Danh mục thuốc đã sử dụng trong bệnh viện 1.1.1 Khái niệm Theo Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “Danh mục thuốc bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để s
TỔNG QUAN
Danh mục thuốc đã sử dụng trong bệnh viện
Theo Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “Danh mục thuốc bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện”
DMT đã sử dụng là kết quả của quá trình cung ứng thuốc, bao gồm lựa chọn thuốc, mua sắm, cấp phát và sử dụng thuốc [30] Việc phân tích DMT đã sử dụng nhằm tìm ra những bất cập, xác định nguyên nhân để có những điều chỉnh hợp lý cho cung ứng thuốc của kỳ sau
1.1.2 Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sử dụng thuốc trong bệnh viện
Bộ Y tế đã có nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng quản lý, sử dụng danh mục thuốc nói chung.
Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của khoa dược bệnh viện: “Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý” Như vậy Khoa dược có vai trò chủ đạo, đầu mối trong việc quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện
Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện [7], quy định:
“Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện” Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể các phương pháp phân tích được áp dụng để phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc, nguyên tắc xây dựng danh mục, trong đó chỉ rõ ưu tiên thuốc sản xuất trong nước; tiêu chí
2 lựa chọn thuốc là ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất, ưu tiên lựa chọn thuốc generic[7]
Thông tư 23/2011/TT-BYT ban hành ngày 10/6/2011 về hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh [6]
Thông tư 19/2018/TT-BYT Ngày 30/8/2018 Bộ Y tế ban hành ban hành danh mục thuốc thiết yếu [12]
Quy định về một số nội dung cụ thể trong sử dụng thuốc như sau:
-Quy định về ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước
Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/2013 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện Điều 5 quy định ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [7]
Thông tư 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 và Thông tư 11/2016/TT- BYT ngày 11/5/2016 của Bộ Y tế quy định khi lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu các cơ sở y tế phải quy định rõ không được chào thầu thuốc nhập khẩu cùng nhóm tiêu chí kỹ thuật [11]
Thông tư 03/2019/TT-BYT ngày 28/03/2019 Bộ Y tế Ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung ứng Quy định các cơ sở y tế khi lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quy định rõ không được chào thầu thuốc nhập khẩu cùng nhóm tiêu chí kỹ thuật với thuốc sản xuất trong nước [8]
Luật Dược 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016 quy định đối với việc đấu thầu thuốc, không chào thuốc nhập khẩu thuộc danh mục do BYT ban hành trên cơ sở nhóm tiêu chí kỹ thuật khi thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp, ưu tiên mua thuốc generic [26]
-Quy định sử dụng thuốc đơn thành phần/đa thành phần
Thông tư 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 8/8/2013 quy định tại điều 5 ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất
3 đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất [7]
Thông tư 52/2017/TT-BYT ban hành ngày 29/12/2017 cùa Bộ Y tế, điều
4 quy định việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic
-Quy định sử dụng thuốc generic
Thông tư 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 8/8/2013 điều 5 quy định ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể [7]
Công văn 3968/BHXH-DVT ngày 8/9/2017 của Cục quản lý Dược, Bộ Y tế, về việc thống nhất tỷ lệ sử dụng BDG tại các cơ sở KCB theo chỉ đạo của Chính phủ Trong đó quy định bệnh viện hạng 2 trực thuộc Sở Y tế các tỉnh, thành phố và các cơ sở khám chữa bệnh tương đương: tỷ lệ sử dụng BDG không quá 15% so với tổng chi thuốc [3], [4]
Thông tư 52/2017/TT-BYT ban hành ngày 29/12/2017 cùa Bộ Y tế, điều
4 quy định ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic
-Quy định về lựa chọn đường dùng thuốc cho người bệnh
