Phân tích mức độ tiêu thụ của các kháng sinh cần phê duyệt và không cần phê duyệt trước khi sử dụng tại bệnh viện quyết định 772/QĐ-BYT theo DDD/100 ngày giường ..... Số liệu phân tích
TỔNG QUAN VỀ KHÁNG SINH
Khái niệm kháng sinh
Có nhiều định nghĩa về kháng sinh, trên thế giới người ta coi kháng sinh là một loại thuốc dùng để điều trị nhiễm khuẩn Theo Meyers, kháng sinh là những chất có tác dụng ức chế sự trao đổi chất, mà ban đầu là do các tế bào sống phần nhiều là vi sinh vật, đặc biệt là các loài nấm Streptomycetes tiết ra Theo “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh” – Bộ Y tế 2015, kháng sinh được định nghĩa: “Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác.”
Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon [5]
Phân loại thuốc kháng sinh:
Người ta thường sử dụng một số căn cứ để phân loại kháng sinh như:
- Theo cơ chế tác dụng, được chia thành: Thuốc ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn, gây rối loạn chức năng màng bào tương, ức chế sinh tổng hợp protein, ức chế sinh tổng hợp acid nucleic
- Theo tính nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh, được chia thành: Kháng sinh kìm khuẩn và kháng sinh diệt khuẩn
- Theo cấu trúc hoá học, kháng sinh được chia thành các nhóm như sau [5]:
Bảng 1.1: Phân loại kháng sinh theo cấu trúc hoá học
TT Tên nhóm Phân nhóm
Các penicilin Các cephalosporin Các beta-lactam khác Carbapenem
Monobactam Các chất ức chế beta-lactam
Các nhóm kháng sinh khác
Nguyên tắc sử dụng kháng sinh
Muốn điều trị thành công nhiễm khuẩn cần phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tình trạng bệnh lý, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh Các kiến thức về phân loại kháng sinh sẽ giúp cho việc lựa chọn kháng sinh hay xác định chế độ liều tối ưu cho từng nhóm kháng sinh, là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc sử dụng kháng sinh hợp lý Tại Việt Nam, những nguyên tắc chính khi sử dụng kháng sinh được nêu ra là:
- Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn
Các tác nhân gây bệnh cho người có thể là virus, vi khuẩn, nấm, sinh vật đơn bào, hoặc ký sinh trùng… Các kháng sinh thông dụng chỉ có tác dụng với vi khuẩn, rất ít kháng sinh có tác dụng trên virus, nấm gây bệnh, sinh vật đơn bào Do đó, việc chẩn đoán đúng trước khi kê đơn là rất quan trọng [8]
- Lựa chọn kháng sinh hợp lý:
• Lựa chọn kháng sinh có phổ tác dụng phù hợp với vi khuẩn gây bệnh:
• Lựa chọn kháng sinh tốt nhất là dựa vào độ nhạy cảm của vi khuẩn qua phân lập vi khuẩn và làm kháng sinh đồ
• Lựa chọn kháng sinh có dược động học phù hợp để bảo đảm đủ nồng độ tác dụng tại vị trí nhiễm khuẩn mà không gây hại cho người bệnh
• Lựa chọn kháng sinh phù hợp với cơ địa, sinh lý và bệnh mắc kèm ở người bệnh: o Cần tìm hiểu tiền sử của người bệnh vì dị ứng với kháng sinh là chống chỉ định bắt buộc o Đối tượng có khác biệt sinh lý hoặc bệnh lý với người trưởng thành khỏe mạnh bao gồm: trẻ em, người cao tuổi, người bệnh suy giảm chức năng gan và/hoặc thận, phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú [8]
- Phối hợp kháng sinh hợp lý
Việc sử dụng kháng sinh đơn độc được khuyến khích trong đa số trường hợp Phối hợp kháng sinh chỉ cần khi gặp một số tình trạng bệnh lý như vi khuẩn kháng kháng sinh, tổ chức nhiễm khuẩn khó thấm thuốc, điều trị kéo dài, nhiễm đồng thời nhiều loại vi khuẩn Lưu ý việc phối hợp kháng sinh phải tạo được tác dụng hiệp đồng có lợi, tránh những phối hợp làm tăng tác dụng phụ hoặc độc tính [8]
- Liều lượng và thời gian của đợt điều trị hợp lý
Liều lượng kháng sinh phụ thuộc vào các yếu tố: tuổi, cân nặng, chức năng gan, thận và mức độ nặng của bệnh Thời gian đợt điều trị tùy thuộc loại nhiễm khuẩn, nhưng nếu chọn được kháng sinh thích hợp thì tình trạng bệnh lý sẽ được cải thiện sau 48 – 72 giờ Thời gian điều trị dài hay ngắn còn phụ thuộc vào độ nhạy cảm của vi khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn, sức đề kháng của người bệnh [8]
- Đảm bảo chi phí thấp nhất có hiệu quả
Chi phí ở đây bao gồm tiền kháng sinh và các chi phí phụ trợ cho sử dụng kháng sinh đó Đường uống được ưu tiên nếu có thể vì giá thành rẻ và không cần dụng cụ hỗ trợ đưa thuốc Đường tiêm được dùng trong những trường hợp khả năng hấp thu bị ảnh hưởng (viêm ruột, nôn nhiều) hoặc nhiễm khuẩn nặng Việc kê đơn thuốc generic cũng là biện pháp để giảm chi phí nhưng cần lựa chọn được các thuốc có tương đương sinh học để bảo đảm được chỉ số Hiệu quả/Chi phí tốt nhất [8]
Bên cạnh đó, Bộ y tế cũng đưa ra các lưu ý khi sử dụng kháng sinh dự phòng [5]: Kháng sinh dự phòng (KSDP) là việc sử dụng kháng sinh trước khi xảy ra nhiễm khuẩn nhằm mục đích ngăn ngừa hiện tượng này KSDP nhằm giảm tần suất nhiễm khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật, không dự phòng nhiễm khuẩn toàn thân hoặc vị trí cách xa nơi được phẫu thuật
KSDP được chỉ định cho tất cả các can thiệp phẫu thuật thuộc phẫu thuật sạch nhiễm Không dùng kháng sinh để dự phòng cho các nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sau mổ và những nhiễm khuẩn xảy ra trong lúc mổ.
CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ KHÁNG SINH TẠI BỆNH VIỆN
Một số quy định về sử dụng kháng sinh hợp lý trong bệnh viện
Sử dụng thuốc hợp lý đang trở thành vấn đề được cả thế giới quan tâm, đặc biệt là việc sử dụng kháng sinh Đây là một trong những nhóm thuốc có giá trị chiếm tỷ trọng cao nhất trong các nhóm thuốc được sử dụng trong bệnh viện Kháng sinh luôn được coi là một trong các nhóm thuốc dễ bị lạm dụng nhất với việc sử dụng bất hợp lý ở tất cả các khu vực, nhất là ở các nước đang phát triển Vì vậy Bộ Y tế đã ban hành một số thông tư, quyết định về hướng dẫn quản lý và sử dụng kháng sinh trong bệnh viện nhằm nâng cao tính hợp lý trong sử dụng kháng sinh Cụ thể:
- Các hướng dẫn sử dụng kháng sinh trong các bệnh lý nhiễm khuẩn theo từng hệ cơ quan trong cơ thể được thực hiện theo “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh” ban hành kèm theo Quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 02/03/2015 của Bộ Y tế Tài liệu cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản, cập nhật đồng thời phù hợp với thực tế của Việt Nam về việc sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn để ứng dụng trong công tác khám, chữa bệnh, phòng bệnh, bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần hạn chế tình trạng kháng kháng sinh đang có nguy cơ gia tăng hiện nay [5]
- “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện” ban hành kèm theo Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ Y tế với mục đích tăng cường việc sử dụng kháng sinh hợp lý trong bệnh viện, giảm hậu quả không mong muốn khi dùng kháng sinh, ngăn ngừa vi khuẩn đề kháng kháng sinh và giảm chi phí y tế, nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh [10] Trong đó đưa ra các hình thức giám sát thực trạng sử dụng kháng sinh có thể bao gồm [10]:
• Phân tích chi phí (phân tích ABC)
• Phân tích tiêu thụ thông qua DDD (Defined daily dose) theo quy mô toàn bệnh viện và/hoặc phân theo từng khoa phòng DDD cần được hiệu chỉnh cho 100 hoặc 1000 (người - ngày hoặc ngày - giường (hay ngày nằm viện)
• Phân tích tiêu thụ thông qua thời gian sử dụng kháng sinh DOT (Days of therapy), LOT (Length of therapy) DOT và LOT hiệu chỉnh theo 100 hoặc 1000 (người - ngày hoặc ngày - giường) (hay ngày nằm viện)
• Phân tích chuyên sâu các vấn đề liên quan đến sử dụng kháng sinh (ví dụ các kháng sinh trong danh mục nhóm kháng sinh cần ưu tiên quản lý trong bệnh viện, các kháng sinh sử dụng nhiều hoặc có gia tăng đột biến trong sử dụng, các kháng sinh được ghi nhận có xu hướng đề kháng của vi sinh vật gây bệnh gia tăng, kháng sinh sử dụng trong các bệnh nhiễm khuẩn quan trọng và thường gặp trong bệnh viện) Phân tích có thể khu trú tại một số khoa, đơn vị lâm sàng sử dụng nhiều kháng sinh quan tâm Các chỉ tiêu phân tích có thể bao gồm: chỉ định, lựa chọn, chế độ liều, cách dùng, chuyển đổi tiêm - uống, xuống thang kháng sinh, biến cố bất lợi, thời gian sử dụng kháng sinh [10]
- Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế được quy định trong Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của
Bộ Y tế Trong đó quy định: Các thuốc có ký hiệu dấu (*) là thuốc phải được hội chẩn trước khi sử dụng, trừ trường hợp cấp cứu Đối với thuốc kháng sinh có ký hiệu dấu (*), Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán khi thực hiện đúng quy trình hội chẩn khi kê đơn theo quy định về Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện của Bộ Y tế [7]
- Quy định về đánh số thứ tự ngày dùng thuốc đối với một số nhóm thuốc cần thận trọng khi sử dụng được thực hiện theo CÔNG BÁO/Số 545 + 546/Ngày 04/05/2018 của Bộ Y tế: kháng sinh thuộc Nhóm thuốc phải đánh số thứ tự ngày dùng thuốc trong hồ sơ bệnh án [9].
