BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN TRƯỜNG GIANG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG DƯỢC LÂM SÀNG VỀ QUẢN LÝ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC DRPs TRONG KÊ ĐƠN QUA HỆ THỐNG HỖ TRỢ QUYẾT
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG DƯỢC LÂM SÀNG
VỀ QUẢN LÝ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC (DRPs) TRONG KÊ ĐƠN QUA HỆ THỐNG HỖ TRỢ QUYẾT ĐỊNH LÂM SÀNG TẠI
BỆNH VIỆN PHỔI HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC LÝ -DƯỢC LÂM SÀNG
MÃ SỐ: CK 62720405
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Thành Hải
HÀ NỘI-2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Từ sâu thẳm trong trái tim mình, tôi xin được gửi lời cám ơn chân thành tới
Trường đại học Dược Hà Nội, Bệnh viện Phổi Hải Dương đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài
Đặc biệt, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Văn Lưu-Giám
đốc bệnh viện Phổi Hải Dương và PGS.TS.Nguyễn Thành Hải-Bộ môn Dược lâm
sàng, Trường đại học Dược Hà Nội, thầy đã rất tận tâm, luôn hướng dẫn tận tình, chỉ
bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình thực hiện và hoàn
thành luận văn này
Cảm ơn rất nhiều người cộng sự của tôi ThS.Lê Thị Duyên đã luôn nhiệt tình,
hợp tác, hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin được cám ơn và gửi ngàn lời yêu thương tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã luôn hỏi han, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
Mặc dù đã cố gắng hết sức, nhưng năng lực bản thân còn nhiều hạn chế, nên đề
tài không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự cảm thông, đóng
góp ý kiến của quý thầy cô, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hải Dương, ngày 10 tháng 5 năm 2022
Học viên
Nguyễn Trường Giang
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan tới DRPs 3
1.1.1 Khái quát chung vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc: 3
1.1.2 Phương pháp phát hiện các DRP 13
1.1.3 Phương pháp đánh giá các DRPs 17
1.2 Quản lý các vấn đề liên quan đến thuốc trong thực hành lâm sàng 19
1.2.1 Can thiệp của Dược sĩ lâm sàng 19
1.2.2 Can thiệp qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng trên phần mềm kê đơn của bệnh viện 21
1.3 Các nghiên cứu về DRP trên thế giới và Việt Nam 24
1.3.1 Trên thế giới 24
1.3.2 Tại Việt Nam 28
1.4 Vài nét về Bệnh viện Phổi Hải Dương 30
1.4.1 Mô hình điều trị tại Bệnh viện Phổi Hải Dương 30
1.4.2 Phần mềm hỗ trợ kê đơn 30
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 31
2.2.1 Mục tiêu 1: Khảo sát các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong quá trình kê đơn cho bệnh nhân tại bệnh viện Phổi Hải Dương 31
Trang 52.2.2 Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả quản lý các DRPs cơ bản (trùng lặp thuốc; tương tác thuốc-thuốc, chống chỉ định thuốc) trong quá trình kê đơn thông qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng và hoạt động dược lâm sàng tại bệnh viện Phổi
Hải Dương 34
2.3 Các quy ước và tiêu chuẩn đánh giá chỉ tiêu nghiên cứu 36
2.3.1 Phân loại DRP tại bệnh viện theo quyết định 3547-QĐ/BYT ngày 22/7/2021 36
2.3.2 Cách xác định các DRP 37
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Khảo sát các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong quá trình kê đơn cho bệnh nhân tại bệnh viện Phổi Hải Dương 41
3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 41
3.1.2 Đặc điểm của DRPs lựa chọn thuốc phát hiện được 42
3.1.3 Đặc điểm của DRPs về liều dùng 46
3.2 Đánh giá hiệu quả quản lý các DRPs cơ bản (trùng lặp thuốc; tương tác thuốc-thuốc, chống chỉ định thuốc) trong quá trình kê đơn thông qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng và hoạt động dược lâm sàng tại bệnh viện Phổi Hải Dương 50
3.2.1 Tích hợp và tập huấn trao đổi chuyên môn về các DRPs cơ bản trên phần mềm kê đơn 50
3.2.2 Đặc điểm chung của các bệnh nhân nội trú qua hai giai đoạn 53
3.2.3 Hiệu quả quản lý chung của các DRPs cơ bản phát hiện qua 2 giai đoạn 54
3.2.4 Hiệu quả quản lý DRPs về trùng lặp thuốc trong quá trình kê đơn 55
3.2.5 Hiệu quả quản lý DRPs về tương tác thuốc-thuốc trong quá trình kê đơn 55
Trang 63.2.6 Hiệu quả quản lý các DRPs về chống chỉ định thuốc – bệnh trong quá trình
kê đơn thông qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng tại bệnh viện Phổi Hải
Dương 62
3.2.7 Hiệu quả quản lý các DRPs về chống chỉ định thuốc-tuổi trong quá trình kê đơn 66
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 67
4.1 Khảo sát các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong quá trình kê đơn cho bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Phổi Hải Dương 68
4.1.1 Hệ thống phân loại DRPs trong kê đơn thuốc 68
4.1.2 Đặc điểm của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 68
4.1.3 Đặc điểm các DRPs liên quan đến lựa chọn thuốc 69
4.1.4 Đặc điểm của DRPs liên quan zđến liều dùng 72
4.2 Đánh giá hiệu quả quản lý các DRPs cơ bản (trùng lặp thuốc; tương tác thuốc-thuốc, chống chỉ định thuốc) phát hiện được khi kê đơn thông qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng và hoạt động dược lâm sàng tại bệnh viện Phổi Hải Dương 72
4.2.1 Hiệu quả quản lý chung của các DRPs cơ bản phát hiện qua 2 giai đoạn 4.2.1.1 Đặc điểm bệnh nhân nội trú phát hiện có DRP qua hai giai đoạn 72
4.2.2 Hiệu quả quản lý DRPs về trùng lặp thuốc trong quá trình kê đơn 73
4.2.3 Hiệu quả quản lý DRPs về tương tác thuốc-thuốc trong quá trình kê đơn 73
4.2.4 Hiệu quả quản lý các DRPs về chống chỉ định thuốc – bệnh trong quá trình kê đơn 74
4.2.5 Hiệu quả quản lý các DRPs về chống chỉ định thuốc – tuổi trong quá trình kê đơn 74
4.3 Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 75
4.3.1 Ưu điểm 75
4.3.2 Hạn chế 75
Trang 7KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Kí
hiệu/Chữ
viết tắt Thuật ngữ tiếng Việt Thuật ngữ tiếng Anh
ADR Phản ứng có hại của thuốc Adverse Drug Reaction
CDSS Hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng Clinical Decision Support
System CPOE Hệ thống kê đơn điện tử Computerized Physician
Order Entry DRPs Các vấn đề liên quan đến sử dụng
DDI Tương tác thuốc-thuốc Drug -drug interaction
EMA Cơ quan quản lý dược phẩm châu Âu European medicines agency EMC Tra cứu thuốc điện tử Electronic Medicines
Compendium ICD 10 Mã quốc tế về bệnh International Classification of
Disease
ME Sai sót liên quan đến thuốc Medication Error
PCNE Mạng lưới chăm sóc dược Châu Âu Pharmaceutical Care Network
Europe WHO Tổ chức Y tế thế giới World Health Organization TTT Tương tác thuốc
CCĐ Chống chỉ định
BN Bệnh nhân
DSLS Dược sĩ lâm sàng
