1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LÊ THỊ NGỌC LAN PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TUÂN THỦ sử DỤNG KHÁNG SINH của BỆNH NHÂN điều TRỊ NGOẠI TRÚ tại BỆNH VIỆN hữu NGHỊ VIỆT NAM CU BA KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ

61 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (10)
    • 1.1. Tuân thủ sử dụng thuốc (10)
      • 1.1.1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu (10)
      • 1.1.2. Các phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc (10)
      • 1.1.3. Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc của người bệnh (12)
    • 1.2. Tuân thủ sử dụng kháng sinh (13)
      • 1.2.1. Khái niệm tuân thủ sử dụng kháng sinh (13)
      • 1.2.2. Đặc điểm sử dụng kháng sinh (13)
      • 1.2.3. Các phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh (14)
      • 1.2.4. Tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh và các yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng kháng sinh (19)
    • 1.3. Một vài nét về bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cuba (23)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu (24)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (24)
      • 2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (24)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (25)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (25)
      • 2.2.2. Các biến số nghiên cứu (26)
      • 2.2.3. Mẫu nghiên cứu (29)
      • 2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu (30)
      • 2.2.5. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (33)
    • 2.3. Đạo đức nghiên cứu (35)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN (36)
    • 3.1. Kết quả (36)
      • 3.1.1. Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu (36)
      • 3.1.2. Mô tả thực trạng tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú tại tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba từ 17/03/2022-27/04/2022 (37)
      • 3.1.3. Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú (40)
    • 3.2. Bàn luận (46)
      • 3.2.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu (46)
      • 3.2.2. Mô tả thực trạng tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú tại tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba từ 17/03/2022-27/04/2022 (47)
      • 3.2.3. Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú (49)
      • 3.2.4. Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu (52)
  • Kết luận (53)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (55)

Nội dung

Tuy nhiên hiện nay, chưa có nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng quát về sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú tại bệnh viện cũng như đánh giá các yếu tố liên quan tới tuân thủ sử dụng

TỔNG QUAN

Tuân thủ sử dụng thuốc

1.1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế thế giới (2003), tuân thủ điều trị (treatment adherence) là mức độ hành vi của người bệnh bao gồm sử dụng thuốc, thực hiện chế độ ăn và/ hoặc thay đổi lối sống dựa trên hướng dẫn của nhân viên y tế Theo đó, tuân thủ điều trị bao gồm 2 phần: tuân thủ sử dụng thuốc và tuân thủ các biện pháp không dùng thuốc của người bệnh [32].

Tuân thủ sử dụng thuốc

Theo Hội nghị châu Âu về giám sát tuân thủ của người bệnh (2009), tuân thủ sử dụng thuốc (medication adherence) là quá trình người bệnh sử dụng thuốc theo chỉ định Trong đó, tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh được chia thành ba giai đoạn: bắt đầu sử dụng thuốc khi được kê đơn, mức độ thực hiện thuốc theo chỉ định và ngừng sử dụng thuốc Người bệnh được coi là không tuân thủ sử dụng thuốc khi: chậm hoặc không điều trị, sử dụng thuốc không đúng theo chỉ định hoặc ngừng sử dụng thuốc trước khi kết thúc đợt điều trị [29]

1.1.2 Các phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc

Có rất nhiều phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh Các phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc được chia làm 2 dạng: phương pháp đánh giá trực tiếp và phương pháp đánh giá gián tiếp

1.1.2.1 Phương pháp đánh giá trực tiếp

Phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc trực tiếp bao gồm: quan sát trực tiếp việc dùng thuốc của người bệnh, định lượng nồng độ thuốc hoặc chất chuyển hóa của nó trong máu hoặc nước tiểu và định lượng chỉ dấu sinh học (marker sinh học) trong máu [6],[12],[23]

1.1.2.2 Phương pháp đánh giá gián tiếp

Các phương pháp gián tiếp để đo lường sự tuân thủ điều trị bao gồm: đánh giá phản ứng lâm sàng, xác định số lượng thuốc còn lại, xác định tỷ lệ bổ sung đơn thuốc, thu thập bảng câu hỏi của người bệnh, sử dụng máy theo dõi thuốc điện tử, yêu cầu người bệnh ghi

4 lại nhật ký sử dụng thuốc Đặt câu hỏi cho người bệnh (hoặc sử dụng bộ câu hỏi và thang đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc), nhật ký người bệnh và đánh giá phản ứng lâm sàng là những phương pháp tương đối dễ sử dụng [23] Mỗi phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng thuốc đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, điều đó được thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng 1.1 Ưu, nhược điểm của các phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc

Phương pháp đánh giá Ưu điểm Nhược điểm

Quan sát điều trị trực tiếp Chính xác nhất Không khả thi trên thực tế Định lượng nồng độ thuốc/ chất chuyển hóa trong máu

Khách quan Thay đổi chuyển hóa có thể gây sai lệch trong đánh giá, đắt tiền Định lượng chỉ dấu sinh học trong máu

Khách quan, trong các thử nghiệm lâm sàng, có thể dùng để đánh giá giả dược (placebo)

Yêu cầu các xét nghiệm đắt tiền và việc thu thập các mẫu xét nghiệm

Bộ câu hỏi và thang đánh giá tuân thủ người bệnh Đơn giản, rẻ tiền, phương pháp hữu ích nhất trong bối cảnh lâm sàng

Dễ bị sai số giữa các lần khám

Kết quả có thể cao hơn do người bệnh báo cáo khác thực tế Đếm số thuốc còn lại Khách quan, định lượng được, dễ thực hiện

Dữ liệu dễ dàng thay đổi bởi người bệnh (VD: bỏ thuốc)

Giám sát điện tử Chính xác, kết quả dễ dàng định lượng, xây dựng mô hình dùng thuốc của người bệnh Đắt tiền Yêu cầu thu thập lại dữ liệu từ các hộp thuốc sử dụng

Theo các nghiên cứu cho thấy, mỗi phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng thuốc đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định, chưa có phương pháp nào được coi là tiêu chuẩn vàng để đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh [18]

1.1.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc của người bệnh

Theo WHO, có 5 nhóm yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh:

 Yếu tố liên quan đến kinh tế, xã hội

 Yếu tố liên quan đến liệu pháp điều trị

 Yếu tố liên quan đến người bệnh

 Yếu tố liên quan đến tình trạng bệnh

 Yếu tố liên quan đến nhân viên y tế và hệ thống chăm sóc sức khỏe

Bảng dưới đây thể hiện các yếu tố liên quan tới tuân thủ sử dụng thuốc:

Bảng 1.2 Các yếu tố liên quan tới tuân thủ sử dụng thuốc trên người bệnh Yếu tố Ảnh hưởng tích cực Ảnh hưởng tiêu cực

Kinh tế- xã hội Tình trạng kinh tế- xã hội kém, mù chữ, thất nghiệp, khả năng cung ứng thuốc hạn chế, giá thành cao

Liệu pháp điều trị Liệu pháp điều trị có chế độ liều đơn giản, ít số lần uống thuốc, ít thay đổi thuốc

Liệu pháp điều trị phức tạp, thời gian điều trị kéo dài, dung nạp thuốc kém, tác dụng không mong muốn của thuốc