Các phương pháp nghiên cứu, phân tích và đánh giá về hoạt động sử dụng kháng sinh trong bệnh viện
1.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số giám sát sử dụng kháng sinh
Trong quá trình nghiên cứu đánh giá việc sử dụng thuốc tại bệnh viện, cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) năm 2012 đưa ra bộ chỉ số đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong bệnh viện bao gồm 17 chỉ số [38] Ví dụ: Thời gian trung bình của mỗi đợt điều trị kháng sinh; Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân có sử dụng kháng sinh; Số lượng kháng sinh đồ được làm trên tổng số bệnh nhân được điều trị bằng kháng sinh
Ngày 04/03/2016, Bộ Y tế Việt Nam ban hành quyết định 772/QĐ-BYT về việc ban hành “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện” – đây là cơ sở để các bệnh viện xây dựng các tiêu chí đánh giá việc sử dụng kháng sinh [6] Tiêu chí về sử dụng kháng sinh theo quyết định 772/QĐ-BYT bao gồm:
- Số lượng, tỷ lệ % người bệnh được kê đơn kháng sinh
- Số lượng, tỷ lệ % kháng sinh được kê phù hợp với hướng dẫn
- Số lượng, tỷ lệ % ca phẫu thuật được chỉ định kháng sinh dự phòng
- Số lượng, tỷ lệ % người bệnh được kê đơn 1 kháng sinh
- Số lượng, tỷ lệ % người bệnh được kê kháng sinh phối hợp
- Số lượng, tỷ lệ % người bệnh kê đơn kháng sinh đường tiêm
- Ngày điều trị kháng sinh (DOT - Days Of Therapy) trung bình
- Liều dùng một ngày (DDD - Defined Daily Dose) với từng kháng sinh cụ thể
- Số lượng, tỷ lệ % ngừng kháng sinh, chuyển kháng sinh từ đường tiêm sang kháng sinh uống trong những trường hợp có thể
1.2.2.2 Phương pháp phân tích dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc
Theo thông tư 21/2013/TT-BYT Hội đồng thuốc và điều trị bệnh viện cần áp dụng ít nhất một trong 4 phương pháp phân tích sau để phân tích việc sử dụng thuốc, phát hiện các vấn đề sử dụng thuốc tại đơn vị [3]: phương pháp phân tích ABC, phương pháp phân tích VEN, phương pháp phân tích nhóm điều trị và phương pháp phân tích theo liều xác định trong ngày DDD a) Phân tích ABC
Khái niệm: là phương pháp phân tích mối tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Phương pháp này xác định và so sánh chi phí y tế từ đó cung cấp thông tin cơ bản để giảm thiểu chi phí trong sử dụng thuốc [3], [23]
Các bước phân tích ABC:
- Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc
- Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
- Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
- Phân hạng sản phẩm như sau:
• Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80 % tổng giá trị tiền;
• Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20 % tổng giá trị tiền;
• Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 - 10 % tổng giá trị tiền Ý nghĩa:
- Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn có chi phí thấp hoặc có sẵn trên thị trường Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn; Tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế; Thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn
- Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng để phát hiện những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
- Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu b) Phân tích s ố ng còn, thi ế t y ế u và không thi ế t y ế u (VEN)
Khái niệm: là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn [3], [23] Ý nghĩa: Xác định các chính sách ưu tiên khi tiến hành lựa chọn, mua sắm quản lý tồn kho và sử dụng thuốc c) Phân tích nhóm đ i ề u tr ị
Khái niệm: Phương pháp này sử dụng dữ liệu thống kê chi phí sử dụng, % chi phí từng thuốc, phân tích xác định những nhóm thuốc có chi phí cao, mối tương quan giữa các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị và mô hình bệnh tật tại bệnh viện [3], [23] Phương pháp này xây dựng dựa trên phân tích ABC Ý nghĩa:
- Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ và chi phí nhiều nhất;
- Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý;
- Xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những trường hợp cụ thể;
- HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc trong liệu pháp thay thế
Từ đó tiến hành phân tích cụ thể các nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí - hiệu quả cao d) Ph ươ ng pháp phân tích theo li ề u xác đị nh hàng ngày (DDD)
Tính toán theo liều xác định hàng ngày (DDD) là phương pháp được thừa nhận rộng rãi nhất Phương pháp này đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thông qua từ những năm 1970 với mục đích chuẩn hóa nghiên cứu về sử dụng thuốc giữa các quốc gia DDD là viết tắt của Defined Daily Dose, là liều trung bình duy trì giả định mỗi ngày cho một thuốc với chỉ định chính dành cho người lớn [37]
Phương pháp tính DDD giúp cho chuyển đổi, chuẩn hóa các số liệu về số lượng sản phẩm hiện có như hộp, viên, ống tiêm, chai thành ước lượng thô về thuốc được dùng trong điều trị ví dụ số liều dùng hằng ngày Liều xác định trong ngày chính là liều trung bình duy trì hằng ngày với chỉ định chính của một thuốc nào đó
Sử dụng phương pxháp tính liều xác định trong ngày (DDD) để phân tích chi tiết các thuốc nào đó khi so sánh:
- Mức tiêu thụ theo đơn vị số lượng
- Mức tiêu thụ theo đơn vị tiền tệ
- Chi phí cho mỗi DDD
- Chi phí cho một liệu trình điều trị [4]
Các bước để tính DDD:
- Xác định tổng số thuốc được sử dụng hoặc được mua trong một năm theo đơn vị số lượng tối thiểu (viên, viên nang, ống tiêm) và hàm lượng (mg, g, IU)
- Tính tổng số lượng thuốc tiêu thụ trong một năm theo đơn vị (mg, g, IU) bằng cách lấy số lượng (viên, viên nang, ống tiêm) nhân với hàm lượng
- Chia tổng lượng đã tính cho DDD của thuốc (Tra liều DDD trên trang WHO ATC/DDD index www/whocc.no/atc_index)
- Chia tổng lượng đã tính cho số lượng bệnh nhân (nếu xác định được) hoặc số dân (nếu có)
DDD/ 100 hoặc 1000 ngày giường: sử dụng tiêu chí này để tính lượng kháng sinh tiêu thụ trong bệnh viện
Khi tính toán sử dụng kháng sinh trong bệnh viện, người ta thường sử dụng công thức tính DDD/100 ngày nằm viện (hay DDD/100 ngày giường):
DDD/100 ngày nằm viện =Tổng số gram sử dụng x 100
DDD x Số ngày nằm viện Liều DDD thường dựa trên liều của từng phác đồ điều trị, thường dùng trong điều trị nhiều hơn là trong dự phòng Tính DDD chỉ dành được cho những thuốc đã có mã ATC và được định kỳ đánh giá lại [37]
DDD là một công cụ thuận lợi để so sánh lượng tiêu thụ thuốc giữa các khoảng thời gian khác nhau hoặc giữa các đơn vị, vùng miền khác nhau DDD có thể được áp dụng để tính lượng tiêu thụ thuốc trong bất kỳ một khoảng thời gian nào Mặc dù vậy, phương pháp DDD cũng có những hạn chế như: Liều DDD không có ý nghĩa đối với sử dụng thuốc ở trẻ em và hiện cũng không có một liều DDD nào được xác định cho bệnh nhân có suy giảm chức năng thận [37] Thông thường, liều DDD ít thay đổi, tuy nhiên đối với kháng sinh, vẫn có một số trường hợp DDD thay đổi theo thời gian, điều này gây khó khăn cho việc đánh giá xu hướng sử dụng kháng sinh [4]
THỰC TRẠNG TIÊU THỤ KHÁNG SINH TẠI CÁC BỆNH VIỆN
Tình hình tiêu thụ theo giá trị sử dụng thuốc tại một số bệnh viện
1.3.1.1 Tình hình s ử d ụ ng các nhóm kháng sinh
Một nghiên cứu tại 53 quốc gia vào năm 2015 cho thấy, 3 loại kháng sinh được kê đơn hàng đầu: penicilin + chất ức chế beta-lactam, chủ yếu là amoxicillin với chất ức chế β-lactamase (11,4%) và piperacillin với chất ức chế β-lactamase (7,7%) Thuốc kháng sinh được kê đơn phổ biến thứ hai và thứ ba là C3G (chủ yếu là ceftriaxone) và fluoroquinolones (chủ yếu là ciprofloxacin và levofloxacin) Carbapenem được kê đơn thường xuyên nhất ở Mỹ Latinh và Tây và Trung Á [41]
Theo báo cáo sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh tại 15 bệnh viện tại Việt Nam [11], chi phí nhóm C3G chiếm tỉ lệ cao nhất: 39,5%, tiếp đến là carbapenem: 12,3%, C2G: 11,8%, penicillin + chất ức chế beta-lactamase: 6,7%, fluoroquinolon: 6,5%
Nghiên cứu gần đây tại Bệnh viện Quân y 345 (năm 2017), thuốc kháng sinh có giá trị sử dụng chiếm tới 24,75% giá trị thuốc toàn viện với giá trị gần 20 tỷ đồng Trong đó nhóm beta-lactam chiếm giá trị lớn nhất (56,47% tổng giá trị sử dụng), đứng thứ 2 là kháng sinh nhóm quinolon (30,15 % tổng giá trị sử dụng) Đặc biệt trong nhóm beta- lactam thì C3G chiếm hơn 50% GTSD (sử dụng nhiều nhất là hoạt chất cefoperazon), kháng sinh penicillin chiếm 23,96% [24]
Kết quả này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa trung ương Quảng Nam năm 2013 Kháng sinh sử dụng chiếm 45% tổng giá trị tiền thuốc, trong đó nhóm kháng sinh beta-lactam chiếm tỷ lệ cao nhất với 66% tổng giá trị thuốc kháng sinh, trong đó các cephalosporin chiếm 82% tổng chi phí kháng sinh nhóm betalactam, Ceftriaxon là kháng sinh chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị [26]