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các hệ thống phân loại DRPs theo Basger và cộng sự (2014) 5
Bảng 1.2 Phân loại cơ bản DRP theo PCNE 7
Bảng 1.3 Phân loại DRP theo nguyên nhân 8
Bảng 1.4 Bộ mã các vấn đề liên quan đến thuốc 10
Bảng 1.5 Bảng 27 yếu tố làm gia tăng nguy cơ xuất hiện DRPs 12
Bảng 1.6 Một số nghiên cứu ứng dụng hệ thống CDSS trong việc phòng tránh DRPs trên lâm sàng 23
Bảng 1.7 Các nghiên cứu về DRP trên thế giới 25
Bảng 2.1 Phân loại DRP liên quan đến kê đơn 36
Bảng 2.2 Bảng phân loại các tương tác thuốc-thuốc 37
Bảng 2.3 Các căn cứ để đánh giá DRP khác 39
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 41
Bảng 3.2 Đặc điểm của DRPs lựa chọn thuốc 42
Bảng 3.3 Tỉ lệ các DRPs liên quan đến trùng lặp thuốc 43
Bảng 3.4 Tỉ lệ các DRPs tương tác thuốc-thuốc 43
Bảng 3.5 Tỉ lệ các DRPs sai thuốc 44
Bảng 3.6 Tỉ lệ các DRPs đường dùng, dạng bào chế chưa phù hợp 45
Bảng 3.7 Tỉ lệ các DRPs chống chỉ định thuốc-bệnh, thuốc-tuổi 46
Bảng 3.8 Đặc điểm của các DRPs về liều dùng 47
Bảng 3.9 Tỉ lệ DRPs tần suất dùng quá liều 47
Bảng 3.10 Tỉ lệ DRPs tần suất dùng không đủ 48
Bảng 3.11.Tỉ lệ DRPs thời điểm dùng chưa phù hợp 49
Bảng 3.12 Tỉ lệ DRPs hướng dẫn liều chưa phù hợp, chưa rõ ràng 50
Bảng 3.13 Đặc điểm của các bệnh nhân nội trú qua hai giai đoạn 53
Bảng 3.14 Tần suất của các DRPs cơ bản phát hiện qua 2 giai đoạn 54
Bảng 3.15 Tần suất của các DRPs trùng lặp thuốc qua hai giai đoạn 55
Trang 10Bảng 3.16 Tần suất của các DRPs tương tác thuốc-thuốc trên mỗi bệnh nhân giai đoạn trước và sau can thiệp 56Bảng 3.17 Tỉ lệ các hậu quả lâm sàng tiềm tàng phổ biến ở giai đoạn sau can thiệp 58Bảng 3.18 Mức độ chấp thuận can thiệp DRPs tương tác thuốc-thuốc của bác sĩ 60Bảng 3.19 Kết quả can thiệp của DSLS cho từng cặp tương tác thuốc-thuốc 60Bảng 3.20 Tần suất các DRPs chống chỉ định thuốc-bệnh trước và sau can thiệp 62Bảng 3.21 Mức độ chấp thuận can thiệp DRPs chống chỉ định thuốc-bệnh của bác sĩ 64Bảng 3.22 Kết quả can thiệp của DSLS cho từng DRPs chống chỉ định thuốc-bệnh 65Bảng 3.23.So sánh tỉ lệ DRPs chống chỉ định thuốc-tuổi trước và sau can thiệp 66
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1.Mối liên hệ giữa các định nghĩa DRP 4
Hình 1.2 Mô tả hoạt động phối hợp giữa CDSS với EHR nhằm quản lý các DRP 22
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt quá trình xác định các DRPs liên quan đến kê đơn thuốc 32
Hình 2.2 Sơ đồ quy trình triển khai đánh giá hiệu quả dược lâm sàng 34
Hình 3.1 Dược sĩ lâm sàng cập nhật thông tin về trùng lặp thuốc và tương tác thuốc-thuốc trên phần mềm 51
Hình 3.2 Dược sĩ lâm sàng cập nhật thông tin về CCĐ thuốc-bệnh 51
Hình 3.3 Dược sĩ lâm sàng cập nhật thông tin về CCĐ thuốc-tuổi 52
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định nghĩa của Hiệp hội Chăm sóc Dược Châu Âu (Pharmaceutical Care Network Europe - PCNE), vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (Drug-related Problems - DRP) là “tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc mà thực sự gây trở ngại hoặc tiềm ẩn mối nguy hại cho sức khỏe người bệnh” [36], [37] Trong thực hành lâm sàng, các DRPs có nguy cơ làm giảm hiệu quả điều trị, làm tăng độc tính, tăng tỉ lệ bệnh nhân gặp ADR, thậm chí có thể gây tử vong cho người bệnh kèm theo
đó là các thiệt hại về kinh tế do thời gian nằm viện kéo dài, tăng chi phí điều trị [21], [64], [65]
Xác định các vấn đề liên quan đến thuốc (Drug-related Problems - DRPs) là bước quan trọng trong quy trình thực hành chăm sóc dược Dược sĩ cần phát triển các kĩ năng như: xác định DRP và phân loại đánh giá thông tin về DRP Sau đó, triển khai các hoạt động dược lâm sàng để tiến hành can thiệp các DRP trên từng người bệnh Vì vậy, dược sĩ lâm sàng cũng rất cần rèn luyện kỹ năng giao tiếp với người bệnh, người nhà của người bệnh, bác sĩ, điều dưỡng, hoặc các chuyên gia chăm sóc sức khỏe khác để tối ưu hóa sử dụng thuốc trên bệnh nhân, giảm thiểu các DRP nghiêm trọng, đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả nhất Cụ thể hóa cách xác định các DRP và tiến hành can thiệp có hiệu quả, ngày 22/7/2021, Bộ Y tế ban hành quyết định 3547/QĐ-BYT về triển khai mẫu phiếu phân tích sử dụng thuốc [3], trong đó ngoài mẫu phiếu phân tích sử dụng thuốc còn có cả bảng mã phân loại các DRP, cũng như các bảng mã về can thiệp sau khi triển khai hoạt động phân tích
sử dụng thuốc trong thực hành lâm sàng
Những năm gần đây, các đề tài nghiên cứu về giải pháp phòng tránh các DRP rất được quan tâm và được thực hiện tại nhiều trên thế giới cũng như tại Việt Nam Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rõ vai trò của dược sĩ lâm sàng và vai trò của hệ thống cảnh báo khi kê đơn trên phần mềm HIS của bệnh viện (gọi là hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng hay CDSS) đã giúp hạn chế được các DRPs có ý nghĩa với sự đồng thuận cao của các bác sĩ lâm sàng [9], [10], [12], [40], [61]
Trang 13Bệnh viện Phổi Hải Dương là một bệnh viện chuyên khoa hạng 1 trực thuộc
Sở Y tế Hải Dương hàng năm tiếp nhận một lượng lớn bệnh nhân đến khám và điều trị nội trú, ngoài bệnh lý chính liên quan đến đường hô hấp, các bệnh lý khác mắc kèm cũng khá phức tạp, do đó việc kết hợp nhiều loại thuốc trong đơn có nguy cơ dẫn đến các DRPs Bên cạnh đó, bộ phận dược lâm sàng của khoa dược bệnh viện chỉ có 02 dược sĩ chuyên trách và phải thực hiện một khối lượng lớn các hoạt động dược lâm sàng trong đó có hoạt động phát hiện và can thiệp các vấn đề liên quan đến thuốc Hiện nay, bệnh viện đang sử dụng hệ thống phần mềm kê đơn Viettel-His để quản lý, song vẫn chưa có công cụ rà soát điện tử nào khi kê đơn để cảnh báo các vấn đề liên quan đến thuốc như tương tác thuốc-thuốc hay chống chỉ định thuốc Vì vậy, việc thống nhất được các danh mục khuyến cáo sử dụng thuốc như trùng lặp thuốc, tương tác thuốc-thuốc, chống chỉ định thuốc-bệnh, chống chỉ định thuốc-tuổi, sau đó tích hợp lên phần mềm kê đơn HIS của bệnh viện giúp cảnh báo thông tin cho bác sĩ điều trị khi kê đơn là vô cùng cần thiết và rất được Ban giám đốc bệnh viện ủng hộ nhằm triển khai các hoạt động dược lâm sàng theo Nghị định 131/NĐ-CP một cách có hiệu quả
Xuất phát từ thực trạng như trên, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Triển khai hoạt động dược lâm sàng về quản lý các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (DRPs) trong kê đơn qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng tại Bệnh viện Phổi Hải Dương” được tiến hành với 2 mục tiêu:
1 Khảo sát các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (DRP) trong quá trình kê đơn cho bệnh nhân tại bệnh viện Phổi Hải Dương
