Đối với Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương việc áp dụng Thông tư 05/2015/TT- BYT ngày 17 tháng 3 năm 2015 ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ tr
TỔNG QUAN
Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện
Danh mục thuốc đã sử dụng là kết quả của cả quá trình cung ứng thuốc: Lựa chọn, mua sắm, cấp phát và sử dụng
Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng để thấy được một số những tồn tại, bất cập, những nội dung chưa hợp lý Từ đó điều chỉnh giúp cho hoạt động cung ứng thuốc của Bệnh viện được hoàn thiện hơn
1.1.2 Một số quy định về sử dụng thuốc hiện nay
Hiện nay có rất nhiều thông tư, quy định và đề án về sử dụng thuốc được thực hiện Bộ Y tế đã xây dựng đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam” ban hành kèm theo Quyết định số 4824/QĐ-BYT ngày 3/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế Với mục tiêu tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất trong nước chiếm 22% ở tuyến Trung ương, 50% ở tuyến tỉnh và 75% ở tuyến huyện
Cùng với các giải pháp, Bộ Y tế cũng từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nhiều quy định để ưu tiên khuyến khích phát triển ngành công nghiệp dược trong nước như: Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Dược năm 2016 đã quy định danh mục không chào thầu thuốc nhập khẩu trên cơ sở nhóm tiêu chí kỹ thuật khi thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp
Cụ thể, Bộ Y tế cũng đã ban hành các Thông tư (Thông tư 01/2012, Thông tư 36/2013,Thông tư 11/2016, Thông tư 15/2019) quy định một nhóm thầu riêng cho các thuốc trong nước sản xuất trên dây chuyền đạt WHO-GMP để khuyến khích sản xuất, sử dụng thuốc trong nước
Mới đây, Bộ Y tế cũng đã ban hành Thông tư số 03 ngày 28/3/2019 về danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp tăng 7 lần từ 146 thuốc (năm 2016) lên 640 thuốc (năm
2019) sản xuất trong nước, không chào thầu thuốc nhập khẩu
Về phía cơ sở y tế và thầy thuốc, việc triển khai Đề án đã được Lãnh đạo UBND tỉnh/thành phố, các Sở Y tế, các bệnh viện quan tâm, chỉ đạo sát sao Tại nhiều bệnh viện, lãnh đạo bệnh viện chỉ đạo xây dựng danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện với chính sách ưu tiên thuốc sản xuất trong nước Nhiều địa phương, bệnh viện đạt kết quả ấn tượng về sử dụng thuốc sản xuất trong nước và đạt mục tiêu của Đề án
Chương trình phát triển y dược cổ truyền với y dược hiện đại đến năm
2030 cũng được quan tâm bằng nhiều quyết định và văn bản chỉ đạo Quyết định số 1893/QĐ-TTg ngày 29/12/2019 của Thủ Tướng Chính phủ về việc Ban hành Chương trình phát triển y dược cổ truyền, kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại đến năm 2030 Cùng hàng loạt các thông tư khác
Năm 2018 Bộ Y tế ban hành Thông tư số 19/2018/TT-BYT ngày 30/8/2018 ban hành danh mục thuốc thiết yếu [19] thay thế Thông tư 40/2013/TT-BYT, cho thấy chủ trương nâng cao vị thế, đẩy mạnh việc sử dụng dược liệu, vị thuốc YHCT, và tận dụng lợi thế của Việt Nam để phát triển và sử dụng thuốc trong nước Một trong những văn bản mới nhất được ban hành là Thông tư 13/2018/TT -BYT ngày 15/5/2018 Quy định về chất lượng dược liệu, thuốc đông y thuốc từ dược liệu Do đó chất lượng dược liệu,vị thuốc YHCT sử dụng trong Bệnh viện đã được quan tâm, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn Đối với Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương việc áp dụng Thông tư 05/2015/TT- BYT ngày 17 tháng 3 năm 2015 ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ Bảo hiểm y tế là căn cứ để đơn vị phân nhóm thuốc điều trị, tính toán tỷ lệ hư hao sau bảo quản, cân chia được áp dụng để thanh toán chi phí sử dụng thuốc với Bảo hiểm xã hội cũng như hướng dẫn sử dụng một số thuốc thanh toán có điều kiện như tam thất, nhân sâm, linh chi…
Với tất cả những giải pháp đồng bộ trên, tỷ lệ giá trị và số lượng thuốc sản xuất trong nước sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã tăng dần qua từng năm
1.1.3 Một số phương pháp phân tích danh mục thuốc
Trong các thống kê nhiều năm gần đây cho thấy, tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện thường chiếm 40% - 50% ngân sách của bệnh viện Để công tác sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần có những biện pháp cải thiện Một số công cụ để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện hiện nay là phương pháp phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN, phân tích ma trận ABC/VEN [4] Từ đó HĐT&ĐT xác định các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp [4]
1.1.3.1 Phân tích danh mục thuốc theo nhóm điều trị
Phân tích nhóm điều trị kết hợp với việc tính chi phí sử dụng thuốc giúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này sẽ gợi ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý
Ngoài ra phương pháp này sẽ chỉ ra những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể
Qua đây, HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế
Từ đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao
1.1.3.2 Phương pháp phân tích ABC
- Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn
Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở Việt Nam trong những năm gần đây
1.2.1 Thực trạng cơ cấu sử dụng thuốc YHCT tại Việt Nam
* Về cơ cấu giá trị tiền thuốc
Theo các nghiên cứu những năm gần đây, giá trị tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kinh phí bệnh viện Việc quản lý và sử dụng thuốc có hiệu quả đối với các thuốc điều trị sẽ góp phần rất lớn vào việc tiết kiệm tài chính cho đất nước và giảm gánh nặng chi phí cho người bệnh Trong năm
2015, tổng chi phí tiền thuốc chiếm khoảng 30.000 tỉ đồng, tăng gấp đôi so với năm 2012 Trong năm 2015, tiền thuốc bình quân đầu người mà người dân Việt chi để mua thuốc là 37,97 USD/năm (khoảng 800.000 đồng)
Theo báo cáo tổng kết năm 2016 thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng gần 50% nhu cầu sử dụng thuốc Tỷ lệ tăng trưởng bình quân trung bình trên
15% [10] Điều này phản ánh mức độ phát triển của ngành Dược trong nước đang dần dần đáp ứng kịp nhu cầu bệnh tật, khẳng định được thương hiệu cũng như sự tin dùng của bác sỹ, góp phần giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân
Tại Lâm Đồng năm 2016, theo nghiên cứu phân tích DMT đã sử dụng tại Bệnh viện YHCT Bảo Lộc của tác giả Hà Xuân Hiền, tỷ lệ dùng thuốc YHCT tới 96,1% [29]
Tại Vĩnh phúc năm 2017, theo nghiên cứu phân tích DMT đã sử dụng tại Bệnh viện YHCT Vĩnh phúc của tác giả Lê Thị Thu Hiền, tỷ lệ dùng thuốc YHCT tới 63,9% [30]
Tại Sơn La năm 2018, theo nghiên cứu phân tích DMT đã sử dụng tại Bệnh viện YDCT Sơn La của tác giả Vũ Thị Chiêm tỷ lệ dùng thuốc YHCT tới 80,4%
Từ năm 2008 đến nay, danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu dùng cho KCB tại các tuyến y tế đã được ban hành và cập nhật đến lần thứ VI, cho thấy thuốc YHCT ngày càng được quan tâm và trú trọng [5]
* Về cơ cấu nhóm tác dụng
Với thuốc hóa dược ngoài các nhóm thường được sử dụng nhiều như nhóm điều trị tăng huyết áp, tiểu đường thì nhóm kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý Theo kết quả nghiên cứu tại một số bệnh viện, kinh phí mua thuốc kháng sinh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng
Tại Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 cũng vậy nhóm kháng sinh đứng thứ 2 chiếm 18,1% GTSD thuốc hóa dược [30] Bệnh viện YDCT tỉnh Sơn La năm 2018 nhóm kháng sinh đứng thứ nhất chiếm 29,9% GTSD thuốc hóa dược [24]