Trong một nghiên cứu mô tả khác tại Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba năm 2016 cho thầy, kháng sinh được sử dụng chủ yếu là các C3G đặc biệt là Ceftriaxon [19] Đặc điểm chung của các nghiên cứu về sử dụng kháng sinh tại các bệnh viện ở Việt Nam: kháng sinh là nhóm thuốc có tỷ trọng về giá trị lớn nhất, nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là các cephalosporin đặc biệt là các cephalosporin thế hệ 3
1.3.1.2 Tình hình s ử d ụ ng thu ố c đườ ng dùng
Theo Thông tư 23 quy định hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh thì bệnh viện căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý để lựa chọn đường dùng thuốc thích hợp Bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được hoặc khi sử dụng đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị hoặc thuốc chỉ sử dụng đường tiêm [2] Tuy nhiên hầu hết ở các bệnh viện thuốc tiêm, tiêm truyền chiếm tỷ lệ rất cao cả số khoản mục và giá trị sử dụng
Bảng 1.2: Cơ cấu sử dụng thuốc theo đường dùng tại một số bệnh viện
STT Bệnh viện/năm nghiên cứu Đường tiêm/truyền (%GTSD) Đường dùng khác (%GTSD)
1 Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội (2018) [14] 89,37 10,63
5 Sản Nhi tỉnh Ninh Bình (2016) [21] 83,35 16,65
Tình hình tiêu thụ theo liều xác định hàng ngày (DDD)
Các khảo sát gần đây tại Bệnh viện Quân y 354 (năm 2017), Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên (năm 2016) cho thấy mức tiêu thụ kháng sinh lần lượt là 160,8 và 190,8 DDD/100 ngày nằm viện [16], [25] Con số này khá cao so với bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên (giai đoạn 2015-2018) là 78,6 DDD/100 ngày nằm viện, bệnh viện Đa khoa khu vực Cẩm Phả (giai đoạn 2016-2018) là 71,1 DDD/100 ngày nằm viện [17] Lượng tiêu thụ kháng sinh tại các bệnh viện này khá tương đồng với lượng tiêu thụ kháng sinh tại bệnh viện ở một số nước khác Ví dụ như lượng tiêu thụ kháng sinh trung bình ghi nhận tại một bệnh viện đa khoa ở Thổ Nhĩ Kỳ năm 2010 và các bệnh viện ở Hà Lan năm 2015 lần lượt là 70,46 và 78,5 DDD/100 ngày nằm viện [31], [32]
Trong đó, các nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất tính theo DDD/100 ngày nằm viện tại nhiều bệnh viện của Việt Nam và một số bệnh viện trên thế giới là cephalosporin, fluoroquinolon và penicillin [11], [20], [24] Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên (giai đoạn 2015-2018), cephalosporin là nhóm kháng sinh được tiêu thụ nhiều nhất (chiếm 35,6%) với 29,7 DDD/100 ngày nằm viện Thực tế này cũng được ghi nhận tương tự với các nghiên cứu khác tại Việt Nam [12], [18], [11] Kết quả từ nghiên cứu thực hiện năm 2008 trên 7571 bệnh nhân tại 36 bệnh viện đa khoa tại Việt Nam của Trương Anh Thư và cộng sự, cephalosporin là nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ lên đến 70% [39]
Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác tại Việt Nam và tại nước ngoài lại ghi nhận penicillin là nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất Như ghi nhận tại 15 bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện đa khoa tỉnh ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh… về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh (giai đoạn 2008 – 2009) [11], ghi nhận tại các bệnh viện ở Hà Lan năm 2011 [36] cũng như một nghiên cứu về tiêu thụ kháng sinh từ năm 2000 đến 2010 trên toàn cầu [40].
VÀI NÉT VỀ BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Chức năng của Bệnh viện Phụ sản trung ương
- Khám bệnh, cấp cứu, chữa bệnh về chuyên ngành phụ khoa, sản khoa
- Đào tạo, tham gia đào tạo, chỉ đạo tuyến và hợp tác quốc tế về chuyên ngành phụ khoa, sản khoa
- Nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại để khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Nhiệm vụ của Bệnh viện Phụ sản trung ương
- Cấp cứu, khám, chữa bệnh về chuyên ngành phụ khoa, sản khoa
- Đào tạo, Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
Sơ đồ tổ chức của Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Bệnh viện được tổ chức theo sơ đồ như hình (Hình 1.1)
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức bệnh viện Phụ sản Trung ương
Ban Giám đốc Khối phòng ban Khối trung tâm Khối cận lâm sàng Khối lâm sàng
- Phòng Công nghệ thông tin
- Phòng Công tác xã hội
- Phòng Hành chính Quản trị
- Phòng Kế hoạch Tổng hợp
- Phòng Nghiên cứu khoa học
- Phòng Quản lý chất lượng
- Phòng Tài chính Kế toán
- Phòng Tổ chức cán bộ
- Đoàn Thanh niên Bệnh viện
- Trung tâm Chăm sóc và điều trị sơ sinh
- Trung tâm Chẩn đoán trước sinh
- Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia
- Trung tâm Tế bào gốc máu cuống rốn
- Trung tâm Tư vấn SKSS & Kế hoạch hóa gia đình
- Khoa Chẩn đoán hình ảnh
- Khoa Giải phẫu bệnh lý
- Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
- Khoa Tế bào di truyền
- Khoa Hồi sức cấp cứu
- Khoa Khám bệnh theo yêu cầu
- Khoa Điều trị theo yêu cầu
- Đơn vị Chăm sóc sức khỏe tại nhà
ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Cơ sở dữ liệu về số lượng tiêu thụ kháng sinh và số ngày nằm viện của bệnh nhân tại các khoa lâm sàng và toàn viện giai đoạn 01/2017 – 12/2021 được lưu trữ trong phần mềm nội bộ của Khoa Dược và Phòng kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Số lượng tiêu thụ kháng sinh và số ngày nằm viện của bệnh nhân điều trị tại khoa
Thời gian nghiên cứu: 01/01/2017 – 31/12/2021 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Biến số nghiên cứu
Bảng 2.1: Các biến số phân tích cơ cấu tiêu thụ kháng sinh tại bệnh viện
TT Tên biến Giải thích biến Phân loại biến Kỹ thuật thu thập
1 Nhóm thuốc trong danh mục
Là việc chia thuốc vào các nhóm thuốc theo Thông tư 30/2018/TT-
Nhóm/ phân nhóm kháng sinh
Là việc phân chia các kháng sinh vào thành từng nhóm theo cấu trúc hoá học
Biến phân loại Tài liệu sẵn có
3 Kháng sinh theo đường dùng
Dựa vào cách mà thuốc kháng sinh được đưa vào trong cơ thể được ghi trên nhãn
TT Tên biến Giải thích biến Phân loại biến Kỹ thuật thu thập
Hàm lượng của thuốc kháng sinh
Là hàm lượng của thuốc ghi trên nhãn tính theo mg
Biến dạng số (mg) Tài liệu sẵn có
5 Số lượng mỗi kháng sinh
Là số lượng mỗi kháng sinh được sử dụng tại bệnh viện từ 01/01/2017 – 31/12/2021 (theo đơn vị tính của thuốc)
Biến dạng số (lọ/ống/viên)
6 Đơn giá của mỗi kháng sinh
Là giá tiền của một đơn vị đóng gói nhỏ nhất căn cứ theo báo cáo của Phòng kế toán
Là số ngày tính từ lúc bệnh nhân vào viện đến lúc ra viện
Biến dạng số Tài liệu sẵn có
Giá trị tiền kháng sinh trong đợt điều trị
Là tiền kháng sinh trong đợt điều trị Biến dạng số Tài liệu sẵn có
9 Liều DDD của mỗi kháng sinh
Là liều DDD cập nhật tra cứu trên trang web http://www.whocc.no/atc
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hồi cứu dữ liệu về tiêu thụ và sử dụng kháng sinh tại 16 khoa phòng từ 01/01/2017 đến 31/12/2021, bao gồm các khoa:
Khoa điều trị theo yêu cầu (ĐTTYC) Khoa Phụ Ngoại
Khoa Dược Khoa Phụ Nội Tiết
Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Khoa Sản 1
Khoa Huyết Học Khoa Sản 3
Phương pháp thu thập số liệu
Hồi cứu số liệu trong các báo cáo sử dụng kháng sinh cho từng khoa phòng theo từng tháng tại phần mềm Quản lý bệnh viện, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong 5 năm (từ 01/01/2017 – 31/12/2021), cung cấp các thông tin liên quan đến:
- Số lượng kháng sinh sử dụng trong bệnh viện từ 01/01/2017 – 31/12/2021
- Số lượng kháng sinh sử dụng tại 16 khoa phòng thuộc bệnh viện từ 01/01/2017 – 31/12/2021
- Đơn giá của các thuốc kháng sinh sử dụng tại bệnh viện từ 01/01/2017 – 31/12/2021
- Tổng số ngày nằm viện của bệnh nhân tại bệnh viện từ 01/01/2017 – 31/12/2021 Nguồn thu thập số liệu:
Thu thập thông tin từ hệ thống mạng nội bộ của bệnh viện:
- Danh mục thuốc bệnh viện từ năm 2017 – 2021, từ đó thu thập: tên biệt dược, tên hoạt chất, đường dùng, nồng độ - hàm lượng
- Báo cáo sử dụng thuốc toàn viện từ năm 2017 – 2021 của Phòng Tài chính kế toán, từ đó thu thập: danh mục thuốc sử dụng, số lượng, đơn giá thuốc
- Báo cáo xuất thuốc chi tiết cho từng khoa phòng từ năm 2017 – 2021 của các kho lẻ Dược: kho lẻ ống, kho lẻ viên, kho dịch truyền, kho IVF Từ đó thu thập số lượng xuất cho từng khoa phòng, lọc số liệu của các kháng sinh, thu được mẫu nghiên cứu gồm danh mục kháng sinh sử dụng từ năm 2017 – 2021 tại bệnh viện Phụ sản Trung ương kèm theo đơn vị tính và số lượng xuất cho từng khoa phòng
- Báo cáo khám chữa bệnh từ năm 2017 – 2021 của Phòng kế hoạch tổng hợp thu thập số liệu về tổng số ngày nằm viện theo từng năm của tất cả các khoa, đã loại khoa sơ sinh
- Từ dữ liệu của các báo cáo có sẵn, phân tích nhóm thuốc, hoạt chất dựa trên liệu xác định hằng ngày (DDD).