2 Đánh giá hiệu quả quản lý các DRP cơ bản (trùng lặp thuốc; tương tác thuốc, chống chỉ định thuốc) trong quá trình kê đơn thông qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng và hoạt động dược lâm sàng tại bệnh viện Phổi Hải Dương
thuốc-Chúng tôi hi vọng đề tài này sẽ góp phần giảm thiểu các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong quá trình kê đơn tại Bệnh viện Phổi Hải Dương
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan các vấn đề liên quan tới DRPs
1.1.1 Khái quát chung vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc:
- Strand và cộng sự (1990): “DRP là trải nghiệm bệnh nhân không mong muốn liên quan đến điều trị bằng thuốc và thực sự hoặc có khả năng gây trở ngại cho kết quả mong muốn của bệnh nhân”
- Segal (1997) "DRP là một tình huống điều trị bằng thuốc có thể cản trở mục tiêu điều trị mong muốn"
- Van Mil (1999): “DRP là một sự kiện hoặc tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc thực sự hoặc có khả năng gây trở ngại cho kết quả sức khỏe mong muốn”
- Van den Bemt và cộng sự (2000): “DRP là tất cả các vấn đề mà có thể ảnh hưởng đến sự thành công của liệu pháp điều trị bằng thuốc ở một bệnh nhân cụ thể, bao gồm sai sót liên quan đến thuốc, tác dụng phụ của thuốc và phản ứng có hại của thuốc (ADR)”
- Krahenbuhl-Melcher và cộng sự (2007): “DRP là tất cả các trường hợp liên quan đến việc điều trị bằng thuốc của bệnh nhân mà thực sự hoặc có khả năng ảnh hưởng đến việc đạt được kết quả tối ưu”
- Hiệp hội chăm sóc dược Châu Âu (2019): “ DRP là tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc mà thực sự gây trở ngại hoặc tiềm ẩn mối nguy hại cho sức khỏe người bệnh”
Thuật ngữ DRP là một khái niệm bao quát, được định nghĩa một cách rất rộng và khác nhau giữa các nghiên cứu, bao gồm sai sót liên quan đến thuốc (ME), phản ứng có
Trang 15hại của thuốc (ADR), biến cố bất lợi của thuốc (ADE) DRP có thể được minh họa bằng phần giao nhau của 3 vòng tròn thể hiện như trong hình 1.1 [17]
Hình 1.1.Mối liên hệ giữa các định nghĩa DRP
DRPs có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình sử dụng thuốc, từ kê đơn thuốc của bác sĩ, cấp phát thuốc của dược sĩ đến thực hiện thuốc của điều dưỡng và
sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị của người bệnh Trong mỗi giai đoạn, DRPs lại được chia thành nhiều loại khác nhau [24], [25]:
- DRPs trong kê đơn, truyền đạt đơn thuốc: được tính từ khi bác sĩ kê đơn thuốc đến khi đơn thuốc được chuyển tới khoa Dược, bao gồm DRPs về thiếu thông tin trong đơn thuốc, lựa chọn thuốc, liều dùng, cách dùng thuốc, tương tác- tương kị thuốc và thiếu điều trị
- DRPs trong cấp phát thuốc: tính từ khi đơn thuốc tới khoa Dược đến khi thuốc được phát đến khoa phòng để điều dưỡng thực hiện thuốc cho người bệnh hoặc phát cho người bệnh ngoại trú, bao gồm DRPs do sai thuốc (sai loại thuốc, sai hàm lượng, sai dạng bào chế), sai nhãn, thiếu hoặc thừa thuốc, thuốc quá hạn sử dụng
- DRPs trong chuẩn bị và thực hiện thuốc: bao gồm giai đoạn dược sĩ pha chế một số loại thuốc đặc biệt tại khoa Dược (thuốc độc tế bào, dịch nuôi dưỡng đường tĩnh
DRPs
Trang 16mạch) và điều dưỡng chuẩn bị thuốc (hoàn nguyên, pha loãng thuốc, nghiền thuốc…), thực hiện thuốc cho bệnh nhân Bao gồm DRPs về loại thuốc, dung môi pha thuốc, đường dùng, thời điểm dùng, nồng độ, tốc độ tiêm truyền, tương kị thuốc, kĩ thuật dùng thuốc, bỏ thuốc
- DRPs trong theo dõi, giám sát sử dụng thuốc (sau khi thuốc được thực hiện cho bệnh nhân): bao gồm phản ứng có hại của thuốc, DRP do thiếu các xét nghiệm để giám sát, theo dõi độc tính, hiệu quả của thuốc
- DRPs trong thông tin và đào tạo bệnh nhân: người bệnh hoặc bác sĩ, nhân viên
y tế khác thiếu hoặc chủ động yêu cầu về thông tin thuốc cũng được cho là DRP
- DRPs trong giai đoạn người bệnh dùng thuốc ngoại trú sau ra viện: bao gồm các vấn đề về tuân thủ thuốc của người bệnh
1.1.1.2 Các hệ thống phân loại DRPs
Hệ thống phân loại DRPs đóng một vai trò quan trọng trong các nghiên cứu khoa học về vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc Xây dựng một hệ thống phân loại cụ thể, chi tiết sẽ giúp dược sĩ lâm sàng phát hiện chính xác và đầy đủ các DRPs gặp phải trong quá trình thực hành dược lâm sàng Tuy nhiên, đối với mỗi đối tượng nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu riêng sẽ có hệ thống phân loại DRPs khác nhau Các hệ thống phân loại DRPs được đề cập trong các nghiên cứu trước đây thông qua một báo cáo tổng quan
hệ thống của Basger và cộng sự (2014) [26], thể hiện trong bảng 1.1:
Bảng 1.1.Các hệ thống phân loại DRPs theo Basger và cộng sự (2014)
Trang 17Pharmaceutical Care 14 nhóm vấn đề 1 nghiên cứu
10 Strand et al (1990) hoặc
Hepler and Strand (1990) 8 nhóm vấn đề 67 nghiên cứu
11 Westerlund (1999) 14 nhóm vấn đề 3 nghiên cứu
12 Hệ thống phân loại tự
Kết quả nghiên cứu cho thấy có rất nhiều hệ thống phân loại như đã nêu ở trên nhưng không ít các nghiên cứu đã sử dụng hệ thống phân loại tự xây dựng (79 nghiên cứu chiếm tỉ lệ 29,5%) Nguyên nhân do mỗi nghiên cứu khác nhau có mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phương pháp, địa điểm nghiên cứu sẽ khác nhau Thực tế, không có một
hệ thống phân loại nào là đáp ứng được yêu cầu của tất cả các nghiên cứu Cụ thể, nhóm tác giả Basger và cộng sự [26] đã phân tích 268 nghiên cứu trong 13 năm (từ 2000 đến 2013) liên quan đến DRP cho thấy có 46% nghiên cứu sử dụng hệ thống phân loại tự thiết kế dựa trên sự thay đổi, bổ sung từ các hệ thống phân loại phổ biến để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu và loại hình nghiên cứu Do các nghiên cứu
Trang 18khác nhau sử dụng hệ thống phân loại khác nhau nên việc so sánh kết quả giữa các nghiên cứu liên quan đến phát hiện và đánh giá DRP của các tác giả và các đơn vị khác nhau thường gặp nhiều khó khăn
Phân loại DRP theo Hiệp hội Chăm sóc Dược Châu Âu (PCNE) [38]
Theo PNCE phiên bản V 9.1, có nhiều nguyên nhân gây ra DRP từ đó DRP được phân loại dựa trên nhiều góc độ khác nhau: các vấn đề, nguyên nhân, kế hoạch can thiệp, chấp thuận can thiệp, trạng thái DRP
Bảng 1.2.Phân loại cơ bản DRP theo PCNE Nội dung Mã V9.0 Phân nhóm
Các vấn đề P1 Hiệu quả điều trị
P2 An toàn điều trị P3 Vấn đề khác
Các nguyên nhân
C1 Lựa chọn thuốc C2 Dạng bào chế C3 Lựa chọn liều C4 Thời gian điều trị C5 Cấp phát
C6 Quá trình sử dụng thuốc C7 Bệnh nhân
C8 Quá trình chuyển bệnh nhân C9 Nguyên nhân khác
Các kế hoạch can thiệp
I0 Không can thiệp I1 Mức độ kê đơn I2 Mức độ bệnh nhân I3 Mức độ thuốc điều trị I4 Kế hoạch can thiệp khác
Chấp thuận can thiệp A1 Chấp thuận can thiệp
Trang 19Nội dung Mã V9.0 Phân nhóm
A2 Không chấp thuận can thiệp A3 Chấp thuận can thiệp khác
Các trạng thái DRP
O0 Vấn đề chưa được xác định O1 Vấn đề đã được giải quyết O2 Vấn đề được giải quyết 1 phần O3 Vấn đề không được giải quyết