Thông tư 23/2011/TT-BYT ban hành ngày 10/6/2011 quy định tại điều 3 Căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý, đường dùng của thuốc để ra y lệnh đường dùng thuốc thích hợp Chỉ dùng đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị hoặc với thuốc chỉ dùng đường tiêm[6]
-Quy định về số lượng thuốc mua sắm theo kết quả trúng thầu
Thông tư 11/2016/TT-BYT ngày 11/5/2016 của Bộ Y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập Điều 31 quy định số lượng thuốc của từng cơ sở y tế thuộc phạm vi quản lý và điều tiết việc thực hiện kế hoạch để bảo đảm sử dụng tối thiểu 80% số lượng thuốc Trường hợp nhu cầu sử dụng thuốc
4 của địa phương, của các cơ sở y tế của trung ương (trừ các cơ sở y tế tham gia đấu thầu thuốc tập trung với địa phương) vượt 20% số lượng thuốc được phân bổ trong thỏa thuận khung thì phải báo cáo đơn vị mua thuốc tập trung cấp quốc gia để tổng hợp và điều tiết số lượng thuốc giữa các địa phương, các cơ sở y tế của trung ương nhưng bảo đảm không vượt quá 20% số lượng trong kế hoạch lựa chọn nhà thầu tập trung cấp quốc gia hoặc kế hoạch đàm phán giá đã được phê duyệt
Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện hiện nay
Một nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện đa khoa Sassoon ở Ấn độ năm 2012 về phân tích ABC/VEN để xác định các mặt hàng cần kiểm soát quản lý chặt chẽ Tổng số 291 thuốc có trong DMT qua phân tích ABC có 13,4%, 16,5% và 70,1% thuộc về A, B và C Nghiên cứu chỉ ra có 166 thuốc nhóm I là những thuốc này cần được kiểm soát quản lý chặt chẽ hoặc cần được thay thế
Với sự can thiệp của HĐT&ĐT, chất lượng DMT đã được cải thiện, theo một nghiên cứu tại 29 bệnh viện cho thấy 93% DMT thường xuyên cập nhập bổ sung hoặc loại bỏ [23] Các phương pháp phân tích sử dụng thuốc đã được HĐT&ĐT của nhiều bệnh viện dùng để chỉ ra các hợp lý, chưa hợp lý của DMT để có giải pháp can thiệp kịp thời, nhằm cải thiện chất lượng DMT như: kiểm soát thuốc nhóm A, giảm bớt thuốc nhóm N, hạn chế sử dụng thuốc ngoài danh mục, thuốc không thiết yếu Nghiên cứu được thực hiện tại một số bệnh viện trong những năm gần đây như sau:
1.2.1 Cơ cấu sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý tại các bệnh viện
Theo các kết quả nghiên cứu giá trị tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số kinh phí bệnh viện
Bảng 1.2 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý của một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Số
Thuốc hoá dược (%KM, GT)
Thuốc đông y,thuốc từ dược liệu (%KM, GT)
1 Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm
2 BV Kiến An Hải Phòng 2018
Bảng 1.3 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm hoá dược của một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
10 Nhóm thuốc có GT lớn
Nhóm có giá trị sử dụng lớn nhất
26 653 72,1 90,61 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
23,8 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
16 350 78,3 96,4 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 18,2%
326 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
5 BVĐK khu vực phía nam Bình
16 431 58,8 82,17 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
16 350 66,26 86,44 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
26 350 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Từ bảng phân tích DMT dùng tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh cho thấy các khoản mục và chi phí nhóm chống nhiễm khuẩn thường chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu của các bệnh viện Cho thấy bệnh nhiễm khuẩn vẫn chiếm ưu thế trong MHBT tại các bệnh viện
1.2.2 Sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic
Thuốc biệt dược gốc là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở đã có đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả Thuốc generic là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc [9]
Tuy nhiên các thuốc BDG tham gia đấu thầu theo gói riêng nên không có thuốc cạnh tranh, hầu hết đều trúng thầu với giá cao Một số thuốc BDG đã hết hạn bảo hộ độc quyền sáng chế có giá chênh lệch khá lớn so với các thuốc generic nhóm 1 cùng hoạt chất, nồng độ, hàm lượng Việc ưu tiên sử dụng thuốc generic là một trong các tiêu chí trong việc lựa chọn xây dựng DMT bệnh viện để giảm chi phí Công văn 3968/BHXH-DVT ngày 80/9/2017 của