Mẫu nghiên cứu
Số liệu trong mẫu nghiên cứu được lấy theo phương pháp lấy mẫu toàn bộ Là toàn bộ các kháng sinh đã được sử dụng tại bệnh viện trong giai đoạn 01/01/2017 đến 31/12/2021.
Các chỉ số trong nghiên cứu
Khoa Khám Bệnh Khoa Sản thường
Khoa Khám Bệnh Theo Yêu Cầu Trung Tâm Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Phẫu Thuật Gây Mê Hồi Sức Trung tâm Hỗ Trợ Sinh Sản
M ụ c tiêu 1: Phân tích giá tr ị s ử d ụ ng c ủ a kháng sinh ( đườ ng toàn thân)
1 Giá trị sử dụng kháng sinh toàn viện
2 Giá trị sử dụng kháng sinh tại các khoa phòng
3 Giá trị sử dụng của từng chế phẩm kháng sinh
4 Giá trị sử dụng của từng hoạt chất kháng sinh
5 Phân bố các khoa phòng sử dụng các kháng sinh có giá trị sử dụng lớn
M ụ c tiêu 2: Phân tích DDD/100 ngày gi ườ ng c ủ a kháng sinh ( đườ ng toàn thân)
1 Tổng số liều DDD/100 ngày giường của toàn bộ kháng sinh theo thời gian
2 Số liều DDD/100 ngày giường của từng nhóm kháng sinh
3 Số liều DDD/100 ngày giường của từng hoạt chất kháng sinh
4 Số liều DDD/100 ngày giường của các kháng sinh cần phê duyệt trước khi sử dụng tại bệnh viện
Xử lý và phân tích số liệu
Xử lý số liệu trước nhập liệu: Dữ liệu thô thu thập được, tiến hành làm sạch số liệu như loại bỏ dấu, khoảng trắng giữa các chữ… Tính toán các số liệu cần thiết như tính tổng số lượng, số gram, tổng số tiền, số liều xác định trong ngày DDD của mỗi biệt dược, mỗi hoạt chất kháng sinh sử dụng theo từng tháng
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2017
Giá trị DDD của các thuốc kháng sinh được tham khảo từ cơ sở dữ liệu của Trung tâm Hợp tác về Phương pháp Thống kê dược, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO Collaborating Centre for Drug Statistics Methodology - WHOCC) trên trang https://www.whocc.no/atc_ddd_index/ Chỉ những kháng sinh đường dùng toàn thân (Mã J01) mới đưa vào nghiên cứu, các chế phẩm kháng sinh đặt, thuốc nhỏ mắt không bao gồm trong nghiên cứu Danh sách các kháng sinh được trình bày ở Phụ lục 1
Công thức tính các chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 1:
- Giá tr ị s ử d ụ ng (GTSD) kháng sinh theo khoa phòng
% GTSD KS theo khoa phòng = Tổng tiền KS mỗi khoa phòng
- Giá tr ị s ử d ụ ng kháng sinh theo đườ ng dùng
% GTSD KS theo đường uống = GTSD KS đường uống
% GTSD KS theo đường tiêm, truyền = GTSD KS đường tiêm, truyền
- Giá tr ị s ử d ụ ng c ủ a t ừ ng ch ế ph ẩ m
% GTSD của mỗi chế phẩm = GTSD của chế phẩm đó
- Giá tr ị s ử d ụ ng c ủ a t ừ ng ho ạ t ch ấ t
% GTSD của mỗi hoạt chất = GTSD của hoạt chất đó
Công thức tính các chỉ tiêu nghiên cứu cho mục tiêu 2:
- T ổ ng li ề u DDD toàn vi ệ n c ủ a thu ố c KS
Tổng liều DDD toàn viện = Tổng số đơn vị thuốc x Hàm lượng
- S ố li ề u DDD/100 ngày gi ườ ng c ủ a thu ố c kháng sinh
DDD/ 100 ngày giường =Tổng liều DDD x 100
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
PHÂN TÍCH CƠ CẤU TIÊU THỤ KHÁNG SINH THEO GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN 2017 – 2021
Tổng giá trị sử dụng kháng sinh toàn viện từ tháng 1/2017 – tháng 12/2021
Giá trị sử dụng kháng sinh trên toàn viện (bao gồm 16 khoa phòng, loại trừ khoa chăm sóc và điều trị sơ sinh) qua 5 năm được trình bày ở hình 3.1:
Hình 3.1: Giá trị sử dụng kháng sinh toàn viện giai đoạn 2017 – 2021
Giai đoạn 2017 – 2021, giá trị sử dụng (GTSD) kháng sinh trung bình toàn viện là 17.465.655 VNĐ Trong đó, năm 2019 có GTSD kháng sinh cao nhất là gần 21 tỷ đồng, năm 2021 có GTSD kháng sinh thấp nhất là hơn 15 tỷ đồng
Giá trị sử dụng kháng sinh có xu hướng tăng dần qua các năm từ 2017 – 2019, cụ thể là từ khoảng 15,6 tỷ đồng vào năm 2017 cho đến 21,8 tỷ đồng vào năm 2019 Tuy nhiên có sự giảm mạnh ở năm 2020 và 2021, cụ thể năm 2021 giá trị sử dụng kháng sinh chỉ còn khoảng 15,3 tỷ đồng, thấp hơn năm 2017 b) Phân bố giá trị sử dụng kháng sinh theo khoa phòng giai đoạn 2017 – 2021
Giá trị sử dụng kháng sinh tại từng khoa phòng trong 5 năm (2017 – 2021) được biểu diễn trong hình 3.2:
Hình 3.2: Giá trị sử dụng kháng sinh tại từng khoa phòng
- Kết quả khảo sát tình hình tiêu thụ kháng sinh tại từng khoa trong viện, nhận thấy tổng lượng tiêu thụ kháng sinh trong 5 năm tại khoa sản 1 (sản bệnh lý) lớn nhất toàn viện, sau đó là khoa sản 3 (sản nhiễm khuẩn) và khoa sản thường
- Qua biểu đồ phân bố GTSD kháng sinh theo khoa phòng, nhận thấy có sự phân bố thành 2 nhóm khoa phòng Trong đó, một nhóm có GTSD cao (chiếm 83% GTSD kháng sinh toàn viện) bao gồm 6 khoa: Khoa sản 1, khoa sản 3, khoa sản thường, khoa phẫu thuật gây mê hồi sức, khoa điều trị theo yêu cầu (ĐTTYC) và khoa phụ ngoại; nhóm còn lại có GTSD thấp (chiếm 17% GTSD kháng sinh toàn viện) bao gồm 10 khoa phòng còn lại
- Trong nhóm khoa phòng có GTSD kháng sinh cao nhất có 3 khoa chiếm tới 50% tổng GTSD kháng sinh toàn viện được trình bày trong hình 3.3:
Khoa Sản 1 Khoa Sản 3 Khoa Sản thường Khoa Phẫu Thuật Gây Mê Hồi Sức
Khoa ĐTTYC Khoa Phụ Ngoại Khoa Hồi Sức Cấp Cứu
Khoa Đẻ Khoa Phụ 3 Trung Tâm Phẫu Thuật Sàn Chậu
TT Hỗ Trợ Sinh Sản Khoa Khám Bệnh Khoa Dược Khoa Huyết Học Khoa Khám Bệnh Theo Yêu Cầu
Hình 3.3: Các khoa phòng chiếm 50% GTSD kháng sinh toàn viện