Các nghiên cứu cho thấy thuốc kháng sinh chiếm tỉ trọng khoản mục lớn trong tổng tiền thuốc sử dụng tại Bệnh viện, nguyên nhân có thể do mô hình bệnh tật tại Việt Nam có tỉ lệ nhiễm khuẩn cao và tình trạng lạm dụng kháng
9 sinh trong điều trị bệnh, do đó tình trạng kháng kháng sinh ngày càng trở nên đáng báo động
Bên cạnh việc lạm dụng kháng sinh thì thuốc tiêm, các thuốc bổ trợ, điều trị triệu chứng cũng bị lạm dụng tại các cơ sở y tế Thuốc biệt dược gốc cũng được sử dụng rất nhiều so với các thuốc generic
Song song với việc chữa bệnh bằng YHHĐ thì phương pháp chữa bệnh bằng YHCT cũng được nhân dân ta tin tưởng sử dụng Nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước ngày càng tăng và các doanh nghiệp ngày càng tham gia nhiều vào lĩnh vực sản xuất các sản phẩm từ dược liệu Trong khi đó dược liệu Việt Nam ngày càng cạn kiệt do khai thác quá mức và khai thác dược liệu ở nước ta hiện nay còn tự phát, quy mô nhỏ, chưa có định hướng phát triển nên dẫn đến sản lượng dược liệu không ổn định, giá cả biến động Nguồn dược liệu hiện nay của ta chủ yếu nhập từ Trung Quốc qua đường chính nghạch và tiểu nghạch Chất lượng dược liệu nhập khẩu khó quản lý, kiểm soát Với vị thuốc YHCT tại Bệnh viện YHCT tỉnh Lâm Đồng nhóm bổ huyết chiếm 21,1% tổng GTSD vị thuốc YHCT, nhóm bổ khí chiếm 17,7% tổng GTSD vị thuốc YHCT [29] Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc nhóm thuốc bổ khí chiếm 17,9% tổng GTSD vị thuốc YHCT, nhóm bổ huyết chiếm 13% tổng giá trị vị thuốc YHCT [30] Bệnh viện YDCT tỉnh Sơn La nhóm thuốc phát tán phong thấp chiếm 21,8% tổng GTSD vị thuốc YHCT, nhóm hoạt huyết khứ ứ 14,4% tổng GTSD vị thuốc YHCT [24]
* Về nguồn gốc xuất xứ
Cùng một dược chất, dạng bào chế, thuốc có nguồn gốc nhập khẩu thường có giá cao hơn thuốc sản xuất trong nước, vì chi phí về bảo quản, vận chuyển hoặc do chiến lược định giá của các hãng khác nhau.Việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước sẽ chủ động nguồn cung ứng mang lại lợi ích kinh tế cho bệnh viện và người bệnh Tuy nhiên, tỷ lệ chi phí cho thuốc có nguồn gốc trong nước cũng có sự khác nhau giữa các bệnh viện
Tại Bệnh viện YDCT Sơn La, thuốc sản xuất trong nước có SKM 57,8% chiếm 53,3% GTSD [24] Bệnh viện YHCT Bảo Lộc, thuốc sản xuất trong nước có SKM 53,3% chiếm 21,4% GTSD [29] Đối với vị thuốc YHCT, hiện nay một số cơ sở KCB tự chế biến được các vị thuốc theo phương pháp YHCT Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chế biến 250 vị thuốc YHCT, chiếm 100% vị thuốc YHCT sử dụng tại bệnh viện Bệnh viện YHCT thành phố Hồ Chí Minh chế biến được
214 trong tổng số 267 vị thuốc CT, chiếm 80% về tỷ lệ
* Về dạng thuốc sử dụng
Việc sản xuất thuốc tiêm cần có công nghệ cao, dây truyền sản xuất hiện đại, trang thiết bị phức tạp hơn so với các thuốc khác Do đó, giá thành chi phí cho thuốc tiêm cũng như việc sử dụng loại thuốc này thường cao hơn các dạng thuốc khác rất nhiều lần Nhưng thực tế ở các bệnh viện hiện nay, các dạng thuốc tiêm được sử dụng với tỷ lệ chi phí rất cao trong tổng số chi phí sử dụng thuốc, đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ương
Vài nét cơ bản của bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương
Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương là bệnh viện hạng II đầu ngành của tỉnh về YHCT, với quy mô 245 giường bệnh đã có nhiều thành tựu trong lĩnh vực kế thừa và nghiên cứu khoa học, cơ sở vật chất, trang thiết bị cơ bản đáp ứng cho công tác khám chữa bệnh Năm 2021 là năm tình hình chính trị xã hội và kinh tế có nhiều biến động Do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 dẫn đến suy thoái kinh tế cả nước nói chung và Hải Dương nói riêng Vì vậy bệnh viện cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác khám chữa bệnh, số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị giảm so với năm trước, bệnh viện chưa hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được giao CBVC - NLĐ luôn nêu cao ý thức tổ chức, thực hiện tốt chức trách cá nhân, nội quy quy chế, chế độ chuyên môn, chức năng nhiệm vụ của khoa phòng, bệnh viện, nêu cao y đức của người thầy thuốc, phát huy tinh thần thái độ phục vụ, kỹ năng giao tiếp ứng xử, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, kết hợp chặt chẽ giữa YHHĐ với YHCT trong công tác khám chữa bệnh, từng bước hiện đại hóa YHCT
Bệnh viện có chức năng thực hiện khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại; nghiên cứu khoa học; bảo tồn và phát triển y, dược cổ truyền; chỉ đạo tuyến; là cơ sở thực hành về y, dược cổ truyền của các cơ sở đào tạo y, dược
Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Hải Dương là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hạng II trực thuộc Sở Y tế với quy mô giường bệnh được giao là 245 giường, thực kê là 294 giường Gồm 17 khoa phòng: (04 phòng chức năng; 13 khoa chuyên môn)
TT Trình độ chuyên môn ĐVT Tổng số
6 Cán bộ chuyên môn khác: Người 24
STT Nhóm bệnh Mã ICD Tần xuất Tỷ lệ(%)
1 Bệnh lý tăng huyết áp I10 3,334 20
2 Bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insuline E11 2,820 17
Rối loạn chuyển hóa lipoprotein và tình trạng tăng lipid máu khác
9 Viêm dạ dày và tá tràng K29 383 2.3
10 Viêm mũi, viêm mũi họng, viêm họng mãn tính J31 355 2.1
1.4.5 Khoa dược Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho
TT Trình độ chuyên môn ĐVT Tổng số
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của HĐT & ĐT
- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
- Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, bào chế thuốc đông y, sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo; là cơ sở thực hành của các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học về dược
- Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện
- Tham gia chỉ đạo tuyến
- Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
1.3.5.3 Tổ chức của khoa dược
Hình 1.1 Mô hình tổ chức khoa dược Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương
1.4.6 Một vài nét về sử dụng thuốc tại Bệnh Viện Y học cổ truyền Hải Dương
Bệnh viện YHCT tỉnh Hải Dương là bệnh viện chuyên khoa về YHCT thực hiện chức năng KCB bằng YHCT cao nhất địa phương kết hợp với YHHĐ Với đội ngũ cán bộ y bác sĩ, dược sĩ được đào tạo chuyên sâu về YHCT, bệnh
18 viện ngày càng khẳng định vị thế của mình trong công tác đào tạo, nghiên cứu cũng như trong hoạt động khám và điều trị tại cơ sở Mô hình bệnh tật tại bệnh viện được sắp xếp phân loại theo quốc tế về bệnh tật ICD lần thứ 10 Trong những năm gần đây, lượng bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện ngày một tăng (16.637 lượt), với mô hình bệnh tật ngày một phức tạp dẫn tới việc sử dụng các loại thuốc cũng như tổng giá trị sử dụng thuốc tại bệnh viện ngày một tăng cao (năm 2021 tiền thuốc sử dụng tại bệnh viện là 6.881.197 nghìn đồng) ít nhiều ảnh hưởng tới việc lựa chọn và cung ứng thuốc của đơn vị Tuy nhiên, hiện nay hoạt động của HĐT & ĐT trong lựa chọn và xây dựng DMT sử dụng tại bệnh viện còn mang tính truyền thống, chưa chú trọng đúng mức, để thực sự lựa chọn được một danh mục thuốc phù hợp với tình hình tại
Khắc phục tình trạng trên, hàng năm bệnh viện đã ban hành DMT sử dụng tại bệnh viện phù hợp với mô hình bệnh tật và phạm vi chuyên môn cũng như nguồn ngân sách bệnh viện Tuy nhiên trên thực tế, thực trạng DMT sử dụng trong bệnh viện cần được xem xét, đánh giá lại đã thực sự hợp lý hay chưa, nên cân nhắc lựa chọn thay thế những loại thuốc đắt tiền bằng các thuốc có tác dụng điều trị tương đương có giá thành rẻ hơn đồng thời nên hạn chế những thuốc có tác dụng không rõ ràng, không thật sự cần thiết để tiết kiệm nguồn ngân sách cho đơn vị.
Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Hải Dương là bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối của tỉnh về YHCT, với chức năng nhiệm vụ chính là kế thừa, phát huy và phát triển YHCT, kết hợp giữa YHCT với YHHĐ trong điều trị và dự phòng , với mô hình bệnh tật ngày càng đa dạng, cần sử dụng nhiều loại thuốc chuyên khoa để phục vụ cho công tác điều trị Chính vì vậy, công tác lựa chọn, cung ứng thuốc cũng gặp không ít, khó khăn Bệnh viện đã từng bước triển khai và tăng cường các biện pháp sử dụng thuốc hợp lý, an toàn hiệu quả trong điều trị Tuy nhiên, công tác cung ứng thuốc và công tác quản lý sử dụng thuốc của
19 bệnh viện vẫn còn gặp nhiều khó khăn bất cập Do nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó để tăng cường chất lượng danh mục thuốc trong bệnh viện và sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và đảm bảo chi phí hợp lý cho người bệnh đang là vấn đề cấp thiết hiện nay Xuất phát từ thực tế của bệnh viện trong những năm vừa qua tôi tiến hành đề tài “ Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021”
Từ đó nhằm giúp việc quản lý, sử dụng thuốc tại bệnh viện hợp lý hơn, nâng cao hiệu quả điều trị của công tác khám chữa bệnh
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các thuốc thuộc danh mục thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021
- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2021 đến 31/12/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương.
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến Định nghĩa/Giải thích Phân loại biến
Nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc chế phẩm
- Thuốc hóa dược quy định tại Thông tư 30/20118/TT-BYT
- Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu quy định tại Thông tư 05/2015/TT- BYT
Bảng thu thập số liệu, báo cáo sử dụng thuốc thang năm
Nhóm tác dụng dược lý
- Các thuốc được phân nhóm tác dụng dược lý theo Thông tư 30/20118/TT-BYT
- Các thuốc đông y, thuốc từ dược liệu phân nhóm tác dụng dược lý Thông tư 05/2015/TT-BYT
Bảng thu thập số liệu
STT Tên biến Định nghĩa/Giải thích Phân loại biến
Nguồn gốc xuất xứ của thuốc
- Thuốc sản xuất trong nước
Bảng thu thập số liệu
- Thuốc đơn thành phần là thuốc chỉ có một thành phần hoạt chất chính
- Thuốc đa thành phần là thuốc có từ hai thành phần có hoạt chất trở lên
Bảng thu thập số liệu
Generic, thuốc biệt dược gốc
Phân loại thuốc theo SKM và GTSD thành 2 nhóm
- Thuốc Generic: là một tên duy nhất được công nhận trên toàn cầu
Bảng thu thập số liệu
Thuốc sử dụng theo đường dùng
-Thuốc có đường là tiêm, truyền
-Thuốc có đường là uống
- Thuốc có đường khác: Xịt, bôi, đặt…
Bảng thu thập số liệu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy số liệu bằng phương pháp hồi cứu về thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện YHCT tỉnh Hải Dương năm 2021 với các nội dung được trình bày trong hình 2.2
Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu
Phân tích cơ cấu thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021
Mô tả cơ cấu thuốc đã sử dụng tại
Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021
Phân tích cơ cấu thuốc đã sử dụng tại bệnh viện năm 2021 bằng phương pháp phân tích ABC/VEN
- Nguồn gốc thuốc hóa dược, thuốc chế phẩm YHCT
- Thuốc theo nhóm tác dụng dược lý
- Thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ
- Thuốc Generic, thuốc biệt dược gốc
Kết quả, bàn luận Đề xuất, kiến nghị
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu a) Công cụ thu thập số liệu
- DMT bệnh viện sử dụng năm 2021 tại bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương
- Kinh phí mua thuốc năm 2021 theo DMTBV lưu tại phòng tài chính kế toán
- Báo cáo sử dụng thuốc của khoa Dược – Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021 b) Quá trình thu thập số liệu
- Các thông tin thu thập: tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng đã sử dụng, giá trị sử dụng, nguồn gốc xuất xứ, nhóm tác dụng dược lý, đường dùng…
- Thu thập thuốc thang dựa trên báo cáo thuốc thang theo ICD ra viện của phần mềm bệnh viện Phân loại theo nhóm bệnh căn cứ vào phụ lục 05 danh mục mã bệnh y học cổ truyền kèm theo Quyết định số 6061/QĐ-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành bộ mã danh mục dùng chung áp dụng trong khám chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế
- Các thông tin trên được đưa vào “Biểu mẫu thu thập số liệu danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021” (theo mẫu phụ lục 01)
Tất cả các thuốc đã được sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021 từ 01/01/2021 đến 31/12/2021 trừ các loại bông băng cồn gạc
2.2.5 Xử lý và phân tích số liệu
- Xử lý danh mục thuốc trước khi tiến hành phân tích: Trường hợp một thuốc nhưng có nhiều đơn giá khác nhau, làm cho danh mục bị tách thành nhiều khoản mục thì sẽ tính tổng số lượng và giá trị để thuốc chỉ là một khoản mục, đơn giá lúc này là đơn giá bình quân
- Phân loại thuốc theo nhóm tác dụng dược lý: Thuốc hóa dược phân loại thành 12 nhóm quy định trong Thông tư 30/2018/TT-BYT Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu phân loại thành 10 nhóm, thuốc thang YHCT phân loại thành
18 nhóm quy định trong Thông tư 05/2015/TT-BYT
- Phân loại thuốc theo các chỉ tiêu: Theo nhóm tác dụng dược lý, thuốc sản xuất trong nước- thuốc nhập khẩu; thuốc đơn thành phần- đa thành phần; thuốc theo đường dùng tiêm- uống- khác
- Tổng hợp toàn bộ những dữ liệu của các khoản mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021 trên cùng một bàn tính Excell
* Phương pháp phân tích nhóm điều trị
- Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc
- Sắp xếp lại danh mục thuốc theo nhóm điều trị và tổng hợp giá trị phần trăm của mỗi thuốc cho mỗi nhóm điều trị để xác định nhóm điều trị nào chiếm chi phí lớn nhất
* Phương pháp phân tích ABC
- Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Đây là phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa” Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu sử dụng thuốc cho chu kỳ một năm hoặc ngắn hơn để ứng dụng cho một hoặc nhiều đợt đấu thầu, từ các kết quả phân tích thu được, các giải pháp can thiệp được đưa ra nhằm điều chỉnh ngân sách thuốc cho một hoặc nhiều năm tiếp theo
- Phân tích ABC là một công cụ mạnh mẽ trong lựa chọn, mua sắm, cấp phát và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan về sử dụng ngân sách thuốc
- Phân tích ABC có nhiều lợi ích: Trong lựa chọn thuốc, phân tích được thuốc nhóm A, có chi phí cao, các thuốc này có thể được thay thế bằng các thuốc rẻ hơn; trong mua hàng, dùng để xác định tần xuất mua hàng: Mua thuốc nhóm A nên thường xuyên hơn, với số lượng nhỏ hơn, dẫn đến hàng tồn kho thấp hơn, bất kỳ giảm giá của các loại thuốc nhóm A có thể dẫn đến tiết kiệm đáng kể ngân sách Do nhóm A chiếm tỷ trọng ngân sách lớn nên việc tìm kiếm nguồn chi phí thấp hơn cho nhóm A như tìm ra dạng liều hoặc nhà cung ứng rẻ hơn là rất quan trọng Theo dõi đơn hàng nhóm A có tầm quan trọng đặc biệt, vì sự thiếu hụt thuốc không lường trước có thể dẫn đến mua khẩn cấp thuốc với giá cao Phân tích ABC có thể theo dõi mô hình mua tương tự như quyền ưu tiên trong hệ thống y tế
Các bước phân tích ABC:
- Tính số tiền cho mỗi sản phẩm bằng cách nhân đơn giá với số lượng sản phẩm Tổng số tiền sẽ bằng tổng của lượng tiền cho mỗi sản phẩm thuốc
- Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm thuốc chia cho tổng số tiền
- Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giá trị giảm dần
- Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm; bắt đầu với sản phẩm số 1, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
- Phân hạng sản phẩm như sau:
KẾT QUẢ
Mô tả cơ cấu DMT sử dụng tại bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương năm 2021
3.1.1 Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc hóa dược, thuốc đông y thuốc từ dược liệu
