 2005 trở lại đầy

5 Phương pháp nghiên cứu

~ Phương pháp nghiên cứu điễn đã thực địa, trong đó sử dụng một số kỹ thuật chủ yếu như: Điễu tra xã hội họ, phông vắn, hỏi chuyên, to đối, thảo luận, quan si, ghỉ chép, chụp ảnh,

Trang 9

"nguồn tư iệu thành hệ thắng kiến thức cần thiết, phục vụ mục đích nghiên cửu của mình

“rên cơ sở các nguồn tả iệu thành văn và nguồn tr liệu thu thập được

«qua didn đã, tác giá tiến hành so sinh, đố chiếu để tìm ra những nguyên nhân chủ yếu, đặc biệlà nguyên nhân dưới góc độtộc người nhằm đưa ra những biện pháp thiết thực, hiệu quả Các phương pháp trên là công cụ để người viét tim toi,

dưa ra những kết quả nghiên cứu giải quyết mue dích, nhiệm vụ đã để ra

6 Đồng góp của luận văn

~ Về mặt khoa học: Luận văn góp phần hệ thống hóa và bổ sung tả liệu

xề tập quán hôn nhân, sinh để, nuôi con và tảo bôn của người Hmông ở Việt

"Nam nối chung và người Hmông ở huyện Mộc Châu nồi iêng

~ VỀ mặt thực tiễn: Kết quả của luân văn có thể sử dụng lâm tải liêu

tham khảo cho

ăn bộ làm công tác nghiên cứu văn hoa Hmông và các sắn bộ làm công tác Dân số/Kể hoạch hoi gia đình ở địa phương

T Nội dung và bố cục của luận văn

Ngoài phần Aỡ đầu, Kết luận, Danh: mục tài iệu tham khảo, Phụ lục nội dụng chính của luận văn được trình by trong ba chương chính

Chương |: Khải guát về người lImông ở huyện Mộc Châu và những

Ti nệm liên quan

.Chương 2: Thực trạng táo hôn của người Huông ở luyện Mộc Châu

“Chương 3: Tác động của nạn tảo hôn ới sự phát tiễn kính x hội

địa phương

Trang 10

vA NHUNG KHAI NIEM LIEN QUAN

1.1 Khái quát về người Hmong & Mge Châu

1L, Đặc điễm tự nhiên, xã hội đu bản cư trả

1.1.1 Đặc điễn tự nhiên

Huyện Mộc Châu có diện tích tự nhiên la 2.025 km’, là cửa ngõ phía đông của tỉnh Sơn La, có vị trí địa lý được xác định ở 2063" vĩ độ bắc và 104930* - 105°7" kinh độ đông Mộc Châu có vị tr tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp huyện Phù Yên (Sơn L4)

Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà Dân

chi nhân dân Lâo)

Phia Đông giáp tinh Hoa Binh

Phía Tây giáp huyện Yên Châu (Sơn La)

Đặc điễm tưnhiền của huyện Mộc Châu nơi có người Himông sinh sống:

Pha Luông nằm ở phía nam huyện là ngọn núi cao nhất với độ cao 1.880m,

Trang 11

* Khí hậu th văn

Khí hậu ở vùng này chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 04 dến tháng 09, mùa Khô từ tháng 10 đến thắng 03 năm sau Do la ving cao

"nguyên có độ cao lớn nên Mộc Châu là vùng tiếp nhận sớm và chịu ảnh

"hưởng sâu sắc của gió mùa đông bắc nên mùa đông lạnh và thường xuyên bỉ sương muối Mộc Châu là vũng có khí hậu mát mẻ, hiệtđộ trung bình từ 18 ~

23°C, nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng §”C; độ âm trung bình là

W5%, Mộc Châu có lượng mưa khả dồi đào, trung bình từ L400 -

1.500mmnăm, Mộc Châu được mệnh danh là xứ sở của sương mù, là Đã Lạt

ở miễn Bắc

"Mộc Châu có hệ thống sông ngồi khá phong phi, trong đó có sông Đã

là con sông lớn nhất trong vùng chảy qua, ngoài ra còn có nhiều sông suối lớn nhỏ như: Suối Sp, suỗi Quan, subi Ging, subi Kha những hệ thing sông suổi này không những có vai trỏ điề tiết nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân trong vùng mã còn có ác dụng điều hoà khí

"hầu địa phương, cung cắp nguồn lợi thuỷ sản, cung cấp nguồn điện và thuận tiên giao thông

* Tài nguyên đắt

Cao nguyên Mộc Châu có bai dạng thổ nhường cơ bản: Thứ nhất, đắt pheralt dé niu phat tién trên nền phong hoá đá vôi, là loại đt ốt có nhiều mùn, thích hợp cho các loi cây trồng khô, đặc biệt là các loại cây công

"nghiệp như chè, cà phệ, và những phiêng bi, đồi tro rồng có độ dốc ít đó

là những đồng cỏ thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi gia súc lớn đặc biệt

Trang 12

lúa nước và trồng các loại cây thực phẩm,

* Tài nguyễn rimg

"Mộc Châu có nguồn tải nguyên rùng phong phố, đa dạng với nhiều loại lâm thổ sản quý hiểm có giá tị kính tế cao như: gổ lát, nghiễn, dâu, chỗ chỉ,

pơ mu, Hàng năm, rừng cung cấp một khối lượng lớn tre, nứa, dược liệu,

chất đốt phục vu đồi sống nhân dân tong vùng Sự phong phú, da dạng của rừng đã (ao điều kiện cho eư dân các dân tộc cũng như dân tộc Hmông ở huyện Mộc Châu có thể phát tiển nghề khai thác rùng Ngày nay, kh nền

Xinh tẾ« xã hội của cư dân các dân tộc Mộc Châu đã phátuiển hơn trước, rùng vẫn đồng một vai trẻ to lớn trong đồi sống con người Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà hiện nay vốn rừng và thâm thực vật dang bị thụ hẹp dẫn Ngoài những thảm họa do thiên ti gây ra như lũ nguồn, ạt lở đt rừng, xối mòn đấ, tì nguyên nhân chính vẫn là do sự hai thác vốn rừng bừa bãi đặc biệt là nạn đết phá rừng làm nương rẫy của bà con các dân tộc trong

"huyện VÌ vây, diễn tích rùng của huyện hiện nay cô lại không đáng kể (23%

Tê động vật Rừng Mộc Châu nối chung và rừng ở ba xã Lóng Luông,

`Vân Hỗ, Tân Lập nồi chung trước diy từng là môi trường thuận lợi cho sử phát tiễn hệ động vật với nhiề loài phong phú, có giá trị như: hổ, báo, gà

răng, ni, gu nhưng ngày nay,

cin thấy xuất hiện trong các khu rùng ở Mộc Châu do sự khi thác ự nhiền

Bi bãi của cự dân các ân tộc

Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, ất ai, nguồn nước đã tạo diều kiện \huận lợi cho vùng này phát iển cây công nghiệp, cây lương thực,

thực phẩm, các loại cây ăn quả nhiệt đới, cận nhiệt và chăn môi gia súc lấy

Trang 13

dịch vụ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cổ tiểm năng phát tiển

"ngình du lịch rong tương lai

* Giao thông

Hiện nay, hệ thống đường giao thông đã phát tiễn rông khắp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong huyện nồi chung cũng như dân tộc Hmông nối tiêng ong việc giao lưu trao đổi buôn bản cũng như giao lưu về văn hoá

“Giao thông phát iển vớ các tuyển đường huyết mạch như: quốc lô 06 chạy

«qua dia ban huygn di 68k, ngodi ra côn có quốc lộ 43 nổi đường 06 với cửa khâu Pa Háng dài 31 km thông thương với nước bạn Lâo; quốc lô 37 từ km 64 đi Phù Yên đài 50km Đường 101 ndi quốc lộ 37 đi Tô Múa, Mường Tà, Quang Minh Ngoài ra, hệ thống đường giao thông liên xã, liên bản dang

kéo d

được đầu tư xây dựng Tuy nhiên, do địa hình dốc, mùa mưa nên

thường xây ra hiện tượng sạ lỡ gây ách tắc giao thông Nhỉn chung giao thông đi lại của người dân các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vũng xa trong

"huyện côn gặp nhiều khó khăn

11.L2 Đặc điểm xã hội

Me Chau la dia bản cư trú của 12 dân tộc anh em, bao gồm: Dân tộc

“hi, Kinh, Hmông, Mường, Dao, Kho Ma, Sinh Mun, Tay, Kháng, La Ha,

Lào, Hoa Trong đó, có số dân đông nhất thuộc 07 dân tộc sau: Dân tộc Thái chiếm 33,55%, dân tộc Kinh chiếm 30%, dân tộc Mường chiếm 15,7%, dân 6e Hmông chiếm 14%, dân tộc Dao chiếm 62%, dân tộc Sinh Mun chiếm (0.39%, din tộc Khơ Mú chiếm 02894, còn lạ các dân tộc khúc chiếm tỷ lê ắt

it

Tân số huyện Mộc Châu phân bồ không đồng đều, tập trung đông ở các khu vực thị trấn huyền ly đọc quốc lồ 6, còn ở vũng nông thôn rộng lớn thì