Ba khoa có GTSD kháng sinh cao nhất toàn viện là khoa sản 1, khoa sản 3 và khoa sản thường GTSD kháng sinh giữa các khoa này chênh lệch không đáng kể, khoảng từ 13,5 đến 14,1 tỷ đồng c) Phân bố giá tiền sử dụng kháng sinh toàn viện theo đường dùng
Kết quả phân tích GTSD kháng sinh theo đường dùng qua các năm được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 3.1: Giá trị sử dụng kháng sinh theo đường dùng tại Bệnh viện
Năm Đường uống Đường tiêm/truyền GTSD
Tỷ lệ GTSD (%) GTSD (VNĐ) Tỷ lệ GTSD (%)
Giai đoạn 2017 – 2021, kháng sinh tiêm/truyền chiếm một tỷ lệ lớn về giá trị: 91,36% tổng GTSD kháng sinh toàn viện, gấp 10 lần so với GTSD của kháng sinh đường
Khoa Sản 1 Khoa Sản 3 Khoa Sản thường Khoa Phẫu Thuật Gây Mê Hồi Sức
Khoa ĐTTYC Khoa Phụ Ngoại Khoa Hồi Sức Cấp Cứu
Khoa Đẻ Khoa Phụ 3 Trung Tâm Phẫu Thuật Sàn Chậu
TT Hỗ Trợ Sinh Sản
Khoa Khám Bệnh Khoa Dược Khoa Huyết Học Khoa Khám Bệnh Theo Yêu Cầu
50 % uống Mỗi năm, tỷ lệ GTSD kháng sinh tiêm/truyền cũng chiếm từ 89 - 97%, và gấp 8 -
11 lần GTSD của kháng sinh đường uống
Xu hướng tiêu thụ của kháng sinh đường uống và đường tiêm/truyền trong
5 năm được biểu diễn ở hình 3.4
Hình 3.4: Xu hướng giá trị sử dụng kháng sinh theo đường dùng
Giai đoạn 2017 – 2021, mức độ tiêu thụ các kháng sinh đường uống tương đối ổn định Đối với kháng sinh đường tiêm, GTSD có xu hướng tăng từ năm 2017 đến năm
2019, sau đó giảm từ năm 2019 đến năm 2021 Tổng GTSD kháng sinh toàn viện tăng/giảm chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tiêu thụ các kháng sinh đường tiêm/truyền của năm đó Để phân tích sâu hơn về mức độ và xu hướng sử dụng các biệt dược và hoạt chất kháng sinh, nghiên cứu dựa vào phương pháp phân tích ABC (phương pháp sử dụng trong phân tích danh mục thuốc) để phân hạng kháng sinh theo các cấp độ như sau:
- Kháng sinh có GTSD lớn: Gồm những kháng sinh chiếm 75 – 80% tổng giá trị tiền kháng sinh
- Kháng sinh có GTSD trung bình: Gồm những kháng sinh chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền kháng sinh
- Kháng sinh có GTSD nhỏ: Gồm những kháng sinh chiếm 5 – 10% tổng giá trị tiền kháng sinh
Phân tích mức độ tiêu thụ các biệt dược kháng sinh theo giá trị sử dụng
a) Các thuốc biệt dược có GTSD lớn
Thành tiền (VNĐ) Đường uống Đường tiêm/truyền Đường dùng chung
Bảng 3.2: Giá trị sử dụng của các biệt dược kháng sinh có GTSD lớn
TT Biệt dược Hoạt chất Tổng tiền (VNĐ) Tỷ lệ (%)
Trong tổng số 49 biệt dược đã sử dụng tại bệnh viện trong giai đoạn 5 năm, các biệt dược có GTSD lớn gồm 6 thuốc, chiếm 79,38% giá trị kháng sinh toàn viện
6 kháng sinh của nhóm này đều là các kháng sinh thuộc 2 phân nhóm: penicillin kết hợp chất ức chế betalactamase và cephalosporin Trong đó, kháng sinh Unasyn 1,5g thuộc phân nhóm penicillin kết hợp chất ức chế betalactamase có tỷ lệ về GTSD lớn nhất, chiếm đến hơn 44% giá trị kháng sinh toàn viện Tiếp đó là các thuốc Biofumoksym 1,5g, Cefoxitin Normon 1g, Ama power 1,5g có tỷ lệ GTSD xấp xỉ nhau, chiếm hơn 8% giá trị sử dụng kháng sinh toàn viện Thuốc kháng sinh Zinacef 750mg và Medoclor 250mg có tỷ lệ thấp, lần lượt là 5,53% và 3,85%
Chi tiết xu hướng tiêu thụ các biệt dược có GTSD lớn được biểu diễn ở hình 3.5:
Hình 3.5: Xu hướng tiêu thụ các biệt dược có GTSD lớn
T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12
Unasyn1.5g Biofumoksym 1,5g Cefoxitin Normon 1g Ama power 1.5g Zinacef 750mg Medoclor 250mg
Unasyn 1,5g là thuốc luôn có mức tiêu thụ lớn nhất ở mọi năm Tuy nhiên vào tháng 11 và tháng 12 năm 2019, không ghi nhận tiêu thụ Unasyn 1,5g, thay vào đó là sự tăng mạnh sử dụng Ama power 1,5g vào thời gian này Cũng trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2019, Biofumoksym 1,5g không được ghi nhận sử dụng, thay vào đó là tăng sử dụng Cefoxitin Normon 1g b) Các thuốc biệt có GTSD trung bình
Bảng 3.3: Giá trị sử dụng các biệt dược kháng sinh có GTSD trung bình
TT Biệt dược Hoạt chất Tổng tiền (VNĐ) Tỷ lệ (%)
2 Bacqure (500mg+500mg) Imipenem + cilastatin 2.163.436.800 2,48%
Các biệt dược có GTSD trung bình bao gồm 9 thuốc và chiếm tỷ lệ 15,60% về giá trị sử dụng Trong đó có Bacqure 500mg (hoạt chất là imipenem + cilastatin) là kháng sinh dùng cho những trường hợp nhiễm khuẩn nặng và đa đề kháng, đây cũng là thuốc nằm trong danh mục kháng sinh cần phê duyệt trước khi sử dụng tại bệnh viện
Qua phân tích mức độ sử dụng của nhóm kháng sinh có GTSD lớn và GTSD trung bình, nhận thấy: biệt dược Unasyn 375mg (đường uống) chỉ chiếm 1,14% giá trị kháng sinh toàn viện, trong khi đó Unasyn 1,5g (đường tiêm) thuộc nhóm có GTSD lớn chiếm tỷ lệ cao nhất là 44,19% Qua đó thấy được sự chênh lệch rất lớn về GTSD của Unasyn đường tiêm và Unasyn đường uống
Chi tiết xu hướng tiêu thụ các biệt dược có GTSD trung bình được biểu diễn ở hình 3.6:
Hình 3.6: Xu hướng tiêu thụ các biệt dược có GTSD trung bình
Xu hướng sử dụng của các biệt dược thuộc nhóm có GTSD trung bình không rõ ràng qua các năm Tuy nhiên, điểm nổi bật trên đồ thị xu hướng là thời điểm tháng 7, 8 và 9 năm 2020, mức độ tiêu thụ của Cefoxitin Panpharma 1g tăng cao nhất, cho dù trước đó Cefoxitin Panpharma 1g hầu như không được sử dụng.
