ĐỀ TÀI NHÂN CÁCH VÀ SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA NHÂN CÁCH TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG SV Nguyễn Thị Hương MSSV 16114003 LỚP 161LK4432 Bình Dươ. NHÂN CÁCH VÀ SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA NHÂN CÁCH NHÂN CÁCH VÀ SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA NHÂN CÁCH NHÂN CÁCH VÀ SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA NHÂN CÁCH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG
ĐỀ TÀI: NHÂN CÁCH VÀ SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA
NHÂN CÁCH
TIỂU LUẬN MÔN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG
SV: Nguyễn Thị Hương MSSV: 16114003
LỚP: 161LK4432
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn GVHD Môn Tâm Lý học đại cương đã tận tâm hướng dẫn chúng em qua những buổi nói chuyện, thảo luận cũng như học tập về Môn Tâm Lý học đại cương Nếu không có
những lời hướng dẫn, dạy bảo của quý thầy, cô thì em nghĩ bài tiểu luận này của em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô
Bài viết này em làm dựa trên những hiểu biết của em về môn học Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy, cô và các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Sau cùng, em xin kính chúc quý Thầy Cô trong trường Đại học Bình Dương, thật nhiều sức khỏe để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Trân trọng!
Người viết
Nguyễn Thị Hương
MỤC LỤC
Trang 3LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 2
II KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NHÂN CÁCH 2
III VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 3
1 Nhân tố bẩm sinh - di truyền có vai trò tiền đề vật chất 3
2 Nhân tố hoàn cảnh sống 4
3 Nhân tố giáo dục giữ vai trò chủ đạo 6
4 Nhân tố hoạt động giữ vai trò quyết định trực tiếp 7
5 Nhân tố giao tiếp giữ vai trò cơ bản 8
IV LIÊN HỆ THỰC TẾ 9
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 4MỞ ĐẦU
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu về tâm trí và hành vi, hiểu về các hiện tượng ý thức và vô thức, cũng như cảm xúc và tư duy Đây là một bộ môn học thuật với quy mô nghiên cứu rất rộng Tâm lý học được miêu tả như một ngành"khoa học trung tâm", với những khám phá trong ngành có ảnh hưởng đến những nghiên cứu và quan điểm của những bộ môn như khoa học xã hội, khoa học thần kinh, và y học
Vấn đề nhân cách được coi là một trong những vấn đề cơ bản song cũng là một vấn đề phức tạp nhất của khoa học tâm lý nói riêng và của khoa học xã hội và nhân văn nói chung
Nhân cách không phải được sinh ra, không phải có sẵn và được bộc lộ dần trong cuộc sống mà là một cấu tạo tâm lý mới được hình thành và phát triển trong quá trình sống, hoạt động, giao tiếp Chính bằng các hoạt động xã hội, con người ngay
từ khi còn nhỏ đã dần dần lĩnh hội nội dung năng lực bản chất người chứa đựng trong các mối quan hệ xã hội có liên quan đến hoạt động của họ
Sự phát triển nhân cách như là sự phát triển toàn bộ các sức mạnh của con người Quá trình phát triển nhân cách không chỉ là những biến đổi về lượng mà là những biến đổi về chất trong mỗi con người
Sự hình thành và phát triển nhân cách của con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố mà mỗi yếu tố này lại có vai trò quan trọng khác nhau
Vì vậy nắm được tầm quan trọng của nhân cách và sự hình thành của nhân cách
nên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Nhân cách và sự hình thành phát triển của nhân cách” để làm tiểu luận kết thúc môn Tâm Lý học đại cương của mình.
Trang 5NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
Nhân cách không có sẵn bằng cách bộc lộ dần các bản năng nguyên thủy mà nhân cách là các cấu tạo tâm lý mới được hình thành và phát triển trong quá trình sống - giao tiếp, vui chơi, học tập, lao động Như V.I Lênin đã khẳng định
“Cùng với dòng sữa mẹ, con người hấp thụ tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên” Nhà tâm lý học Xô viết nổi tiếng A.N Lêonchiev cũng chỉ ra rằng:
“nhân cách cụ thể là nhân cách của con người sinh thành và phát triển theo con đường từ bên ngoài chuyển vào nội tâm, từ các quan hệ với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật, nền văn hóa xã hội do các thế hệ trước tạo ra, các quan hệ xã hội mà
nó gắn bó”.