Hiệp hội chăm sóc Dược châu Âu (PCNE) xác định DRP theo nguyên nhân gồm
C1.3 Kết hợp thuốc với thuốc/ dược liệu/
thực phẩm chức năng không phù hợp C1.4 Lặp hoạt chất
C1.5 Điều trị bằng thuốc không đủ C1.6 Quá nhiều loại thuốc trong đơn
2 Dạng bào chế C2.1 Dạng bào chế không phù hợp với
bệnh nhân
3 Lựa chọn liều điều trị
C3.1 Liều quá thấp C3.2 Liều quá cao C3.3 Dùng thiếu liều C3.4 Dùng quá liều C3.5 Liều hướng dẫn sai, không rõ hoặc
thiếu
Trang 204 Thời gian điều trị
C4.1 Thời gian điều trị quá ngắn C4.2 Thời gian điều trị quá dài
C5.3 Sai thuốc, sai hàm lượng hoặc liều
theo khuyến cáo (OTC) C5.4 Cấp phát sai thuốc hoặc hàm lượng
Sử
dụng
6 Quy trình sử dụng thuốc Nguyên nhân của DRPs liên quan tới cách bệnh nhân nhận chỉ định thuốc mặc dù hướng dẫn sử dụng thuốc của bác sĩ đúng (trên nhãn/danh sách)
C6.1 Thời gian dùng và/hoặc khoảng cách
đưa liều không hợp lí C6.2 Thuốc được sử dụng dưới mức C6.3 Thuốc sử dụng quá mức
C6.4 Thuốc không được sử dụng C6.5 Sử dụng sai thuốc
C6.6 Sai đường dùng
7 Liên quan đến bệnh nhân Nguyên nhân của DRP liên quan tới bệnh nhân và hành
vi của bệnh nhân (cố ý hoặc không
cố ý)
C7.1 Bệnh nhân dùng ít thuốc hơn so với
đơn hoặc không dùng thuốc
C7.2 Bệnh nhân dùng nhiều thuốc hơn so
với đơn kê C7.3 Bệnh nhân lạm dụng thuốc
C7.4 Bệnh nhân dùng thuốc không cần
thiết
C7.5 Bệnh nhân dùng thức ăn có tương tác
với thuốc trong đơn C7.6 Bệnh nhân bảo quản thuốc không hợp
lí
Trang 21Phân loại DRP tại Việt Nam
Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành bộ mã các vấn đề liên quan đến thuốc kèm theo Quyết định số 3547/QĐ-BYT ngày 22 tháng 7 năm 2021 về việc ban hành mẫu phiếu sử dụng thuốc [3] Bộ mã này gồm 9 nhóm chính như bảng 1.4
Bảng 1.4 Bộ mã các vấn đề liên quan đến thuốc
Lặp thuốc T1.1 Có bệnh lý chưa được điều trị
C7.7 Thời gian dùng hoặc khoảng cách
đưa liều không hợp lí C7.8 Bệnh nhân dùng thuốc sai cách
9 Khác
C9.1 Không theo dõi hoặc theo dõi kết quả
không phù hợp C9.2 Các nguyên nhân khác, cụ thể C9.3 Không có nguyên nhân rõ ràng
Trang 22Không có chỉ định T1.6 Quá dài T5.2
Quá nhiều thuốc cho cùng
Liều dùng quá cao T2.1 Các chỉ số cận lâm sàng T6.2
Liều dùng quá thấp T2.2 Vấn đề khác cần theo dõi T6.99
Tần suất dùng quá nhiều T2.3 Độc tính và ADR T7
Tần suất dùng không đủ T2.4 Bệnh nhân gặp ADR T7.1
Thời điểm dùng chưa phù
Vấn đề khác về liều T2.99 Không sẵn có thuốc T8.1
Tuân thủ điều trị của
Không sẵn có hàm lượng T8.2
Dùng thuốc không đủ liều
như được kê đơn
T3.1 Không sẵn có dạng bào chế T8.3
Dùng thuốc cao hơn liều
như được kê đơn
T3.2 Vấn đề khác về cấp phát thuốc T8.99
Dùng thuốc không đều như
được kê đơn
T3.3 Vấn đề không được phân
Trang 231.1.1.3 Các yếu tố làm tăng tần suất xuất hiện các DRPs
Khi một vấn đề DRPs tiềm tàng hoặc DRPs đã xảy ra, luôn có nguy cơ gây tổn hại về sức khỏe cũng như kinh tế cho người bệnh, bệnh viện Vì vậy, việc xây dựng các biện pháp phòng tránh và giảm thiểu tác hại của DRPs là rất quan trọng Tìm kiếm các yếu tố nguy cơ liên quan đến xuất hiện DRPs có thể giúp bác sĩ, dược sĩ khu trú trên nhóm đối tượng bệnh nhân hay nhóm thuốc cần chú ý, thận trọng hơn khi sử dụng để hạn chế các DRPs xảy ra thực sự trên bệnh nhân
Năm 2015, nhóm nghiên cứu của Kaufman và cộng sự [47], đã tiến hành phân tích tổng quan các yếu tố nguy cơ xuất hiện DRPs trên cơ sở tập hợp các nghiên cứu và kết hợp các ý kiến đánh giá, thảo luận của Hội đồng những chuyên gia trong lĩnh vực y
tế gồm bác sĩ, dược sĩ lâm sàng, dược sĩ nhà thuốc cộng đồng, điều dưỡng – những nhân viên y tế có hoạt động lâm sàng thực tế trong suốt quá trình sử dụng thuốc của bệnh nhân Đó có thể là các yếu tố thuộc về người bệnh hoặc các yếu tố thuộc về thuốc Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp được 27 yếu tố gồm 09 yếu tố quan trọng, 18 yếu tố tương đối quan trọng dẫn đến xuất hiện DRP được ghi nhận dựa trên thang điểm Likert như sau:
Bảng 1.5 Bảng 27 yếu tố làm gia tăng nguy cơ xuất hiện DRPs
A-Nhóm 09 yếu tố quan trọng (Thang điểm Likert: 4 điểm)
A1-Nhóm các yếu tố thuộc về bệnh hoặc người bệnh
1 Bệnh nhân giảm trí nhớ, IQ thấp, lo lắng bồn chồn
2 Thông tin về bệnh nhân không được cung cấp đầy đủ, hoặc bệnh nhân không hiểu mục đích của điều trị
3 Bệnh nhân không tuân thủ điều trị
A2-Nhóm các yếu tố thuộc về thuốc
4 Sử dụng nhiều thuốc (> 5 thuốc)
5 Sử dụng thuốc chống động kinh
6 Sử dụng thuốc chống đông máu
7 Sử dụng kết hợp thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) và thuốc chống
Trang 24đông đường uống
8 Sử dụng Insulin
9 Sử dụng thuốc có cửa sổ điều trị hẹp
B- Nhóm 16 yếu tố tương đối quan trọng (Thang điểm Likert: 3 điểm)
B1- Nhóm các yếu tố thuộc về bệnh hoặc người bệnh
10 Bệnh nhân có nhiều bệnh đồng mắc
11 Bệnh nhân hạn chế về giao tiếp
12 Bệnh nhân thao tác kém
13 Bệnh nhân suy giảm thị lực
14 Bệnh nhân suy giảm chức năng gan
15 Bệnh nhân suy giảm chức năng thận (eGFR <30 ml/min)
16 Bệnh nhân đã gặp ADR của thuốc
B2- Nhóm các yếu tố thuộc về thuốc
Trang 25Một trong những bước đầu tiên được nhắc đến trong các nghiên cứu xác định DRP là việc tiến hành lựa chọn, xây dựng bộ công cụ làm cơ sở phát hiện ra DRP Bộ công cụ được nhiều tài liệu chia thành 2 loại chính dựa trên đặc điểm cấu trúc và thành phần: Công cụ đóng (Explicit Criteria) và Công cụ mở (Implicit Criteria) [54]
Nghiên cứu của tác giả Kaufmann năm 2015 đã đề cập đến 46 công cụ được sử dụng dùng để phát hiện các vấn đề liên quan đến kê đơn thuốc bao gồm: 28 công cụ đóng, 8 công cụ mở và 10 công cụ kết hợp, mỗi công cụ tập trung vào một nhóm đối tượng bệnh nhân khác nhau Trong số tổng số 46 bộ công cụ, có 36 công cụ tập trung vào đối tượng bệnh nhân cao tuổi, 10 công cụ còn lại sử dụng cho bệnh nhân ở mọi lứa tuổi; 4 công cụ thiết kế để phát hiện DRPs kê đơn cho bệnh nhân điều trị nội trú, 9 công
cụ tập trung vào đối tượng bệnh nhân tại khoa cấp cứu, 6 công cụ tập trung vào đối tượng bệnh nhân nằm điều trị dài ngày, 27 công cụ không chỉ định nhóm bệnh nhân [48]
1.1.2.1 Bộ công cụ đóng
Bộ công cụ đóng thường được xác lập từ việc tổng hợp các tổng quan tài liệu, quan điểm của chuyên gia, hoặc sử dụng phương pháp đồng thuận Ví dụ như các hướng dẫn điều trị hay một danh sách các thuốc, nhóm thuốc với cảnh báo gây hại trên một số đối tượng cụ thể Ưu điểm của bộ công cụ đóng là dựa trên nhiều căn cứ khoa học đáng tin cậy, có hệ thống các tiêu chuẩn rõ ràng giúp thống nhất trong cách phát hiện DRP Tuy nhiên, nhược điểm của nó là hướng sự tập trung đến thuốc và bệnh, chưa chú ý nhiều đến khía cạnh lâm sàng cụ thể, tính cá thể của từng bệnh nhân, chẳng hạn như tình trạng bệnh mắc kèm hay tiền sử đáp ứng trước đó với thuốc điều trị [59] Một bộ công