Phân tích mức độ tiêu thụ các hoạt chất kháng sinh theo giá trị sử dụng
a) Các hoạt chất có GTSD lớn
Bảng 3.4: Giá trị sử dụng các hoạt chất kháng sinh có GTSD lớn
TT Hoạt chất Tổng tiền (VNĐ) Tỷ lệ %
Nhóm kháng sinh có GTSD lớn gồm 4 hoạt chất, chiếm 81,46% GTSD kháng sinh toàn viện Tương tự kết quả phân tích tiêu thụ các thuốc biệt dược, các hoạt chất này đều thuộc 2 phân nhóm: penicillin kết hợp chất ức chế betalactamase và
T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12
Trichopol 500mg/100ml Bacqure (500mg+500mg) Dalacin C 600mg/4ml
Cravit 750mg/150ml Augmentin 1g Cefoxitin Panpharma 1g
Tavanic 500mg/100ml Sulperazon 1g Unasyn 375mg cephalosporin (cụ thể là C2G) Đặc điểm của 2 phân nhóm này là an toàn đối với phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, do đó được sử dụng nhiều tại bệnh viện Trong đó, hoạt chất ampicillin + sulbactam có mức độ tiêu thụ cao nhất trong 5 năm, chiếm tỷ lệ tới hơn 50% GTSD kháng sinh toàn viện, tiếp theo là các hoạt chất thuộc nhóm cephalosporin (gồm cefuroxim, cefoxitin, cefaclor)
Chi tiết xu hướng tiêu thụ các hoạt chất có GTSD lớn được biểu diễn ở hình 3.7:
Hình 3.7: Xu hướng tiêu thụ các hoạt chất có GTSD lớn
Trong giai đoạn 2017 – 2021, mức tiêu thụ của ampicillin + sulbactam luôn ở mức cao nhất và tương đối ổn định Trong khi đó, mức độ tiêu thụ của cefuroxim có xu hướng giảm, cefoxitin và cefaclor có xu hướng tiêu thụ không rõ ràng Cefoxitin tiêu thụ tăng mạnh vào tháng 10, 11/2019 và sử dụng nhiều vào năm 2021 b) Các hoạt chất có GTSD trung bình
Bảng 3.5: Giá trị sử dụng các hoạt chất kháng sinh có GTSD trung bình
TT Hoạt chất Tổng tiền (VNĐ) Tỷ lệ %
T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12
Ampicillin + Sulbactam Cefuroxim Cefoxitin Cefaclor
Có 6 hoạt chất kháng sinh thuộc nhóm có GTSD trung bình, chiếm 15,83% GTSD kháng sinh toàn viện Các hoạt chất này có tỷ lệ tiêu thụ nhỏ, chỉ từ 1% đến gần 4% giá trị kháng sinh toàn viện Trong đó nổi bật là các kháng sinh chỉ sử dụng khi có nhiễm khuẩn nặng và có biểu hiện rõ rệt như: imipenem + cilastatin, levofloxacin, metronidazol và cefoperazon + sulbactam
Chi tiết xu hướng tiêu thụ các hoạt chất có GTSD trung bình được biểu diễn ở hình 3.8:
Hình 3.8: Xu hướng tiêu thụ các hoạt chất có GTSD trung bình
Trong giai đoạn 5 năm, hoạt chất imipenem + cilastatin có mức tiêu thụ ổn định tại các năm 2017, 2019, 2020, 2021 Riêng năm 2018, hoạt chất này có mức tiêu thụ tăng mạnh
Trong khi đó, amoxicillin + acid clavulanic có mức tiêu thụ không ổn định, tăng mạnh sử dụng tại một vài thời điểm khác nhau trong năm, sau đó lại không được sử dụng.
Phân bố sử dụng các hoạt chất kháng sinh có giá trị sử dụng lớn tại các
Hình 3.9: Phân bố sử dụng các hoạt chất kháng sinh có GTSD lớn tại các khoa phòng
T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12 T há ng 1 T há ng 2 T há ng 3 T há ng 4 T há ng 5 T há ng 6 T há ng 7 T há ng 8 T há ng 9 T há ng 10 T há ng 11 T há ng 12
Kháng sinh ampicillin + sulbactam Kháng sinh cefuroxim
Kháng sinh cefoxitin Kháng sinh cefaclor
Các kháng sinh thuộc nhóm GTSD lớn gồm các thuốc sử dụng nhiều ngân sách của bệnh viện Các kháng sinh này được sử dụng nhiều nhất tại khoa ĐTTYC và các khoa sản, đặc biệt là khoa sản 1 và khoa sản thường Cụ thể:
- Kháng sinh ampicillin + sulbactam được sử dụng nhiều nhất ở khoa sản 1 (22%), sau đó là khoa sản thường (21%) và khoa ĐTTYC (17%)
- Kháng sinh cefuroxim được sử dụng nhiều nhất ở khoa sản thường (chiếm 21%), sau đó là khoa sản 1 (18%) và khoa ĐTTYC (18%)
- Kháng sinh cefoxitin được sử dụng nhiều nhất ở khoa ĐTTYC (chiếm 21%) và khoa sản thường (21%), sau đó là khoa sản 1 (17%)
- Kháng sinh cefaclor được sử dụng nhiều nhất ở khoa sản 1 (chiếm 31%), sau đó là khoa đẻ (23%) và khoa phụ ngoại (19%).
Phân bố sử dụng các hoạt chất kháng sinh có giá trị sử dụng trung bình tại các khoa phòng
Khoa Sản 1 Khoa Sản thường Khoa ĐTTYC Khoa Sản 3 Khoa Phụ Ngoại Khoa Hồi Sức Cấp Cứu
TT Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Phụ 3
Khoa Đẻ Khoa Phụ Nội Tiết
TT Hỗ Trợ Sinh Sản
Khoa Sản thường Khoa Sản 1 Khoa ĐTTYC Khoa Phụ Ngoại Khoa Sản 3
TT Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Phụ 3
Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Khoa Phụ Nội Tiết Khoa Đẻ
TT Hỗ Trợ Sinh Sản
Khoa Sản thường Khoa Sản 1 Khoa Sản 3 Khoa Phụ Ngoại Khoa Hồi Sức Cấp Cứu
TT Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Phụ 3
Khoa Phụ Nội Tiết Khoa Đẻ
Khoa Sản 1 Khoa Đẻ Khoa Phụ Ngoại Khoa Sản thường Khoa Phụ 3
TT Phẫu Thuật Sàn ChậuKhoa Hồi Sức Cấp CứuKhoa ĐTTYCKhoa Sản 3Khoa Khám BệnhKhoa Phụ Nội Tiết
Hình 3.10: Phân bố sử dụng các hoạt chất kháng sinh có GTSD trung bình tại các khoa phòng
Kháng sinh imipenem + cilastatin Kháng sinh levofloxacin
Kháng sinh metronidazol KS amoxicillin + acid clavulanic
Kháng sinh clindamycin Kháng sinh cefoperazon + sulbactam
Khoa Sản 3 Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Khoa ĐTTYC Khoa Phụ 3 Khoa Sản 1 Khoa Phụ Ngoại Khoa Sản thường
TT Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Đẻ
Khoa Sản 3 Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Khoa Phụ 3
Khoa ĐTTYC Khoa Phụ Ngoại Khoa Sản 1 Khoa Sản thường
TT Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Phụ Nội Tiết Khoa Đẻ
Khoa Sản 3 Khoa Sản thường Khoa Sản 1 Khoa Phụ Ngoại Khoa ĐTTYC Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Khoa Phụ 3
TT Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Đẻ
Khoa Sản 1 Khoa Đẻ Khoa Sản thường Khoa Phụ Nội Tiết Khoa Phụ Ngoại
TT Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Khám Bệnh Khoa ĐTTYC Khoa Sản 3 Khoa Hồi Sức Cấp Cứu Khoa Phụ 3
TT Hỗ Trợ Sinh Sản
Khoa ĐTTYC Khoa Sản thường Khoa Sản 1 Khoa Phụ Ngoại Khoa Sản 3 Khoa Phụ 3 Khoa Hồi Sức Cấp Cứu
TT Phẫu Thuật Sàn Chậu Khoa Đẻ
TT Hỗ Trợ Sinh Sản
Khoa Sản 3Khoa Phụ 3Khoa Sản thườngKhoa Hồi Sức Cấp CứuKhoa ĐTTYCKhoa Phụ Ngoại
Một số kháng sinh thuộc nhóm có GTSD trung bình như imipenem + cilastatin, levofloxacin, metronidazol, cefoperazon + sulbactam được sử dụng rất nhiều tại khoa sản 3 Cụ thể, kháng sinh cefoperazon + sulbactam được sử dụng tới 97% tại khoa sản
3, imipenem + cilastatin cũng sử dụng với một tỷ lệ rất lớn là 86% tại khoa này, levofloxacin và metronidazol lần lượt sử dụng với tỷ lệ 66% và 43%
Trong khi đó amoxicillin + acid clavulanic được sử dụng chủ yếu ở khoa sản 1 và khoa đẻ Clindamycin được sử được sử dụng chủ yếu ở khoa ĐTTYC và khoa sản thường.
PHÂN TÍCH CƠ CẤU TIÊU THỤ KHÁNG SINH THEO LIỀU XÁC ĐỊNH HÀNG NGÀY DDD TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN
Tổng số liều DDD/100 ngày giường của toàn bộ kháng sinh theo thời gian
Tổng số liều DDD/100 ngày giường của toàn viện (loại trừ khoa phẫu thuật gây mê hồi sức và khoa sơ sinh) được tính toán ở bảng 3.6:
Bảng 3.6: Số liều DDD/100 ngày giường của toàn viện giai đoạn 2017 –
Số ngày điều trị KS trung bình của mỗi
Qua số liệu phân tích, một số kết quả thu được sau: tổng số liều DDD toàn viện từ 2017 – 2021 là 489.996 (DDD), số liều DDD/100 ngày giường là 36,75 DDD/100 ngày giường Nhận thấy, mức độ tiêu thụ kháng sinh của toàn viện hàng năm có xu hướng tăng nhanh, cụ thể số liều DDD/100 ngày giường ở năm 2019 là 41,46, tăng gần 1,5 lần so với năm 2017 là 28,57 DDD/100 ngày giường Sau đó duy trì với số liều khoảng từ 39 đến 41 DDD/100 ngày giường ở các năm 2020, 2021.