Trang 14

liền với những biển động lịch sử và sự tăng nhanh của những lục lượng sản uất xã hội Bản, mường là nơi tổn tại cuộc sống công đồng của cư dẫn các dân tộc nơi đây, Đơn vị bản bao gồm những gia định thuộc những dòng họ của từ một đến ba dân tộc cùng sinh sng; cũng có bản là nơ sinh sông của

"một dân tộc nào đó, Còn mường là do nhiều bản hợp thình, bao gồm nhiều gia ịnh của nhiễu đồng họ khác nhau Bán, mường có mỗi quan he chat che

tạo ra một bộ máy hoàn chính, khép kín, mang đậm màu sắc dân tộc và nó

được xem là đơn vỉ kinh tế, chính tỉ quan trong ong xã hội Mỗi bản có địa

‘vue ex trú riêng, có phạm vĩ đất dai, sông sui riêng thuộc quyền quản lý, sử

dụng của họ, Trên địa bàn cư trú ấy họ ủng nhau Khai phi ruộng nương, dưng nhà, chống thiên tr, giác dã từ đồ hình thành nênính cộng đồng, nh đoàn kết sâu sắc, gần bó và trở thành truyền thống ốt đẹp củ các đân tộc Các dân tộc đến sinh sẳng ở Mộc Châu đã chọn điểm quần cự cho dân tộc mình: Người Thái chọn ven bờ subi, doe thung lũng để cổ thể phát triển

nghề nông nghiệp lúa nước, người Hmông thì chọn các sườn đồi, sườn núi,

người Kinh thì tập trung dọc theo đường quốc lộ để phát triển nghề kinh

doanh, buôn bán,

Gắn với xã hội ấy là nền kinh tế nông nghiệp, đây là hình thi kinh tế chính của cư dân Mộc Châu, những cánh đồng phì nhiêu là kết quả của nhiều thể hệ, những lớp người đã khai phá, cải tao; rừng xanh, núi cao nay đã trở thành nương ngõ, đồi chè Hình thái kinh tế của cư dân các đân tộc Mộc Châu phan ánh họ là cư dân rồng tri, nguồn sống chủ yếu dựa vào kết quả mùa

"màng từ ruộng nước và nương rẫy đến công việ làm vườn, trằng cây ăn qu, chin nuôi gia súc, gia cằm và thủ công nghiệp như dan lá, rèn đúc nông cu hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế tông tọt

Trang 15

Hmông có nguồn gốc Trung Quốc với lịch sử di cư: Từ tấy nam Trung Quốc, cách ngày nay khoảng trên dưới 300 năm, người Hmông đã di cự đến Việt

“Nam qua nhiều đợi khác nhau Mục địch của những đợt di cự này nhằm thoát 1i sự áp bức bóc lột của phong kiến Trang Quốc, nhất là chạy chốn khối những cuộc tàn sắt sau những cuộc nỗi dậy Đẳu tiên, khi di cự đến Việt Nam

"người Hmông tập trung chủ yêu ở Lào Cal, Yên BI sau đó mới di ew sang cúc tịnh khác Theo nghiên cứu của các nhà dân tộc học, người Hmông di ae sang nước ta theo ba đợi Vào đợt ba, cách ngày nay khoảng 150 năm khi đồn

ai Châu, Mường Khương (Lào Cal) từ đây lọ di cự sâu vào khu vực Tây Bắc dến Tuần Giáo, Thuân Chiu, Song Ma, Phù Yên, Mộc Châu và cuối cing di

cư vào miễn tây Thanh Nghệ [T; 45]

THmông có nghĩa là Người, khẳng định sự khác biệt giữa con người và động vật Người Hmông đều tự gọi dân tộc minh la Hméng và mong muỗn các dân tộc khác gọi mình là imông theo đúng nghĩa tộc danh với âm thanh tắt nhẹ, thể hiện được ỗi ứng xử văn hóa với dân tộc Hmông một tộc người

có lịch sử lâu đời, có nễn văn hóa riêng biệt và đặc sắc Công ding dân tộc Hmong có bốn nhôm địa phương: Hméng Trắng (Hmông Đơc), Himỏng Den (Himing Duc), Hméng Hoa (Hméng Lénhs), Hméng Xanh (Hmông Zua=) Họ

có một tiếng Hmông chung và giảu tính thẩm mỹ, là phương sinh hoạt

ăn hóa tính thin va van hoe, nghệ thật, sự khác biệt giữa các nhóm chủ yêu cđưa trên trang phục

“Cao nguyên Mộc Châu với độ cao 1050m so với mực nước bin, điện

tích đất tự nhiên là 2.025km”, có đường biên giới Việt - Lào trên 40km, có 29

18, th trấn là nơi tụ cự của cứ dân thuộc 12 đân tộc Trong đó cổ 13/29 xã thị trấn có người Hmông cư trú Ở Mộc Châu, người Hmông chiếm 14% dân số

Trang 16

chưa đủ điều kiện để định canh định cư Họ là cộng đồng thất thả, chất phác hiển hậu và hiểu khách,

Mộc Châu là một trong những huyện tập rung nhiều người Hmông nhất, đặc biệt à ở ba xã khảo sát là Long Luông, Vân Hỗ, Tân Lập Người mông ở cả ba xã này đều thuộc hai nhóm địa phương dé la: Hmông Hoa (fimông Lénks) va uhm Hing Ben (Hmdng Buz) Xã Lông Luông trước đây

là một xã có 100% dân tộc Hmông sinh sống, những năm gân đây có một số

gia định người Kính, Thái, Dao chuyển đến cùng cư tr xen kể, Tuy vậy, xã xẵn có tỷ lề dân số là người Hmông cao nhất Cả xã có 782 hộ người Hmông chiếm R7% dân số xã Xã Vân Hồ và Tân Lập cũng là những xã có nhiều

người Hmông cư trú: Xã Vân Hồ gồm có 790 hộ người Hmong, xa Tan Lap

iểm tớ, điều kiện sống khắc nghiệt (hiểu nước, ạnh, ) Địa bản cự trú của

"họ không chỉ đọc biên giới Việt ~ Trung và Việt ~ Lào mà hiện nay đã có một

bộ phận không nhỏ di cư vào khu vục Tây Nguyên Họ cư trú tương đối ấp trung theo đồng tộc, đồng họ để nương tựa vào nhau, đồng thời ngày cảng cư trú xen ghếp với các dân tộc khác (heo yêu cầu của cuộc sống Họ cư trú thành từng bản /aoj, mỗi bản có th có từ vài nóc nhà cho đến hàng chục

óc nhà trên một quả đồi nhỏ, một tiễn núi cao hoặc thung lũng, lưng có núi Vây quanh và hướng nhìn phía trước với một khoảng không gian thoáng mắt,

Trang 17

trong các thung lũng hoặc trên sườn đồi, sườn nú hoặc men theo chân núi đã

“Các bản cách nhau từ 02 tiên 10km, có những bản tì nắm dọc đường quốc

lô, còn đa số cách đường quốc lộ từ 02 - OSkm, giao thông đi lại khó khăn,

“Các xã Lóng Luông, Vân Hễ, Tân Lập nằm trong các thung lũng được chia cit boi nhimg núi đá cao, hiểm trở, Xã Lồng Luôn và Vân Hỗ nằm dọc trên truc đường quốc lô 06, xã Tân Lập nằm sắt ven sông Đà, cạnh quốc lộ 06

cũ Cả ba xã này đều có nhiễu bản có nhiều người Hmông sinh sống Đụ

như xã Lồng Luông có 11 bản trong đồ có 08 bản là bản của người Ïimông, như bản Lồng Luông, Lũng Xá, Tà Dê, Co Tầng, Co Chăm, Co Lồng xã Vin Hồ có 1Š bản, rong đồ có 05 bản Hmông như bản Hua Tại, Chiéng Bi 1, Chiềng Đi 2, Bó Nhàng, ; xã Tân Lập có l8 bản ong đó có những bản

mông như Tà Phênh, Phiêng Cảnh,

"Như vậy, người Hmông thường cứ trú ở vùng sẩu, vùng xa, giao thông

êm phát tiễn, không thuận tiện[I] Với địa bàn cư rủ như trên đã tạo rà nhiều khó khăn cho người Hmông từ giao thông đi lại cho đến các hoạt động kinh LẺ, văn hóa, xã hồi