Bộ Y tế đã thống nhất tỷ lệ sử dụng biệt dược gốc tại các cơ sở Đề xuất tỷ lệ sử dụng BDG năm 2018 đối với các bệnh viện tuyến Trung ương trực thuộc
Bộ Y tế, Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An và bệnh viện tương đương thì tỷ lệ sử dụng BDG tối đa bằng 30% tổng chi thuốc Đối với bệnh viện hạng 1 và tương đương thì tỷ lệ sử dụng BDG không quá 25% so với tổng chi thuốc Bệnh viện hạng 2 và tương đương tỷ lệ sử dụng BDG không quá 15% so với tổng chi thuốc Bệnh viện hạng 3 và tương đương tỷ lệ sử dụng BDG không quá 4% so với tổng chi thuốc [4]
Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng thuốc biệt dược gốc của một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Tỷ lệ thuốc BDG
1 Hữu Nghị đa khoa Nghệ An năm 2016
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Tỷ lệ thuốc BDG
2 Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018 [18] 4,3 3,5
3 BVĐK khu vực phía nam Bình Thuận năm 2018 [25] 6,26 3,98
5 BVĐK Kiến An Hải Phòng 2017 [22] 16,52 10,12
Phần lớn các bệnh viện sử dụng BDG chiếm tỷ lệ hơn 50% vào năm
2012, nhưng có xu hướng giảm dần trong các năm trở lại đây Thuốc generic được ưu tiên toàn diện từ đăng ký lưu hành, sản xuất, xuất- nhập khẩu, cung ứng và sử dụng [28], vì vậy các bệnh viện cũng có nhiều lựa chọn trong xây dựng danh mục mời thầu nhiều hơn
1.2.3 Sử dụng thuốc trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
Sử dụng thuốc kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả
Bảng 1.5 Cơ cấu sử dụng thuốc trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn của một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
GTSD của nhóm kháng sinh Ghi chú
14,1 34,2 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn là nhóm có GT sử dụng nhiều nhất
Trong đó có Beta-lactam sử dụng nhiều nhất, chiếm 62,5% về KM, 67,1% GT
3 Đa khoa Hà Đông năm 2017 [17]
12,7 24,5 Trong đó có Beta-lactam sử dụng nhiều nhất, chiếm 57,7% về KM, 71,6% GT
4 Hữu Nghị Nghệ An năm 2016 [24]
15,6 38,7 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
18,29 47,1 Phân nhóm beta-lactam có 64KM, chiếm 40,6%KM và 77,1% GTSD
6 BVĐK khu vực phía nam Bình Thuận/
19,32 40,7 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
22,3 24,4 Nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
18,86 54,37 Trong đó phân nhóm beta-lactam sử dụng nhiều nhất nhiếm 64,52%KM và 83,32%GTSD
9 BVĐK tỉnh Phú Thọ năm 2017 [16]
98KM Phân nhóm beta-lactam chiếm
Nhìn chung nhóm có giá trị sử dụng cao nhất tại nhiều bệnh viện là nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn Kết quả này đúng với nhiều bệnh viện
1.2.4 Sử dụng các thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
Thuốc nhập khẩu đóng vai trò lớn trong công tác khám, điều trị bệnh với tỉ trọng thuốc nhập khẩu lớn trong tổng tiền sử dụng thuốc tại Việt Nam Giá thuốc nhập nhẩu cao là hàng rào lớn cho bệnh nhân trong việc tiếp cận thuốc để điều trị và nâng cao sức khỏe [28] Trong khi đó thuốc sản xuất trong nước đã ngày càng đáp ứng tốt hơn với nhu cầu điều trị Đến năm 2020 phấn đấu sản xuất được 20% nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước, thuốc sản xuất trong nước chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dược liệu chiếm 30% [28] Tuy nhiên, giá trị sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam còn thấp, được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.6 Cơ cấu sử dụng thuốc sản xuất trong nước của một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
Thuốc sản xuất trong nước Thuốc nhập khẩu
1 Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
Thuốc sản xuất trong nước Thuốc nhập khẩu
2 Hữu Nghị đa khoa Nghệ An năm
3 BVĐK khu vực phía nam Bình
4 BVĐK tỉnh Phú Thọ năm
7 BV Kiến An Hải Phòng 2019