Phân tích mức độ tiêu thụ các nhóm kháng sinh theo số liều DDD/100 ngày giường
a) Số liều DDD/100 ngày giường của từng nhóm kháng sinh
Tình hình tiêu thụ các nhóm kháng sinh trên toàn viện qua 5 năm được biểu diễn trong bảng 3.7 và hình 3.11:
Bảng 3.7: Mức tiêu thụ các nhóm kháng sinh toàn viện giai đoạn 2017 –
TT Nhóm kháng sinh DDD/100 ngày giường
1 Penicilin + chất ức chế beta-lactamase 17,44
Hình 3.11: Tỷ lệ tiêu thụ các nhóm kháng sinh toàn viện giai đoạn 2017 –
2% 1% 0% 0% 0% 0% 0% Penicilin + chất ức chế beta-lactamase
CephalosporinsImidazolesFluoroquinolonesCarbapenemsLincosamidesSulfonamidesMacrolidesGlycopeptidesAminoglycosidesTetracyclines
Trong giai đoạn 5 năm, Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã sử dụng 11 nhóm kháng sinh và có tổng số liều DDD/100 ngày giường trung bình là 36,75 Trong đó nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là nhóm penicilin + chất ức chế beta-lactamase với số liều là 17,44 DDD/100 ngày giường, tiếp đến là nhóm cephalosporins với 14,75 DDD/100 ngày giường Nhóm imidazoles và fluoroquinolones chiếm một tỷ lệ nhỏ với số liều từ 1-2 DDD/100 ngày giường Các nhóm kháng sinh khác được tiêu thụ với tỉ trọng không đáng kể, hầu hết chỉ dưới 1 DDD/100 ngày giường b) Xu hướng tiêu thụ các nhóm kháng sinh theo số liều DDD/100 ngày giường
Chi tiết xu hướng tiêu thụ của 11 nhóm kháng sinh trên quy mô toàn viện qua 5 năm được trình bày ở hình 3.12:
Hình 3.12: Xu hướng tiêu thụ các nhóm kháng sinh toàn viện giai đoạn
Trong giai đoạn 2017 – 2021, nhóm kháng sinh penicilin + chất ức chế beta- lactamase được sử dụng phổ biến nhất trong hầu hết các năm, đồng thời có xu hướng tiêu thụ tăng Nhóm cephalosporin cũng là một trong những nhóm kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất qua các năm, tuy nhiên lại có xu hướng tiêu thụ giảm Các nhóm
Cụ thể, năm 2017 và 2018 có mức độ tiêu thụ các nhóm kháng sinh tương đối giống nhau, nhiều nhất là nhóm cephalosporin, đứng thứ 2 là nhóm penicillin kết hợp với chất ức chế beta-lactamase với mức tiêu thụ thấp hơn không đáng kể
Sau đó, nhóm penicillin + chất ức chế beta-lactamase được sử dụng nhiều hơn khá nhiều so với nhóm cephalosporin từ năm 2019 đến năm 2021 Tuy nhiên, tổng lượng sử dụng của 2 nhóm kháng sinh này trong các năm từ 2019 đến 2021 lại tương đối bằng nhau là hơn 36 DDD/100 ngày giường, cụ thể ở bảng 3.8:
Bảng 3.8: Tổng lượng tiêu thụ 2 nhóm kháng sinh penicillin + chất ức chế beta-lactamase và cephalosporins giai đoạn 2019 – 2021
TT Nhóm kháng sinh DDD/100 ngày giường
1 Penicilin + chất ức chế beta-lactamase 20,945 18,486 22,825
Phân tích mức độ tiêu thụ các hoạt chất kháng sinh theo số liều DDD/100 ngày giường
a) Số liều DDD/100 ngày giường theo hoạt chất kháng sinh
Số liều DDD/100 ngày giường của các kháng sinh sử dụng tại bệnh viện trong 5 năm được trình bày trong bảng 3.9:
Bảng 3.9: Số liều DDD/100 ngày giường của các hoạt chất kháng sinh giai đoạn 2017 – 2021
TT Hoạt chất DDD/100 ngày giường Tỷ lệ %
TT Hoạt chất DDD/100 ngày giường Tỷ lệ %
Tương tự kết quả phân tích tiêu thụ theo nhóm kháng sinh, các hoạt chất được sử dụng phổ biến nhất tại bệnh viện đều là các kháng sinh thuộc nhóm penicilin + chất ức chế beta-lactamase và nhóm cephalosporin Trong đó cefuroxim (thuộc nhóm C2G) có mức độ tiêu thụ cao nhất trong 5 năm với 7,78 DDD/100 ngày giường (chiếm 21,18% DDD), tiếp theo là amoxicillin + acid clavulanic và ampicillin + sulbactam (thuộc nhóm penicilin + chất ức chế beta-lactamase) với số liều DDD/100 ngày giường lần lượt là 7,70 và 7,34 Kháng sinh dự trữ imipenem + cilastatin có mức độ tiêu thụ trung bình 5 năm là 0,67 DDD/100 ngày giường
Trong tổng số 22 hoạt chất sử dụng tại bệnh viện, có 7 hoạt chất chiếm tới 90% số liều DDD/100 ngày giường toàn viện, bao gồm:
Trong đó, 4 hoạt chất: cefuroxim, amoxicillin + acid clavulanic, ampicillin + sulbactam và cefaclor chiếm tỷ lệ rất lớn khoảng từ 19% - 21% 3 hoạt chất còn lại là: metronidazol, levofloxacin, sultamicillin chiếm tỷ lệ nhỏ hơn từ khoảng 3% – 5%
Tiếp tục thực hiện phân tích sâu hơn về mức độ và xu hướng tiêu thụ các hoạt chất chiếm tới 90% DDD toàn viện ở phần b b) Xu hướng tiêu thụ một số kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trong toàn viện giai đoạn 2017 – 2021
Xu hướng tiêu thụ 7 kháng sinh được sử dụng nhiều nhất (chiếm 90% DDD toàn viện) giai đoạn 2017 – 2021 được thể hiện trong hình 3.13:
Hình 3.13: Xu hướng tiêu thụ một số hoạt chất kháng sinh chính giai đoạn
Trong giai đoạn 2017 – 2021, các kháng sinh: amoxicillin + acid clavulanic, ampicillin + sulbactam và cefaclor có xu hướng tăng, đặc biệt là amoxicillin + acid clavulanic với mức tiêu thụ ở năm 2021 gấp gần 3 lần so với năm 2017 Bên cạnh đó, cefuroxim là kháng sinh có mức độ tiêu thụ nhiều nhất trong 5 năm nhưng lại có xu hướng giảm mạnh, cụ thể là mức tiêu thụ năm 2021 giảm bằng 1/6 so với năm 2017
Năm 2017 và 2021, sultamicillin có mức tiêu thụ là 0
Cefaclor không được sử dụng vào năm 2017, nhưng số liều DDD vẫn thuộc top
7 kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trong toàn viện.