1.1.3 Đặc điểm đời ng hình tế ã mưu sinh

Do đặc điểm cư trú rên địa hình đốc với độ cao trung bình từ 700 - 800m, khí hậu khắc nghiệt, đắt canh tác đốc, giao thông đi li khó khăn nên người Hmông coi nông nghiệp nương rẫy là nền tản kính tế vô cùng quan trong dé dim bảo nguồn cung cấp lương thực chủ yêu nhất Kính tế truyền thống của người Hmông là kinh tẾ nương rẫy,mang nặng tính tự cung tự cấp năng nề, mọi nhu cầu về ăn, mặc, ð, đều trồng vào nương rẫy, nương tẫy

.cung cấp lương thực, rau quả, chất đốt, lanh dé dét vai, chim dé nhuộm vải,

Ngoài kinh tế nương rẫy là chủ yêu, người Himông rắt thành thạo tong hoạt

Trang 18

mãng, củ quả trong rừng Săn bản vừa mang ý nghĩa bảo vệ mùa mảng, vừa

nhằm cải thiện bữa, thường iễn ra vào mùa khô, tháng 1Ì và 12

Gia

lao động rất chặt chề Nam giới đảm nhận công vi

chăn nuôi, xe lanh dệt vải Ngày mùa, người

h người mông là một đơn vị kính tế độc ập, có sự phân công "hương ty, cây nương,

chất cây, cube dit Nữ giới

phụ nữ phải lao động từ 15 - I§ tiếng một ngày, người giả, trẻ nhỏ phụ giúp làm nương, kiếm củi, chăn rảu Quồng máy lao động tong gia dình người mông khá chặt chẽ, không thể thiểu

làm nương rẫy Người Hmông ở Mộc Châu chủ yếu sống dựa vào trồng trọt nương tẩy với các cây trồng chính là lúa nương và ngô Ngoài canh tác lúa

t cứ một lao động phụ nào trong mùa

ương là chủ yễu, một số nơi người HImông còn tằng lúa nước Kỹ thuật

lâm ruộng nhìn chung khá đơn gin, đến vụ mùa người ta chỉ cây một lẫn sau

đồ phơi cho đất ái rồi tháo nước vào mộng hoặc chờ cho có mưa mới cày thêm một lần, tranh thủ có nước thì cấy ngay Trong canh ác, người HImông tích luỹ được một số kinh nghiệm như: cày, phơi cho đất ai qua đông, xen

canh gôi vụ, chọn giông, Bên cạnh đó, hai nguồn kinh tế phụ có ý nghĩa với

các gia định người Hmông Mộc Châu đó là chăn nuôi và thủ công nghiệp,

Vé chan must

To nhủ cầu của đời sống kinh tế cũng như tín ngưỡng, tôn giáo, chân môi gia súc khá phát tiễn ở dân tộc Hmông Người Hmông có tuyển thing chăn nuôi gii, nhà nào cũng nuôi âu, bò, lợn, gà Họ thường nối “Ai không môi lợn thì không phải là người Hmông" Chăn môi của người Hmông ở

Mộc Châu tương đối c dã

"người Hmông đều nuôi trâu, bò để lấy súc kéo, nuôi ngựa đểthồ hàng, bên phát triển so với các dân tộc trong vùng Mỗi gia đình

cạnh đó họ còn nuôi nhiều lợn, gà, mèo, chó Phân lớn là nuôi thả rông, phó

"mặc cho tư nhiên Sản phẩm của hoạt động chăn nuôi nhằm cung cấp sức kéo,

Trang 19

Nahe thi cong

Trừ dẫu hòa và muối ăn phải trao déi mua bán, mỗi gia đình người

‘Hméng đã nỗi tiếng từ lâu với nhiều nghề thủ công như: xe lanh đệt vải, in

hoa van trên trang phục bằng sắp ong, rên đúc, đan lá Nghề thủ công ty là nghề phụ nhưng rt quan trọng trong đời ông kính tế tự cắp tự túc, là nghệ có truyền thống lâu đồi của đồng bảo Hmông

"Người Hmông ở Mộc Châu cũng như ở các vùng khác, họ là một trong những dân tộc thigu số nỗi ng với nghề thủ công: rèn, đúc sắt, thép, gang

Kỹ thuật

(rất bên

thành những công cụ lao động như: lưỡi cay, dao,

đúc đạt trình độ c qua sir dung cao trong lao động sản xu lạ bừa, củ

và sắc như:

dao phát nương, dao nhọn, cube, xéng, lưỡi cày,

Người phụ nữ Hmông ở Mộc Châu rit giỏi rồng lạnh, đặt vi, thêu thổ cm,

may mặc, Thổ cắm nhiều hoa văn, mẫu

phit wién trao đổi hàng hoá, Mặc dù

nhưng với bản linh kiên cường, cằn cù chịu khó đa số người Hmông đã tạo

thiểu để

Sặc sỡ và có giá trị kinh tế cao nếu

kiện tự nhiên không thuận lợi,

dung được cuộc sống tự lập và bảo đảm được nhu cầu kinh tế tại Không chỉ có vậy, người Hmông còn hy vọng có cuộc sống én định, đầy

đủ, hạnh phúc và đang cổ gắng nhất để phát iển với quan niệm "giàu di cw

sẽ nghề, nghèo di cư sẽ chí " Việ di cư là ngoài mong muốn của họ, do

"nguyên nhân bắt khả kháng để tìm cuộc sống ôn định, phòng chống thiên tai

va dic họa

`Với nền kính t tự cung tư cp, công cụ lao động thô sơ, diều kiện kỳ

qua day cho thiy sự

à nền kinh tế kém phát triển, dẫn đến tổng thể cuộc sống còn

thuật kếm, nên năng sut ắt thấp, sản lượng th

chit vat

Trang 20

nhiều khó khăn của người Hmông: thu nhập bình quân đầu người hi

chưa sao, thậm chí có những hộ nghèo còn thiểu cả muối ăn, thiều lương thực từ 02

~ 03 thắng trong năm; thiểu thin d dùng sinh hoạt nhất là quần áo, chăn

"mản, để chống choi với cái lạnh của mùa đông hàng năm Hiện nay, tỷ lệ

hồ có nhà gỗ cột kế lợp mái ngố , pré xi măng, có xe máy, radio, máy khâu,

giường, tủ, Ú v, goi là hộ khá, giàu có thể ưóc khoảng 46%, còn ý lệ hộ

"nghèo theo tiêu chi mới chiếm khoảng 54% Có thể nồi, hiện nay tình hình kinh tế - xã hội vùng người Hmông ở Mộc Châu kém phát triển và côn gặp nhiều khô khăn, Họ vẫn sân xuất theo phương thúc cũ, lc hậu chưa kể đến

văn hoá, xã hội và các mặt khác

“Chính vì sản xuất trên nương du canh du cư nên công việc nhiề và li khá năng nhọc, vì thể cần nhiễu lao động khỏe, nhất là ao động nam giới trực tiếp là lý do khiến nhiễu gia định Hmông, vì quá cằn lao động nên đã cưới vợ cho com tai ở dạng táo hôn Người vợ trong các trường hợp này đều lớn tuôi hơn chẳng Cũng do kinh tế lạc hấu, khó khăn nẻn người Hmông hau hết Không có khả năng chỉ trả cho các dịch vụ chăm sóc súc khỏe sinh sin, kế

"hoạch hóa gia đình nên ảnh hưởng nhiễu tới sức khỏe đặc bit la tub th thp Bên canh đó, kinh tế nương rẫy tự cung tự cấp sắn iễn vi tinh trang du canh,

«iu cư và cũng để li không ít hậu quả do nạn phá rừng làm nương, Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kính tế của người Hmông huyện Mộc Châu đang dẫn dẫn chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa và xuất hiện nhưng mô ảnh tốt, nh hình kính ế có nhưng bước tiến bộ Vải năm ở lại đây, hoạt động chợ phiên bắt đầu phát iển (Chợ phiến xã Lồng Luông mở vào chủ nhật hàng tuần), người dân dẫn được tiếp xúc với phương thức tro đổi thông

thương với các mặt hàng phục vụ may mặc, Đây là

hiệu đăng mừng cho hít tiến kỉnh t của người Hmông Mộc Châu Tuy nhiên, đi sống kin tế ở

Trang 21

vùng người Hmông Huyện Mộc Châu vẫn còn gặp nhiều khó khăn như: Trình

độ sản xuất còn thấp, tý lê hộ đổi nghèo vẫn ở mức cao và điện chưa ổn định định canh định ư còn lớn,