Trong quá trình hình thành nhân cách bị chi phối bởi nhiều yếu tố: bẩm sinh - di truyền, hoàn cảnh sống, giáo dục, hoạt động và giao tiếp
II KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NHÂN CÁCH
Con người là một thành viên của cộng đồng, một xã hội, vừa là một thực thể tự
nhiên, vừa là một thực thể xã hội Khái niệm “con người là một thực thể sinh vật - xã hội và văn hóa” đã xem xét con người dưới ba góc độ: sinh vật, tâm lý và xã hội
Cá nhân dùng để chỉ một con người cụ thể trong một cộng đồng, thành viên
của xã hội Cá nhân cũng là một thực thể sinh vật - văn hóa và xã hội nhưng được xem xét một cách cụ thể riêng từng người với các đặc điểm về sinh lý, tâm lý và xã hội để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác trong cộng đồng
Cá tính dùng để chỉ cái đơn nhất, có một không hai, không lặp lại trong tâm lý
(hoặc sinh lý) của cá thể động vật hoặc cá thể người
Nghiên cứu về nhân cách đã được nhiều lý thuyết trong tâm lý học đề cập đến,
và các lý thuyết này đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về nhân cách Hiện nay
có rất nhiều lý thuyết khác nhau về nhân cách trong khoa học tâm lý Có thể nêu lên một số thuyết sau: Thuyết phân tâm học của Freud, thuyết siêu đẳng và bù trừ của A.Adler, thuyết lo lắng của K.Horney, thuyết phát huy bản ngã của A.Maslow, thuyết đặc trưng của A.Allport
Trang 6- Quan điểm sinh vật hóa nhân cách: coi bản chất nhân cách nằm trong các đặc điểm hình thể (Krestchmev), ở góc mặt (C Lombrozo), ở bản năng vô thức (S.Freud)
- Quan điểm xã hội hóa nhân cách lấy các quan hệ xã hội (gia đình, họ hàng, làng xóm ) để thay thế một cách đơn giản, máy móc các thuộc tính tâm lý của cá nhân
Từ những cách hiểu trên đây, có thể nêu lên một định nghĩa về nhân cách như
sau: Nhân cách là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của một cá nhân biểu hiện ở bản
sắc và giá trị xã hội của người ấy.
Như vậy, nhân cách không phải là tất cả các đặc điểm cá thể của con người mà chỉ bao hàm những đặc điểm quy định con người là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý xã hội, giá trị và cốt cách làm người của mỗi cá nhân Nhân cách quy định bản sắc riêng, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất trọn vẹn với cái chung
III VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
1 Nhân tố bẩm sinh - di truyền có vai trò tiền đề vật chất
Ngay từ lúc trẻ em ra đời đều có những đặc điểm hình thái - sinh lý của con người bao gồm các đặc điểm bẩm sinh và di truyền Những thuộc tính sinh học có ngay từ lúc đứa trẻ mới sinh gọi là những thuộc tính bẩm sinh Những đặc điểm, những thuộc tính sinh học của cha, mẹ được ghi lại trong hệ thống gen truyền lại cho con cái được gọi là di truyền Yếu tố bẩm sinh - di truyền bao gồm các đặc điểm hình thể như cấu trúc giải phẫu - sinh lý, đặc điểm cơ thể, đặc điểm của hệ thần kinh và các tư chất
Đối với mỗi cá thể khi ra đời đã nhận được một số đặc điểm về cấu tạo và chức năng cơ thể từ các thế hệ trước theo con đường di truyền, trong đó có những đặc điểm về cấu tạo và chức năng của các giác quan và não Những đặc điểm của hoạt động thần kinh cấp cao được biểu hiện ngay từ những ngày đầu của cá thể Ví dụ như có rất nhiều tài năng âm nhạc thiên bẩm được sinh ra trong một gia đình mà bố
mẹ đều theo nghiệp ca sĩ hay nhạc sĩ
Sự phát triển không bình thường của cơ thể con người cũng ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý nhân cách Ví dụ: người có dị tật hay người thấp bé thường nảy
Trang 7sinh tâm lý tự ti, không thích thể hiện mình ở giữa đám đông Hoặc những người điếc bao giờ cũng nói to vì họ tưởng người khác cũng khó nghe như họ
Theo quan điểm tâm lý học mácxít thì yếu tổ bẩm sinh - di truyền không quyết định chiều hướng cũng như giới hạn phát triển của nhân cách con người Mặc dù những đặc điểm sinh học có thể ảnh hưởng mạnh đến quá trình hình thành tài năng, xúc cảm, thể chất trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển con người nhưng nó chỉ đóng vai trò tạo nên tiền đề cho sự phát triển nhân cách Những quan sát khoa học