Các nghiên cứu trên cho thấy tình hình sử dụng thuốc theo nguồn gốc xuất xứ tại các bệnh viện thì số thuốc nội chiếm tỷ lệ thấp hơn cả về khoản mục và giá trị so với thuốc nhập khẩu, đều không đạt được tiêu chí sử dụng thuốc nội chiếm 80% chi phí dùng thuốc Nhóm thuốc nhập khẩu tập trung vào các thuốc điều trị ung thư, thuốc tác dụng đối với máu, đạm truyền, thuốc kháng sinh tiêm thế hệ mới, thuốc điều trị tim mạch Các thuốc này chưa sản xuất được tại Việt Nam Nhóm thuốc sản xuất trong nước tập trung vào các thuốc dạng viên, gói, dịch truyền, thuốc đông dược và một số thuốc kháng sinh nhóm beta- lactam[23] Một phần do các công ty trong nước mới chỉ sản xuất các thuốc điều trị bệnh thông thường có giá trị thấp, bệnh viện tuyến trung ương tập trung nhiều bệnh nhân nặng nên tỷ lệ sử dụng thuốc nhập khẩu cao hơn Việc dùng nhiều thuốc nhập khẩu cũng là gánh nặng chi phí sử dụng thuốc đối với bệnh nhân và quỹ BHYT Bộ Y tế khuyến khích các bệnh viện nên sử dụng thuốc sản xuất trong nước để thúc đẩy sản xuất thuốc trong nước, đồng thời chủ động về nguồn cung ứng thuốc; mục tiêu giai đoạn 2 của Đề án
“Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” đặt ra đến năm 2020 Chất lượng thuốc sản xuất trong nước, thuốc tương đương sinh học giữa thuốc generic và BDG đã được nhiều bệnh viện quan tâm
1.2.5 Tỷ lệ thuốc được sử dụng so với số lượng trúng thầu
Nghiên cứu tại một số bệnh viện các năm gần đây cho thấy
Bảng 1.7 Cơ cấu sử dụng thuốc so với danh mục thầu của một số bệnh viện
STT Bệnh viện Thuốc không mua
2 Kết quả thực hiện thầu tập trung tại các
3 Kết quả thực hiện thầu tập trung tại các
BV tuyến tỉnh tại Thanh Hoá năm 2018 [19]
Như vậy tỷ lệ mua thuốc mua đạt yêu cầu từ 80-120% theo quy định còn ở tỷ lệ thấp Theo Thông tư 11/2016 và 15/2019 về đấu thầu và cung ứng thuốc quy định các cơ sở y tế phải cam kết sử dụng tối thiểu 80% số lượng trúng thầu và chỉ được phép sử dụng vượt 20% đối với thuốc thông thường [9],[11] Đây cũng là một trong những khó khăn cho HĐT&ĐT của các bệnh viện khi phải xây dựng DMT mời thầu trong khi nhu cầu sử dụng thực tế còn
15 khó dự đoán, các kĩ thuật điều trị mới, thiên tai, dịch bệnh, thay đổi chích sách chi trả BHYT
1.2.6 Tỷ lệ thuốc sử dụng là đơn thành phần, đa thành phần, đường dùng thuốc
Thông tư 21 quy định ưu tiên sử dụng thuốc đơn thành phần Thông tư
23 quy định hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh, tuỳ theo tình trạng bệnh lý để lựa chọn đường dùng phụ hợp Thông tư 52/2017/TT-BYT quy định “Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic, Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh’’
Kết quả nghiên cứu tại một số bệnh viện như sau:
Bảng 1.8 Cơ cấu sử dụng thuốc đơn thành phần, thuốc tiêm/tiêm truyền STT Bệnh viện/năm nghiên cứu
1 Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018 [18] 90,0 91,2 52,2 64,6
2 Hữu Nghị ĐK Nghệ An năm 2016
3 BVĐK khu vực phía nam Bình Thuận năm 2018 [25] 76,38 67,96 27,61 27,2
5 BV Kiến An Hải Phòng 2019 [22] 87,54 67,33 49,71 83,45 Như vậy tại phần lớn các bệnh viện có tỷ lệ KM và GT dùng dạng đơn chất cao hơn hẳn dạng phối hợp nhiều thành phần; tỷ lệ sử dụng thuốc tiêm, tiêm truyền ở mức cao về giá trị và khoản mục
1.2.7 Cơ cấu thuốc sử dụng theo phân tích ABC/VEN
Một số bất cập và nguyên nhân, trong sử dụng thuốc tại các bệnh viện hiện nay
1.3.1 Vấn đề sử dụng nhóm thuốc trị ký sinh, chống nhiễm khuẩn
Tại Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An năm 2016 nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm tỉ lệ giá trị sử dụng cao nhất (38,73%) và (13,83%) thuốc tim mạch [24]
Các kháng sinh được các bệnh viện kiểm soát chặt chẽ chủ yếu là nhóm Cephalosporin thế hệ mới, có hoạt lực mạnh và được sử dụng khá nhiều theo chiều hướng ngày càng tăng lên Các giải pháp được kể đến là HĐT &ĐT có sự xem xét trong lựa chọn, có phổ biến các văn bản về hướng dẫn sử dụng kháng sinh, trang bị các thiết bị xét nghiệm vi sinh, theo dõi kiểm soát kháng sinh trong quá trình kê sử dụng thông qua hội chẩn và duyệt đơn thuốc để đảm bảo việc lựa chọn và sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
1.3.2 Vấn đề sử dụng thuốc sản xuất trong nước
Bệnh viện Bắc Kạn có tỷ lệ sử dụng thuốc SXTN là 48,8% KM và 44,0% GT [18] Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An sử dụng thuốc SXTN là 30,2% KM tương ứng 19,9% GT [24] Nói chung giá trị sử dụng đều thấp hơn thuốc nhập khẩu