DMT sử dụng thực tế tại Bệnh viện Y học Cổ Truyền tỉnh Hải Dương năm 2021 được xây dựng gồm toàn 107 thuốc hóa dược , chế phẩm YHCT và
45.140 thang thuốc Đây là danh mục chính thức được luận văn sử dụng để phân tích cơ cấu, tính hợp lý của DMT sử dụng Cơ cấu DMT được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Cơ cấu DMT sử dụng tại Bệnh viện Y học Cổ Truyền tỉnh Hải Dương năm 2021
STT Nhóm thuốc SKM TL %
2 Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 27 19,2 1.219.277 17,7
DMT sử dụng tại bệnh viện chia làm 03 nhóm: thuốc hóa dược, thuốc đông y thuốc từ dược liệu và thuốc thang YHCT
Trong đó thuốc thang YHCT có SKM chiếm 24,1% SKM tương ứng 28,5 % tổng GTSD, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu 19,2 % SKM chiếm 17,7
% tổng GTSD, thuốc hóa dược chiếm tỷ lệ 56,7 % SKM chiếm 53.8% tổng GTSD Tổng giá trị sử dụng của thuốc thang YHCT, thuốc đông y thuốc từ dược liệu 46,2 % nhỏ hơn thuốc hóa dược (53,8%)
3.1.2 Phân tích cơ cấu DMT sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý nhóm thuốc hóa dược, vị thuốc YHCT, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
3.1.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược theo nhóm tác dụng dược lý
- Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược theo nhóm tác dụng dược lý được thể hiện ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Cơ cấu DMT hóa dược theo nhóm tác dụng dược lý
STT Nhóm thuốc SKM TL% Giá trị (nghìn đồng)
1 Thuốc điều trị các bệnh nội tiết
4 Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid, thuốc điều trị gút và các bệnh về xương khớp
6 Thuốc tác động lên hệ thần kinh
7 Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
9 Thuốc điều trị bệnh mắt ,tai, mũi , họng
10 Thuốc làm mềm cơ và ức chế cholinesterase 2 2,5 9.466
Kết quả phân tích cho thấy có 06 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn chiếm hơn 96% tổng giá trị tiền thuốc hóa dược và chiếm hơn 68% số khoản mục thuốc Trong đó nhóm thuốc điều trị các bệnh nội tiết chiếm giá trị sử dụng nhiều nhất 41% và 8,7% về số khoản mục, tiếp đến là nhóm tim mạch chiếm giá trị sử dụng là 31,1% và chiếm 20% về số khoản mục Các nhóm còn lại chiếm tỷ lệ thấp về giá trị sử dụng So sánh với mô hình bệnh tật của bệnh viện là tương đối phù hợp
3.1.2.2 Cơ cấu thuốc thang theo nhóm bệnh
Cơ cấu thuốc thang được thể hiện ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Cơ cấu thuốc thang
STT Nhóm bệnh Số thang TL% Giá trị (VNĐ) TL%
Kết quả trong bảng trên cho thấy thuốc thang YHCT sử dụng với 45.140 thang thuốc được chia thành 34 nhóm tác dụng theo y lý YHCT theo Quyết định số 6061/QĐ-BYT ngày 29/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành bộ mã danh mục dùng chung áp dụng trong khám chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế Trong đó nhóm bệnh sử dụng có GTSD cao: Nhóm Yêu thống cao nhất chiếm 39,74% GTSD, Nhóm Chứng tý xếp thứ hai chiếm 36,8% GTSD, nhóm xếp thứ 3 là nhóm Bán thân bất toại chiếm 14,7% GTSD, tiếp theo là nhóm Lạc chẩm 5,8% Đây cũng là các nhóm bệnh đặc trưng của bệnh viện YHCT, phù hợp với tình hình bệnh tật tại bệnh viện, các bệnh nhân đến khám chủ yếu là những người cao tuổi, mắc các bệnh mạn tính xương khớp, suy nhược do tuổi già, liệt nửa người…
3.1.2.3 Cơ cấu danh mục thuốc thang, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu theo y lý YHCT
Cơ cấu DM thuốc thang, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu theo y lý YHCT được thể hiện ở bảng 3.4
Bảng 3.4 Cơ cấu DM thuốc thang, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu theo y lý YHCT
STT Nhóm thuốc SKM TL% Giá trị (VNĐ) TL%
1 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 15 24,6 2.115.329.704 66,4
Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm
Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì
Nhóm thuốc chữa các bệnh về Âm, về
6 Nhóm thuốc chữa bệnh về phế 4 6,6 35.320.698,31 1,1
8 Nhóm thuốc chữa bệnh về ngũ quan 4 6,6 18.570.426,92 0,6
Nhóm thuốc chữa các bệnh về Dương, về Khí 3 4,9 18.271.791,97 0,6
Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy
Từ kết quả bảng trên cho thấy DM thuốc thang, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện với 61 SKM được chia thành 10 nhóm tác dụng theo y lý YHCT đầy đủ với Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế quy định ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT thuộc phạm vi thanh toán của Bảo hiểm Y tế
Nhóm thuốc khu thấp trừ phong có số lượng khoản mục cao nhất là 15 KM và cũng chiếm GTSD cao nhất 66,4% Nhóm thuốc có GTSD nhiều thứ 2 là nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm chiếm 17,5% GTSD Nhóm có giá trị sử dụng nhỏ nhất là nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy chỉ chiếm 1 KM tương tứng 0,5% GTSD Như vậy căn cứ vào mô hình bệnh tật tại bệnh viện thì giá trị các thuốc sử dụng có nguồn gốc dược liệu là tương đối phù hợp
3.1.3 Phân tích cơ cấu DMT được sử dụng theo nguồn gốc, xuất xứ
Cơ cấu DMT theo nguồn gốc xuất xứ được thể hiện ở bảng 3.5
Bảng 3.5 Cơ cấu DMT theo nguồn gốc xuất xứ
Stt Nhóm thuốc Xuất xứ SKM TL
Thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
SKM vị thuốc YHCT để làm nên 1 thang thuốc YHCT có nguồn gốc nhập khẩu và sản xuất trong nước có sự chênh lệch không nhiều song GTSD lại có sự chênh lệch rất lớn (GTSD của vị thuốc nhập khẩu chiếm 80,4%; GTSD của vị thuốc sản xuất trong nước là 19,6%)
Nhóm chế phẩm sử dụng 100% các chế phẩm sản xuất trong nước từ đó cho thấy bệnh viện đã rất chú trọng sử dụng các thuốc chế phẩm YHCT được sản xuất trong nước góp phần thúc đẩy sự phát triển các loại thuốc YHCT của nước nhà
Số lượng KM thuốc hóa dược sản xuất trong nước đã chiếm tới 51,2% SKM, trong khi thuốc nhập khẩu chỉ chiếm 48,8% SKM thuốc hóa dược được sử dụng Tuy nhiên GTSD thuốc hóa dược nhập khẩu lại lớn hơn rất nhiều so với thuốc hóa dược sản xuất trong nước (Thuốc hóa dược sản xuất trong nước chỉ chiếm 21,5% GTSD, thuốc hóa dược nhập khẩu chiếm 78,5% GTSD)
Thuốc sản xuất trong nước chiếm SKM lớn hơn nhưng GTSD lại nhỏ hơn, bệnh viện cần ưu tiên lựa chọn thuốc SX trong nước nhiều hơn trong những năm tiếp theo để giảm chi phí điều trị cho người bệnh
3.1.4 Phân tích cơ cấu DMT được sử dụng theo thuốc đơn thành phần/đa thành phần
Cơ cấu DMT theo thành phần được thể hiện ở bảng 3.6
Bảng 3.6 Cơ cấu DMT theo thành phần
STT Nhóm Thuốc SKM TL
* Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy thuốc đơn thành phần chiếm 47,5% SKM tương ứng 45,6% GTSD, thuốc đa thành phần chiếm 52,5% SKM
35 tương ứng 54% GTSD Đây là do đặc trưng của bệnh viện YHCT dùng nhiều thuốc thang để điều trj cho bệnh nhân
3.1.5 Phân tích cơ cấu DMT được sử dụng theo tên gốc, tên generic
Bảng 3.7 Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược sử dụng theo thuốc biệt dược gốc và thuốc generic
STT Nhóm thuốc SKM TL % Giá trị (nghìn đồng) TL %
Theo kết quả ở bảng 3.7 thuốc biệt dược gốc là chiếm tỷ lệ nhỏ 11.25% SKM chiếm 12,5% GTSD Thuốc generic chiếm 88,75% SKM tương ứng 87,5% GTSD Như vậy việc sử dụng thuốc generic là chủ yếu Đây cũng là khuyến cáo của Bộ Y tế nhằm giảm chi phí tiền thuốc giúp giảm chi phí trong điều trị
3.1.6 Phân tích cơ cấu DMT sử dụng theo đường dùng
Cơ cấu DMT theo đường dùng được thể hiện ở bảng 3.8
Bảng 3.8 Cơ cấu DMT theo đường dùng
STT Nhóm thuốc SKM TL % Giá trị (nghìn đồng)
Từ kết quả bảng trên DMT sử dụng theo đường tiêm chiếm 16,3% SKM tương ứng 15,9% GTSD, đường uống có SKM sử dụng nhiều nhất chiếm 78,7
% SKM ứng với giá trị sử dụng cao nhất 82,5% GTSD Đường dùng khác chiếm tỉ lệ rất nhỏ 1,6% GTSD Qua kết quả trên cho thấy các Bác sỹ bệnh viện đã thực hiện đúng quy chế chuyên môn về sử dụng thuốc Thuốc tiêm chỉ sử dụng trong các bệnh có tính cấp tính, bệnh nhân không uống được hoặc cần tác dụng nhanh… để hạn chế tai biến trong điều trị Chủ yếu dùng thuốc theo đường uống đây cũng là đặc trưng của bệnh viện YHCT là điều trị các bệnh mãn tính dài ngày từ đó cho thấy cách dùng thuốc tại bệnh viện khá hợp lý.