cụ đóng cũng thường không đánh giá được sự phù hợp của một đơn thuốc, một liệu pháp điều trị tổng thể, và thường khu trú theo nhóm đối tượng, nhóm thuốc [48]
Việc xây dựng và thẩm định bộ công cụ đánh giá sự phù hợp trong sử dụng thuốc cần những bằng chứng khoa học tin cậy Tuy nhiên, một số trường hợp thiếu những bằng chứng ở mức ý nghĩa cao (ví dụ như các bằng chứng từ nghiên cứu đối chứng)
Do đó, phương pháp đồng thuận kết hợp với bằng chứng khoa học trở thành một tiếp cận hữu ích để xây dựng một bộ công cụ hiệu quả Các phương pháp đồng thuận hay được sử dụng là RAND, Delphi, NGT Đa số bộ công cụ đóng được công bố áp dụng
Trang 26cho bệnh nhân cao tuổi Những bộ công cụ dưới đây đều được thẩm định bằng phương pháp đồng thuận Delphi [54]:
- Bộ công cụ tiêu chuẩn Beer (Mỹ): công bố lần đầu tiên vào 1991, phiên bản mới nhất 2015 bao gồm 36 thuốc hoặc nhóm thuốc không nên dùng trên người cao tuổi, thuốc không được sử dụng trong 14 bệnh, tình trạng bệnh ở người cao tuổi
- Bộ công cụ tiêu chuẩn Laroche (Pháp - 2007): bao gồm 34 thuốc không nên dùng trên người cao tuổi, có gợi ý phương pháp điều trị thay thế an toàn hơn cho hầu hết các tiêu chuẩn
- Bộ công cụ tiêu chuẩn McLeod (Canada – 1997): gồm 38 trường hợp kê đơn không phù hợp nên tránh trên người cao tuổi, trọng tâm là thuốc điều trị bệnh tim mạch, thuốc chống viêm không steroid, thuốc hướng thần Tiêu chuẩn cũng mô tả hậu quả khi
sử dụng với bệnh nhân cao tuổi và cung cấp các gợi ý điều trị thay thế
- START/STOPP: START (Ireland – 2007 và cập nhật 2014): gồm 35 tiêu chí kê đơn để phát hiện tình trạng thiếu điều trị, thường đi kèm bộ tiêu chuẩn STOPP (Ireland – 2008 và cập nhật 2014) gồm 87 tiêu chuẩn kê đơn không phù hợp
1.1.2.2 Bộ công cụ mở
Bộ công cụ mở hướng đến các tiêu chí định tính, có thể áp dụng cho mọi loại đơn thuốc, mọi đối tượng bệnh nhân Nhóm công cụ này khắc phục được nhược điểm của công cụ mở là tập trung vào sự cá thể hóa người bệnh Công cụ mở được xây dựng phần nhiều dựa vào kiến thức, quan điểm, thái độ của người đánh giá hơn là công cụ đóng, vì thế xét về độ tin cậy là thấp hơn Ngoài ra, việc sử dụng công cụ mở cần nhiều thời gian hơn (nghiên cứu sử dụng công cụ MAI – Medication appropriateness index mất hơn 10 phút cho việc đánh giá, xem xét sự phù hợp của một thuốc) nên chủ yếu dùng trong nghiên cứu hơn là thực hành thường quy [54]:
- Bộ công cụ MAI (Mỹ - 1992): gồm 10 câu hỏi được sử dụng để đánh giá sự phù hợp của đơn thuốc (ví dụ: Thuốc có được kê với liều đúng không? Thuốc có hiệu quả hay không?), trả lời theo thang Likert 3 điểm, đánh giá phù hợp, phù hợp một phần, không phù hợp
Trang 27- Bộ công cụ Lipton (Mỹ -1992): đánh giá tính phù hợp trong sử dụng thuốc theo
7 nhóm: 1) Dị ứng 2) Liều dùng 3) Cách dùng 4) Phác đồ 5) Tương tác thuốc 6) Trùng lặp liều 7) Thiếu điều trị, trả lời theo thang điểm từ 0-9
Để kết hợp ưu điểm và hạn chế nhược điểm của hai bộ công cụ trên, một số bộ công cụ kết hợp đã được xây dựng để phát hiện DRP [48]
1.1.2.3 Bộ công cụ kết hợp
Sử dụng bộ công cụ kết hợp nhằm liên kết ưu điểm của cả hai bộ công cụ Các hướng dẫn điều trị, hướng dẫn sử dụng thuốc trong bộ công cụ đóng cung cấp cơ sở lý luận để nhóm chuyên gia lâm sàng đánh giá một cách tổng thể đơn thuốc của bệnh nhân Các câu hỏi trong bộ công cụ mở nhằm đánh giá đơn thuốc có đảm bảo tính cá thể hóa trong điều trị hay không (phù hợp với đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân cụ thể) [48]:
- Bộ Tiêu chí quản lý chất lượng kê đơn của Úc (2008): gồm 41 tiêu chuẩn kê đơn liên quan đến những thuốc hay được kê đơn tại Úc và những trường hợp bệnh hay gặp ở ngưởi cao tuổi Các tiêu chuẩn được đưa ra dưới dạng câu hỏi từ quá trình kê đơn,
ví dụ “có tiếp cận những tài liệu thông tin thuốc cập nhật không?” hay những tiêu chuẩn tổng hợp như “tỉ lệ kê đơn bệnh nhân suy tim tâm thu không được kê nhóm thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể AT2”
- Bộ công cụ POM (Hà Lan – 2009): giúp quản lý việc sử dụng nhiều thuốc trên người cao tuổi, gồm 6 câu hỏi mở, mỗi câu hỏi được đính kèm một tổng quan về các vấn đề hay gặp liên quan cùng với những gợi ý cụ thể để nâng cao chất lượng đơn kê
Ví dụ: câu hỏi “bệnh nhân có tình trạng nào chưa được điều trị không?” sẽ kèm thêm 1 bảng hướng dẫn các trường hợp thiếu điều trị hay gặp được tổng kết từ các hướng dẫn điều trị
1.1.2.4 Cách thức xác định các DRP
- Hiệu quả của cách tiếp cận, đánh giá toàn diện về việc sử dụng thuốc bởi một nhóm đa ngành gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng và những chuyên gia khác tùy tình trạng bệnh đã được chứng minh trong nghiên cứu tại Úc của tác giả Crotty và cộng sự (2004) , khi giảm được 55% đơn thuốc chưa phù hợp so với nhóm chứng chỉ giảm được 10% Tuy nhiên, phương pháp này mất thời gian và nhân sự để tiến hành [54]
Trang 28- Đánh giá sử dụng thuốc thông qua xem xét đơn thuốc, tư vấn bệnh nhân bởi dược sĩ lâm sàng Cách thức tiến hành chi tiết của phương pháp này cũng khác nhau
giữa các nghiên cứu, phụ thuộc cách thức triển khai công tác dược lâm sàng Có nghiên cứu tiến hành phát hiện DRPs trên cả quá trình từ khi bệnh nhân nhập viện đến khi xuất viện hoặc chỉ tiến hành một trong các giai đoạn: nhập viện, điều trị nội trú hoặc chỉ xem xét đơn ra viện; dược sĩ phát hiện DRPs tham gia hoạt động đi buồng (ward round) cùng nhóm chuyên gia hoặc không Tác giả Crotty cũng chỉ ra hiệu quả giảm tỉ lệ không phù hợp trong kê đơn có ý nghĩa theo thang điểm MAI trong nhóm có dược sĩ lâm sàng đánh giá so với nhóm đối chứng Tuy nhiên hiệu quả can thiệp trong phương pháp này phụ thuộc nhiều vào mối liên kết, giao tiếp của dược sĩ và bác sĩ kê đơn cũng như yêu cầu dược sĩ phải tiếp cận được đầy đủ thông tin lâm sàng của bệnh nhân [59]
- Sử dụng hệ thống hỗ trợ ra quyết định (CDSS) tích hợp với hệ thống kê đơn
điện tử trong bệnh viện (HIS), phát hiện ra vấn đề liên quan đến thuốc ngay khi bác sĩ tiến hành kê đơn Để phương pháp này có thể tiến hành, hệ thống hỗ trợ cần liên kết
được với bệnh án của bệnh nhân, với các thông tin lâm sàng đầy đủ Đồng thời, dữ liệu thông tin thuốc trong hệ thống cần được cập nhật thường xuyên Hạn chế của phương pháp này là việc đánh giá chưa mang tính lâm sàng, khó cá thể hóa bệnh nhân Cảnh báo tự động với tần suất lớn, kể cả những cảnh báo không quan trọng sẽ ảnh hưởng đến
sự tin cậy đối với hệ thống của bác sĩ kê đơn [48] Hiện nay, chỉ có một số ít các bệnh viện tại Việt Nam có thể tiếp cận theo hướng mới đó là cải tiến phần mềm, khắc phục những nhược điểm trên, giúp các bác sĩ, dược sĩ có thể phát hiện ngay lập tức (real time) các vấn đề liên quan đến thuốc
1.1.3 Phương pháp đánh giá các DRPs