Phân tích mức độ tiêu thụ của các kháng sinh cần phê duyệt và không cần phê duyệt trước khi sử dụng tại bệnh viện (quyết định 772/QĐ-BYT) theo DDD/100 ngày giường
Theo quyết định 772/QĐ-BYT, kháng sinh cần phê duyệt thường để chỉ định dùng trong những trường hợp nặng, đe dọa tới tính mạng người bệnh; chỉ được chỉ định khi các kết quả kháng sinh đồ cho thấy vi khuẩn đa kháng với các thuốc khác và không còn lựa chọn nào khác [6]
Trong các kháng sinh đã được sử dụng cho người lớn giai đoạn 2017 – 2021 tại bệnh viện, có imipenem + cilastatin (thuộc nhóm carbapenem) nằm trong danh mục kháng sinh cần phê duyệt trước khi sử dụng tại bệnh viện
Xu hướng tiêu thụ kháng sinh này được trình bày trong bảng 3.10 và hình 3.14:
Bảng 3.10: Xu hướng tiêu thụ kháng sinh cần phê duyệt trên toàn viện giai đoạn 2017 – 2021
DDD/100 ngày giường Tổng tiền (VNĐ) Tỷ lệ (%)
Hình 3.14: Xu hướng tiêu thụ của imipenem + cilastatin giai đoạn 2017 –
DDD/ 100 ngày gi ườ ng
Mức độ tiêu thụ imipenem + cilastatin trong 5 năm trung bình là 0,67 DDD/100 ngày giường và GTSD sử dụng của kháng sinh này chiếm 0,77% giá trị kháng sinh toàn viện
Xu hướng tiêu thụ của imipenem + cilastatin không rõ ràng qua các năm Cao nhất là vào năm 2018 với 0,75 DDD/100 ngày giường và thấp nhất vào năm 2017 là 0,58 DDD/100 ngày giường
1 CƠ CẤU TIÊU THỤ KHÁNG SINH THEO GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG GIAI ĐOẠN 2017 – 2021 a T ổ ng giá tr ị s ử d ụ ng kháng sinh toàn vi ệ n
Về giá trị sử dụng kháng sinh toàn viện qua các năm
Năm 2019 có sự vượt trội về giá trị sử dụng kháng sinh, là 20.853.429.669 VNĐ, cao hơn gần 20% so với giá trị trung bình các năm Qua đó, năm 2019 bệnh viện đã sử dụng một lượng rất lớn cefoxitin với tổng số tiền hơn 3,7 tỷ đồng (chiếm tới 17,8% giá trị sử dụng kháng sinh năm 2019) trong khi đó các năm 2017, 2018 cefoxitin chưa được sử dụng tại bệnh viện Ngoài ra, trong năm 2019 bệnh viện tiếp nhận và điều trị số lượng bệnh nhân nhiều hơn so với các năm khác, cụ thể là 57.446 bệnh nhân, so với các năm còn lại là 34.000 – 50.000 bệnh nhân Do vậy đã khiến giá trị sử dụng kháng sinh năm
2019 tăng mạnh trong giai đoạn 2017-2019
Năm 2020 và 2021 có sự giảm mạnh về giá trị sử dụng kháng sinh so với năm
2019, trong đó năm 2021 có giá trị sử dụng thấp nhất trong 5 năm chỉ hơn 15 tỷ đồng Điều này có thể là do 2 năm này là 2 năm chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, số lượng bệnh nhân đến khám tại viện giảm nên làm cho lượng tiêu thụ kháng sinh toàn viện giảm theo
Về giá trị sử dụng kháng sinh tại các khoa phòng, có sự phân bố giá trị sử dụng kháng sinh thành 2 nhóm khoa phòng Trong đó, một nhóm có giá trị sử dụng cao (chiếm 83% giá trị kháng sinh toàn viện) bao gồm 6 khoa: Khoa sản 1, khoa sản 3, khoa sản thường, khoa phẫu thuật gây mê hồi sức, khoa điều trị theo yêu cầu và khoa phụ ngoại; nhóm còn lại có giá trị sử dụng thấp (chiếm 17% giá trị kháng sinh toàn viện) bao gồm
Các khoa phòng thuộc nhóm có giá trị sử dụng kháng sinh cao (83%) thường điều trị các trường hợp có thai kèm theo bệnh nội, ngoại khoa, trường hợp bệnh nhân nặng liên quan đến chửa đẻ, phẫu thuật sản phụ khoa, đồng thời theo dõi và chăm sóc sản phụ sau mổ lấy thai, sau đẻ, sau mổ đẻ… Những đối tượng này đều cần phải sử dụng kháng sinh trước và sau khi phẫu thuật
Các khoa phòng thuộc nhóm có giá trị sử dụng kháng sinh thấp (17%) thường thực hiện các đỡ đẻ thường, đỡ đẻ khó, phẫu thuật mổ lấy thai, đồng thời chăm sóc, theo dõi sản phụ sau sinh, trẻ sơ sinh, mà các đối tượng bệnh nhân này đa phần chỉ ở các khoa trong thời gian ngắn Do đó lượng tiêu thụ kháng sinh tại nhóm khoa phòng này này là kháng sinh đường uống có giá thành thấp hơn kháng sinh đường tiêm, nên giá trị sử dụng kháng sinh tương đối thấp so với các khoa phòng khác
Trong nhóm khoa phòng có giá trị sử dụng kháng sinh cao, có 3 khoa chiếm tới 50% tổng giá trị kháng sinh toàn viện là khoa sản 1, khoa sản 3 và khoa sản thường Trong đó, khoa sản 1 là khoa có giá trị sử dụng kháng sinh cao nhất Đây là nơi có số giường bệnh và số lượng bệnh nhân điều trị nhiều nhất toàn viện, đặc biệt là nơi tiếp nhận và điều trị cho đối tượng bệnh nhân rỉ ối, do nguy cơ nhiễm trùng ối cao, đối tượng này cần phải dùng kháng sinh liên tục trong thời gian dài Bên cạnh đó, khoa sản 3 mặc dù có số giường bệnh không nhiều như khoa sản 1 nhưng khoa này là đơn vị điều trị các bệnh lý nhiễm khuẩn chính của viện và có nhu cầu sử dụng kháng sinh cao, do đó giá trị sử dụng kháng sinh tại khoa này gần như tương đương với khoa sản 1 Khoa sản thường cũng là một trong những khoa có giá trị sử dụng kháng sinh cao, do khoa này là nơi chăm sóc, điều trị các sản phụ sau mổ lấy thai và 100% đối tượng bệnh nhân này đều phải sử dụng kháng sinh khoảng 5 ngày sau phẫu thuật
Về giá trị sử dụng kháng sinh theo đường dùng Theo thông tư 23/2011/TT-BYT quy định hướng dẫn sử dụng thuốc của Bộ Y tế, chỉ dùng thuốc đường tiêm khi người bệnh không uống được thuốc hoặc sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng được yêu cầu điều trị [2] Trong khi đó, tỷ lệ giá trị sử dụng thuốc kháng sinh đường uống trung bình trong 5 năm chỉ chiếm 8,54%, trong khi đó thuốc kháng sinh đường tiêm, truyền chiếm tỷ lệ chi phí lớn với 91,36% Tỷ lệ này cũng tương đồng với Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (2018) là 89,37% giá trị, các bệnh viện sản nhi tỉnh tỷ lệ thuốc đường tiêm, tiêm truyền trong khoảng 72,4% - 83,35% [13], [21], [22] Như vậy tỷ lệ về GTSD thuốc đường tiêm, tiêm truyền tại bệnh viện Phụ sản Trung ương tương tự với các bệnh viện sản khác b C ơ c ấ u tiêu th ụ các bi ệ t d ượ c kháng sinh theo giá tr ị s ử d ụ ng
Kết quả phân tích giá trị sử dụng của các thuốc kháng sinh cho thấy, các biệt dược có giá trị sử dụng lớn bao gồm 6 thuốc chiếm 79,38% giá trị sử dụng, biệt dược có giá trị sử dụng trung bình chiếm 15,602% giá trị tương ứng với 9 thuốc, còn lại là các biệt dược có giá trị sử dụng nhỏ
Theo đó, các biệt dược có giá trị sử dụng lớn đều là các kháng sinh thuộc 2 phân nhóm: penicillin kết hợp chất ức chế betalactamase và cephalosporin Với các chỉ định phẫu thuật, kháng sinh được lựa chọn phổ biến nhất là kháng sinh beta-lactam kết hợp với chất ức chế beta-lactamase Ngoài ra, kháng sinh beta-lactam cũng là nhóm an toàn đối với phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, do đó thường được sử dụng trong sản khoa Trong 6 biệt dược có giá trị sử dụng lớn, Unasyn 1,5g (đường tiêm) là thuốc luôn có mức độ tiêu thụ lớn nhất ở mọi năm Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm 2019, Unasyn 1,5g không được ghi nhận sử dụng, thay vào đó là sự gia tăng sử dụng Ama power 1,5g (đường tiêm) vào thời gian này Thực chất, Unasyn 1,5g và Ama power 1,5g là hai biệt dược có cùng hoạt chất kháng sinh là ampicillin + sulbactam Do đó sự cắt giảm sử dụng Unasyn 1,5g giai đoạn tháng cuối năm 2019 đã được thay thế bằng Ama power 1,5g Bên cạnh đó, cũng từ cuối năm 2019 đến hết năm 2021, Biofumoksym 1,5g không được ghi nhận sử dụng, thay vào đó là sự tăng mạnh sử dụng Cefoxitin Normon 1g Tuy nhiên,
2 thuốc này có sự chênh lệch lớn về giá cả, cụ thể Cefoxitin Normon 1g có giá 127.000đ/lọ, Biofumoksym 1,5g có giá 50.000đ/lọ, do đó đã khiến tổng GTSD Cefoxitin Normon 1g ở giai đoạn này tăng cao Điều này cũng gợi ý nhà quản lý trong việc chú ý lựa chọn thuốc chế phẩm hợp lý để đảm bảo chi phí thấp nhất có hiệu quả c C ơ c ấ u tiêu th ụ các ho ạ t ch ấ t kháng sinh theo giá tr ị s ử d ụ ng
Kết quả phân tích giá trị sử dụng của các hoạt chất kháng sinh cho thấy, trong tổng số 22 hoạt chất kháng sinh đã sử dụng tại bệnh viện giai đoạn 2017 – 2021, các hoạt chất có GTSD lớn gồm 4 hoạt chất, chiếm 81,46% tổng giá trị sử dụng kháng sinh, các hoạt chất có GTSD trung bình gồm 6 hoạt chất, chiếm 15,83% tổng giá trị sử dụng kháng sinh
Theo đó, 4 hoạt chất kháng sinh có giá trị sử dụng lớn bao gồm: ampicillin + sulbactam, cefuroxim, cefoxitin và cefaclor Các hoạt chất này cũng thuộc 2 phân nhóm kháng sinh là penicillin kết hợp chất ức chế betalactamase và cephalosporin (cụ thể là C2G), tương tự như kết quả phân tích giá trị sử dụng các thuốc biệt dược Trong 4 hoạt chất, ampicillin + sulbactam có mức độ tiêu thụ lớn nhất, lên đến 52,43% Kết quả này là khác biệt so với một số nghiên cứu tại Bệnh viện Quân Y 345 (năm 2017), phân nhóm kháng sinh chiếm giá trị lớn nhất là C3G, trong đó sử dụng nhiều nhất là hoạt chất Cefoperazon [24] Phân nhóm C3G cũng được sử dụng phổ biến nhất tại Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba (năm 2016), Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hưng Yên (2016) và Bệnh viện Đa khoa Trung ương Quảng Nam (2013) Qua đó, kháng sinh ceftriaxon là kháng sinh được sử dụng nhiều nhất tại 3 bệnh viện này và chiếm tỷ lệ lớn nhất về giá trị sử dụng [19],
[16], [26] d S ự phân b ố s ử d ụ ng các ho ạ t ch ấ t kháng sinh có giá tr ị s ử d ụ ng l ớ n trong các khoa phòng