Phân tích DMT sử dụng năm 2021 theo phương pháp ABC/VEN
3.2.1 Phân tích DMT theo phương pháp phân tích ABC
Phân tích DMT đã sử dụng bằng phương pháp phân tích ABC nhằm phân định ra những thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Kết quả phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện YHCT Hải Dương được thể hiện ở bảng 3.9
Bảng 3.9 Bảng DMT theo phương pháp phân tích ABC
Kết quả phân tích cho thấy:
- 79,5% giá trị thuốc hạng A chiếm 19,1% tổng SKM
- 15,2% giá trị thuốc hạng B chiếm 19,9% tổng SKM
- 5,3% giá trị thuốc hạng C chiếm 61% tổng SKM Đối chiếu với hướng dẫn phân tích ABC trong thông tư 21/2013/TT-BYT thì cơ cấu thuốc sử dụng tại Bệnh viện YHCT Hải Dương năm 2021 là phù hợp
* Để đánh giá thuốc có chi phí cao có thể được thay thế bằng thuốc rẻ hơn, thuốc nhóm này có được sử dụng hợp lý và hiệu quả hay không ta phân tích cơ cấu Hạng A
Cơ cấu thuốc Hạng A theo nhóm tác dụng dược lý được thể hiện ở bảng 3.10
Bảng 3.10 Cơ cấu thuốc hạng A theo nhóm tác dụng dược lý của
STT Nhóm thuốc SKM TL% Giá trị (VNĐ) TL%
1 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 6 22,2 2.075.154.246 37,9
2 Thuốc điều trị các bệnh nội tiết 6 22,2 1.481.263.340 27
Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm
6 Thuốc tác động lên hệ thần kinh 1 3,7 101.760.000 1,9
Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì
Các thuốc thuộc nhóm A được chia thành 8 nhóm tác dụng dược lý Nhóm có tỷ lệ GTSD cao nhất là nhóm thuốc khu phong trừ thấp gồm 6 SKM chiếm 37,9% về giá trị sử dụng Các nhóm thuốc tiếp theo có GTSD lớn là nhóm thuốc điều trị các bệnh nội tiết, tim mạch Nhóm Vitamin và khoáng chất và nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm cũng nằm trong danh sách có GTSD lớn, những nhóm thuốc này thường dùng để hỗ trợ điều trị, vì vậy cần cân nhắc giảm bớt sử dụng để tăng cường kinh phí sử dụng cho các nhóm thuốc cần thiết khác, đảm bảo phù hợp giữa chi phí và hiệu quả
3.2.2 Phân tích DMT theo phương pháp phân tích VEN
Phân tích DMT theo phương pháp phân tích VEN thể hiện ở bảng 3.11
Bảng 3.11 Bảng Phân tích DMT theo phương pháp phân tích VEN
Giá trị sử dụng Khoản mục Giá trị
Tỷ lệ (%) Số KM Tỷ lệ (%)
Từ kết quả phân tích VEN cho thấy:
Thuốc nhóm E có GTSD cao nhất 91,05% tổng GTSD với số KM cao nhất với 108 KM chiếm 76,6% tổng SKM Đây là những thuốc cần thiết cho chăm sóc sức khỏe của đại đa số nhân dân vì vậy cần phải đảm bảo đủ về số lượng và giá cả phù hợp
Thuốc nhóm V có GTSD thấp nhất chiếm 1,73% tổng GTSD thuốc hóa dược, thuốc thang, thuốc từ dược liệu, với SKM chiếm 9,22% tổng SKM Tuy nhiên đây là nhóm tối cần thiết dung để cứu sống người bệnh không thế thiếu trong điều trị
Thuốc nhóm N là nhóm thuốc không cần thiết trong điều trị gồm 20 SKM
3.2.3 Phân tích DMT sử dụng theo ma trận ABC/VEN
Phân tích DMT sử dụng theo ma trận ABC/VEN được thể hiện qua bảng 3.12
Bảng 3.12 Bảng phân tích DMT sử dụng theo ma trận ABC/VEN
STT Hạng Khoản mục Giá trị sử dụng
Số KM Tỷ lệ (%) Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ (%)
Nhìn chung ở cả 3 hạng A, B, C thuốc nhóm E chiếm nhiều nhất về cả SKM và GTSD Nhóm AE chiếm 75,35%, nhóm BE chiếm 12,07%, nhóm CE chiếm 3,63% tổng GTSD
Các nhóm thuốc cần thiết trong quá trình điều trị là AV gồm 1 SKM chiếm 0,9% GTSD; nhóm BV gồm 1 SKM chiếm 0,52% GTSD; nhóm CV gồm 11 SKM chiếm 0,3% GTSD Về GTSD tổng 3 nhóm này chiếm tỷ lệ tương đối thấp 1,72% Tuy nhiên cần phải quan tâm đến việc đạt hang và dự trữ trong kho các nhóm thuốc này một lượng an toàn
Nhóm CN gồm 14 SKM chiếm 1,32% đây là nhóm thuốc ít quan trọng và có GTSD không lớn nên không cần quan tâm nhiều Tuy nhiên với nhóm thuốc AN gồm 2 SKM chiếm 3,31% về GTSD đây là nhóm thuốc ít quan trọng
40 nhưng lại có GTSD lớn Với mong muốn giảm chi phí khi nguồn kinh phí của bệnh viện không đủ để mua toàn bộ các thuốc Vì vậy cần phân tích thêm nhóm
AN, xem xét để hạn chế hoặc loại bỏ các thuốc không cần thiết ra khỏi danh mục thuốc của bệnh viện
- Cơ cấu thuốc tiểu nhóm AN theo nhóm tác dụng được thể hiện ở bảng 3.20
Bảng 3.13 Cơ cấu thuốc tiểu nhóm AN theo nhóm tác dụng dược lý của thuốc hóa dược, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu
STT Nhóm thuốc SKM Tỷ lệ
% Giá trị (VNĐ) Tỷ lệ
Nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm
Các thuốc ít quan trọng nhưng lại có GTSD lớn tập trung vào nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm chiếm tỷ lệ GTSD là 64,7%
*Các thuốc cụ thế trong nhóm AN
STT Tên thuốc Thành phần Đơn vị tính Đơn giá
1 Ceginkton đinh lăng + bạch quả Viên 1.835 80.451 147.627.585 64,7
Lá lốt, ngải cứu, can khương, địa liền, thiên niên kiện, quế chi
Qua kết quả phân tích nhóm AN có 02 thuốc trong đó có thuốc Ceginkton có GTSD cao nhất là chiếm 64,7% và tiếp theo là Thuốc ngâm chân chiếm 35,3% Nhóm AN gồm các thuốc không thiết yếu có tác dụng hỗ trợ trong quá trình điều trị Vì vậy bệnh viện cần xem xét kỹ khi sử dụng các loại thuốc này
BÀN LUẬN
Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương năm 2021
4.1.1 Cơ cấu danh mục thuốc theo nhóm tác dụng
Khi xây dựng danh mục thuốc Bệnh viện YHCT tỉnh Hải Dương xây dựng DMT đã dựa trên Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ
Y tế quy định ban hành DMT đông y thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT thuộc phạm vi thanh toán của Bảo hiểm Y tế [7] và Thông tư 30/2018/TT-BYT về việc ban hành DMT tân dược thuộc phạm vi thanh toán quỹ bảo hiểm y tế
[22] Do đó 100% DMT sử dụng là DMT chủ yếu của Bộ Y tế ban hành và thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT
DMT của bệnh viện gồm ba phần là thuốc hóa dược, thuốc đông y thuốc từ dược liệu và thuốc thang YHCT, trong đó thuốc thang YHCT chiếm tỷ lệ 99,76% KM tương ứng 28,5% tổng GTSD và thuốc đông y thuốc từ dược liệu chiếm tỷ lệ 0.06% KM chiếm 17,7% tổng GTSD, thuốc hóa dược chiếm 0,18%
Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Hải Dương là bệnh viện chuyên khoa về YHCT nên việc khám chữa bệnh chủ yếu bằng thuốc đông y thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT và các thủ thuật YHCT kết hợp YHHĐ và phục hồi chức năng, thuốc hóa dược như nhóm kháng sinh và nhóm giảm đau kháng viêm chỉ dùng trong đợt cấp tính của bệnh và cấp phát ngoại trú Năm 2021 tỷ lệ thuốc thuốc đông y thuốc từ dược liệu và thuốc thang YHCT ở mức khoảng 50/50 là chưa phù hợp với bệnh viện chuyên khoa YHCT do những nguyên nhân khách quan mang lại như đại dịch covid -19 đã làm thay đổi cơ cấu sử dụng các loại thuốc của bệnh viện
Tại Bệnh viện YHCT Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng năm 2016, thuốc đông y thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT chiếm 96,1% tổng GTSD, thuốc hóa dược 3,9% tổng GTSD [29]; Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 thuốc thuốc đông y thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT là 63,9% tổng GTSD, thuốc hóa
43 dược chiếm 36,1% tổng GTSD [30] Bệnh viện YDCT tỉnh Sơn La năm 2018 là 80,4% tổng GTSD, thuốc hóa dược chiếm 19,6% tổng GTSD [24]
So sánh với kết quả nghiên cứu của các bệnh viện trên cho thấy tỷ lệ sử dụng giữa thuốc đông y thuốc từ dược liệu, vị thuốc YHCT và thuốc hóa dược có sự chênh lệch khá nhiều Do đặc thù vùng miền và mô hình bệnh tật của từng vùng khác nhau và do thời điểm lịch sử khác nhau giữa các địa phương
Với bệnh viện YHCT tỉnh Hải Dương việc sử dụng thuốc theo tỷ lệ trên là chưa phù hợp cần xem xét có sự lạm dụng thuốc hóa dược hay không
4.1.1.1 Cơ cấu thuốc thang YHCT theo y lý YHCT
Tổng tiền chi cho thuốc thang YHCT năm 2021 tại bệnh viện là 1.964.004 nghìn được chia thành 45.140 thang thuốc Trong đó nhóm thuốc có SKM cao nhất là yêu thống 41,4 % SKM tương ứng 39,74% tổng GTSD thuốc thang YHCT
Nhóm có SKM và GTSD dụng thấp nhất là nhóm chân tâm thống chiếm 0,002% SKM và 0,0002% GTSD
Tại Bệnh YHCT Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng năm 2016,vị thuốc YHCT sử dụng cao nhất là nhóm thuốc bổ huyết chiếm 21,1% về GTSD, nhóm thuốc bổ khí đứng thứ hai chiếm 17,75% GTSD [29]; Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 nhóm thuốc bổ khí chiếm tỷ lệ sử dụng cao nhất 17.9% GTSD, nhóm thứ hai là thuốc bổ huyết 2,7% SKM chiếm 13% GTSD, thấp nhất là nhóm thuốc chỉ huyết, hồi dương cứu nghịch, thanh nhiệt giải thử [30] Bệnh viện YDCT tỉnh Sơn La nhóm thuốc có SKM và giá trị sử dụng cao nhất là nhóm phát tán phong thấp chiếm 7,4 % SKM tương ứng 21,8% tổng GTSD, nhóm thuốc hoạt huyết, khứ ứ chiếm 7,4% SKM tương ứng 14,4 % GTSD, nhóm thuốc bổ khí chiếm 5,1% SKM tương ứng 12,6 % GTSD [24]
So sánh với kết quả nghiên cứu của các bệnh viện chuyên khoa YHCT trên cho thấy, mỗi tỉnh có mô hình bệnh tật khác nhau do đặc điểm khí hậu, môi trường sống khác nhau nên việc sử dụng thuốc giữa các vùng cũng khác nhau
4.1.1.2 Cơ cấu thuốc đông y, thuốc từ dược liệu theo y lý YHCT
Tổng tiền chi cho thuốc đông y, thuốc từ dược liệu năm 2021 tại bệnh
44 viện là 3.183.281 nghìn được chia thành 10 nhóm tác dụng với 61 KM
Trong đó nhóm thuốc khu phong trừ thấp chiếm 24,6% SKM tương ứng 66,4% tổng GTSD thuốc đông y thuốc từ dược liệu Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy chiếm 1,6% SKM tương ứng 0,5% tổng GTSD thuốc đông y thuốc từ dược liệu chiếm tỷ lệ rất thấp
Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện YHCT Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng năm
2016, nhóm chữa bệnh về ngũ quan có tỷ lệ sử dụng cao nhất chiếm 85,0% SKM tương ứng 95,0% GTSD, nhóm thứ hai là nhóm thuốc chữa bệnh về dương, về khí chiếm 2,9% GTSD, nhóm thuốc chiếm tỷ lệ thấp là nhóm chữa bệnh về âm về huyết, nhóm thuốc chữa bệnh về dương khí và nhóm điều kin an thai chiếm tỷ lệ thấp 0,1% tổng GTSD [29] Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 nhóm thuốc chữa bệnh về âm về huyết tỷ lệ sử dụng cao nhất 10,5% SKM chiếm 26,8% GTSD, nhóm thứ hai là nhóm khu phong trừ thấp 15,8% SKM chiếm 16,4% GTSD, thấp nhất là nhóm thuốc dùng ngoài và nhóm chữa bệnh về ngũ quan [30]; Bệnh viện YDCT tỉnh Sơn La năm 2018, nhóm thuốc có SKM và GTSD cao nhất là nhóm thuốc an thần, định chí, dưỡng tâm 22,7% SKM tương ứng 63,5% tổng GTSD, nhóm thuốc khu phong trừ thấp13,6% SKM tương ứng 14,5 % GTSD Nhóm thuốc chiếm tỷ lệ thấp nhất nhóm thuốc giải biểu chiếm 9,1% SKM tương ứng 0,2% GTSD [24]
4.1.1.3 Cơ cấu thuốc hóa dược theo tác dụng dược lý
Tổng tiền thuốc hóa dược sử dụng trong Bệnh viện năm 2021 là 3.697.916 nghìn đồng với 80 thuốc được chia thành 12 nhóm tác dụng theo Thông tư số 30/2018/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành danh mục và tỉ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế [22]
Trong đó nhóm thuốc điều trị các bệnh nội tiết có GTSD nhiều nhất với 7
KM chiếm 8,75% SKM tương ứng 41% tổng GTSD thuốc hóa dược Nhóm thuốc tim mạch đứng thứ hai với 16 KM 20% SKM tương ứng 31,1% tổng GTSD thuốc hóa dược Các nhóm thuốc khác: Thuốc đường tiết niệu, thuốc làm mềm cơ chiếm tỷ lệ rất thấp
- So sánh với một số bệnh viện YHCT như tại Bệnh viện YHCT Bảo Lộc
45 tỉnh Lâm Đồng năm 2016 nhóm thuốc tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất 39,4% tổng GTSD thuốc hóa dược, nhóm thứ hai là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 18,9% tổng GTSD thuốc hóa dược và gần bằng 1% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [29]; Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 giống bệnh viện YHCT Lâm Đồng, đứng đầu là thuốc tim mạch 33,6% tổng GTSD, nhóm thứ hai là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 18,1% tổng GTSD thuốc hóa dược Tỷ lệ thuốc kháng sinh trên tổng tiền thuốc sử dụng là 6,5% [30]; Bệnh viện YDCT tỉnh Sơn La năm 2018 nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn sử dụng nhiều nhất chiếm 9,8% SKM tương ứng 29,9% tổng GTSD thuốc hóa dược và gần bằng 5,9% tổng GTSD Nhóm khoáng chất và vitamin đứng thứ hai với 9,8% SKM tương ứng 18,5% tổng GTSD [24] Điều này cho thấy số bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính: tim mạch, huyết áp, mỡ máu, tiểu đường đến với bệnh viện là rất lớn , đồng thời các thuốc trong nhóm là thuốc nhập khẩu, thuốc biệt dược nhiều lên giá thành cao, chi phí lớn
Do đó bệnh viện cũng cần điều chỉnh cho nhóm thuốc này Qua số liệu trên thể hiện rất rõ mô hình bệnh tật trong các năm gần đây tại Việt Nam nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng thì các bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp đang tăng rất nhanh
4.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ
4.1.2.1 Cơ cấu thuốc hóa dược, thuốc đông y thuốc từ dược liệu theo nguồn gốc, xuất xứ
Về phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC/VEN
4.2.1 Về phân tích danh mục thuốc theo phương pháp phân tích ABC
Kết quả phân tích ABC cho thấy tỉ lệ về KM hạng A, B, C về GTSD và SKM các nhóm thuốc là phù hợp với quy định của thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 quy định về việc tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT bệnh viện
Hạng A có GTSD cao nhất chiếm 79,5% tổng GTSD của DMT nhưng số khoản mục sử dụng lại ít chiếm 19,1% SKM Hạng B có GTSD chiếm 15,2% và 19,9% SKM Hạng C có GTSD chiếm 5,3% và 61% SKM
Từ kết quả phân tích trên cho thấy chi phí tiền thuốc sử dụng tập trung vào một số thuốc có giá trị cao và sử dụng với số lượng lớn
Kết quả phân tích ABC tại Bệnh viện YHCT khác cũng cho kết quả tương tự Bệnh viện YHCT Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng năm 2016 cũng cho kết quả tương tự Hạng A chiếm 79,6% GTSD với 9,4 % SKM, Hạng B chiếm
15,4% GTSD với 15,6% SKM, Hạng C chiếm 0,5% GTSD với 75,0 % SKM [29].Tại Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017 Hạng A chiếm 75,1% GTSD với 19,7 % SKM, Hạng B chiếm 15,4% GTSD với 15,6%, Hạng C chiếm 8,3% GTSD với 61,2 % SKM [30] Bệnh viện YDCT tỉnh Sơn La năm
2018 Hạng A có GTSD cao nhất chiếm 78,8% tổng GTSD, chiếm 14,4% tổng SKM thuốc hóa dược và thuốc đông y thuốc từ dược liệu, Hạng B chiếm 16,1% tổng GTSD với 19,3% tổng SKM, Hạng C chiếm GTSD thấp nhất 5,1% tổng GTSD với 66,3% tổng SKM [24]
DMT bệnh viện không có thuốc nào nằm ngoài DMT chủ yếu của Bộ Y tế ban hành thuộc phạm vi thanh toán của BHXH, điều này chứng tỏ HĐT&ĐT thực hiện tốt các quy định của Bộ Y tế là nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị cho người bệnh, đảm bảo quyền lợi về thuốc chữa bệnh cho người tham gia BHYT Đồng thời qua phân tích ABC cũng xác định được những thuốc nào sử dụng nhiều kinh phí, kết quả phân tích Hạng A cũng cho thấy:
Nhóm thuốc khu phong trừ thấp đứng đầu bảng về GTSD và SKM với 37,9% GTSD với 6 KM chiếm 22,2% SKM Các thuốc thuộc nhóm A là những thuốc có giá cao hoặc có số lượng sử dụng lớn Việc thay thế bằng các thuốc tương đương nhưng có giá hơn hoặc hạn chế sử dụng khi không thật sự cần thiết có thể góp phần giúp bệnh viện tiết kiệm đáng kể nguồn ngân sách Do đó nhóm thuốc này cần được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi sử dụng để tránh lãng phí
4.2.2 Về Phân tích danh mục thuốc theo phương pháp phân tích VEN
Năm 2021, kể cả những năm trước đó Hội đồng thuốc và điều trị của Bệnh viện chưa có đề tài tiến hành phân tích VEN và chưa thực hiện phân tích VEN trước khi lựa chọn thuốc đưa vào danh mục Trong đề tài này để xác định rõ hơn về cơ cấu thuốc đã sử dụng tại bệnh viện tôi tiến hành phân tích VEN Nên kết quả phân tích VEN chỉ mang tính chất chủ quan của người thực hiện đề tài, phân tích xem cơ cấu thuốc sống còn (V), các thuốc thiết yếu (E) và các thuốc không thiết yếu (N) có hợp lý hay không
Nếu như phân tích ABC chỉ ra các thuốc, nhóm thuốc sử dụng nhiều thì phân tích VEN chỉ ra cơ cấu chi phí hữu ích hoặc chưa hữu ích của bệnh viện trong sử dụng thuốc
Từ kết quả phân tích VEN đối với DMT sử dụng tại Bệnh viện YHCT tỉnh Hải Dương năm 2021 cho thấy thuốc nhóm E với 108 KM chiếm 76,6% tổng SKM có GTSD lớn nhất chiếm 91,05% tổng GTSD Nhóm N là nhóm không cần thiết với 20 KM chiếm 14,18% tổng SKM có GTSD đứng thứ 2 sau nhóm E là 7,23% tổng GTSD Thuốc nhóm V 13 KM chiếm 9,22% tổng SKM có GTSD thấp nhất 1,7% tổng GTSD
Theo nghiên cứu tại Bệnh viện YHCT tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017, thuốc nhóm E có SKM chiếm tỷ lệ cao nhất 64,8% và cao nhất GTSD 58,4% Nhóm V chiếm tỷ lệ 26,7% SKM và chiếm tỷ lệ về GTSD 39,4% Nhóm N chiếm tỷ lệ thấp nhất về SKM 8,5% cũng như GTSD 2,3% [30].Tại Bệnh viện YHCT Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng năm 2016 thuốc nhóm E có SKM chiếm tỷ lệ cao nhất 92,0% và cao nhất về GTSD 98,4% Nhóm V chiếm tỷ lệ 1,0% SKM và chiếm tỷ lệ về GTSD 0,1% Nhóm N chiếm tỷ lệ thứ hai về SKM 7,0% cũng như GTSD 1,5%
[29] Bệnh viện YDCT tỉnh Sơn La năm 2018 thuốc nhóm E với 34 KM chiếm 41% tổng SKM có GTSD chiếm 58,5% tổng GTSD Nhóm V đứng thứ hai với
30 KM chiếm 36,1% tổng SKM chiếm 10,3% tổng GTSD Thuốc nhóm N là nhóm không cần thiết trong điều trị có SKM ít nhất với 19 KM chỉ chiếm 22,9% tổng SKM nhưng có GTSD chiếm 31,2% tổng GTSD [24]
Là một bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh, có mô hình bệnh tật khá đa dạng với đặc thù về lứa tuổi của bệnh nhân Nên với cơ cấu số lượng chủng loại thuốc của bệnh viện như vậy là phù hợp với thực tế điều kiện để duy trì công tác khám chữa bệnh và thu hút người bệnh của bệnh viện
4.2.3 Về phân tích danh mục thuốc theo ma trận ABC/VEN
Qua phân tích ma trận ABC/VEN cho thấy bệnh viện đã ưu tiên sử dụng nhiều loại thuốc nhóm E và cũng phân bổ ngân sách lớn vào loại thuốc này ở cả 3 Hạng A-B-C
- Tiểu nhóm AE chiếm 75,35 % GTSD với 24 KM, chiếm 17,02 % tổng
- Tiểu nhóm không cần thiết trong nhóm này là AN có GTSD thấp chiếm 3,31% GTSD với 2 KM, chiếm 1,42% tổng SKM
- Tiểu nhóm BV là nhóm quan trọng, cần thiết cho điều trị có GTSD thấp nhất 0,52% GTSD với 1 KM, chiếm 0,71% SKM
Một số hạn chế của đề tài