1LI-4 Hôn nhân và gia đình, đồng họ tuyễn thẳng

1.1.4.1 Các nguyên ắc ết hôn và nghĩ lễ hôn nhân tryễn thẳng

“Trước đây, tui ấy vợ ấy chồng của người Hmông kh sớm 16-17 tuổi

ở con trai và I4-15 tuổi ở con gái Có trường hợp con trai 12-13 tuôi đã lấy vợ

và vợ 1:20 tuổi, Tình trạng tảo hôn diễn ra ph biển, xuất phát từ tâm lý họ 6e Đông họ có uy tín, có th lực trong bản thường phải có đông các thành viên Khi lựa chọn bạn đồi, người con trai Hmông thường tìm những người

con gai chăm chỉ, khéo léo, thành thạo việc nương rẫy, biết nội trợ và sống tỉnh cảm với gia dịnh, làng bản Ngoại hôn theo dòng họ là nguyên tắc kết hôn đặc trưng ở người Hmông Dòng họ bao gằm tắt cả những người có quan

"h trực hệ, do cùng một ông tổ sinh ra, Do trải qua nhiều đời, ký ứ về ông tổ

dễ bị mờ nhạt dẫn nên trong thực tế, mỗi khi muốn nhận ra nhau, người HHmông thường căn cứ vào sự giống nhau hay khác nhau về đồng họ như về cắc điều kiếng ki va nghỉ Ễ cúng bái Đã là hai người cũng dòng họ, cùng chung một ông tổ, bao gầm ông tổ thực và ông tổ huyền thoại, dù cách bao nhiêu đồi cũng nhất thiết không được kết hôn với nhau Đây là đặc điểm thể hiển tính cổ kết bền vững của đồng họ người Hmông Vĩ phạm nguyên tắc này sẽ bị đưa ra xét xứ theo luật tục, thường là phái nộp cho dân bản một con

lợn và một số bạc trắng đẻ làm lễ cúng tạ thằn linh Đặc biệt, người Hmông cắm ky các quan hệ loạn luân( cùng họ, cùng dòng họ) Các chàng trai, cô gái khi đến tuổi yêu đương thường được bổ mẹ dặn đò kỹ lưỡng để tránh tìm hiểu

phải người cùng họ Chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã từ lâu được xác lập Mặc dù vậy, luật tục không quá khắt khe nếu vì lý do nào đó chấp nhận

được thì người đàn ông cùng một lúc có thể có nhiều vợ Bên cạnh nguyên tic

Trang 22

ngoại hôn đồng họ tỉ nội hôn tộc người cũng là nguyên ắc quan trong rong

hôn nhân của người Hmông Mặc dù cận cư với các dân tộc khác như Việt,

“Tây, Nùng, Dao và có những mỗi quan ê giao tiếp văn hoá thường xuyên với

họ, nhưng trước đây hôn nhân nội tộc vẫn là chủ yếu, hôn nhân hỗn hợp ít thấy diễn m và nếu cổ thì cũng chỉ giữa người Hmông với người Dao, là hai dân tộc tương đổi gần gũi nhau vỀ các mật phong tục tập quản, văn ho, địa bản cư rũ và ngôn ngữ, cư rủ sau hôn nhân là cư trủ bên nhà chẳng Theo truyền thống, những năm đầu, sau cưới, đôi vợ chồng trẻ thường chung sống đưới một mái nhà với bổ mẹ chồng Khi con cái họ đã trường thành hoặc trong nhà cổ các anh em trai của chồng lập ỉa ình tì họ tích ra lấp gia đình

"mối, Khác với người Việt, ở người Hméng, theo phong tục, vợ chẳng con trai

đút thường chúng sống với bố mẹ giả Người con út ng được hưởng phần nhiều số gia tải mà bổ mẹ để lại

“Trước khi thành vợ thành chồng, trai gái có thời kỳ tìm hiểu Điểm hẹn

hò gấp gỡ là các phiên cho, trong ngày tổ, trong các lễ hội, nhất là qua các phiên chợ ình, hội tung còn, thổi khên, hát đối đáp Các cô gái Hmông, ngoài việc Khâu váy áo còn thêu cho mình một quả còn (0ø) thật đẹp để đi

chơi trong ngày tết Trong hội tung còn, nêu có cảm tình với cô gái nào thi

chẳng tri sẽ mời cô gái đô cùng chơi, hai người vừa tung còn vừa lâm sự chuyện trỏ với nhau Hết hội, nếu cô gái tăng lại chẳng tra quả còn nghĩa là

8 gi đã thuận tỉnh chọn anh ta lâm bạn đời Sau những giờ tâm tình, nếu hai

"người cảm thấy hợp nhau, họ sẽ tách khôi tốp ban be di choi iệng Các cô gái thường thấu hiễu tâm sự của người bạn tình qua tiếng khèn,tếng so thiết tha dim thắm Vào các buổi tối, nhất là vào mùa xuân, tếng sio,tếng đân môi

Trang 23

Khi đã yêu nhau, chẳng tai thường tặng cô

như: Khăn, o, vòng, hỗ

kế như cô gi dã bằng lông

Người Hmông có một số tục lê đặc biệt ong hôn nhân, bao gồm: Tục

'kéo dâu diễn ra khá phổ biến trước kia, vốn là tục lệ mang tính văn hoá, hôn

những vật để làm kỹ niệm sáp tóc Nếu các vật đó không bị cô gái trẻ lại thì

hân anh em chẳng; hôn nhân con cô, con âu, con đi, con già

Ngày nay, dưới ác động của các chính sách phát triển kinh tế xã hội mới, hôn nhân truyền thống của người Hmông đã và đang có nhiễu thay đổi

‘Tuoi kết hôn ít nhiều đã được nâng lên Mặc dù vậy, tỷ lệ tảo hôn theo quy

định của Nhà nước côn cao

“Trước đây, tự do yêu đương được tôn trọng, nhưng tình trạng cha mẹ quyết định hôn nhân của con cái còn chiếm tỷ lệ

láng kể, Ngày nay, do sự uyên truyền của Nhà nước và các đoàn thể, cũng như do tác động của giio lý Tin Linh, tinh trang trên đã được ải thiện Hôn nhân là kết quả của quá trình tìm hiễu chữ ít hi do cha mẹ sắp đặt Người dân vẫn tiến hành hôn nhân theo các bước tuyển thống, nhưng một số nghĩ lễ phức tạp liên quan đến tin ngưỡng truyền thống đã giảm bot, LE dam bởi diễn ra đơn giản hơn trước

“Trong ngày cưới, nễu như cô đâu vẫn mặc trang phục tuyển thống như cũ thì chú rẻ đã mặc quần áo như người Việt Gia định nào khá giá th chú rẻ đã mặc somplẻ, còn gia định bình thường thì chỉ mặc quần âu, áo sơ mỉ mới và di

ei

đường đón dâu về nhà ti, lúc nghỉ để ăn cơm dọc đường, không còn tục vứt sơm thị ra xung quanh cho ma đường ăn; khi về nhà trai, bổ mẹ ch rễ cũng không còn phải lâm lễ nhập ma cho dâu mới Việc mỗ tầu, mỗ bò làm đám

cưới đã giảm đi Hôn nhân hỗn hợp với các dân tộc khác diễn ra ngày một

nhiều Tnh trang ngoại nh, ly hôn, đa thê trong bôn nhân hẳu như không có iên nhân của của người Hmông phải đâm bảo các nguyên tắc sau: CẨm tuyệt

“Tục khẩn lạy tổ tiên tại nhà gái của cô dầu, chú rễ không còn, Trên

Trang 24

đối những người cùng đòng họ kết hôn với nhau, nội hôn t

người (chỉ kết hôn với những người là dân tộc Hhmông, xưa kia không kết hôn với các dân tộc khác); anh, chị, em con di, con giả được phép kết hôn với nhau (hôn nhân đổi con đ); anh, chỉ, em co cô, con cậu được phép kết hôn với nhau (hôn nhân con cô, con cậu), trường hợp này thường do cha, mẹ sắp đặt bởi họ quan iệm những cập hôn nhân như vây là tốt nhất, con cá snh ra sẽ đẹp đề, ốt tính tắt nất, vợ chồng làm ăn khẩm khá

Các nghĩ ễ rong hôn nhân truyền thống của người Hmông

Bẳng

Đôi ti gái yêu nhau, họ sẽ hẹn ngày chàng trai tổ chức bắt đầu và cha

"me cô gấi không biết v8 việc này nhưng cha mẹ chẳng ti được báo trước,

du vio lie chip ti Theo tye lệ khi bị kéo đi, cô

Xêu lên hay chống cự li, khỉ đoàn bất dâu đã ra khỏi nhà gi iì mẹ và người

“Thời gian di

âu phải

nhà không được đuổi theo Trong khi bắt dâu, trên đường đưa cô dâu vẻ nhà

ti, diều tối ky với các cô đâu là không được khóc ma ( nh « hất những bai trong đám tang), đô được coi là điềm xấu Khi đến nhà tai, bổ chẳng trai sẽ bắt cơn gã trống huơ trên đầu cõ gái để xua đuổi tà ma, nghĩ lễ này được gọi

là lễ nhập ma về nhà chồng Khi đã tiến hành lễ nhập ma vào nhà chồng thỉ cô

gải không được bô trốn về nhà cha mẹ đẻ, vĩ như vậy sẽ bị dân làng dị nghị, chê trách và khó lấy được chẳng khác Khi vào rong nhà, mẹ của chẳng tai