Phân tích, xem xét ảnh hưởng, hậu quả của các DRP đóng vai trò rất quan trọng góp phần đánh giá hiệu quả của hoạt động dược lâm sàng DRP và can thiệp dược có thể ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh như: tình trạng lâm sàng của người bệnh (hiệu quả điều trị, tác dụng không mong muốn ), vấn đề kinh tế (chi phí thăm khám, xét nghiệm, điều trị thêm do hậu quả của DRP gây ra), khía cạnh con người (kiến thức về thuốc của người bệnh, sự tuân thủ điều trị, sự hài lòng của người bệnh) Việc đánh giá mức độ của những ảnh hưởng này là khá phức tạp
Trang 29Nghiên cứu của tác giả Võ Thị Hà (2015) đã đề cập các công cụ đánh giá mức
độ ảnh hưởng, hậu quả của DRP với các cách tiếp cận khác nhau [63]
- Tiếp cận 1: Theo hướng đánh giá hậu quả thực tế của các DRP nếu không được
can thiệp: việc đánh giá hậu quả thực tế là rất khó, hơn nữa chỉ đánh giá các DRP mà can thiệp không được chấp nhận, chưa đánh giá được toàn bộ DRP đã được phát hiện Hơn thế nữa, ảnh hưởng thực tế trên bệnh nhân phản ánh quá trình chăm sóc bệnh nhân tổng thể, không chỉ do DRP phát hiện được gây ra
- Tiếp cận 2: theo hướng đánh giá ảnh hưởng thực tế sau khi tiến hành can thiệp
dược lâm sàng và theo dõi bệnh nhân Đây chính xác là cách thức đánh giá chất lượng can thiệp dược Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng không đánh giá được toàn bộ số DRP phát hiện được Hơn nữa, việc đánh giá gặp một số khó khăn về công cụ, tiêu chuẩn, thời gian theo dõi bệnh nhân…để xác định mối liên quan giữa can thiệp và hiệu quả điều trị
- Tiếp cận 3: theo hướng ước tính mức ý nghĩa lâm sàng tiềm tàng của DRP Đây
là cách thức đang được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về DRP và can thiệp dược gần đây do hai cách tiếp cận trên không sử dụng được cho toàn bộ các DRP được phát hiện được cũng như khó đánh giá chính xác
Đa số các nghiên cứu về DRP, việc đánh giá mức ý nghĩa lâm sàng tiềm tàng thường được thực hiện dưới góc nhìn của một hội đồng bao gồm nhiều chuyên gia trong các lĩnh khác nhau như bác sĩ nội khoa, chuyên gia dược lý lâm sàng
Một số thang đánh giá mức độ ảnh hưởng tiềm tàng của DRP
- Folli và cộng sự đã xây dựng thang đánh giá gồm 3 mức độ như sau:
Ví dụ: liều quá thấp so với tình trạng bệnh
- Nghiên cứu về DRP tại Ấn Độ [58] dùng thang 3 mức độ
Trang 30• Mức độ lớn: vấn đề cần can thiệp để ngăn ngừa hậu quả mà ước tính làm giảm tối thiểu thời gian nằm viện 24h
• Mức độ trung bình: vấn đề cần điều chỉnh để làm tăng hiệu quả điều trị, giảm mức độ bệnh hoặc chi phí điều trị
• Mức độ nhỏ: vấn đề yêu cần điều chỉnh nhỏ và tối ưu hóa điều trị, không ảnh hướng đến thời gian nằm viện, hiệu quả lâm sàng
1.2 Quản lý các vấn đề liên quan đến thuốc trong thực hành lâm sàng
Theo Hiệp hội Dược sĩ Úc, can thiệp dược được định nghĩa là mọi hoạt động của dược sĩ làm thay đổi việc điều trị hoặc quản lý bệnh nhân [24]
Có nhiều hình thức can thiệp dược lâm sàng như can thiệp ở mức độ chuyên gia, cung cấp tài liệu, tổ chức hội thảo, tập huấn; lấy ý kiến đồng thuận tại chỗ, thăm viếng
có chủ đích, thay đổi qua trung gian bệnh nhân; can thiệp dựa vào quan điểm của nhà lãnh đạo; nhắc nhở; quảng bá [31]
1.2.1 Can thiệp của Dược sĩ lâm sàng
Với những nguy hại tiềm tàng và các yếu tố làm tăng nguy cơ xảy ra DRPs trên người bệnh, các biện pháp nhằm phát hiện DRPs, phòng tránh lặp lại và giảm thiểu tác hại do DRPs là điều cần thiết, trong đó vai trò của các dược sĩ dược lâm sàng được đặt lên hàng đầu Dược sĩ sẽ chịu trách nhiệm cho việc phát hiện, giải quyết, phòng ngừa các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc cũng như tình trạng bệnh nhân chưa được điều trị, lựa chọn thuốc chưa phù hợp, liều chưa đầy đủ, phản ứng bất lợi của thuốc, tương tác thuốc và thuốc sử dụng không rõ chỉ định
Dược sĩ lâm sàng còn có vai trò trong cả quy trình quản lý và sử dụng thuốc từ lựa chọn danh mục thuốc, kê đơn và sao chép, đến lưu trữ, cấp phát thuốc, thực hiện theo dõi, giám sát đánh giá hiệu quả điều trị và giáo dục người bệnh Nhưng xét từ góc nhìn dược lâm sàng, 3 bước mà dược sĩ lâm sàng có thể tham gia và phát huy vai trò lớn hơn cả là giai đoạn kê đơn, giám sát sử dụng thuốc, tư vấn bệnh nhân [14] [2]
Trang 311.2.1.1 Can thiệp quá trình kê đơn
Kê đơn là giai đoạn mà dược sĩ đóng vai trò quan trọng nhất, cũng là giai đoạn thường xảy ra nhiều vấn đề liên quan đến thuốc nhất Những vấn đề dược sĩ có thể can thiệp trong giai đoạn kê đơn thuốc bao gồm:
- Tính đầy đủ của thông tin liên quan đến người bệnh cần thiết trên đơn thuốc: chẩn đoán, các bệnh mắc kèm, chiều cao, cân nặng cập nhật, tiền sử dị ứng; chức năng gan, thận Dược sĩ có thể yêu cầu bổ sung các thông tin thực sự cần thiết và khả thi để thực hiện dựa trên điều kiện thực tế của cơ sở điều trị
- Chế độ liều và cách dùng các thuốc dự phòng, hỗ trợ Đặc biệt là các thuốc dự phòng COPD và Hen phế quản
- Những chỉ dẫn đặc biệt khi dùng thuốc
- Tương tác thuốc: dược sĩ phát hiện các sai sót liên quan đến tương tác thuốc, xây dựng dữ liệu liên quan đến tương tác thuốc để cảnh báo trên hệ thống kê đơn điện
tử Đặc biệt trên bệnh nhân là người cao tuổi với số lượng thuốc dùng lớn nên nhiều nguy cơ xảy ra tương tác thuốc
- Tiền sử dùng thuốc so với đơn thuốc người bệnh được kê Đây cũng là hoạt động có thể giảm được nhiều sai sót hoặc các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc xảy
ra (trùng lặp thuốc, thiếu điều trị, dị ứng, tương tác thuốc)
1.3.1.2 Giám sát và đánh giá hành vi sử dụng thuốc
Việc giám sát và đánh giá sử dụng thuốc là một phần quan trọng giúp dược sĩ lâm sàng có thể tối ưu hóa quá trình sử dụng thuốc của người bệnh Hoạt động này, kết hợp với các can thiệp trực tiếp sẽ tạo ra hiệu quả nhanh hơn
Trong quá trình sử dụng thuốc, dược sĩ có thể giám sát khả năng dung nạp của bệnh nhân, kiểm soát các tác dụng không mong muốn thông qua phỏng vấn bệnh nhân
và xem xét các dấu hiệu sinh tồn thường quy Dược sĩ lâm sàng có thể đề xuất tiến hành các xét nghiệm đánh giá, giám sát tác dụng không mong muốn, độc tính của thuốc cũng như đề xuất các can thiệp bổ sung hoặc thay đổi thuốc dự phòng hoặc điều trị các tác dụng không mong muốn đó
Trang 321.3.1.3 Tư vấn và giáo dục bệnh nhân
Tư vấn, giáo dục bệnh nhân là một bước quan trọng trong đảm bảo an toàn sử dụng thuốc, giúp bệnh nhân tự phát hiện, phòng ngừa sai sót thuốc
Dược sĩ tư vấn giúp bệnh nhân ngoại trú lần đầu sử dụng các thuốc xịt hít, khí dung Giải thích các tương tác thuốc và thức ăn, tương tác thuốc – thuốc, trùng thuốc, phản ứng có hại tiềm ẩn, bảo quản và thao tác sử dụng đúng dụng cụ bình xịt dùng chất đẩy, bình hít bột khô Bệnh nhân cũng được khuyến cáo về việc không được nhai nghiền thuốc mà không tham khảo ý kiến của bác sĩ, dược sĩ Dược sĩ cung cấp thông tin về những phản ứng người bệnh có thể gặp phải khi sử dụng thuốc và những biện pháp có thể tự xử trí khi cần thiết