Do hạn chế về mặt thời gian nên đề tài chưa đi sâu phân tích những những vấn đề có liên quan khác như kinh phí sử dụng thuốc so với tổng kinh phí của bệnh viện cũng như so với kinh phí cho các hoạt động khác, hay tỷ lệ thuốc đã sử dụng, thuốc ít sử dụng, thuốc không sử dụng v.v Đề tài đã bước đầu phân tích được nguyên nhân của những vấn đề trong DMT sử dụng Tuy nhiên chưa phân tích được kỹ hơn các thuốc có GTSD lớn: Nhóm an thần định chí dưỡng tâm, nhóm phát tán phong thấp, nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn Đề tài chưa đi xâu phân tích để đưa ra được những giải pháp can thiệp rõ ràng, cụ thể để giải quyết các vấn đề tồn tại: Sử dụng vị thuốc nhập khẩu nhiều…
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Danh mục đã sử dụng năm 2021 tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương về cơ bản phù hợp với mô hình bệnh tật và đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc phục vụ công tác KCB của Bệnh viện YHCT tỉnh Hải Dương được thể hiện
1 Về cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương năm 2021
DMT đã sử dụng tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Hải Dương năm
2021 gồm 141 thuốc chia thành 2 nhóm, thuốc hóa dược, thuốc có nguồn gốc từ dược liệu Trong đó thuốc có nguồn gốc từ dược liệu chiếm 46,2% tổng GTSD và thuốc hóa dược chiếm 53,8% tổng GTSD
+ Cơ cấu thuốc theo nhóm tác dụng: thuốc hóa dược có 12 nhóm; thuốc có nguồn gốc từ dược liệu có 10 nhóm điều trị DMT tương đối đầy đủ đáp ứng nhu cầu điều trị chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh và các vùng lân cận
+ Cơ cấu thuốc theo nguồn gốc xuất xứ: Với nhóm thuốc hóa dược GTSD của nhóm thuốc nhập khẩu lớn hơn thuốc sản xuất trong nước (tỷ lệ 8/2), thuốc đông y thuốc từ dược liệu ưu tiên sử dụng các chế phẩm sản xuất trong nước (100%); vị thuốc YHCT GTSD thuốc nhập khẩu cao gấp 4 lần thuốc sản xuất trong nước
+ Cơ cấu thuốc theo đường dùng thì thuốc đường uống có GTSD cao nhất, cao hơn GTSD thuốc đường tiêm truyền
+ Cơ cấu thuốc đơn thành phần và đa thành phần, thuốc đơn thành phần gần tương đương với thuốc đa thành phần về SKM và GTSD
+ Cơ cấu thuốc sử dụng theo thuốc biệt dược gốc và thuốc generic: thuốc generic chiếm 87,5% GTSD Số lượng thuốc biệt dược gốc chiếm chiếm 12,5% GTSD
2 Về phân tích DMT sử dụng tại Bệnh viện YHCT tỉnh Hải Dương năm 2021 theo phương pháp phân tích ABC/VEN
+ Kết quả phân tích ABC cho thấy tỉ lệ về GTSD và số KM Hạng A,B,C đều phù hợp với quy định của Bộ Y tế Hạng A có GTSD cao nhất 79,5% tổng GTSD và có SKM ít nhất 19,1% SKM Hạng B chiếm 15,2% GTSD với 19.9% SKM, Hạng C chiếm 5,3% GTSD với 61% SKM
Như vậy, chi phí tiền thuốc sử dụng tập trung vào một số thuốc có giá trị cao và sử dụng với số lượng lớn HĐT&ĐT bệnh viện xây dựng DMT theo DMT đấu thầu tập trung của Sở Y tế và không còn tình trạng nhiều biệt dược trúng thầu với nhiều hoạt chất, cùng hàm lượng, nồng độ, dạng bào chế
Tiểu nhóm AE là nhóm cần thiết cho điều trị với số KM và GT cao nhất là phù hợp Tiểu nhóm AN không cần thiết trong điều trị chiếm GTSD và SKM thấp nhất
Bệnh viện YHCT tỉnh Hải Dương là bệnh viện chuyên khoa YHCT, khám chữa bệnh bằng YHCT kết hợp YHHĐ và phục hồi chức năng DMT Bệnh viện không có thuốc nào nằm ngoài DMT chủ yếu của Bộ Y tế ban hành và thuộc danh mục thuốc được thanh toán BHYT, HĐT&ĐT cơ bản thực hiện tốt các quy định của Bộ Y tế
Từ kết quả nghiên cứu trên, để góp phần nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện, đảm bảo chi phí hợp lý và mang lại hiệu quả điều trị tối ưu nhất, tôi có một số ý kiến đề xuất sau:
- Đề nghị HĐT& ĐT xây dựng và ban hành các hướng dẫn cụ thể những nguyên tắc cơ bản trong việc lựa chọn DMT
- Về thuốc nhập khẩu: Hóa dược chiếm 78,5% GTSD, vị thuốc chiếm 80,4% GTSD Đề nghị HĐT & ĐT ưu tiên xây dựng và sử dụng thuốc hóa dược và vị thuốc YHCT sản xuất hoặc nuôi trồng trong nước để tiết kiệm ngân sách và giảm gánh nặng tài chính cho bệnh nhân cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành dược trong nước
- Trong thuốc Hạng A nhóm thuốc khu phong trừ thấp có GTSD cao nhất HĐT & ĐT cần xem xét hạn chế các thuốc trong nhóm này để thay thế bằng các thuốc cần thiết hơn, đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và tiết kiệm
- HĐT & ĐT tiến hành phân tích VEN hàng năm, đưa phương pháp phân tích ABC/VEN để đánh giá tính hợp lý và làm rõ những bất cập trong DMT tại bệnh viện trong những năm tiếp theo để xây dựng DMT phù hợp với đơn vị, đảm bảo nguồn thuốc sử dụng đáp ứng nhu cầu điều trị, phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí thấp nhất tránh tình trạng lạm dụng, chỉ định sử dụng thuốc không hợp lý
1 Bộ Y Tế (2011), Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày
10/06/2011 về việc hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
2 Bộ Y Tế (2011), Thông tư 31/2011/TT-BYT ngày 11/07/2011 về việc ban hành và hướng dẫn thực hiện Danh mục thuốc sử dụng chủ yếu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán
3 Bộ Y Tế (2012), Đề án “Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc
Việt Nam” Ban hành kèm theo Quyết định số 4824/QĐ-BYT ngày 03/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế
4 Bộ Y Tế (2013), Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/08/21013 Quy định về việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện
5 Bộ Y Tế (2013), Thông tư số 40/2013/TT-BYT ngày
18/11/2013 của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục thuốc thiết yếu thuốc đông y và thuốc từ dược liệu lần VI
6 Bộ Y Tế (2013), Thông tư số 45/2013/TT-BYT ngày
26/12/2013 của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục thuốc thiết yếu tân dược lần VI
7 Bộ Y Tế (2015), Thông tư số 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế quy định ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của Bảo hiểm Y tế
8 Bộ Y Tế (2015), Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016 –
9 Bộ Y Tế (2016), Thông tư số 11/2016/TT-BYT ngày 11/5/2016 của Bộ Y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập
10 Bộ Y Tế (2017), Báo cáo tổng kết công tác năm 2016 và Phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2017
11 Bộ Y Tế (2017), thông tư số 06/TT-BYT ngày 3/5/2017 ban hành danh mục thuốc độc và nguyên liệu độc làm thuốc