‘chi cho cô gái buồng ngủ của mình mà chàng trai đã chuân bị tử trước

đồ nhà tri mỗ gà mời cơm những người tham gia bắt dâu Vì chưa phải cỗ đâu chính thúc, cô gải phi ăn cơm một mình trong buồng cưới

Di béo tin: Sau khi làm lễ nhập ma cho cô gái thì nhà trai sẽ cho người sang thông bảo cho nhà gấi biết

1ễän hỏi: D3 ngày sau khí di bio tn cho nha gi thi nhà ri sẽ mới ông trưởng họ đến chứng kiến lễ bối chân gà Sau khi xem chân gà, ông câu sẽ

Trang 25

din dau sang nhà gái ăn hỏi nhằm thống nhất lễ vật và ngày cưới Khi bản

việc chính chỉ có hai ông của nhà trai va nha gai thỏa thuận với nhau (Giao dé dẫn cưới: Bi sáng trước hôm cưới, nhà trả cử vài người do công cậu dẫn đầu mang tiền (do nhà gái thách cưới), thịt lợn và rượu giao cho nhà gái Sau khi nhà gái đã nhận, mỗi bên mổ một con lợn làm cỗ ăn mừng 1Š cưới: Nhà trai an cỗ trước khi đã đón dâu, ông mỗi được bỗ mẹ chú

Tổ đặn đồ, giao nhiệm vụ trước khi đi đồn dâu Đoàn đón dâu mang theo tiên cưới, một gối cơm, hai con gà, rượu, một chic ô Mọi người đều mặc quẫn áo

mới Theo phong tục, dù nhà trai và nha gai có ở gần nhau hay xa thì khi đoàn

đón dâu đã đến giữa đường phải đừng lại ăn cơm, sau đó họ thả con gà sống

đã mang theo Đảm cưới diễn ra ở nhà gái, rượ, thị: lon, gao để tổ chức hôn

lễ ở nhà gái là 18 vat do nhà trai mang sang từ hôm trước Để bỗ sung cho đám

cưới nhả gái có thể mô thêm lợn, gả vả rượu

Tễ lại mặt Lễ này diễn ra vào chiều hôm sau ngày cưới ở nhà tni nhưng cô đầu chỉ đ một mình và khi rở về nhà chẳng sẽ mang theo tắt cả đồ đạc tư rang của mình, từ đồ cô dâu hoàn toàn thuộc về nhà chồng,

"Ngoài ra hôn nhân rong xã hội tuyển thống của người Hmông ở Mộc

“Châu còn có tục kéo vợ (Iay pi) Thường thì có ba trường hợp: Một là, nhà trai không đã bạc trắng để đáp ứng việc thách cưới, chẳng rẻ tương li sẽ tổ chức kéo vợ Hai là, cha mẹ hai bên không đồng ý Ba à nếu chàng ai ưng

cô gái thì khôi biết đối tác có ưng hay không chàng trai sẽ tổ chức kéo

xợ; hôn nhân anh, em chẳng (Nếu người anh mắt, người em buộc pha ly chi

dâu làm vợ)

114.2 Gia dink

"Người Hmông gọi gia đình hay hộ gia đình là đi (hộ) hoặc Chế nẻnñ

Gia định người Hmông là gia đình nhỏ phụ hệ, phổ bi là kiểu gia đình hai thể hệ bao gồm một cặp vợ chẳng cùng với con cái chưa xây dụng gia đình

Trang 26

Bén cạnh đó, còn có kiểu gia nh gồm một cặp vợ chẳng cũng con

bổ mẹ chẳng hoặc một trong hai người đó, bình quân mỗi gia đình có từ 5:7 nhân khẩu Trước đây, gia định người Hmông thường khá đồng đúc, nhiều cập vợ chẳng là anh em tong gia định cùng với bổ mẹ chẳng cùng sinh sống

i cing

trong một mái nhà Thông thường, cặp vợ chẳng người con trai út sống cùng xới bổ mẹ và phụng dưỡng họ vì anh em chỉ sng với nhau khỉ còn nh, đến

hi lập gia đình đều tách rổ tiếng

Gia đình mruyền thống ở người Hmông bao gồm gia đình nhỏ bai thề bệ

và gia đình lớn nhiễu th hệ, tính chất phụ hệ, phụ quyển trong gia đình người Hmông rit dim nét, trong đó, gia dình nhỏ dang ngày cảng thắng thé Đứng đầu gia nh là người đàn ông, với vai rỏlà chủ nhà họ có quyển quyết định

"mọi công việc, làm nhiệm vụ điều hình kế hoạch in xuất, quản lý và phân

phối các sản phẩm làm ra, phân xử các trường hợp mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên trong gia đình; đứng ra tô chức vả chủ trì các nghỉ lễ cúng bái

của gia định Trong gia đình mọi người cũng lao động, cũng hưởng thụ, thành quả lao động được coi à của chung cho tắt cả mọi thành viên, Con sinh rà mang ho bi, Con trai được quý hơn con gi với quan niệm con tra à người sẽ

mở mang phát triển dòng họ theo huyết thống Tư tưởng trọng nam, khinh nữ:

phố biến trong đời sống hàng ngày trước đây Thiết chế gia định phụ quyền nhân biệt các thành viên ong gia đình khá chặt chẽ, Người đân ông có quyền

‘ca vé mat đối nội lẫn đối ngoại Người phụ nữ trong,

lực tối so trong gia

sia dinh người Hmông phải cam chịu địa vĩ phụ thuộc Khi i lầy chẳng, ngay

cả cái tên mà bổ mẹ đặt cho họ phải đổi the tên của chẳng và cũng từ đó vinh viễn ở thành người của gia đình nhà chẳng Tỉnh phụ quyền được thể iển ngay từ khi những đứa trẻ sơ inh mới chảo đời, Nế là nhau tha con tai

"mới được chôn ở cột chính của căn nhà, còn nhau thai con gái chỉ được chôn

ở chân giường Người Hmông vẫn có câu: "Để cơn gái nh gáo nước đổ i

Trang 27

rồi không lấy lại được” hay "Con gái chỉ giúp nhà một thời, con trai mới giúp

lá thổi

vẽ sắp ong, cách trồng lanh, đt vải, bát dân ca; các anh dạy em trai

so, thổi khên, săn muông thú Thông qua gia đình, mỗi thành viên déu ty học cách ứng xử văn hoá

“Tuy nhiên, người Hmông vẫn quan

sm con gi i con người la, v thế

tư tưởng trong nam khinh nữ vẫn còn phổ biển, được thể hiện rõ nét rong đời sống sinh hoại, trong giao tiếp với xã hồi Đặc thù sinh sông của người Hmông là ở rên núi cao, ơi ho lánh, đi ại khó khăn, hơn nữa xuất phát từ nhận thức thắp do không được đủ học,chỉ cần có người lao động sản xuất để đáp

ng nhú cầu đời sắng của gia đinh mình Do đó, họ coi nhẹ việc học hình của son cái, nhất là cơn gái tì li cảng khó khăn hơn trong việc đến trường Ngày

ay, nhờ được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nên nhiều trẻ em gái đã được di học nhưng hầu hết chỉ học qua lớp 05,07 à nghĩ học ấy chẳng hoặc phụ giúp sia định ong lào động, Cần bộ nữ người Hmnông ở Mộc Cha rt it Ví dụ ở xã

‘Long Luông có 03 người, huyện có hai người; xã Vân Hỗ có 02 người

Việc cúng tổ tên và thờ cha mẹ trong gia đình người Hmông cũng như việc thực hiện các ngh lỄín ngường tôn giáo chỉ có người đân ông mới được

thực hiện, từ xưa đến nay người phụ nữ không được làm việc này Đây là một

trong những yêu tổ luôn thúc đấy mong muốn sinh được con ti, là một trong những nguyên nhân thúc dây tỉnh trang tảo hôn và sinh con thứ ba