Người bệnh Nhận thức về bệnh, tham gia điều trị, tích cực theo dõi

Thiếu kiến thức về bệnh và thuốc, không nhận thức về chi phí- lợi ích điều trị, không theo dõi bệnh

Tình trạng bệnh Hiểu biết và nhận thức về bệnh

Hệ thống chăm sóc sức khỏe

Mối quan hệ tốt giữa người bệnh và nhân viên y tế

Việc đào tạo cho nhân viên y tế chưa tốt, tư vấn không đầy đủ, không có phản hồi từ người bệnh

Tuân thủ sử dụng kháng sinh

Chúng tôi tiến hành tìm kiếm những nghiên cứu đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh ở người bệnh ngoại trú trên pubmed và google scholar với các từ khóa “adherence”

“concordence” “complience” “antibiotic” “outpatient” Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới, cho thấy đặc điểm về phương pháp đánh giá đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh, tỷ lệ tuân thủ và một số yếu tố liên quan tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh

1.2.1 Khái niệm tuân thủ sử dụng kháng sinh

Tuân thủ sử dụng thuốc được định nghĩa là mức độ người bệnh dùng thuốc phù hợp với hướng dẫn của bác sĩ/ dược sĩ [23] Vì vậy, trong nghiên cứu này, tuân thủ sử dụng kháng sinh là việc sử dụng kháng sinh tuân theo đơn thuốc của bác sỹ

1.2.2 Đặc điểm sử dụng kháng sinh Đa số các loại thuốc kháng sinh được sử dụng trong 7-14 ngày, trong một số trường hợp, các phương pháp điều trị trong thời gian ngắn hơn cũng có tác dụng [5]

Khi sử dụng thuốc kháng sinh, người bệnh cần hoàn thành toàn bộ liệu trình kháng sinh ngay cả khi có thể cảm thấy sức khỏe tốt hơn sau một vài ngày điều trị để giải quyết triệt để tình trạng nhiễm trùng của mình cũng như giúp ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc kháng sinh [5], [3]

Dựa vào đặc điểm PK/ PD, các kháng sinh được chia làm 3 nhóm: kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc nồng độ (fluoroquinolon, aminoglycosid), kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc thời gian ít hoặc không có tác dụng kéo dài (hầu hết các β-lactam), kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc thời gian có tác dụng kéo dài trung bình hoặc dài (azithromycin) Với kháng sinh phụ thuộc nồng độ, tổng lượng thuốc được dùng là yếu tố xác định hiệu quả điều trị Với kháng sinh phụ thuộc thời gian (β-lactam, macrolid), yếu tố xác định hiệu quả là thời gian duy trì nồng độ trên MIC Tối ưu hóa liều lượng và thời gian điều trị kháng sinh thông qua các nguyên tắc PK / PD là một trong những chiến lược để giảm tình trạng kháng kháng sinh [24]

Một yếu tố khác ảnh hưởng đến dược lực học của kháng sinh là tác dụng hậu kháng sinh (PAE) Tác dụng hậu kháng sinh (PAE) là khả năng diệt khuẩn kéo dài của một kháng sinh sau khi thuốc đã được loại ra khỏi môi trường in vitro Các tác nhân có khả năng ức chế tổng hợp protein hoặc ức chế ADN ( VD: aminoglycoside và fluoroquinolones) thường

7 có PAE kéo dài chống lại bất kỳ sinh vật nhạy cảm nào, vì vi khuẩn mất nhiều thời gian hơn để tái tạo các yếu tố này so với các thành phần của thành tế bào Do đó, khoảng đưa liều của các kháng sinh này có thể dài hơn mà không ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị Ngược lại, các β-lactam hầu như không có PAE, cần tăng số lần đưa thuốc/ ngày để đảm bảo bao phủ đầy đủ [13] Tương tự, với kháng sinh phụ thuộc thời gian như β-lactam, tối ưu hóa việc sử dụng erythromycin và clarithromycin dựa vào PK/PD có thể đạt được bằng cách kéo dài thời gian tiếp xúc với thuốc [24]

1.2.3 Các phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh

1.2.3.1 Phương pháp đánh giá trực tiếp

Theo kết quả chúng tôi tìm kiếm được, trên thực tế, phương pháp đánh giá trực tiếp để đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh chưa được sử dụng trong các nghiên cứu đã công bố

1.2.3.2 Phương pháp đánh giá gián tiếp

Phương pháp phổ biến đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh được các nghiên cứu sử dụng là phương pháp đánh giá gián tiếp Một số phương pháp được sử dụng nhất là đếm số thuốc còn lại [7], [16], [22], [25], [31], sử dụng bộ câu hỏi và thang điểm đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc, phương pháp giám sát điện tử [19]

 Phương pháp đếm số thuốc còn lại (pill count):

Phương pháp này tiến hành kiểm tra số đơn vị thuốc còn lại của người bệnh so với tổng số đơn vị thuốc được kê giữa 2 lần tái khám đối với những người bệnh mạn tính

- Ưu điểm: Chi phí thấp, cách tính đơn giản, khả năng áp dụng trên thực tế cao [23]

- Nhược điểm: không cung cấp thông tin về các đặc điểm sử dụng thuốc như thời gian uống hay các đợt bỏ thuốc kéo dài, các yếu tố có thể ảnh hưởng tới kết quả điều trị, đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc có thể cao hơn so với thực tế ở các người bệnh điều trị mạn tính [23]

Sử dụng phương pháp đếm số thuốc còn lại để đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh, số lượng thuốc còn lại có thể được xác định bằng hình thức phỏng vấn gián tiếp thông qua gọi điện thoại cho người bệnh khi họ hoàn thành toàn bộ liệu trình kháng sinh [25], [28]

 Phương pháp sử dụng bộ câu hỏi và thang điểm đánh giá tuân thủ sử dụng thuốc (Questionnaires and Scales)

Bộ câu hỏi tuân thủ ngắn gọn (BMQ- Beliefs about Medicines Questionnaire) và thang tuân thủ sử dụng thuốc Morisky các phiên bản khác nhau là những bộ câu hỏi và thang điểm đánh giá đã được sử dụng trong các nghiên cứu tuân thủ sử dụng kháng sinh [9], [16],

[22], [31], [33] Phỏng vấn người bệnh (hoặc sử dụng bộ công cụ), là phương pháp tương đối dễ sử dụng và là phương pháp hữu ích nhất trong bối cảnh lâm sàng Tuy nhiên, đặt câu hỏi cho người bệnh có thể dẫn đến việc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe đánh giá quá cao sự tuân thủ của người bệnh dẫn đến tỷ lệ tuân thủ người bệnh trả lời có thể cao hơn so với thực tế [23]

Một vài nét về bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cuba

Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba được thành lập ngày 18/6/1969, là bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh tuyến cuối của Thủ đô Hà Nội Hiện nay, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam

Cu Ba là bệnh viện chuyên khoa hạng II, quy mô 130 giường bệnh, vừa phát triển chuyên sâu chuyên khoa Răng hàm mặt và Tai mũi họng, vừa đảm nhận khám chữa bệnh ban đầu cho hơn 100 nghìn người có thẻ BHYT trên địa bàn thành phố

Tại đây, kháng sinh là một nhóm thuốc quan trọng và lượng người bệnh điều trị ngoại trú có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây Vì vậy, đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh trên đối tượng này luôn được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng

Các yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng kháng sinh

Yếu tố liên quan đến người bệnh

Yếu tố liên quan đến thuốc

Yếu tố liên quan đến mối quan hệ giữa người bệnh và nhân viên y tế

 Số lần dùng kháng sinh trong ngày

 Độ dài đợt điều trị kháng sinh

 Mức độ hài lòng của người bệnh với thông tin được nhân viên y tế cung cấp

 Giao tiếp giữa bác sĩ và người bệnh

 Hình thức hướng dẫn của dược sỹ

 Nhận thức về thuốc kháng sinh

 Gặp khó khăn khi dùng kháng sinh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Người bệnh ngoại trú đến khám bệnh tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba, được kê đơn kháng sinh và mua thuốc tại nhà thuốc bệnh viện trong thời gian từ 17/03/2022- 21/04/2022

 Người bệnh từ 18 tuổi trở lên, mua thuốc kháng sinh đường uống cho bản thân hoặc cho trẻ em

 Người bệnh có trạng thái tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp trực tiếp và giao tiếp qua điện thoại

 Người bệnh đồng ý tham gia phỏng vấn theo phiếu khảo sát ở nhà thuốc và đồng ý trao đổi qua điện thoại sau khi kết thúc đợt điều trị kháng sinh

- Người bệnh mua thuốc cho trẻ em nhưng không tham gia trực tiếp vào quá trình dùng thuốc cho trẻ

- Người bệnh từ chối tham gia phỏng vấn theo phiếu khảo sát ở nhà thuốc và/ hoặc trao đổi qua điện thoại sau khi kết thúc đợt điều trị kháng sinh

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ 10/2021- 05/2022 Trong đó, thời gian thu thập số liệu cụ thể:

Thu thập số liệu tại nhà thuốc từ 17/03/2022- 21/04/2022

Phỏng vấn người bệnh qua điện thoại từ 22/03/2022- 28/04/2022

 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kết nghiên cứu: mô tả, theo dõi dọc theo thời gian, tiến cứu

Tiến hành nghiên cứu theo các bước:

 Bước 1: Đối tượng tham gia nghiên cứu được mời tham gia phỏng vấn trực tiếp tại nhà thuốc bệnh viện Thu thập dữ liệu thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu thông qua Phiếu số 1 (Phụ lục 1)

 Bước 2: Đối tượng tham gia nghiên cứu được mời, đồng ý tham gia phỏng vấn gián tiếp qua điện thoại ngay sau ngày kết thúc đợt điều trị kháng sinh

 Bước 3: Thu thập dữ liệu về tuân thủ sử dụng thuốc bằng phương pháp phỏng vấn gián tiếp qua điện thoại với đối tượng nghiên cứu ngay sau ngày kết thúc đợt điều trị kháng sinh

 Bước 4: Xử lý số liệu và phân tích kết quả

Phân tích thực trạng tuân thủ sử dụng kháng sinh của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba

Thẩm định phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh

Mô tả tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh

Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng kháng sinh

Tỷ lệ và mức độ tuân thủ

Người bệnh Thuốc Mối quan hệ của

Bộ công cụ đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh

Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú tại tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba

2.2.2 Các biến số nghiên cứu

Bảng 2.6 Các biến số nghiên cứu cần thu thập

STT Tên biến Định nghĩa/ Mô tả biến Giá trị biến Cách thức thu thập

Biến số nghiên cứu về đặc điểm chung của người bệnh

Mua thuốc điều trị triệu chứng/ bệnh

2 Tuổi Tuổi người bệnh Số PVTT+QS

3 Giới tính Giới tính người bệnh Phân loại

Người bệnh đã lập gia đình chưa

Trình độ học vấn của người bệnh

6 Thu nhập Thu nhập trung bình/ tháng của người bệnh

7 Đối tượng dùng kháng sinh

KS mua sử dụng cho ai Phân loại

Người bệnh có đang dùng thuốc điều trị bệnh mắc kèm

9 Đánh giá tình trạng bệnh

Người bệnh tự đánh giá tình trạng bệnh đợt điều trị này thế nào

Biến số nghiên cứu về đặc điểm nhận thức của người bệnh về kháng sinh

10 Nhận thức về việc dùng hết kháng sinh

Người bệnh có nghĩ rằng việc hoàn thành toàn bộ quá trình kê đơn thuốc kháng sinh là cần thiết không

11 Nhận thức về hậu quả không dùng hết kháng sinh

(Các) hậu quả tiềm ẩn của việc không dùng hết liệu trình kháng sinh là gì

12 Nhận thức về kháng sinh

Thuốc kháng sinh có giống với chất chống viêm không

Biến số nghiên cứu về đặc điểm thuốc được mua

1 Tổng số KS Tổng số KS trong đơn của người bệnh

2 Chi phí KS Chi phí KS trong đơn của người bệnh

3 Nhóm KS Nhóm thuốc KS trong đơn của người bệnh

Số lần dùng thuốc KS/ ngày

5 Độ dài đợt điều trị KS

Tổng số ngày điều trị KS của người bệnh

Biến số nghiên cứu về mối quan hệ của người bệnh và nhân viên y tế

Mức độ hài lòng của người bệnh với thông tin được bác sỹ cung cấp

Mức độ hài lòng của người bệnh với thông tin được dược sỹ cung cấp

Dược sỹ có viết lại hướng dẫn

4 Hướng dẫn QS liều dùng

Dược sỹ có hướng dẫn liều dùng

5 Hướng dẫn thời điểm dùng

Dược sỹ có hướng dẫn thời điểm dùng

Biến số nghiên cứu về tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh

1 Số lượng thuốc còn lại

Sau khi kết thúc đợt điều trị KS, số lượng thuốc còn lại của ông/ bà là bao nhiêu?

01 ngày sau kết thúc liệu trình điều trị bằng kháng sinh a

Trong đợt điều trị này, ông/ bà có bao giờ quên uống kháng sinh không? Phân loại

Trong đợt điều trị này, ông/ bà có gặp khó khăn

22 trong việc nhớ uống kháng sinh không?

3: ngừng khi thấy tốt hơn

Trong đợt điều trị này, ông/ bà có khi nào ngừng dùng kháng sinh vì cảm thấy tốt hơn không? c

4: ngừng khi thấy tệ hơn

Trong đợt điều trị này, ông/ bà có khi nào ngừng dùng kháng sinh khi cảm thấy tệ hơn không?

5: không quan tâm tới thời gian (thời điểm) dùng kháng sinh

Trong đợt điều trị này, ông/ bà không quan tâm tới thời gian ( thời điểm) dùng kháng sinh của mình?

2.2.3.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện, thu nhận người bệnh thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ vào nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 17/03/2022- 28/04/2022

Nghiên cứu đã tiếp cận tổng số 283 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ Tuy nhiên, sau khi tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại nhà thuốc, có 219 người bệnh điều trị ngoại trú đồng ý tham gia 01 ngày sau khi kết thúc đợt điều trị KS, tiến hành liên lạc qua điện thoại để phỏng vấn người bệnh Thực tế đã phỏng vấn được 216 người bệnh 03 trường hợp không tham gia phỏng vấn qua điện thoại là do không liên lạc được và từ chối tham gia nghiên cứu Sau khi thu thập dữ liệu nghiên cứu, cỡ mẫu thực hiện nghiên cứu là 216 người bệnh Hình dưới đây biểu diễn sơ đồ tiến hành nghiên cứu:

Hình 2.3 Sơ đồ tiến hành nghiên cứu

Tổng cộng 216 người bệnh được đưa vào phân tích kết quả nghiên cứu của đề tài

2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp quan sát và phỏng vấn trực tiếp để hoàn thành phiếu số 1 (Phụ lục 1) và phương pháp phỏng vấn gián tiếp qua điện thoại để hoàn thành phiếu số 2 (Phụ lục 2) Bộ công cụ được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu và tham khảo ý kiến của các bác sỹ tại phòng khám bệnh và dược sỹ khoa dược bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba Sau đó, tiến hành thử nghiệm khảo sát bộ công cụ trên 10 người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba và tiến hành điều chỉnh để thu được bộ công cụ hoàn chỉnh

Tiếp cận phỏng vấn n= 283 người bệnh Đã thực hiện phỏng vấn tại nhà thuốc n= 219 người bệnh

Từ chối tham gia n= 64 người bệnh

Phỏng vấn qua điện thoại 01 ngày sau kết thúc đợt điều trị n= 216 người bệnh

Từ chối tham gia/ không liên hệ được n= 3 người bệnh

Trong nghiên cứu, người bệnh mua kháng sinh tại nhà thuốc được hỏi “Ông/ bà có biết đâu là thuốc kháng sinh trong đơn thuốc của ông/ bà không?” Nếu người bệnh biết, yêu cầu họ chỉ vào thuốc kháng sinh, nếu không, nghiên cứu viên sẽ chỉ cho người bệnh và tiến hành phỏng vấn

Những người tham gia nghiên cứu được phỏng vấn 1 ngày sau khi kết thúc đợt điều trị kháng sinh Đầu tiên, nghiên cứu hỏi họ về số lượng thuốc họ còn lại Theo đó, những người trả lời còn lại ≥ 1 viên/ gói thuốc sau kết thúc đợt điều trị KS được xác định là 'không tuân thủ' Coi thước đo này là tiêu chuẩn Chúng tôi sử dụng thang điểm 5 mục do Morisky và cộng sự phát triển, với một mục được bổ sung thêm ghi lại những khó khăn khi nhớ uống thuốc kháng sinh [28], người bệnh được xác định là không tuân thủ khi trả lời "Có" với ít nhất 1 mục

Bảng 2.7 Thang điểm Morisky- 5 tiến hành thẩm định

STT Câu hỏi Có Không

1 Trong đợt dùng thuốc này, ông/ bà có bao giờ quên uống kháng sinh không?

2 Trong đợt dùng thuốc này, ông/ bà có gặp khó khăn trong việc nhớ uống kháng sinh không?

3 Trong đợt dùng thuốc này, ông/ bà có khi nào ngừng dùng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tốt hơn không?

4 Trong đợt dùng thuốc này, ông/ bà có khi nào ngừng dùng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tệ hơn không?

5 Trong đợt dùng thuốc này, ông/ bà không quan tâm tới thời gian (thời điểm) dùng kháng sinh của ông/ bà?

Các số liệu thu thập qua Phiếu số 1 (Phụ lục 1) để lấy được thông tin các thuốc KS trong đơn người bệnh đã mua

Cách thức tiến hành: Điều tra viên liên hệ với khoa dược bệnh viện giới thiệu về mục đích và nội dung đề tài nghiên cứu và xin phép được thực hiện đề tài tại nhà thuốc của bệnh viện Sau khi được sự đồng ý của khoa dược bệnh viên, nhà thuốc bệnh viện, điều tra viên đến nhà thuốc bệnh viện xin phép được quan sát trực tiếp quá trình bán KS và chụp lại các đơn thuốc của đối tượng tham gia nghiên cứu

Các số liệu thu thập qua Phiếu số 1 để lấy được thông tin về đặc điểm của người bệnh, nhận thức của người bệnh về KS vừa mua

Cách thức tiến hành: Tại nhà thuốc bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba, khi có người bệnh điều trị ngoại trú đã khám bệnh tại bệnh viện và mua thuốc tại nhà thuốc bệnh viện, điều tra viên kiểm tra đơn thuốc của người bệnh có kháng sinh hay không Nếu có, điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn để đảm bảo người bệnh đưa vào nghiên cứu đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ Nếu là đơn thuốc cho bản thân người bệnh, điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn người bệnh theo Phiếu số 1 và xin phép gọi điện thoại cho người bệnh sau khi người bệnh kết thúc đợt điều trị KS Nếu đơn thuốc có kháng sinh cho trẻ em, điều tra viên sẽ hỏi “Ông/ bà có trực tiếp tham gia vào quá trình cho trẻ uống thuốc trong đơn thuốc này không?”, nếu người bệnh trả lời “Có” điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn tương tự như phỏng vấn người bệnh mua thuốc cho bản thân, nếu người bệnh trả lời “Không” điều tra viên sẽ không phỏng vấn

2.2.4.3 Phỏng vấn gián tiếp qua điện thoại

Các số liệu thu thập qua Phiếu số 2 (Phụ lục 2) để thu thập được thông tin về quá trình sử dụng kháng sinh của người bệnh Gọi điện phỏng vấn người bệnh sau khi kết thúc đợt điều trị KS 1 ngày

Xác định ngày phỏng vấn qua điện thoại: Ngày phỏng vấn người bệnh tại nhà thuốc được coi là ngày bắt đầu đợt điều trị Dựa vào thông tin trên đơn thuốc KS của người bệnh để xác định độ dài đợt điều trị Ngày phỏng vấn qua điện thoại diễn ra 1 ngày sau khi người bệnh kết thúc đợt điều trị KS Sau khi phỏng vấn tại nhà thuốc, Phiếu số 1 sẽ được đánh số, dữ liệu về mã phiếu, ngày bắt đầu đợt điều trị, ngày kết thúc đợt điều trị, ngày phỏng vấn qua điện thoại được nhập vào file excel để tiện theo dõi và tiến hành liên lạc với người bệnh

Cách tiến hành: Ngay sau ngày kết thúc đợt điều trị KS của người bệnh, điều tra viên sẽ gọi điện cho người bệnh trao đổi thông tin về số lượng thuốc còn lại, về số lần dùng thuốc theo Phiếu số 2 Cuộc gọi được ghi âm, sau đó điều tra viên có thể tách băng để điền vào Phiếu số 2 Trường hợp không gọi được cho người bệnh, liên lạc lại tối đa 3 lần sau khi kết thúc đợt điều trị 1-2 ngày

2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Trong khi nhập liệu, nghiên cứu viên sẽ tiến hành rà soát lại các phiếu phỏng vấn, loại bỏ các phiếu không đầy đủ thông tin Các phiếu đáp ứng yêu cầu sẽ được nhập liệu vào phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0

Với mục tiêu thẩm định phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh, thu được các giá trị dự đoán dương tính, giá trị dự đoán âm tính, độ nhạy, độ đặc hiệu và tính ra chỉ số Youden để xác định bộ câu hỏi nào của thang điểm Morisky 5 mục có giá trị dự đoán tuân thủ sử dụng kháng sinh tối ưu nhất Các giá trị đó được định nghĩa như sau:

 % sự thích hợp: Sự thích hợp khi đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh của các phương pháp so với phương pháp đếm số thuốc còn lại

 Giá trị dự đoán dương tính: Tỷ lệ người bệnh được phân loại là không tuân thủ với ít nhất một viên thuốc còn lại

 Giá trị dự đoán âm tính: Tỷ lệ người bệnh được phân loại là tuân thủ và không còn lại thuốc

 Độ nhạy: Khả năng một người không tuân thủ được đánh giá chính xác

 Độ đặc hiệu: Khả năng một người tuân thủ được đánh giá chính xác

 Chỉ số Youden: Độ nhạy + Độ đặc hiệu - 1

Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn kết hợp phương pháp đếm số thuốc còn lại và thang điểm Morisky sau khi thẩm định để đánh giá đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh ở người bệnh ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba Bộ câu hỏi được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, sau đó được xin ý kiến của các chuyên gia ngôn ngữ và các chuyên gia dược lâm sàng để xác nhận tính chính xác và điều chỉnh lại cho phù hợp với bối cảnh thực hiện đề tài nghiên cứu

 Quy ước và thang đo sử dụng trong nghiên cứu: Đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh:

 Tuân thủ: Còn lại 0 viên/ gói thuốc khi kết thúc liệu trình điều trị KS và trả lời

“Không” với tất cả các câu hỏi trong thang điểm Morisky

 Không tuân thủ: còn lại ≥ 1 viên/ gói thuốc khi kết thúc liệu trình điều trị KS và/ hoặc trả lời “Có” ít nhất 1 mục trong thang điểm Morisky Đánh giá nhận thức của người bệnh về kháng sinh:

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện sau khi được sự chấp thuận của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba và người bệnh tham gia nghiên cứu, đảm bảo các yếu tố:

 Các thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn, tiến hành phân tích trên toàn bộ mẫu, không phân tích hay báo cáo đơn lẻ từng người bệnh

 Thông tin đơn thuốc ngoại trú của đối tượng tham gia nghiên cứu được sử dụng dưới sự đồng ý của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba

 Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý tham gia của người bệnh Mọi thắc mắc của đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải đáp chi tiết, rõ ràng, cụ thể và kịp thời

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Kết quả

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu

3.1.1.1 Các đặc điểm về nhân khẩu học

Tổng số 216 người bệnh tham gia vào nghiên cứu Một số đặc điểm của người bệnh được mô tả trong bảng sau:

Bảng 3 9 Thông tin chung của người bệnh trong mẫu nghiên cứu Đặc điểm (n!6 (%)) Đặc điểm (n!6 (%))

Giới tính Tình trạng hôn nhân

Nhóm tuổi Trình độ học vấn

60 trở lên 21 (9,7) Đại học 106 (49,1) Đối tượng dùng thuốc Bệnh mắc kèm

Thu nhập trung bình/ tháng Bệnh lý

Nơi ở Kết quả sau điều trị

Nông thôn 2 (0,9) Không khỏi/không đỡ 21 (9,7)

Tỷ lệ người bệnh tham gia nghiên cứu là nam giới (45,8%) thấp hơn người bệnh là nữ giới (54,2%) Đa phần những người tham gia nghiên cứu là những người trẻ tuổi, sống ở thành thị (Hà Nội), đã lập gia đình, trình độ học vấn ở mức tốt nghiệp THPT trở lên và có mức thu nhập trung bình/ tháng ở mức trung bình- cao Ngoài ra, trong nghiên cứu, khá ít

30 người bệnh có bệnh lý mắc kèm (10,2%), người bệnh mua thuốc cho bản thân chiếm tỷ lệ cao (75,9%) với một lượng lớn người bệnh có các vấn đề về tai- mũi- họng và răng miệng Tiến hành phỏng vấn gián tiếp qua điện thoại, đã ghi nhận hầu hết người bệnh tự đánh giá tình trạng bệnh đã khỏi/ đỡ với tỷ lệ 90,3%

3.1.1.2 Các đặc điểm về thuốc được mua

Một số đặc điểm về các thuốc được mua trong nghiên cứu được mô tả trong bảng sau:

Bảng 3.10 Các đặc điểm về thuốc kháng sinh được mua Đặc điểm n (%) Đặc điểm n(%)

Số lượng kháng sinh Độ dài đợt điều trị kháng sinh (ngày)

Nhóm kháng sinh Số lần dùng kháng sinh/ ngày

Nhóm kháng sinh penicillin là nhóm có tỷ lệ được bác sỹ kê đơn cao nhất Phần lớn các đơn thuốc có 1 kháng sinh (95,8%) với số lần dùng kháng sinh/ ngày chủ yếu là 2 lần/ ngày và độ dài đợt điều trị là 5 ngày chiếm đa số (61,5%)

3.1.2 Mô tả thực trạng tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú tại tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba từ 17/03/2022-27/04/2022

3.1.2.1 Thẩm định phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh

Tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba theo các phương pháp đo lường được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3.11 Tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh theo các phương pháp đo lường

Số lượng thuốc KS còn lại n (%)

Kết quả cho thấy, tỷ lệ tuân thủ theo thang điểm Morisky- 4 là 55,6%, theo thang điểm Morisky- 5 là 54,6% và tỷ lệ người bệnh dùng hết liệu trình kháng sinh (tuân thủ) xác định theo phương pháp số lượng thuốc KS còn lại là 82,4%

Tiến hành thẩm định để xác định thang điểm Morisky- 4 hay Morisky- 5 có giá trị trong việc đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh ở người bệnh điều trị ngoại trú trong mẫu nghiên cứu cho kết quả như sau:

Bảng 3.12 Kết quả thẩm định thang điểm Morisky

% sự thích hợp PPV NPV Độ nhạy Độ đặc hiệu

Số lượng thuốc còn lại 82,4

(2) Gặp khó khăn trong việc nhớ uống kháng sinh

(3) Ngừng dùng kháng sinh khi cảm thấy tốt hơn

(4) Ngừng dùng kháng sinh khi cảm thấy tệ hơn

(5) Không quan tâm tới thời gian (thời điểm) dùng kháng sinh

Chỉ số Youden của thang điểm Morisky- 4 là 0,578 cao hơn chỉ số Youden của thang điểm Morisky- 5 là 0,567 Độ nhạy của hai thang đo bằng nhau, cùng là 0,921 Độ đặc hiệu của thang đo Morisky- 4 là 0,657 trong khi độ nhạy của thang đo Morisky- 5 là 0,646 Cùng với các giá trị tương ứng của các chỉ số độ nhạy và độ đặc hiệu, chúng tôi nhận thấy rằng

32 thang đo Morisky-4 chỉ số Youden cao hơn Việc kết hợp nhiều hơn 4 mục không tăng thêm độ chính xác của thang đo (độ nhạy không thay đổi nhưng độ đặc hiệu giảm) Tính ưu việt cơ bản này của thang đo ba mục càng được củng cố khi xem xét các giá trị dự đoán dương tính và giá trị dự đoán âm tính

Vì vậy, trong nghiên cứu này, thang điểm Morisky- 4 có giá trị để đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba

3.1.2.2 Thực trạng tuân thủ sử dụng kháng sinh a) Tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh

Kết hợp phương pháp thang đo Morisky- 4 với phương pháp số lượng thuốc kháng sinh còn lại, nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh ở người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba là 54,2% b) Các trường hợp không tuân thủ sử dụng kháng sinh

Bộ câu hỏi Morisky- 4 chia không tuân thủ sử dụng kháng sinh thành 4 trường hợp: quên uống kháng sinh, gặp khó khăn trong việc nhớ uống kháng sinh, ngừng dùng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tốt hơn, ngừng dùng kháng sinh khi cảm thấy sức khỏe tệ hơn, không quan tâm tới thời điểm dùng kháng sinh Đánh giá trên 120 người bệnh không tuân thủ sử dụng kháng sinh theo thang điểm Morisky- 4, kết quả như sau:

Bảng 3.13 Các trường hợp không tuân thủ sử dụng kháng sinh

STT Trường hợp không tuân thủ n0 (%)

2 Ngừng dùng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tốt hơn 14 (11,7)

3 Ngừng dùng kháng sinh khi cảm thấy sức khỏe tệ hơn 2 (1,7)

4 Không quan tâm tới thời điểm dùng kháng sinh 3 (2,5)

Không tuân thủ kháng sinh của người bệnh bao gồm cả 4 trường hợp trên, trong đó, trường hợp quên uống kháng sinh chiếm tỷ lệ cao nhất (73,3%) trong đó đa phần người bệnh quên uống kháng sinh là do bận rộn công việc (56/88 người bệnh, tiếp đến là trường hợp ngừng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tốt hơn (11,7%) Cũng theo kết quả khảo sát, 88% người bệnh sử dụng kháng sinh đúng liều dùng trong khi 63% người bệnh sử dụng kháng sinh đúng thời điểm dùng

Người bệnh không tuân thủ sử dụng kháng sinh có 88 người quên uống kháng sinh đúng thời điểm theo hướng dẫn Nguyên nhân quên uống kháng sinh thường là người bệnh bận rộn công việc, đi du lịch nhưng không mang theo thuốc và do vô ý

Trong nghiên cứu, 16 người bệnh ngừng dùng kháng sinh khi chưa hoàn thành hết liệu trình điều trị, trong đó có 14 người ngừng dùng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tốt hơn, 2 người ngừng dùng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tệ hơn Các trường hợp ngừng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tốt hơn đa số là những người bệnh viêm mũi, họng ngừng thuốc khi thấy hết các triệu chứng: đau họng, ho, chảy nước mũi 2 trường hợp ngừng thuốc vì cảm thấy sức khỏe tệ hơn khi họ cảm thấy nhức đầu, chóng mặt, đau lưng và họ nghĩ rằng đó là do tác dụng không mong muốn của thuốc Cũng trong nghiên cứu, một số người biết cần dùng hết liệu trình kháng sinh ngay cả khi triệu chứng đã cải thiện nhưng vẫn ngừng dùng do họ nghĩ rằng dùng thuốc nhiều ngày liên tiếp sẽ gặp nhiều tác dụng phụ, gây hại gan, hại dạ dày

3.1.3 Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú

Nghiên cứu phân tích một số yếu tố liên quan tới việc tuân thủ sử dụng kháng sinh trên tổng số 216 người bệnh điều trị ngoại trú

3.1.3.1 Yếu tố liên quan đến người bệnh a) Mối liên quan giữa đặc điểm người bệnh đến tuân thủ sử dụng kháng sinh

Xem xét mối liên quan giữa đặc điểm của người bệnh với tuân thủ sử dụng kháng sinh cho kết quả như sau:

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa đặc điểm người bệnh đến tuân thủ sử dụng kháng sinh Đặc điểm Tuân thủ n(%)

Tình trạng hôn nhân Độc thân 13 (52,0) 12 (48,0) 0,906

Thu nhập trung bình/ tháng

Mức độ nặng/ nhẹ người bệnh tự đánh giá

Nhẹ 16 (45,7) 19 (54,3) Đối tượng dùng thuốc

Tuổi có ảnh hưởng tới tuân thủ sử dụng kháng sinh (p=0,029) Người bệnh thuộc nhóm tuổi 40-49 tuân thủ sử dụng kháng sinh tốt nhất (63,5%) và người thuộc nhóm tuổi từ 50-59 có xu hướng tuân thủ sử dụng kháng sinh kém nhất (22,7%)

Bàn luận

3.2.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba là chuyên khoa đầu ngành Tai Mũi Họng và Răng Miệng, số lượng người bệnh đến khám các bệnh về tay mũi họng và răng miệng chiếm đa số Vì thế, kháng sinh được sử dụng với số lượng lớn để điều trị cho người bệnh, trong đó, người bệnh điều trị ngoại trú chiếm tỷ lệ cao

Cùng với đó, bệnh viện hữu nghị Việt Nam Cu Ba là bệnh viện trực thuộc Sở Y Tế

Hà Nội Vì thế, đa phần người bệnh đến khám, chữa bệnh đều sinh sống ở Hà Nội (99,1% trong nghiên cứu) Cũng vì lí do đó, người bệnh đã có gia đình đến khám tại viện chiếm số lượng lớn (88,4%)

Nghiên cứu được tiến hành lấy số liệu tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba từ 17/03/2022- 27/04/2022 là khoảng thời gian giao mùa trong năm và cũng là thời điểm nhiều người bệnh mới khỏi Covid-19 Do đó, lượng người bệnh mắc các bệnh đường hô hấp chiếm đa số trong nghiên cứu (61,1%) dẫn đến nhóm thuốc penicillin là nhóm thuốc được các bác sỹ kê đơn phổ biến nhất trong nghiên cứu

3.2.2 Mô tả thực trạng tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú tại tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba từ 17/03/2022-27/04/2022

3.2.2.1 Thẩm định phương pháp đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh

Trong nghiên cứu, có thể thấy rằng, tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh khi đánh giá theo phương pháp số lượng thuốc kháng sinh còn chênh lệch khác nhiều so với khi đánh giá theo thang điểm Morisky Sở dĩ có sự khác nhau về tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh như vậy là do sự khác biệt về cách đánh giá của mỗi phương pháp Đối với phương pháp số lượng thuốc kháng sinh còn lại, người bệnh được đánh giá tuân thủ khi còn lại 0 viên/ gói thuốc kháng sinh sau khi kết thúc liệu trình điều trị bằng kháng sinh Đối với phương pháp sử dụng thang điểm Morisky, người bệnh được đánh giá là tuân thủ khi trả lời “Không” với tất cả các mục câu hỏi Mặc dù phương pháp đếm số thuốc còn lại khá đơn giản, dễ thực hiện, tuy nhiên, phương pháp này không nắm bắt chính xác thời điểm người bệnh sử dụng thuốc và dữ liệu có thể thay đổi bởi người bệnh (VD: bỏ thuốc đi)

Theo kết quả thẩm định, thang điểm Morisky- 4 có chỉ số Youden cao hơn thang điểm Morisky- 5 Tỷ lệ này tương đương với kết quả trong nghiên cứu tại Pháp năm 2017 [27], kết quả này có thể do cách thức tiến hành nghiên cứu giống nhau, đồng thời, 2 nghiên cứu cùng sử dụng bộ công cụ là số lượng thuốc kháng sinh còn lại và thang điểm Morisky- 5 để thẩm định Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi xác định thang điểm Morisky- 4 là thang đo đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh trên người bệnh điều trị ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba Phiên bản 4 mục này của thang điểm Morisky có ưu điểm là dễ hiểu, dễ chấm điểm, ngắn gọn, có thể rút ngắn nhiều thời gian so với các phiên bản trước đó

Vì vậy, chúng tôi kết luận, bộ công cụ đo lường tuân thủ sử dụng kháng sinh ở người bệnh ngoại trú tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba là phương pháp kết hợp số lượng thuốc kháng sinh còn lại và thang điểm Morisky- 4 Do tính ngắn gọn của nó, phiên bản này có thể được sử dụng bởi những người chăm sóc người bệnh giúp phát hiện sớm những trường hợp không tuân thủ sử dụng kháng sinh, nhằm can thiệp nhanh chóng để cải thiện sự tuân thủ điều trị

3.2.2.2 Mô tả tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh a) Tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh Đánh giá theo phương pháp kết hợp số lượng thuốc kháng sinh còn lại và thang điểm Morisky-4, tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh là 54,2% Tỷ lệ này cao hơn

41 so với nghiên cứu ở Tây Ban Nha năm 2014 là 48,4% [22] Nghiên cứu tại Tây Ban Nha cũng sử dụng phương pháp kết hợp số lượng thuốc kháng sinh còn lại và thang điểm Morisky- 4 Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ người bệnh tuân thủ sử dụng kháng sinh có thể do mức độ báo cáo của bản thân người bệnh, mức độ quan tâm tới sức khỏe và tình trạng kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia trong thời gian tiến hành nghiên cứu Tỷ lệ tuân thủ sử dụng kháng sinh trong nghiên cứu có thể cao hơn thực tế vì đánh giá thông qua việc người bệnh tự báo cáo Người bệnh có xu hướng tự báo cáo tuân thủ sử dụng kháng sinh cao hơn vì họ muốn làm thỏa mãn mong đợi của người nghiên cứu Để khắc phục điều ấy, nghiên cứu đã đưa ra câu hỏi “Trong đợt dùng thuốc KS lần này, số lượng thuốc kháng sinh còn lại đến ngày hôm nay của ông/ bà là bao nhiêu?” vào đầu bảng câu hỏi Ngoài ra, bộ câu hỏi Morisky- 5 nghiên cứu sử dụng giúp giảm thiên hướng trả lời “Có” của người bệnh b) Kết quả liều dùng và thời điểm dùng kháng sinh của người bệnh

Theo kết quả, 88% người bệnh sử dụng kháng sinh đúng liều dùng và 63% người bệnh sử dụng kháng sinh đúng thời điểm dùng Tỷ lệ này có thể cao hơn thực tế vì người bệnh có thể báo cáo giống như hướng dẫn sử dụng kháng sinh ghi trong đơn thuốc hoặc theo hướng dẫn của dược sỹ Người bệnh sử dụng kháng sinh không đúng liều thường không sử dụng hết liều kháng sinh 1 ngày theo hướng dẫn, người bệnh sử dụng kháng sinh không đúng thời điểm dùng thường là những người có thói quen dậy muộn vào buổi sáng và quên không dùng đúng thời điểm do bận công việc và lo lắng uống thuốc trước ăn có thể gây loét dạ dày c) Các trường hợp không tuân thủ sử dụng kháng sinh

Theo khảo sát, trong số các trường hợp không tuân thủ sử dụng kháng sinh, trường hợp quên uống kháng sinh chiếm tỷ lệ cao nhất (73,3%), tiếp đến là trường hợp ngừng kháng sinh vì cảm thấy sức khỏe tốt hơn (11,7%) Nghiên cứu của Paravattil B tại Quatar cho kết quả có 35% người bệnh quên sử dụng kháng sinh và 15% người bệnh ngừng sử dụng kháng sinh khi triệu chứng cải thiện [25] Nghiên cứu của tác giả Paravattil B được thực hiện trên 80 người bệnh, chia làm 3 nhóm: nhóm chăm sóc tiêu chuẩn, nhóm được hướng dẫn sử dụng KS và nhóm được liên hệ lại để trao đổi Kết hợp với đặc điểm nhân khẩu học của 2 nghiên cứu khác nhau, có thể giải thích sự khác biệt này là do đối tượng tham gia nghiên cứu của chúng tôi và tác giả Paravattil B khác nhau Người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi không được liên hệ lại để trao đổi nên có thể tỷ lệ quên uống thuốc kháng sinh cao hơn Để cải thiện tuân thủ sử dụng thuốc, cán bộ y tế có thể điều chỉnh

42 lịch dùng thuốc theo công việc, thói quen sinh hoạt cho phù hợp với từng người bệnh và bệnh viện có thể thiết lập tổ chăm sóc để liên hệ lại với người bệnh đã mua thuốc kháng sinh sau 3-5 ngày điều trị đầu tiên

3.2.3 Phân tích một số yếu tố liên quan đến việc tuân thủ sử dụng kháng sinh của người bệnh ngoại trú

3.2.3.1 Yếu tố liên quan đến người bệnh a) Mối liên quan giữa đặc điểm người bệnh đến tuân thủ sử dụng kháng sinh

Người bệnh có độ tuổi từ 40-49 tuổi, nữ giới, người có trình độ đại học, người sử dụng thuốc cho trẻ em, người có nhận thức về kháng sinh tốt là những yếu tố làm tăng tuân thủ sử dụng kháng sinh

Trong nghiên cứu của chúng tôi, người bệnh có độ tuổi 40-49 tuân thủ sử dụng kháng sinh tốt nhất và người bệnh có độ tuổi 50-59 tuân thủ sử dụng kháng sinh kém nhất (p=0,029) Kết quả này khác với nghiên cứu của Zabihi A và cộng sự tại Iran (2020) sử dụng thang điểm Morisky đánh giá cho thấy nhóm người trẻ tuổi hơn (< 18 tuổi và 25-40 tuổi) có xu hướng tuân thủ sử dụng kháng sinh kém nhất (p=0,04) [33] Sự khác biệt về kết quả ở đây có thể do sự khác nhau về phương pháp đánh giá tuân thủ sử dụng khác sinh, cùng với đó là sự khác nhau về độ tuổi tham gia nghiên cứu Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên những đối tượng > 18 tuổi trong khi nghiên của của tác giả Zabihi thực hiện trên cả nhóm đối tượng < 18 tuổi

Giới tính và trình độ văn hóa cũng là một yếu tố được xem xét đánh giá về ảnh hưởng đến việc không tuân thủ sử dụng kháng sinh trong các nghiên cứu Tuy nhiên, yếu tố này cho kết quả khác nhau giữa các nghiên cứu khác nhau trên thế giới Giới tính và trình độ văn hóa được chỉ ra là yếu tố không có ảnh hưởng đến việc tuân thủ sử dụng kháng sinh trong các nghiên cứu tại Malta và Gozo, Iran và Tây Ban Nha Các nghiên cứu này đánh giá tuân thủ sử dụng kháng sinh theo phương pháp đếm số thuốc còn lại kết hợp bộ câu hỏi BMQ, sử dụng thang điểm Morisky và thang điểm Morisky kết hợp đếm số thuốc còn lại

[31], [33], [22] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy người bệnh là nữ giới, có trình độ đại học là yếu tố giúp tăng tuân thủ sử dụng kháng sinh (p

Ngày đăng: 19/08/2022, 00:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y Tế (2019), "Việt Nam xuất hiện siêu vi khuẩn kháng tất cả kháng sinh, bác sĩ bất lực", Cổng thông tin điện tử, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam xuất hiện siêu vi khuẩn kháng tất cả kháng sinh, bác sĩ bất lực
Tác giả: Bộ Y Tế
Năm: 2019
3. Abegaz T. (2020), "Antimicrobial resistance: Does stopping a course of antibiotics early lead to antibiotic resistance?", who.int, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antimicrobial resistance: Does stopping a course of antibiotics early lead to antibiotic resistance
Tác giả: Abegaz T
Năm: 2020
4. Abshad A. (2008), "Using medication: Using antibiotics correctly and avoiding resistance", InformedHealth.org, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using medication: Using antibiotics correctly and avoiding resistance
Tác giả: Abshad A
Năm: 2008
6. Anghel L. A., Farcas A. M., et al. (2019), "An overview of the common methods used to measure treatment adherence", Med Pharm Rep, 92(2), pp. 117-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An overview of the common methods used to measure treatment adherence
Tác giả: Anghel L. A., Farcas A. M., et al
Năm: 2019
7. Chan Y. H., Fan M. M., et al. (2012), "Antibiotics nonadherence and knowledge in a community with the world's leading prevalence of antibiotics resistance:implications for public health intervention", Am J Infect Control, 40(2), pp. 113-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antibiotics nonadherence and knowledge in a community with the world's leading prevalence of antibiotics resistance: implications for public health intervention
Tác giả: Chan Y. H., Fan M. M., et al
Năm: 2012
8. De Llano Luis Pérez, Sanmartin Abel Pallares, et al. (2018), "Assessing adherence to inhaled medication in asthma: Impact of once-daily versus twice-daily dosing frequency. The ATAUD study", Journal of Asthma, 55(9), pp. 933-938 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing adherence to inhaled medication in asthma: Impact of once-daily versus twice-daily dosing frequency. The ATAUD study
Tác giả: De Llano Luis Pérez, Sanmartin Abel Pallares, et al
Năm: 2018
9. Fernandes M., Leite A., et al. (2014), "Non-adherence to antibiotic therapy in patients visiting community pharmacies", Int J Clin Pharm, 36(1), pp. 86-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non-adherence to antibiotic therapy in patients visiting community pharmacies
Tác giả: Fernandes M., Leite A., et al
Năm: 2014
10. Gajdács M., Albericio F. (2019), "Antibiotic Resistance: From the Bench to Patients", Antibiotics (Basel), 8(3), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antibiotic Resistance: From the Bench to Patients
Tác giả: Gajdács M., Albericio F
Năm: 2019
11. Grosso G., Marventano S., et al. (2012), "Pattern of antibiotic use in the community: νon-adherence and self-prescription rates in an Italian urban population", Mol Med Rep, 5(5), pp. 1305-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pattern of antibiotic use in the community: νon-adherence and self-prescription rates in an Italian urban population
Tác giả: Grosso G., Marventano S., et al
Năm: 2012
12. Ho P. Michael, Bryson Chris L., et al. (2009), "Medication Adherence", Circulation, 119(23), pp. 3028-3035 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medication Adherence
Tác giả: Ho P. Michael, Bryson Chris L., et al
Năm: 2009
13. Hoo G. S. R., Liew Y. X., et al. (2017), "Optimisation of antimicrobial dosing based on pharmacokinetic and pharmacodynamic principles", Indian J Med Microbiol, 35(3), pp. 340-346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Optimisation of antimicrobial dosing based on pharmacokinetic and pharmacodynamic principles
Tác giả: Hoo G. S. R., Liew Y. X., et al
Năm: 2017
14. Hutchings M. I., Truman A. W., et al. (2019), "Antibiotics: past, present and future", Curr Opin Microbiol, 51, pp. 72-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antibiotics: past, present and future
Tác giả: Hutchings M. I., Truman A. W., et al
Năm: 2019
15. Kardas Przemyslaw (2002), "Patient compliance with antibiotic treatment for respiratory tract infections", Journal of Antimicrobial Chemotherapy, 49(6), pp.897-903 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patient compliance with antibiotic treatment for respiratory tract infections
Tác giả: Kardas Przemyslaw
Năm: 2002
16. Khan F. U., Fang Y. (2021), "Effectiveness of Pharmacist-Led Brief Educational Intervention for Adherence to the Antibiotics for Lower Respiratory Tract Infections (EATSA) in Post-Conflict Rural Areas of Pakistan: Study Protocol for a Randomized Controlled Trial", Antibiotics (Basel), 10(10), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effectiveness of Pharmacist-Led Brief Educational Intervention for Adherence to the Antibiotics for Lower Respiratory Tract Infections (EATSA) in Post-Conflict Rural Areas of Pakistan: Study Protocol for a Randomized Controlled Trial
Tác giả: Khan F. U., Fang Y
Năm: 2021
17. Lam W. Y., Fresco P. (2015), "Medication Adherence Measures: An Overview", Biomed Res Int, 2015, pp. 217047 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medication Adherence Measures: An Overview
Tác giả: Lam W. Y., Fresco P
Năm: 2015
18. Lavsa S. M., Holzworth A., et al. (2011), "Selection of a validated scale for measuring medication adherence", J Am Pharm Assoc (2003), 51(1), pp. 90-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selection of a validated scale for measuring medication adherence
Tác giả: Lavsa S. M., Holzworth A., et al. (2011), "Selection of a validated scale for measuring medication adherence", J Am Pharm Assoc
Năm: 2003
19. Llor C., Hernández S., et al. (2013), "A study of adherence to antibiotic treatment in ambulatory respiratory infections", Int J Infect Dis, 17(3), pp. e168-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A study of adherence to antibiotic treatment in ambulatory respiratory infections
Tác giả: Llor C., Hernández S., et al
Năm: 2013
20. McNulty Cliodna A. M., Boyle Paul, et al. (2007), "The public's attitudes to and compliance with antibiotics", Journal of Antimicrobial Chemotherapy, 60(suppl_1), pp. i63-i68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The public's attitudes to and compliance with antibiotics
Tác giả: McNulty Cliodna A. M., Boyle Paul, et al
Năm: 2007
21. Mitsi G., Jelastopulu E., et al. (2005), "Patterns of antibiotic use among adults and parents in the community: a questionnaire-based survey in a Greek urban population", Int J Antimicrob Agents, 25(5), pp. 439-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Patterns of antibiotic use among adults and parents in the community: a questionnaire-based survey in a Greek urban population
Tác giả: Mitsi G., Jelastopulu E., et al
Năm: 2005
22. Muủoz E. B., Dorado M. F., et al. (2014), "The effect of an educational intervention to improve patient antibiotic adherence during dispensing in a community pharmacy", Aten Primaria, 46(7), pp. 367-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of an educational intervention to improve patient antibiotic adherence during dispensing in a community pharmacy
Tác giả: Muủoz E. B., Dorado M. F., et al
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w