về quá trình phát triển của trẻ sinh đôi cùng trứng cũng chỉ ra rằng, sự tương đồng rất cao của trí nhớ hình ảnh, âm thanh ở chúng đã mất dần cùng với sự phát triển của lứa tuổi do tác động của hoàn cảnh và tính tích cực riêng của mỗi cá thể
Như vậy, di truyền có một vai trò quan trọng đối với một số đặc điểm sinh học của con người Di truyền không quyết định sự hình thành và phát triển của nhân cách nhưng là những tiền đề vật chất cần thiết cho sự định hướng và phát triển của con người trong một số lĩnh vực nhất định
2 Nhân tố hoàn cảnh sống
Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người Có thể phân thành 2 loại: môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
2.1 Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
Môi trường tự nhiên bao gồm các điều kiện tự nhiên - hệ sinh thái phục vụ cho các hoạt động sinh sống của con người Hoàn cảnh địa lý, nước, không khí, đất đai, động vật, thực vậtt, khí hậu, thời tiết đều thuộc môi trường tự nhiên
Mỗi dân tộc sống trên một lãnh thổ nhất định với những độc đáo riêng về hoàn cảnh địa lý Những điều kiện ấy qui định đặc điểm của các dạng, các ngành sản xuất, đặc tính nghề nghiệp và một số nét riêng trong phạm vi sáng tạo nghệ thuật Qua đó, quy định giá trị vật chất và tinh thần ở một mức độ nhất định Cho nên có thể nói, tâm lý dân tộc mang dấu ấn của hoàn cảnh tự nhiên thông qua khâu trung gian là phương thức sống Ví dụ như những người ở đồng bằng thì trồng lúa còn người sống ở thành thị thì thường là tiểu thương, buôn bán
Trang 8Xét cho cùng, nhiều phong tục tập quán đều có nguồn gốc từ điều kiện và hoàn cảnh sống tự nhiên Một số nét tâm lý nào đó của bản địa, của nghề nghiệp cũng có thể được hiểu theo logic ấy Nhân cách như là một thành viên xã hội, chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên thông qua những giá trị vật chất và tinh thần, qua phong tục tập quán của dân tộc, của địa phương, của nghề nghiệp - những cái vốn
có liên hệ với điều kiện tự nhiên ấy mà qua phương thức sống của chính bản thân
nó Ví dụ, những người sống ở nơi gần biển thì thường làm nghề đi biển, dạn dày với nắng gió Vì vậy họ thường phát triển theo lối sống mạnh mẽ, từng trải nhưng
vô cùng thuần hậu
2.2 Môi trường xã hội có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách
Môi trường xã hội bao gồm cả một hệ thống quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội -lịch sử, văn hóa, giáo dục được thiết lập Con người hòa nhập được với xã hội qua môi trường này Tác động của môi trường xã hội đến sự hình thành và phát triển nhân cách qua các mối quan hệ xã hội mà mỗi cá nhân tham gia tích cực vào các mối quan hệ đó Các mối quan hệ giữa cá nhân được thiết lập lại do các quan
hệ sản xuất, quan hệ kinh tế quyết định
Không có sự tiếp xúc, trao đổi với người xung quanh hoặc sống trong một xã hội quá đơn điệu thì cơ thể sẽ lớn lên và phát triển trong trạng thái của động vật hoặc sẽ nghèo nàn về tâm lý, kém sự linh động Chẳng hạn, bác sĩ Sing, người Ấn
Độ, có kể về trường hợp cô Kamala được chó sói nuôi từ nhỏ Khi được đưa ra khỏi rừng, cô đã 12 tuổi Bình thường, cô ngủ trong xó nhà, đêm đến thì tỉnh táo và đôi khi sủa lên như chó rừng Cô đi lại bằng 2 chân, nhưng khi bị đuổi thì chạy bằng 4 chi khá nhanh Người ta dạy nói Kamala trong 4 năm nhưng cô chỉ nói được 2 từ Cô không thể thành người thực sự và 18 tuổi thì qua đời
Trong môi trường xã hội ta còn thấy những hiện tượng tâm lý xã hội quần chúng khác ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý nhân cách Dư luận và tâm trạng chung, đó là sự phán xét đánh giá của đông người về sự kiện đời sống xã hội của hoạt động tập thể của hành vi cá nhân Dư luận có thể đóng vai trò tích cực hay
Trang 9tiêu cực trong đời sống được bắt nguồn từ sự kiện thực hay bịa đặt Nó nảy sinh, phát triển trên tâm trạng xã hội và có ảnh hưởng trở lại tâm trạng đó
Tâm trạng chung: Bao trùm bầu không khí lạc quan hay bi quan - sức phấn đấu
chung của nhóm hay cá nhân đều chịu ảnh hưởng của tâm trạng chung đó Ví dụ: lời nói, cử chỉ, việc làm, cách nhìn của một thành viên đều có muôn màu muôn vẻ của tâm trạng chung đó, tình cảm của nhân cách được kết tinh dần dần từ đó
Thi đua: Là phương thức tác động qua lại giữa cá nhân, nhóm và tập thể làm
tăng kết quả hoạt động của nhau Nhiều phẩm chất nhân cách, tập thể được phát triển qua thi đua.Ví dụ: sự thi đua trong lớp học nhằm đạt kết quả cao trong học tập
sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ở mỗi thành viên sự nỗ lực học tập
Bắt chước: Thể hiện ra trong mọi lĩnh vực của đời sống Bắt chước diễn ra một
cách có ý thức hay không có ý thức, bắt chước trong cách giao tiếp, ngôn ngữ, trong ăn mặc Đặc biệt trẻ con trong độ tuổi ấu thơ rất hay bắt chước người lớn Vì vậy, cách xử sự của người lớn có tác động rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ sau này
3 Nhân tố giáo dục giữ vai trò chủ đạo
Giáo dục thường được hiểu như là quá trình tác động có ý thức, có mục đích và có
kế hoạch về mặt tư tưởng, đạo đức và hành vi trong tập thể trẻ em và học sinh, trong gia đình và cơ quan giáo dục ngoài nhà trường Trong sự hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo, điều đó được thể hiện:
- Giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách và dẫn dắt sự hình thành và phát triển của học sinh theo chiều hướng đó Quá trình này được thực hiện bằng các mục tiêu đào tạo của nhà trường các cấp và các cơ quan giáo dục ngoài nhà trường
- Giáo dục có thể mang lại những cái mà các yếu tố bẩm sinh di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được Ví dụ như đến một độ tuổi nào đó, đứa trẻ làm được mọi động tác vốn có của con người nhưng muốn có được những kỹ xảo nghề nghiệp thì dứt khoát phải học nghề
- Giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sự
Trang 10Ví dụ như những trẻ khi sinh ra đã có khả năng về âm nhạc sẽ được giáo dục một cách bài bản để có nhận thức đầy đủ nhất về âm nhạc Đồng thời giáo dục bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế do bệnh tật đem lại cho con người Ví dụ là nhạc sĩ chơi ghita nổi tiếng Văn Vượng của nước ta bị mù từ bé, nhờ giáo dục mà thành tài năng âm nhạc
- Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu, do tác động tự phát của môi trường hay xã hội gây nên Chẳng hạn, công tác giáo dục trẻ em hư hoặc cải tạo lao động đối với những người phạm pháp Và không phải ngẫu nhiên mà những trại cai nghiện được lập ra
Giáo dục giữ vai trò chủ đạo quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách, song không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, giáo dục không phải là vạn năng, cần phải tiến hành giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với việc tổ chức hoạt động, tổ chức quan hệ giao tiếp, hoạt động cùng nhau trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ nhóm và tập thể Giáo dục không tách rời với tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách ở mỗi cá nhân
4 Nhân tố hoạt động giữ vai trò quyết định trực tiếp
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là nhân tố quyết định trực tiếp
sự hình thành và phát triển nhân cách Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mang tính xã hội, mang tính cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định với những công cụ nhất định
Con người lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử bằng hoạt động của bản thân để hình thành nhân cách Mặt khác, cũng thông qua hoạt động con người xuất tâm
“lực lượng bản chất” (sức mạnh của thần kinh, cơ bắp, trí tuệ, năng lực ) và xã hội, “tạo nên sự đại diện nhân cách của mình” ở người khác trong xã hội
Sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi người phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo ở mỗi thời kì nhất định Muốn hình thành nhân cách, con người phải tham gia vào các dạng hoạt động khác, trong đó đặc biệt chú ý tới vai trò của hoạt động chủ đạo Vì thế phải lựa chọn, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động đảm bảo tính giáo dục và tính hiệu quả đối với việc hình thành và phát triển nhân cách Việc đánh giá hoạt động là rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách Việc đánh giá sẽ