Trang 28

1143, Dang ho

‘Vai dân tộc Hmông, dòng họ và quan hệ dòng họ có vai tro quan trọng

nhất là vai rẻ của người trường họ, Đây à một đặc điểm văn hóa hiểm thấy ở cắc dân tộc khác Người Hmông có quan hệ dòng họ xa và quan hé dng họ sần, tức cùng họ nhưng khác ma, nhưng vẫn coi là anh em cùng một tổ tiên Khi có cùng chung ký hiệu về tang ma và các lễ thúc cúng gi tổ tiền, cúng thần nhà, thẫn cửa thì họ coi nhau là anh em cing ma Khi cing ma thi ho coi nhau là anh em một thị

sinh hoại chung đưới một mái nhà, được tin yêu giáp đỡ và được chết ở nhà có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu, được ăn, 6,

nhau Khi cùng dòng họ, trai gi không được kết duyên vợ chồng Theo quan niệm của người Hmông, đồng họ là cộng đồng những người cùng một ông tổ

sinh ra và mỗi đồng họ có đặc trưng riêng về lễ nghĩ tín ngưỡng, giáo với luảt tục nghiêm khắc Sự cổ kết đ vượt lên sự phân tần về địa bản cự trú và

su chia cit bai địa giới hành chính Tuy nhiền, đặc điểm này có mặt tiêu cực

và dễ bị lợi đụng, kích động bởi tính khép kín, cụ bộ, bạp hỏi bộ ôc, đồng

họ theo tự tưởng phong kiến bảo thủ và tranh chấp về lợi ích, địa vị xã hội

"Người Hmông cũng họ, cũng dòng họ thì đồ ở xa xối đến mẫy vẫn được coi là

nh em vì vậy không bao giờ được kết hôn với nhau Trong gia định người

"mông, người đần ông làm chủ gia đình đại diện giao tiếp xã hội Côn người phụ nữ khi đã về nhà chẳng, họ hoàn toàn phụ thuộc vào chẳng, nghiêm cắm sinh con hay chết ở nhà bổ mẹ đẻ, và không được thừa kết sản, Các thành viên trong đồng họ cổ trách nhiệm giúp đỡ, bảo vệ lẫn nhau, để cao quan hệ huyết thống Những người củng dòng họ là anh em cùng họ, ác gia đình trong cing dòng họ không nhất thit phi cư trú cũng nhau trong một khu vực lãnh thổ và tong cũng một bản có thể có nhiều đồng họ cũng inh sống Có những thành viên trong đồng họ cử trú ở nhiễu nơi khác nhau nhưng mỗi khỉ đến nhà nhau thì được coi như người nhà, có thể ôm hoặc chết tong nhà

Trang 29

nhau Giúp đỡ các thành viên khi gặp khó khăn đã rở thành nguyên tắc đối

với cá nhân hoặc gia đình trong dòng họ người Hmông Mỗi dòng họ có

những nghỉ lễ cúng bái, làm ma riêng biệt và có những kiêng ky khác nhau gắn với những cách giả thích khác nhau Ví dụ họ Giảng không được ăn tìm của các loài động vậi, họ Sàng kiêng ă thị gấu,

“Trong cơ cấu dòng họ người Himông không phân biệt đồng anh, dòng

cm mà tắt ã các chỉ đông họ đều có vi wi va quyén loi như nhau Đến khỉ

"háp xâm lược nước ta với chính sách chia để tr chúng đã tôn vinh một số đồng họ lênthảnh đồng họ thống trị giữ chức thống lý, thống qui ở cắc địa phương nhất là ở khu vực t tr Tây Bắc Do cuộc sống phân tần, du canh du

ca xưa kia các đồng họ người Hrmông cùng sinh sống ở nhiễu nơi khác nhau

VÌ vậy, ông trường họ chính không thể quản lý hết dòng họ của mình nên đã

xinh ra một số người thay mặt trưởng họ quản lý ở từng địa phương Những

trò lớn như trưởng ho ma được gọi là chỉ tộc trưởng

Đông họ có vị tí quan trọng trong đời sống của người Hmông, đặc biệt

là người trưởng họ rất quan trọng đối với toàn bộ các sinh hoạt của dòng họ

“Trong đồi sống sinh hoạt hàng ngày, vai trỏ của trưởng họ luôn được khẳng định Sự thông nhất về mặt tư trởng ỉnh thần có gi tr to ớn trong đời sống sinh hoạt của người Hmông Thông qua vai tò của trưởng họ, mọi việc được giải quyết nhất quần, thông sốt

“Trong đồng họ người Hmông, quan hệ gia định giữa ông bà nội, bổ mẹ, chi bie, anh em ruột thịt có tập quán sống chung theo nguyên tc trên dưới, tổn trậlự trõ rằng, điều đặc biệt, đủ con anh hay con em ti ai nhìn thấy mặt trời rước thì người đó sẽ là anh, là chỉ Thiết chế đông họ của người HHmông khá chặt chế dựa trên nễ tảng tâm lý cổ cùng nguồn efi Dang ho la thành tổ cốt li và cổ vị trí quan trong rong cấu trúc xã hội ruyễn thông của

Trang 30

c thiết chế xã hội

‘va trở thành thiết chế xã hội quan trọng nhất trong xã hội người Hmông,

người Hmông Thiết chế dòng họ nhí

Người Hmông ở Mộc Châu dù thuộc bắt kỳ nhóm nào, nguồn gốc ở đâu nhưng khi đã tự xung là người Hmông thì tắt cả tở thành anh em thuộc một công đồng Trong xã hội ruyển thống, tín ngưỡng, tôn giáo là những thành tổ quan trọng, có tác động mạnh mẽ đến nghệ thuật và văn hoá dân gian Trong thực tẾ tôn giáo tín ngường của các dân tộc Mộc Châu vẫn là tín ngường

"nguyên thuỷ đa thần Với nhận thức cổ hạn về thể giới xung quanh, sự bắt lực

trước những chỉ phối của tự nhiên họ phải thờ cúng quanh năm Tắt cả những

lực lượng siêu nhiên được coi là ma Tín ngưỡng của người Hmông Mộc

“Châu có nhiễu nét tương đồng với các tộc người khác Trong các hình thức tín

hè mang ắc thái phong phú trong đời ng của người Himông Mộc Châu: yêu

tổ gắn kết cộng đồng được thể hiện trõ trong tập quán bảo vệ rừng, các sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, lễ bội Người Hmông ở Mộc Châu có lễ hội “Não

.$ông” nhưng đã bị mai một và mới được phục dựng vào năm 2006; hàng nãm

huyện Mộc Châu tổ chức win văn hoá dân tộc Hmông vào dịp Quốc khánh,

t độc lập đã trở thành nét đẹp văn hoá

không biết có từ lúc nào nhưng vui

độc

"ngường khá phong phú, liền quan chất chế tới cộng đồng, gia đình Ví dụ như:

LỄ đạt tên, gối hồn, phải có sự chứng giảm của cả công đồng Trong nhà

"người Hmông có ban thi “Sif ca", người Hmông ở bản Tà Số có tục cúng viên đá thần,

đáo tiêng có ở người Hmông huyện Mộc Châu Họ có hệ thống tin

“Người Iimöng là dân tộc luôn coi rọng thực tế, diế hye Ho eo tn

giáo chủ là phương tiện nhằm giải quyất những như cầu bức xúc của đời sống

Trang 31

chứ không quan tâm về rể ý, về hạnh phúc lư áo ở tế giới bên kia Do đỏ Tình ảnh của th giới bốn lúa rong tổn gio, in ngường tro tiỗng người Hmông cũng đơn giản như thể giới thực tại chứ không có vẻ cao siêu, phức taps.” (15,6187

Từ những đặc điểm về gia din, dng ho với vai tò quan trọng của

"người đàn ông đã có những tác động không ít tối vẫn đề tảo hôn và sinh để của người Hmông Chính vai trồ quan trong của người con trai trong gia đình, ông họ người Hmông mà các bậc cha mẹ đã dựng vợ gả chồng cho con cái

tốc

ất sớm với mong muốn sinh được con trai, cảng nhiều con trai là

“Con tri là tr cột rong gia đình, là nơi nương tựa khi tuổi già là nguồn nhân lực và là yếu tổ để tăng thanh thể dong ho Như vậy, phong tục tấp quan, tín