Dược sĩ đề xuất các biện pháp làm tăng tuân thủ điều trị như xây dựng nhật ký dùng thuốc, kiểm tra thông qua việc đếm số thuốc còn lại trong lịch sử cấp phát thuốc
Có thể sử dụng biện pháp gọi điện thoại để theo dõi việc sử dụng Duy trì mối liên hệ thông tin giữa bệnh nhân và dược sĩ đóng vai trò quan trọng
1.2.2 Can thiệp qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng trên phần mềm kê đơn của bệnh viện
Hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng (CDSS) là các phần mềm được thiết kế để phân tích các thông tin của từng bệnh nhân được lưu trong cơ sở dữ liệu của chương trình máy tính, từ đó đưa ra các nhắc nhở hoặc cảnh báo hỗ trợ các thầy thuốc đưa ra quyết định điều trị [27], [60]
CDSS đã được nhiều nghiên cứu chứng minh có ảnh hưởng tích cực đến việc làm giảm thiểu các sai sót y khoa, nâng cao an toàn cho người bệnh, cải thiện chất lượng chăm sóc cũng như chi phí điều trị [27] CDSS có rất nhiều chức năng như hỗ trợ chẩn đoán, kê đơn thuốc, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, quản lý sự tuân thủ hướng dẫn điều trị…Đối với thuốc, CDSS hỗ trợ các dược sĩ, bác sĩ trong việc kiểm tra dị ứng thuốc, hướng dẫn liều dùng, kiểm tra tương tác thuốc-thuốc, kiểm tra trùng lặp thuốc trong đơn, hướng dẫn điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận, thực hiện các xét nghiệm liên quan đến thuốc và kiểm tra chống chỉ định thuốc-bệnh [60]
Thực tế cho thấy các bác sĩ không thể nhớ hết được tất cả các thông tin liên quan đến tất cả các đặc điểm thuốc (chống chỉ định; hàng nghìn cặp TTT được mô tả từ y
Trang 33văn ; liều tối đa ; thập chí ngay cả các nhóm thuốc dễ bị trùng lặp…), trong khi đó thực hành lâm sàng lại đòi hỏi các nhà lâm sàng phải đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác Vì vậy, CDSS ra đời như một công cụ đắc lực với vai trò nhận diện các thông tin
có sẵn để đưa ra cảnh báo cho bác sĩ ngay tại thời điểm kê đơn (cảnh báo theo thời gian thực) từ đó giúp bác sĩ lựa chọn được thuốc phù hợp cho người bệnh
Hiện nay, CDSS thường sử dụng dưới dạng các ứng dụng web hoặc tích hợp cùng với hồ sơ sức khỏe điện tử (EHR) và phần mềm kê đơn điện tử (HIS) [60] Sự phối hợp hoạt động của ba phần mềm được thể hiện ở hình 1.2:
Hình 1.2 Mô tả hoạt động phối hợp giữa CDSS với EHR nhằm quản lý các DRP
Năm 2011, Hoeksema và cộng sự [42] đã thực hiện một nghiên cứu để báo cáo tính hợp lệ và chính xác của một hệ thống CDSS được thiết kế nhằm đánh giá và quản
lý hen phế quản bởi các tổ chức y tế hàng đầu tại Hoa Kỳ Hệ thống đã sử dụng một cách tiếp cận tương tự với hệ thống Synergy-COPD CDSS bằng cách sử dụng các quy tắc được trích xuất từ các hướng dẫn cho chẩn đoán và quản lý bệnh hen suyễn Hệ thống đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh hen phế quản bằng cách áp dụng các quy tắc dựa trên một tập hợp các yếu tố đầu vào, bao gồm triệu chứng của bệnh nhân, số đợt cấp
và các thông số đo chức năng hô hấp Hơn nữa, hệ thống còn khuyến nghị hướng điều trị, dựa trên mức độ nghiêm trọng và các yếu tố khác Hệ thống CDSS hoạt động tương đối chính xác so với bác sĩ lâm sàng làm nhiệm vụ đánh giá bệnh nhân hen phế quản (các chuyên gia về hô hấp đã đồng ý với hệ thống CDSS là 67% , sai số của hệ thống là 68%, tạo ra độ chính xác tổng thể đạt mức 78%)
Khoa chẩn đoán hình ảnh
Trang 34Năm 2014, Ceccaroli và cộng sự [40] đã tiến hành một nghiên cứu và cho kết quả hệ thống hỗ trợ quyết định chuyên biệt có thể được cung cấp như một dịch vụ bổ sung cho các chính sách hiện có về chăm sóc tổng thể và quản lý các bệnh mãn tính Nghiên cứu đã tạo ra một hệ thống CDSS có khả năng giải quyết các vấn đề quan trọng đối với việc quản lý COPD như tìm kiếm ca bệnh, chẩn đoán và sự phân tầng bệnh nhân CDSS có thể đưa ra các khuyến nghị có độ chính xác cao, trong 323 ca bệnh được nghiên cứu đạt độ đặc hiệu là 90% và độ nhạy là 96%
Dưới đây là các nghiên cứu ứng dụng hệ thống CDSS trong việc phòng tránh các DRP trong thực hành lâm sàng
Bảng 1.6.Một số nghiên cứu ứng dụng hệ thống CDSS trong việc phòng tránh
và chiến lược phát triển để thành công
- CDSS được chứng minh hỗ trợ tích cực cho nhân viên y tế trong các quyết định lâm sàng và chăm sóc bệnh nhân
- CDSS có tiềm năng phát triển bởi khả năng tương tác, tốc độ, dễ dàng triển khai, chi phí thấp
- Thời gian tiết kiệm được và thời gian đầu
tư sau khi đã loại bỏ các cảnh báo không liên quan về mặt lâm sàng
-Kiểm tra các TTT do CDSS hỗ trợ dẫn đến giảm cảnh báo kiểm tra TTT hàng ngày từ 65 xuống 47 cảnh báo trong Giai đoạn 1 (P=0.03) và từ 73 xuống 33 cảnh báo trong Giai đoạn 2 (P=0.003)
-Thời lượng kiểm tra TTT giảm từ 15 xuống 11 phút (P=0.044)
Trang 35CDSS có thể hỗ trợ các dược sĩ nội trú lâm sàng trong việc ngăn ngừa sai sót khi dùng thuốc và tối ưu hóa cách dùng thuốc Hơn nữa, ngày càng nhiều công cụ CDSS đã được phát triển làm tăng vai trò của dược sĩ, hỗ trợ và thiết lập các dược sĩ trở thành người dẫn đầu trong lĩnh vực sử dụng thuốc an toàn và hiệu quả
ưu hóa trong hệ thống CDSS để sàng lọc TTT và mô tả sự chấp nhận can thiệp của dược sĩ lâm sàng
- Sáu chiến lược tối ưu hóa CDSS được thực hiện đồng thời đã dẫn đến
sự đồng thuận cảnh giác cao và sự chấp nhận can thiệp của dược sĩ lâm sàng
- 86,9% các can thiệp của dược sĩ lâm sàng đã được bác sĩ chấp nhận
-Kết quả cho thấy việc đưa CDSS vào phần mềm kê đơn thuốc đã phát hiện được nhiều DRP tiềm năng hơn Tuy nhiên, các DRP được CDSS xác định thường ít được giải quyết hơn so với các DRP được xác định bởi một đánh giá thuốc lâm sàng
-Việc phát triển thêm CDSS với các cảnh báo cụ thể hơn, liên kết thông tin với cấp phát và lâm sàng, có thể làm cho quá trình sử dụng thuốc hiệu quả
1.3 Các nghiên cứu về DRP trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Trang 36Bảng 1.7 Các nghiên cứu về DRP trên thế giới
gia-năm xuất bản)
Phương pháp nghiên cứu, Thiết kế nghiên
cứu
Tỷ lệ chấp nhận của can thiệp
Mức ý nghĩa của DRP, can thiệp
Nghiên cứu hồi cứu, mô
tả cắt ngang trong 2 năm
DRP được phát hiện từ hệ thống MTM (Medication Therapy Management)
294 Bệnh nhân cao tuổi được chẩn đoán ung thư phổi (23,8%), ung thư đại trực trực tràng (18,7%), ung thư vú (9,5%)
ASHP
1091 DRPs Chủ yếu là DDI tiềm tàng (36,4%), ADR (31,7%) và không tuân thủ điều trị (8,9%)
sĩ phân tích các loại thuốc
đã được sử dụng trước khi nhập viện, phác đồ hóa trị liệu và hồ sơ bệnh án để phát hiện DRP
959 Bệnh nhân ung thư (UT) đường tiêu hóa (25,5%), UT phổi (18,0%), UT vú (13,2%), UT hạch (10,9%), UT bộ phận sinh dục (6,9%), UT phụ khoa (4,7%), UT khác (20,6%)