Tuy nhiên các nghiên cứu tại các bệnh viện cũng chỉ ra rằng, các thuốc chuyên khoa như nhóm thuốc tim mạch, thuốc điều trị đái tháo đường, kháng sinh, hô hấp thuộc danh mục TT 03/2019/TT-BYT chưa chứng minh được
18 hiệu quả điều trị cũng như độ an toàn nên việc cung ứng của các nhà sản xuất trong nước còn hạn chế, thuốc có trong DM đấu thầu nhưng không có nhà thầu tham dự hoặc không trúng thầu, không cung cấp được hàng
1.3.3 Vấn đề DMT sử dụng so với DMT trúng thầu
HĐT &ĐT quy định các tiêu chí lựa chọn DMT, tiêu chí bổ sung thuốc mới và loại bỏ thuốc khỏi DMT rất chặt chẽ Tuy nhiên, do sự thay đổi nhanh chóng về tình hình dịch bệnh và chính sách thanh quyết toán BHYT, nhu cầu ngày càng cao về điều trị của nhân dân, tình hình cung ứng, tình trạng công nợ, chậm thầu… nên bệnh viện vẫn gặp tình trạng DMT cũng như việc cung ứng theo DMT và số lượng dự kiến có lúc chưa kịp thời đáp ứng nhu cầu Nên việc rà soát lượng sử dụng và lượng dự trù sau mỗi kỳ thầu là một công việc được HĐT &ĐT quan tâm và lấy làm căn cứ để xây dựng DMT cũng như dự trù số lượng dùng cho năm sau
Tại BVĐK tỉnh Bắc Giang năm 2017, thuốc không mua chiếm 43,0% về
KM và 49,8% về giá trị [23]
Tại BVĐK tỉnh Bắc Kạn năm 2018, có 341 khoản mục, thuốc không mua là 30,21%, thuốc mua dưới 80% là 42,23%, thuốc mua từ 80-120% là 25,22%, thuốc mua trên 120% là 2,35% [18]
Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thuốc trúng thầu không được sử dụng như:
+Do thay đổi mô hình bệnh tật Do thói quen kê đơn của bác sỹ, thay đổi vị trí việc làm và quan điểm điều trị của các bác sỹ dẫn đến thay đổi việc sử dụng thuốc Do HĐT&ĐT có nhiều thành viên kiêm nhiệm nên còn hạn chế trong việc lập dự trù và phỏng đoán mô hình bệnh tật năm sau chưa sát nên có thuốc dự kiến nhưng không sử dụng
+Nhiều khoa lâm sàng dự trù thuốc mới được đưa vào kế hoạch đấu thầu nhưng không sử dụng cũng là một yếu tố khó khăn trong việc xác định nhu cầu về thuốc
+Việc đấu thầu thuốc được qui định rất chặt chẽ, qua nhiều bước đánh giá do vậy có nhiều thuốc bị loại từ vòng kỹ thuật, nhiều mặt hàng trúng thầu nhưng không cung ứng được hoặc không đủ số lượng để cung ứng Để không bị thiếu thuốc Bệnh viện phải dự trù nhiều nhóm thuốc khác nhau theo tiêu chí kỹ thuật dẫn tới việc có những thuốc trúng thầu mà không được sử dụng
+ Một số thuốc sau khi trúng thầu nhưng có văn bản thu hồi, thuốc không đảm bảo chất lượng cũng không được sử dụng
+ Bảo hiểm y tế có công văn về một số thuốc trúng thầu có hàm lượng, dạng bào chế đặc biệt, thuốc chưa có giá kê khai/ kê khai lại công bố trên trang Web của Cục Quản lý dược, thuốc trúng thầu có giá cao hơn một số cơ sở y tế khác Để tránh bị cơ quan Bảo hiểm y tế xuất toán nên Bệnh viện không sử dụng [21]
Thông tư số 11/2016/ TT-BYT và 15/2019/TT-BYT đã quy định các bệnh viện phải cam kết sử dụng tối thiểu 80% và một số trường hợp không được sử dụng quá 120% số lượng trúng thầu Đây là một trong những khó khăn cho việc cung ứng thuốc của khoa Dược; HĐT&ĐT cần xây dựng DMT sát với nhu cầu điều trị trong khi MHBT, số lượng bệnh nhân, thay đổi kỹ thuật điều trị, cơ chế chính sách về chi trả BHYT luôn thay đổi
1.3.4 Vấn đề sử dụng thuốc AN
Nhóm hạng A là nhóm chiếm tỷ trọng lớn về chi phí sử dụng, nên cần tập trung phân tích Trong đó, nhóm AN là nhóm được quan tâm phân tích sâu tại các bệnh viện nhằm tìm ra các thuốc không thiết yếu để giảm chi phí điều trị
Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2018 Thuốc AN có giá trị sử dụng là 0,68 tỷ, chiếm 2,27% về GT và 0,56% về KM, chủ yếu là thuốc thuốc hạ men gan, bổ gan Nhóm BN sử dụng 0,4% tỷ trọng chủ yếu là thuốc hạ men gan, bổ gan [18] Hữu Nghị ĐK Nghệ An năm 2016 Nhóm chiếm AN 4,1% KM và 19,7% GT [24]
Tại bệnh viện 354, Nhóm AN có 25 thuốc chiếm 4,2% KM nhưng dùng 11,96 tỷ (11,2%GT) Trong đó có 20 thuốc tân dược (Nivalin sử dụng 1,37 tỷ, Pentofyllin dùng 1,31 tỷ) và 5 thuốc đông dược [21]
Tại BVĐK Phú Thọ, nhóm AN có 7 thuốc chiếm 3,8% GTSD, trong đó thuốc L-Ornithin L-aspartate chiếm 26,7% về GTSD của nhóm AN [16]
Tại Bình Thuận năm 2018, Nhóm AN có 21 khoản chiếm 4,87% KM, nhưng chiếm 12,96% GT (8,836 tỷ đồng) Nhóm AV có 11 mục chiếm 2,55%
KM, chiếm 7,05%GT là nhóm thuốc được tác giả gợi ý theo dõi sát lượng tồn kho vừa đủ, không để hết thuốc nhưng không để lưu kho nhiều gây khó khăn trong quản lý kho và chiếm dụng một khoản tài chính Các thuốc trong nhóm
Vài nét về Bệnh viện đa khoa Phố Nối
1.4.1 Giới thiệu chung về Bệnh viện
Bệnh viện đa khoa Phố Nối có nhiệm vụ chính là cấp cứu, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh cho nhân dân trong khu vực, đào tạo cán bộ và chỉ đạo tuyến; song song với nhiệm vụ chuyên môn, bệnh viện tiếp tục thực hiện Dự án đầu tư xây dựng nâng cấp, mở rộng quy mô bệnh viện theo quy hoạch Năm 2020, Bệnh viện được giao
430 giường kế hoạch (thực kê 523); Hiện có 6 phòng chức năng, 4 khoa cận lâm sàng và 19 khoa lâm sàng; có 433 cán bộ, viên chức và người lao động (trong đó: 81 người có trình độ sau đại học, 129 đại học, 53 cao đẳng, 171 trung học và 23 hợp đồng theo Nghị định số 68/NĐ-CP)[1]
Từ 6/2020 bệnh viện chính thức hoạt động theo hình thức tự chủ chi thường xuyên Do đó công tác khám chữa bệnh cần cân nhắc giữa hiệu quả điều trị và chi phí kinh tế y tế Báo cáo về mô hình bệnh tật tại bệnh viện cơ sở quan trọng cho HĐT&ĐT xây dựng phác đồ điều trị, đồng thời là căn cứ để Khoa Dược lựa chọn và xây dựng DMT bệnh viện Mô hình bệnh tật của bệnh viện năm 2020 chia theo ICD 10 [1]
Mô hình bệnh tật của bệnh viện năm 2020 được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.11 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện đa khoa Phố Nối
Khám bệnh Điều trị nội trú Tổng số Tỷ lệ
Khám bệnh Điều trị nội trú Tổng số Tỷ lệ
1 Chương IX: Bệnh của hệ tuần hoàn I00 22.509 2.049 24.558 21,51
2 Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng chuyển hoá E00 14.857 769 15.626 13,69
3 Chương X: Bệnh của hệ hô hấp J00 9.699 3.235 12.934 11,33
Chương XIX: Vết thương, ngộ độc và kết quả của các nguyên nhân bên ngoài
5 Chương XI: Bệnh của hệ tiêu hoá K00 6.129 3.805 9.934 8,7
Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và phát hiện bất thường lâm sàng, xét nghiệm
7 Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ O00 284 5.303 5.587 4,89
9 Chương XIII: Bệnh của hệ thống cơ, xương và mô liên kết M00 2.507 788 3.295 2,89
10 Chương XIV: Bệnh của hệ tiết niệu sinh dục N00 2.409 838 3.247 2,84
11 Chương I: Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật A00 1.393 1.631 3.024 2,65
Chương XXI: Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ người khám nghiệm và điều tra
13 Chương VII: Bệnh của mắt và phần phụ H00 1.928 843 2.771 2,43
14 Chương VIII: Bệnh của tai và xương chũm H60 1.322 788 2.110 1,85
15 Chương XII: Bệnh của da và tổ chức dưới da L00 1.405 399 1.804 1,58
Kinh phí sử dụng thuốc năm 2020
Bảng 1.12 Cơ cấu kinh phí sử dụng thuốc
TT Nhóm thuốc Kinh phí
Giá trị (1000 đồng) Tỷ lệ (%)
1 Tiền thuốc đã sử dụng 38.877.872 26,7
Năm 2020 bệnh viện chi khoảng 145.843.461.000 đồng, trong đó tỷ lệ chi phí mua thuốc năm 2020 của bệnh viện so với tổng chi phí của bệnh viện là 26,7%
1.4.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của khoa Dược
Tổ chức nhân sự của khoa dược gồm có các bộ phận: nghiệp vụ dược, dược lâm sàng-thông tin thuốc, cấp phát, nhà thuốc bệnh viện, thống kê dược
Tổng số nhân viên khoa Dược gồm 20 cán bộ, trong đó 01 trưởng khoa, 02 phó trưởng khoa; chia thành 16 dược sĩ biên chế và 04 nhân viên học việc Khoa Dược đã được áp dụng hệ thống phần mềm quản lý thuốc qua hệ thống máy tính được nối mạng nội bộ, đảm bảo công tác quản lý cấp phát chặt chẽ và thuận tiện
1.4.3 Một vài nét về sử dụng thuốc trong bệnh viện và tính cấp thiết của đề tài
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh Một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến công tác khám chữa bệnh trong bệnh viện là công tác cung ứng thuốc Trong đó hoạt động lựa chọn, xây dựng DMT là cơ sở để mua sắm, tồn trữ và sử dụng thuốc trong bệnh viện Việc lựa chọn một DMT hợp lý là một trong các yếu tố mang tính quyết định trong việc sử dụng thuốc hợp lý an toàn trong bệnh viện, ảnh hưởng nhiều đến ngân sách thuốc và chi phí điều trị Vì vậy, quá trình lựa chọn thuốc đều được các bệnh viện quan tâm
Khi phân tích tình hình sử dụng thuốc, HĐT&ĐT đã quan tâm đến kinh phí sử dụng thuốc, danh mục thuốc đã dùng của năm trước, đồng thời quan tâm ưu tiên thuốc sản xuất trong nước, thuốc generic, thuốc đơn thành phần các bệnh viện đã tận dụng các ưu điểm của phương pháp phân tích ABC/VEN để HĐT&ĐT đưa ra các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng DMT năm sau
Bệnh viện đa khoa Phố Nối được chính thức tự chủ chi thường xuyên, đó là xu hướng của ngành Y tế và cũng là thách thức lớn đối với hoạt động của các bệnh viện trong cả nước Do vậy công tác khám chữa bệnh cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa hiệu quả điều trị và chi phí y tế Hơn bao giờ hết, việc phân tích, đánh giá DMT sử dụng nhằm đảm bảo DMT sát với nhu cầu của bệnh viện, tối ưu hoá trong lựa chọn thuốc, đồng thời tiết kiệm chi phí cân bằng với hiệu quả, đó là một trong những giải pháp để giải quyết vấn đề tự chủ tài chính Trước đây, Bệnh viện đã có một số đề tài phân tích cung ứng, sử dụng thuốc như:
“Đánh giá hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện đa khoa Phối Nối năm 2012” của Vũ Xuân Minh
“Phân tích tình hình sử dụng thuốc và việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp và tuân thủ điều trị trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Phố Nối năm 2018” của Đào Thị Thuỳ
Các đề tài trên đã chỉ ra những ưu điểm, tồn tại trong cung ứng, sử dụng thuốc Tuy nhiên chưa phân tích một cách đầy đủ, toàn diện về DMT bệnh viện, chưa chỉ ra và phân tích các nguyên nhân, bất cập, tổng hợp dữ liệu và đối chiếu với các chính sách quốc gia về thuốc, các thông tư mới cập nhật trong các năm gần đây, như ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước, quy định tỷ lệ sử dụng BDG, thuốc generic, thuốc đơn thành phần,…Bệnh viện chưa có đề tài nghiên cứu về phân tích sử dụng thuốc để áp dụng cho giai đoạn bệnh viện tự chủ tài chính chi thường xuyên
Xuất phát từ những nhu cầu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Phố Nối tỉnh Hưng Yên năm 2020” để tìm ra những vấn đề bất cập và nguyên nhân bất cập trong danh mục thuốc sử dụng, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng DMT và góp một phần xây dựng quá trình cung ứng thuốc hợp lý, hiệu quả
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: Các thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện đa khoa
Phố Nối tỉnh Hưng Yên năm 2020, DMT trúng thầu năm 2019-2020
Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn cán bộ y tế bệnh viện bao gồm đại diện là thành viên HĐT&ĐT, bác sỹ lâm sàng, dược sỹ khoa dược
2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020 Địa điểm: Tại Bệnh viện đa khoa Phố Nối, tỉnh Hưng Yên
2.2.1 Xác định biến số nghiên cứu
Mục tiêu 1: Phân tích cơ cấu DMT đã sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Phố Nối tỉnh Hưng Yên năm 2020
Bảng 2.13 Nhóm biến số phân tích cơ cấu DMT về số lượng và giá trị
TT Tên biến Giải thích biến
Thuốc được chia thành các nhóm tác dụng dược lý căn cứ theo thông tư 30/2018/TT- BYT, thông tư 05/2015/TT- BYT
1.Thuốc hóa dược 2.Thuốc ĐY, thuốc từ dược liệu 3.Vị thuốc y học cổ truyền
Hồi cứu từ DMT sử dụng năm 2020
Thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý
Thuốc sử dụng được chia theo nhóm thuốc TT 30/2018/TT- BYT và TT 05/2015/TT-BYT
Biến phân loại: Hồi cứu từ
Thuốc tim mạch sử dụng theo phân nhóm
Thuốc tim mạch được phân nhóm theo TT 30/2018/TT- BYT
1 Thuốc chống đau thắt ngực 2.Thuốc chống loạn nhịp
3.Thuốc điều trị tăng huyết áp 4.Thuốc điều trị suy tim
5.Thuốc chống huyết khối 6.Thuốc hạ lipid máu
Hồi cứu từ DMT sử dụng năm 2020
4 Thuốc trị ký sinh trùng, chống
Thuốc Thuốc trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn được phân
Hồi cứu từ DMT sử dụng
TT Tên biến Giải thích biến
Kỹ thuật thu thập nhiễm khuẩn sử dụng theo phân nhóm nhóm theo TT 30/2018/TT- BYT[10]
2.Aminoglycosid 3.Quinolon 4.Nitroimidazol 5.Nhóm khác năm 2020
Thuốc sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ
-Thuốc theo nguồn gốc được ghi trên nhãn
-Thuốc sản xuất trong nước: là thuốc do các công ty dược trong nước và công ty liên doanh tại Việt Nam sản xuất
-Thuốc nhập khẩu: là thuốc do công ty dược phẩm nước ngoài sản xuất, được nhập khẩu vào Việt Nam
1.Thuốc sản xuất trong nước
Hồi cứu từ DMT sử dụng năm 2020
Thuốc sử dụng theo biệt dược gốc
-Thuốc biệt dược gốc: thuốc được cấp phép lưu hành lần đầu tiên, trên cơ sở có đầy đủ các số liệu về chất lượng, an toàn, hiệu quả Căn cứ công bố danh mục thuốc BDG của Bộ
Y tế thuốc tân dược; thuốc BDG là các thuốc nằm trong danh mục công bố BDG của Cục quản lý Dược từ đợt 1 đến đợt 20 [3]
Hồi cứu từ DMT sử dụng năm 2020
Thuốc theo đơn thành phần/ đa thành phần
-Thuốc đơn thành phần là thuốc chỉ có một thành phần hoạt chất có tác dụng
-Thuốc đa thành phần là thuốc có từ hai thành phần có hoạt tính chính có tác dụng khác nhau trở lên
Biến phân loại 1.Đơn thành phần 2.Đa thành phần
Hồi cứu từ DMT sử dụng năm 2020
8 Thuốc theo đường dùng Đường dùng của thuốc căn cứ theo công bố trên danh mục trúng thầu năm 2019-2020
Biến phân loại 1.Đường tiêm 2.Đường uống 3.Thuốc có đường dùng khác
Hồi cứu từ DMT sử dụng năm 2020
Thuốc sử dụng và không sử dụng trong danh mục thuốc trúng thầu
DMT trúng thầu là những thuốc có trong quyết định trúng thầu năm 2020
Thuốc sử dụng là thuốc được nhập kho theo kế hoạch nhập năm 2020
Bảng thu thập số liệu
TT Tên biến Giải thích biến
Thuốc không sử dụng là thuốc không được nhập kho theo kế hoạch nhập năm 2020
- Mục tiêu 2: Xác định một số bất cập và nguyên nhân trong DMT sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Phố Nối năm 2020
Bảng 2.14 Nhóm biến số phân tích bất cập trong DMT sử dụng
TT Tên biến Khái niệm/ Định nghĩa Phân loại biến Kỹ thuật thu thập
Thuốc nhập khẩu có thể thay thế
Thuốc NK thay thế được: Thuốc NK có hoạt chất và đường dùng tương đương, có thể khác hàm lượng với thuốc SXTN hiện có trong DMTT
Thuốc NK không thay thế được: Thuốc NK có hoạt chất thuộc Thông tư 03 không có thuốc SXTN cùng hoạt chất, đường dùng có trong DMTT
NK có thể thay thế
NK không thể thay thế
Bảng thu thập số liệu
Thuốc được sử dụng so với DMT trúng thầu
Là giá trị và khoản mục thuốc đã thực hiện so với giá trị trúng thầu đạt tỷ lệ:
1.Không mua (nhặt các thuốc có trong DMT trúng thầu nhưng không có trong DMT sử dụng): đếm số KM và tính GT trúng thầu
Hồi cứu từ DMT sử dụng năm 2020
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang bằng cách hồi cứu các số liệu về thuốc đã sử dụng tại BV năm 2020 trong khoảng thời gian 01/01/2020 đến 31/12/2020
Sơ đồ nghiên cứu được trình bày ở hình dưới đây:
Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại bệnh viện đa khoa Phố Nối tỉnh Hưng Yên năm 2020
Xác định một số bất cập và nguyên nhân trong sử dụng thuốc
Hình 2.1 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu a.Đối với nghiên cứu định lượng
-Nguồn thu thập Để thực hiện phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa Phố Nối, đề tài thu thập dữ liệu từ các tài liệu sau:
+ DMT thuốc đã sử dụng năm 2020 DMT trúng thầu năm 2019-2020
+ Báo cáo thống kê sử dụng thuốc lấy từ phần mềm quản lý dược, báo cáo công tác dược hàng quý, năm 2020
Sử dụng các phụ lục để thu thập và phân tích dữ liệu
- Biểu mẫu thu thập Điền các thông tin cần thu thập vào mẫu thu thập số liệu được xây dựng sẵn (mẫu chi tiết tại phần Phụ lục 1,2) để có được bộ số liệu hoàn chỉnh về các loại thuốc sử dụng tại bệnh viện với các tiêu chí cụ thể
Mục tiêu 1: Dữ liệu được kết xuất từ phần mềm quản lý dược ra bảng excell, lấy theo các biểu mẫu để thu thập thông tin chi tiết như tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, dạng bào chế, đường dùng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng sử dụng, giá trị sử dụng, nhà sản xuất, nước sản xuất, nhóm tác dụng dược lý, thuốc đơn thành phần, đa thành phần, thuốc biệt dược gốc và generic, đường dùng Tiến hành mã hoá các trường thông tin này Dùng Bảng
1 phụ lục 1 để thu thập của toàn bộ các thuốc được sử dụng trong bệnh viện năm 2020
Cách phân loại các thuốc theo phân loại VEN là phân loại từ khoa Dược đề xuất và được Hội đồng thuốc và điều trị thông qua