"ngưỡng đã tác động không nhỏ tới vẫn để tảo hôn

1.1.5 Đặc điểm văn hóa

“rên nỀn tầng của nền kính tế nông nghiệp nương rẫy, cộng đồng người

115.1 Van hod vat chét

Văn hoá vật chất của mỗi tộc người được đề cập đến trên các phương

«ign: Nhà ở, trang phục, đồ „ tống, hút, phương

vận chuyển

là nhà đấ, thưng bằng vấn gỗ, có

ba gian Nhã đắt của người Hmông được thiết kế có một số buồng ngủ cho vợ “Xà ở của người Hmông Mộc Chât

ching gia chủ, vợ chồng con ti và con gái chưa lấy chẳng Trong nhà được dặt ai bếp, bếp nấu nướng và bắp sưởi Nhà của người Hmông mãi thấp, gần sit mat dit dé ching choi, ngăn chăn sương mù, giữ cho không gian trong nhà

luôn khô ro, m ấp

Trang 32

Trang phục: người Hmông là một trong số L các dân tộc côn lưu giữ

khá đây đủ bộ trang phục truyền thông, sử dụng phô biển trong ngày thường

cũng như tong dịp lễ tế, hội hè Bộ tang phục người Hmông Mộc Châu phong phú, độc đáo nhiều màu sắc với những đồ án hoa văn trang tr nhất là

trang phục của người phụ nữ

"Người Hmông sĩ dụng nhiễu đồ tang sức bằng bạc như: vòng cổ, vòng tay, vòng tai và nhẫn, đặc biệt họ ưa dùng nhẫn bạc được chế ác với hình con ve sằu Trong những thập niên gần đây, phần lớn người Hmông ở Mộc Châu có phong trào gắn răng vàng, coi đó như một cách làm đạp cả nam giới và nữ giới

"Đồ ăn, ung, lút Người Hmông được biét đến với những món ăn như nên món, thắng cổ, lợn cấp nách, rau cải nấu với mỡ lơ Thục phẩm đồng trong bữa ăn hàng ngày thường là nhàng sản phẩm của hoạt động săn bắt, hồi lượm (sóc, chuột, nhím nấu với gừng, rau rừng) Đồ uống của người Hmông Xhá đơn giản, xưa kia họ thường uống nước lã, thâm chí còn ding dé chan sơm ăn Từ ngày giải phóng Tây Đắc họ dã biết đun nước sôi uéng, có khỉ

ha chè Họ đều thích uống rượu, người Hmông nỗi iếng với rượu ngô Ngày

nay, người Hmông còn biết sử dụng các đồ uống giải khát như bia, cô ca

để đơng ông nước, ấy củi; gi (đan) mau dùng để vân chuyển nô, lúa, thưc

phẩm, đi rừng, sn bất, hái lượm hoặc để đựng các loại hàng khi đi chợ Ở

người Hmông, gùi thường do phụ nữ sử dụng, đần ông ít khi mang gi trên Hùi Hmông thường rộng miệng và thấp hơn so với gùi của các dân tộc khác, Ngoài ra nguời Hmông còn sử dụng sức kéo của trâu, bỏ Ngày nay, cũng với sự phát iển của khoa học kỹ thuật họ đã iẾt sử dụng xe đạp, Xe

máy, xe công nông, làm phương tiện vận chuyên

Trang 33

"Như vậy, tất cả các thành tổ cấu thành của văn hóa vật chất phản ánh sự thích ứng, cách ứng xử với thiên nhiên và hoàn cảnh xã hội ở từng thời điểm ccủa người Hmông

1152

ăn hoá th thin

'Người Hmông có đời sống văn hỏa tỉnh thần phong phú và đặc sắc, tưng quá trình lịch sử dân tộc Hmông hình thành nên những đặc điểm văn

"hóa có tính bền vững và riêng biệt Sinh hoạt văn hóa truyền thống của họ thường gắn với nội dung

ma nỗi bật là điệu múa khèn trong các ngày hội văn hoá của huyện là ấm

tượng sâu sắc, khó quên đối với du khách gần, xa Khên trắng còn được sử: dụng trong dim ma, lie ving trong các lỄ cũng cơm Kèn lá, đàn mới là lương tiện đễ (hanh niền rao đổi tâm tình, [2/0122]

“Ngôn ngữ: Ngôn ngữ dân tộc HHmông thuộc nhóm ngôn ngữ Himông - Đạo Tuy được chỉa thành nhiều nhóm địa phương nhưng gila các nhôm vẫn giao tiếp được với nhau, Sự khá biệt giữa các nhóm chỉ là ự khá biệt về mặt

phương ngữ Người Hmông trước đây không có chữ viết, từ 1960 người Hmong

6 cht viết ghép ừ các chữ cái la tinh được Chính phủ biền soạn và cấp miễn phí nhưng hiện nay loi chữ này cũng không được sử dụng phổ biển

ăn học dân gian Hmông gồm nhiều thể loi như: thần thoại, cổ tích,

ca dao, tục ngữ, Hầu hết cá loại hình này được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng, nó phản ánh đời sng văn hoá tinh thin phong phú, nhiễu màu sắc, nhiễu khía cạnh của cuộc sống người Hmông nơi dây

“Nghệ thuật tạo hình

“Thể hiện qua trang phục, đỗ dùng sinh hoạt nhưng nỗi bật và rõ nét

nhất phải kể đến các đồ án hoa văn trang tr tạo hình trên trang phục, đặc biệt

Trang 34

những đường ngang, viễn đậm đãi hoặc gãy góc tao nên các khối hình vuông, kinh chữ nhật, hình thoi, ình xoắn ốc, Người phụ nữ mông là tác giả của

nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục, vào những lúc nhàn rỗi, sau khi thu

hoạch mùa vụ hoặc tranh (hủ vào lúc đêm khuya khi đã xong công việc gỉ đình, người phụ nữ Hmông lại ngồi thêu thùa, vẽ sắp ong bên bếp lửa với

"gọn đèn dầu Công việc này gắn bô với người phụ nữ Hmông từ khi còn b, cũng bởi người Hmông đánh giá tải năng, vẻ đẹp của người phụ nữ thông qua Xhả năng tiêu thủa khéo léo, qua trang phục mặc trong lễ cưới Nghề đặt vi thêu hoa văn là thước đo giá tị của người phụ nữ

1.2, Một số khái

121, Tio hon

* Tảo hôn

Tảo theo ng Hán - Việt nghĩa là sớm

Hon nghĩa là nam nữ lấy nhau để thành vợ chẳng của nhau (Kết hôn với nhau) và được xã hội, công đồng công nhân

“ảo hôn là kết hôn khi một bên hoặc cả bai bên chưa đủ tuổi theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình do Nhà nước ban hành Theo quy định tại điều 9 tuật Hón nhân và Gia đình: Nam phải đủ từ 20 ỗi trở lên mới được kết hôn, nữ phải đủ từ 18 ỗi ở lên mới được kết bôn Kết hôn khỉ

chưa đủ tui theo quy định trên là tảo hôn Như thể là

Trang 35

‘Vay, theo người Hmông họ hiểu tảo hôn là thể nào?

‘Tao hôn theo quan niệm của người Hméng ở Mộc Châu: Người Hmông

vốn không có khái niệm tảo hôn, hầu hết họ đều mụ

và đã cho con cái kết

tyề

1.3.2 Văn hóa tộc người

Văn hồa tộc người là toàn bộ giá văn hỏa vật thể, văn bóa phi vật thề

do các công đồng người sáng tạo tong quá trình sinh tôn và phát tiễn gắn bố

ới môi trường tự nhiên và môi trường xã hội cụ th Nó phản ánh đặc điểm

w duy trong lao động sng tạo của ác tộc người trong sự vận động nộ tai và quan hệ văn hồa với cc ộc người khắc

Hay: lấn hỏa tác người hay vốn háo dân tộc là ổng thể các yêu

trắng nói, chữ viế, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tính thấn, các sắc tải tâm lý tình câm, phong tụ và lễ nhí khiển người ta có tiể phân bit

ốc người này với tác người khác [743]

Van hỏa tộc người là cơ sở, Èn tảng này sinh, phát tiển và duy trì

củng cổ ý thức tự gi

của dân tộc ấy không côn đủ bản sắc để phân biệt với dân tộc khác, dân tốc Ấy soi như bị mắt ăn hóa dân tộc của mình và điễu đó có nghĩa là ý thức tự giác dân tộc của công đồng dân tộc đó cũng bi iều vong VỀ phương diện văn hóa, dân tộc đó cũng biển mắt

"Những dạng thúc của văn hồa tộc người

tộc người Một dân tộc bị đồng hóa nghĩa là văn hóa

Trang 36

Trước đây, phân loi văn hồa tộc người với các thành ổ: Văn hôa vật chất, bao gồm cả hoạt động kinh tế, tập quán cư trú, làng bản, nhà cửa, ẩm

thực, ; Văn hóa tỉnh thần gồm tín ngưỡng tôn giáo, lễ thức, văn học dân

gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian, ngôn ngữ, chữ viết, Văn hóa xã hội gồm

Phan logi theo ngôn ngữ 54 dân tộc gồm: Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường

mm: ving

nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ me, nhém ngôn ngữ Hmông - Dao, nhôm ngôn ngữ