PCNE V5.01
164 DRPs Chủ yếu là tác dụng phụ (94,5%), tương tác thuốc (1,8%), liều dùng (1,8%), sử dụng thuốc (1,8%)
PCNE V6.2
59 DRPs trên bệnh nhân HPQ
95 đề xuất
Trang 372016) [23] DRP và can thiệp nhân COPD Chủ yếu
gồm lựa chọn thuốc, quá trình dùng thuốc, Bệnh nhân quên dùng/uống thuốc và nguyên nhân khác
chấp thuận
và giải quyết
dữ liệu, phỏng vấn và can thiệp
V8.02
640 DRPs chủ yếu gồm
an toàn điều trị (54,2%), lựa chọn thuốc (24,2%), liều lượng (21,5%), thời gian điều trị (17,7%)
1557 đề xuất can thiệp Tỉ lệ chấp thuận 91,6%
(1418/1557)
-
5
Zhu Y., Liu C., et
al (Trung
Quốc-2019)[68]
Nghiên cứu tiến hành trong 18 tháng Dược sĩ lâm sàng thông qua hệ thống CPOE để phát hiện các DRPs và đề xuất can
thiệp
474 Bệnh nhân nội trú khoa hô hấp được nghiên cứu, trong đó
164 bệnh nhân có DRPs được đề xuất can thiệp
PCNE V8.02
410 DRPs được phát hiện bao gồm: Hiệu quả điều trị (53,4%),
An toàn điều trị (34,1%) Nguyên nhân của các DRPs chủ yếu
là liên quan đến bệnh nhân (25,8%), lựa chọn thuốc (24,0%), và quá trình sử dụng thuốc (23,4%)
773 để xuất can thiệp
Tỉ lệ chấp thuận 96,2% Tỉ lệ giải quyết được vấn đề 81,9%
-
Trang 38DRPs
Tổng số 2.898 Bệnh nhân bao gồm 1523
BN tim mạch (52,5%), 725 BN nội tiết (25,0%), 650 BN
hô hấp (22,5%)
DRP tự xây dựng
Lao
Cipolle, Strand, Morley
có điều chỉnh
843 DRPs được phát hiện Bao gồm điều trị bằng thuốc không cần thiết (2,85%), điều trị bằng thuốc bổ sung (6,89%), thuốc không hiệu quả (1,54%), sai liều dùng (12,46%), tương tác thuốc (66,18%)
of Clinical Pharmacy
57 DRPs được phát hiện chủ yếu gồm tương tác thuốc (26,4%), không tuân thủ (24,5%), tác dụng phụ (24,5%) Có 40,3%
DRP liên quan đến thuốc chống lao
57 can thiệp được chấp thuận 100%
59,6% can thiệp có tác động lâm sàng đáng
kể
Trang 391.3.2 Tại Việt Nam
Năm 2016, nghiên cứu hồi cứu nhằm xác định DRPs của tác giả Trần Thị Ngân tiến hành tại khoa ICU bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng đã phát hiện được 3.825 DRPs,
số DRP trung bình/đơn thuốc là 2,2 với tổng số 268 bệnh án với 1.730 đơn thuốc được phân tích Nhóm DRPs xuất hiện nhiều nhất là thiếu thông tin về cách dùng thuốc (31,7%), tiếp theo là DRPs nhịp dùng thuốc không chính xác (16,7%), DRPs thuốc không phải lựa chọn ưu tiên (16,1%) DRPs kê đơn có tỉ lệ ít gặp hơn là DRPs dạng bào chế không thích hợp (7,9%), tương tác thuốc nghiêm trọng (7,8%), liều dùng quá cao (6,5%), liều dùng quá thấp (6%), chỉ định không phù hợp (2,7%), kĩ thuật dùng thuốc (1,5%), trùng lặp thuốc (0,4%) và đường dùng thuốc không thích hợp (0,1%) [10]
Năm 2017, tác giả Nguyễn Lê Trang đã đánh giá các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc tại khoa Ung bướu bệnh viện Vinmec Times City thông qua các hoạt động của dược sĩ lâm sàng Nhóm nghiên cứu đã phát hiện được 182 DRP trên tổng số 149 bệnh nhân tại khoa Ung bướu trong đó 66,4% bệnh nhân có DRP Số DRP trung bình phát hiện trên một bệnh nhân là 1,2, có 51,1% bệnh nhân xuất hiện từ 1-2 DRP Trong
đó, DRP liều dùng chiếm tỉ lệ cao nhất (29,1%) và chủ yếu là do liều thấp (19,2%) Tiếp theo đến nhóm DRP về lựa chọn thuốc (24,7%), phần lớn là do thuốc không có chỉ định
rõ ràng hoặc chưa thực sự cần thiết (23,1%), DRP thuộc nhóm cách dùng chiếm 20,3% Tương tác thuốc và thiếu điều trị chiếm tỉ lệ nhỏ nhất (2,7% và 3,3%) [14]
Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Ánh Nhựt và cộng sự đăng tải trên tạp chí
Y học Thành phố Hồ Chí Minh (2019) đã xác định các vấn đề liên quan đến thuốc trong
kê đơn cho bệnh nhân ngoại trú tại một bệnh viện ở Cần Thơ năm 2019 Kết quả có 6.892 đơn thuốc được đánh giá (tuổi trung bình bệnh nhân trong đơn là 50,32 ± 16,194) Tổng số DRPs được phát hiện là 17.074, trung bình 2,5 DRPs/Bệnh nhân Số đơn có ít nhất 1 DRP chiếm gần 90% DRP phổ biến nhất là chỉ định không phù hợp khuyến cáo (55,11%), kế đến là thời điểm dùng không phù hợp khuyến cáo (49,90%), thời điểm dùng so với bữa ăn không phù hợp khuyến cáo (49,85%), số lần dùng thuốc không phù hợp khuyến cáo (47,74%) và liều dùng không phù hợp khuyến cáo (45,14%) [11]
Năm 2020, tác giả Trần Văn Hải nghiên cứu tại khoa nội tiêu hóa-máu bệnh viện Quân y 105, qua phân tích 224 bệnh án với 2.284 đơn thuốc, nghiên cứu phát hiện được
Trang 402.655 DRPs, trung bình một đơn thuốc có 1,16 DRPs Nhóm DRPs phổ biến nhất là cách dùng thuốc (51,98%), tiếp theo là liều dùng (28,25%), tương tác thuốc (9,64%), lựa chọn thuốc (5,54%), thiếu liều điều trị (4,47%) Trong tổng số 21 DRPs được đưa
ra đánh giá, có 17 DRPs (80,95%) đạt được đồng thuận trên 70% Có 4 DRPs (19,5%)
có tỉ lệ đồng thuận dưới 70% thuộc nhóm DRPs về khoảng cách đưa liều và thiếu điều trị [6]
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên bệnh nhân mắc bệnh mạch vành được kê đơn điều trị ngoại trú tại một bệnh viện ở Cần Thơ trong tháng 8/2018, thực hiện bởi các tác giả Trương Trần Anh Thư cùng cộng sự Kết quả nghiên cứu có 683 đơn thuốc được thu thập và phân tích (tuổi trung bình của các bệnh nhân có đơn thuốc
là 63,4 đối với nam và 64,3 đối với nữ) Tỉ lệ đơn thuốc chưa hợp lý (so với khuyến cáo) là: liều dùng (22,2%), số lần dùng (24,2%), thời điểm dùng thuốc trong ngày (4,1%), thời điểm dùng thuốc so với bữa ăn (57,2%) Bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên ít gặp phải nguy cơ được chỉ định thuốc không hợp lý về liều (OR= 0,60; 95% CI: 0,41-0,87), sử dụng từ 5 thuốc trở lên trong đơn sẽ tăng nguy cơ gặp phải sự không hợp lý về số lần dùng (OR= 1,87; 95% CI: 1,09-3,21), bệnh nhân có bảo hiểm y tế ít gặp phải sự không hợp lý về thời điểm dùng thuốc so với bữa ăn (OR= 0,60; 95% CI: 0,43-0,83) [13]
Trong một báo cáo tại Hội Nghị Dược Bệnh Viện TP Hồ Chí Minh mở rộng lần thứ X – 2019 của tác giả Trương Thúy Quỳnh về ứng dụng công cụ cảnh báo nguy cơ tương tác thuốc trên eHospital tại Bệnh viện Nhiệt Đới Công cụ cảnh báo DDI được tích hợp trên hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện của FPT cung cấp Phần mềm FPT sau tích hợp sẽ tự kiểm tra và cảnh báo về tương tác chống chỉ định trên đối tượng đặc biệt (nếu có) Khi xuất hiện cảnh báo, điều dưỡng báo cho bác sĩ để có thay đổi phù hợp
và bác sĩ xử trí theo khuyến cáo trong cảnh báo (tương tác từ mức cảnh báo 3,4,5) Kết quả trong 9 tháng thực hiện tiến hành phân tích 484.865 toa thuốc ngoại trú và 32.535 bệnh nhân nội trú, số lượng tương tác thuốc-thuốc có nguy cơ xảy ra được phát hiện từ phần mềm eHospital là 11.055 (2.28%) với ngoại trú và 3.655 (11,23%) đối với nội trú [12]
Một báo cáo khác của nhóm tác giả Nguyễn Thị Bích Nga và cộng sự cũng tại Hội Nghị Dược Bệnh Viện TP Hồ Chí Minh mở rộng lần thứ X – 2019 về Hệ thống