“Tây Thái, nhôm ngôn nữ Lăn - Tạng và nhóm ngôn ngữ Nam đảo

Phân loại theo Luật Di sản, văn hỏa tộc người gồm: Văn hồa vật th và

ấu thành văn hóa quốc gia Văn hóa

Trang 37

xã, bản có đồng bảo Hmông cư trũ có một số đặc điểm chung đáng ch

‘song sinh hoạt Tập quán sông biệt lập, các quan hệ xã hội tương đổi khép kín

sòn khá năng nề đời sống kính tế và mưu sinh còn nhiễu khó khăn nhất định Trình độ dân tr côn thấp so với mặt bằng chung trong huyện cùng với những

“quan niệm về hôn nhân, gia đình, đồng họ truyền thống; những luật tục khắt

khe trong việc thực hiện các nghỉ thức tín ngưỡng còn tồn tại nhiều hủ tục lạc

hậu ở thành những yếu tổ tác động trực tiếp âm nây sinh và tổn tại nạn tảo hôn ở người Hmông huyện Mộc Châu, đã và đang trở thành ro cân lớn cho

ự phất tiễn kinh tế xã hội địa phương, gây khó khăn trong việc thực hiện sông tác uyên truyền, vin động người dẫn không tảo hôn và thực hiện lỗ sống văn mình

Dựa trên những khái niệm về Tảo lớn và ăn hóa rốc người là khung

lý thuyết quan trọng để qua đó người viết thực hiện nghiên cứu của mình

dũng hướng và đúng mục dích đ ra Tuy nhiên, các nghiền cứu trong chương này, người iết chủ yêu tấp trung khai thc các khía cạnh có liên quan dé nan tảo hôn

Trang 38

“Chương 2

'THỰC TRẠNG TẢO HON CỦA NGƯỜI HMÔNG Ở HUYỆN MỘC CHÂU

2l Thực trạng táo hôn

-31L1 Tảo hôn trong x hội tuyễn thẳng

:Cho đến nay, người Himông vẫn duy tì những phong tục lạc hậu tong

hôn nhân truyền thông Cũng giống như nhiều dân tộc thiêu số khác, trai gái

Hmông được tự do tìm hiễu nhưng quyén ty quyét định hạnh phúc của mình thường không có, cũng có những trường hợp bà mẹ là người quyết định hôn

nhân của con cái Tục ngữ có câu: “Bổ khoẻ ti BỐ đi mua ngựa, mẹ khoẻ thỉ

mẹ đi lấy con dâu”

“Trong xã hội ruyễn thông, người Hmông ở Mộc Châu thường kết hôn

tất sớm Trai gái đến tuổi mười ba, mười bổn đã lấy vợ, lấy chẳng bởi theo

"mà chưa kết hôn là đã qúa lứa nhỡ thị, khổ lấy chồng, lấy vợ Trai gái đến 18

20 tuổi ma vẫn chưa xây dựng gia đình thì dân làng thưởng có nhiều di nghỉ Hơn nữa, do tập quần sinh sing bằng canh tác nương rẫy - một loại hình sân uất đôi ôi nhiề lao động, nhất là lao động nam giới nhẳm đáp ứng nhủ cầu sức ao động cho gia đình nên buộc phải cho con cái lấy vợ, lấy chồng từ tắt sớm Việc kết hôn của người Hmông ở Mộc Châu cũng nh các dân tộc khác được coi là chuyên dai sự trong cuộc đời mỗi con người Nhưng như đã trình bày, quyền quyết định chọn vợ chọn chồng thuộc về những người lớn

Trang 39

tuổi như ông bà, cha mẹ, nhất à khi cơn cí

Xinh nghiệm, thu th cha me dt

* Theo các cụ giã người Himông ở Mộc Châu, khi được bồi kế bôn lúc bao nhiêu tổi, được biết

= Cu dng Tring A Tru, sinh sng tai bản Lũng Xá, xã Lồng Luông cho bide: Cu ly vo tr kh ew 16 tỗi và cụ sinh được 09 người con; nay cụ đã có tắt nhiều châu, chất Con của cụ nay cũng đã lên chức ông, bà thậm chí các

"người dã lên chức cụ Cụ cho biết, khicụ ấy vợ tỉ tai bin Ling Xá cũng có

nhiều cặp vợ chồng lấy nhau khi mới 13, I4 tuổi; số cặp vợ chồng lẫy nhau từ

18 - 20 tuổi t t và *u như không có

= Cu ba Giang Thi XẺ, sinh sống tai bản Co Tăng, xã Lồng Luông lầy chồng khi lŠ tubi và sinh được 0Š người con và nay cũng đã lên chức cụ Bà cho biết, các cặp vợ chẳng trong bản của bà đều kết hôn rất sớm Bà nối, nấu

0 nỗi mới ly chằng tủ đã giả rồi, không ai muồn ly mình nữa

~ Cụ bà Giảng Thị Sông, sống tai bản Hua Tạt, xã Văn HỖ lấy chẳng từ khi bà mới 16 tuổi, bà hơn chẳng mình hai tui và sinh được 10 người con

trong đồ có 06 người con gái và 04 người con trai Đến nay cũng đã lên chức

bả, chức cụ và các con, các chấu bà nhiễu người cũng lấy vợ, lấy chồng rất sớm Nơi bà sinh sống cũng có các cấp vợ chẳng lấy chồng khi 18, 20 ôi nhưng số cặp vợ chẳng kết hôn muộn như vậy không nhiễu

= Ong Ving A Gư, sng i bản Phiêng Cảnh, xã Tân Lập vào thời điểm,

ng lấy vợ (kh 16 tui) thì rt nhiễu cặp vợ chồng tằm tuổi ông hoặc ít rỗi hơn đông cũng kết hôn, Bản thân ông đn nay mới ngoài 50 uỗi đã lên chức cụ

~ Chỉ Mùa Thị Pa, eư tr tại bản Co Châm (Xã Lồng Luông) Chỉ lắy chồng khi 16 tuổi, năm nay 31 tuổi đã cố 04 người con, con gi lớn của chỉ

năm nay đã sang tuổi 15 tuổi, con trai út mới 8 tui

Trang 40

* Theo như các cụ giả, khi được hỏi trong gia đình của các cụ, có bao nhiều anh, chỉ, em tảo bôn 2 Dộ tuổi khi ấy vợ lấy chồng của những người anh, em tong gia đình như thể nào? Được biết

ˆụ ông Trắng A Páo, sinh sống tại bản Lông Luông, xã Lóng Luôn,

cho biết gia đình ông có 08 anh, chị, em Mặc dù là con cả nhưng ông lấy vợ

"muôn hơn các em, ông lẤy vợ khi 21 tuổi và là người duy nhất trong gia đình không tảo hôn Các em của ông đều lấy vợ, ấy chẳng từ lúc 13- 17 tui

~ Bà Mùa Thị Dnh, sống tại bản Bó Nhàng, xã Vân Hỗ năm nay bước sang tuổi 56 đã lên chức cụ của 03 chất Bà nổi, trong ga đình bà tắt cả các anh, chỉ, em đều kết hôn sớm, nay người em út của bà cũng đã có chấu nội, ghấu ngoai Khi duge hoi tai sao lạ lấy vợ, lấy chồng sớm thì bà nổi: nha

"mình cần người làm nương nầy, mà đợi đến khí 13, 20 ti là không ai lấy đâu, họ bảo là giả đấy:

= Ba Ho Thi La, sing tai bản Tà Phẳnh, xã Tân Lập cho biết

anh, chỉ, em nhà bà cũng như gia đình nhà chẳng sỉ cũng lấy vợ, lấy chẳng

ốm và thành viên nào cũng sinh con thứ bạ, Mặc dù được cần bộ dân số xã tuyển tuyển xỀ không tảo hôn nhưng họ vẫn kết hôn sớm, Độ ti của các

anh, chị, em khi kết hôn đều từ 15-17 tuổi

Tảo hôn, tiêu chuẳn chọn con dâu của các bậc cha mẹ thường là: phải

sổ sức khe, chăm chỉ và biết thêu tha, âm nương rẫy giỏi Các nghỉ thức hôn nhân kh tảo hôn không có gì khác so với các cuộc hôn nhân không tảo hôn, ao gồm các bước như: bắt vợ, dĩ báo tin, dam hỏi, giao vật cưới và lễ sưới Từ lúc ăn hỏi đến khi đám cưới hoàn tắt diễn ra nhiễu ngh lễ bao gồm sắc bước, lễ dạm hỏi, lễ tao lễ vật thông báo ngày cưới và lễ cưới Lễ hỏi thường dia ra sau mùa thụ hoạch, khoảng thng 10-11 âm lịch Nhà ti chọn

"ngủy lành tháng tốt nhờ ai ông môi mang lễ vật sang nhà gái dam hồi Sa lễ

Ngày đăng: 19/08/2022, 12:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm