2 ngừng cung cấp cho các đơn vị do thuốc bị thu hồi, do hết hạn số đăng ký; một số cơ sở y tế xây dựng kế hoạch sử dụng một số thuốc chưa sát với nhu cầu thực tế, chậm thanh toán cho nhà
TỔNG QUAN
Tổng quan về đấu thầu thuốc
1.1.1 Khái niệm về đấu thầu thuốc và một số quy định mới về đấu thầu thuốc
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng, dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất, trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế (theo Luật Đấu thầu số 43) 1.1.1.2 nêu một số quy định hiện hành về đấu thầu thuốc.
Mua sắm thuốc tại các cơ sở y tế hiện nay dựa trên hệ thống văn bản pháp lý gồm Luật, Nghị định và Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn đầy đủ về đấu thầu thuốc do Bộ Y tế ban hành, và được liên tục cập nhật để phù hợp với thực tiễn Các văn bản này định hướng quy trình lựa chọn thuốc, hình thức đấu thầu, tiêu chuẩn chất lượng và giá cả, nhằm đảm bảo tính công bằng và cạnh tranh trong quá trình mua sắm Quy trình mua sắm thuốc được thiết kế để đảm bảo nguồn cung thuốc kịp thời cho người bệnh và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng ngân sách y tế.
Sau khi Luật Đấu thầu số 43 và Nghị định số 63 quy định chi tiết một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu được ban hành, nhiều địa phương trên cả nước đã áp dụng hình thức đấu thầu mua thuốc tập trung và cung ứng cho các cơ sở y tế Tuy nhiên, mỗi tỉnh thành có hệ thống cơ sở y tế riêng, gồm cơ sở y tế địa phương, cơ sở y tế Trung ương và cơ sở y tế thuộc Bộ, Ngành nên việc xây dựng và thẩm quyền phê duyệt Kế hoạch lựa chọn nhà thầu khác nhau, dẫn đến thanh toán BHYT đối với cùng một loại thuốc trên địa bàn có sự chênh lệch đáng kể.
Năm 2019 và năm 2020 Bộ Y tế đã ban hành các văn bản thay thế 03 thông tư nêu trên Cụ thể:
Thông tư 03/2019/TT-BYT ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp, đồng thời thay thế cho Thông tư 10/2016/TT-BYT và giới thiệu những điểm mới liên quan đến cơ chế đánh giá chất lượng, mức giá và nguồn cung ứng thuốc nội địa.
- Bổ sung thêm nguyên tắc xây dựng Danh mục thuốc
- Ban hành 640 thuốc tại Danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp
Thông tư 15/2019/TT-BYT quy định về đấu thầu thuốc trong các cơ sở y tế công lập, thay thế cho Thông tư 11/2016/TT-BYT, và đưa ra các điểm mới nhằm tăng tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong hoạt động mua thuốc công Văn bản bổ sung các quy định về phạm vi áp dụng, yêu cầu hồ sơ dự thầu và tiêu chuẩn chất lượng thuốc, đồng thời tăng cường quản lý và công khai kết quả đấu thầu để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà cung cấp.
Việc phân chia nhóm thuốc tại các gói thầu được thực hiện dựa trên tiêu chí kỹ thuật chặt chẽ, minh bạch và yêu cầu cao hơn nhằm mục tiêu lựa chọn thuốc chất lượng với giá cả phù hợp; đồng thời đóng góp vào quá trình thực hiện Đề án "Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt Nam" Trong khuôn khổ này, thuốc sản xuất tại Việt Nam có thể tham dự ở tất cả các nhóm nếu đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, và có thể tham gia thầu cạnh thuốc của các nước Châu Âu, Úc, Mỹ và Nhật Bản.
Việc phân chia nhóm thuốc nhằm khuyến khích gia công và chuyển giao công nghệ cho các thuốc nước ngoài sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt là các biệt dược gốc, thuốc phát minh, vắc xin và sinh phẩm, giúp nâng cao hiệu quả và sự nội địa hóa trong chuỗi cung ứng dược phẩm Bên cạnh đó, cần bổ sung các quy định để khuyến khích đầu tư và nâng cao chất lượng thuốc cổ truyền, vị thuốc cổ truyền và dược liệu thông qua tiêu chí kỹ thuật GACP (thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu).
Xây dựng kế hoạch giá cho các mặt hàng cùng hoạt chất, nồng độ hàm lượng và dạng bào chế tại gói thầu thuốc generic phải tuân thủ nguyên tắc giá thuốc ở các nhóm: nhóm 5 không cao hơn nhóm 4, nhóm 4 không cao hơn nhóm 3, nhóm 3 không cao hơn nhóm 2, nhóm 2 không cao hơn nhóm 1, và nhóm 1 không cao hơn giá thuốc biệt dược gốc, nhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch và tối ưu chi phí trong quá trình lựa chọn và quản lý gói thầu thuốc generic.
Theo quy định mới của thông tư, không được ghi nhận các dạng bào chế cụ thể như viên nén bao phim hay viên nang mềm mà chỉ ghi nhận ở dạng bào chế chung như viên nang, viên nén; một số dạng bào chế dù có tên riêng vẫn được xem là thuộc dạng bào chế cơ bản đầu tiên nếu phù hợp Đây là điểm mới của thông tư.
Trong chiến lược đấu thầu, 15 tiêu chí mang tính cạnh tranh cao được thiết kế nhằm khắc phục lạm dụng các dạng bào chế không phổ biến, từ đó hạn chế các hành vi thao túng thị trường và tăng tính cạnh tranh Đồng thời, hệ thống này giúp ngăn ngừa độc quyền trong phân phối và đảm bảo sự thống nhất trong ghi nhận và chuẩn hóa các dạng bào chế, tăng tính minh bạch và hiệu quả quản lý chuỗi cung ứng.
Thông tư 15 bổ sung quy định nhằm tăng tính cạnh tranh trong đấu thầu bằng cách làm rõ yêu cầu về doanh thu, số năm báo cáo tài chính và các hợp đồng tương tự, theo hướng ưu tiên cho nhà thầu mới thành lập đủ năng lực và có kinh nghiệm tham dự thầu.
- Thông tư 15 quy định chi tiết hơn về đấu thầu thuốc đối với các cơ sở y tế tư nhân tham gia khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
Vào năm 2020, Bộ Y tế ban hành Thông tư 15/2020/TT-BYT quy định danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung và danh mục thuốc được áp dụng hình thức đàm phán giá, thay thế Thông tư 09/2016/TT-BYT và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 15/2019 với những điểm mới được nêu, nhằm chuẩn hóa quy trình đấu thầu thuốc và tăng tính minh bạch, hiệu quả trong mua sắm thuốc công.
Việc bổ sung các tiêu chí xây dựng danh mục thuốc cho đấu thầu tập trung cấp quốc gia, đấu thầu tập trung cấp địa phương và danh mục thuốc đàm phán giá là bước đi chiến lược nhằm tăng tính minh bạch, hiệu quả và tối ưu chi phí cho hệ thống y tế Các tiêu chí nên bao quát chất lượng thuốc, nguồn gốc và đăng ký hợp lệ, khả năng cung ứng, thời gian giao hàng và chi phí tổng thể, cũng như mức độ hỗ trợ sau phân phối Cần thiết lập cơ sở dữ liệu tham chiếu về chất lượng, giá trên thị trường và tiêu chí ưu tiên cho thuốc thiết yếu, đồng thời áp dụng nguyên tắc tối ưu giá trị cho ngân sách nhà nước Quy trình đánh giá và lựa chọn danh mục cần có khung tiêu chí có trọng số rõ ràng, cơ chế rà soát định kỳ và sự tham gia của các bên liên quan để đảm bảo tính thực tiễn và khả thi Việc bổ sung tiêu chí cho danh mục thuốc đàm phán giá sẽ đẩy mạnh hiệu quả đàm phán, đảm bảo thuốc thiết yếu có giá hợp lý, sẵn có và chất lượng được duy trì.
- Mở rộng danh mục thuốc Đấu thầu tập trung cấp Quốc gia và Danh mục thuốc đàm phán giá
1.1.2 Các hình thức tổ chức thực hiện đấu thầu mua thuốc hiện nay
Thông tư số 15/2019 quy định ba cấp độ tổ chức đấu thầu mua thuốc cho các cơ sở y tế, gồm đấu thầu tập trung cấp quốc gia do Trung tâm Mua sắm tập trung thuốc thực hiện; đấu thầu tập trung ở cấp tỉnh và đấu thầu tại cơ sở y tế, nhằm tăng tính cạnh tranh, bảo đảm minh bạch và tối ưu hóa chi phí mua thuốc cho toàn hệ thống y tế.
Quốc gia tổ chức đấu thầu thuốc thuộc danh mục đấu thầu tập trung cấp quốc gia và danh mục thuốc đàm phán giá theo quy định tại Phụ lục II (chỉ đấu thầu các thuốc nhóm 1 và nhóm 2) và Phụ lục IV Thông tư số 15/2020; các cơ sở y tế căn cứ vào kết quả thông báo trúng thầu, thỏa thuận khung để thương thảo và ký hợp đồng cung ứng thuốc theo nhu cầu trong năm [9], [10] Đấu thầu tập trung cấp địa phương được thực hiện bởi đơn vị mua sắm tập trung cấp địa phương tổ chức đấu thầu 129 hoạt chất theo Phụ lục III Thông tư số 15/2020 cho tất cả các cơ sở y tế công lập trên địa bàn; các cơ sở y tế căn cứ vào kết quả thông báo trúng thầu, thỏa thuận khung để thương thảo và ký hợp đồng cung ứng thuốc theo nhu cầu trong năm, và các cơ sở y tế khác có thể áp dụng kết quả lựa chọn nhà thầu để mua thuốc theo hình thức mua sắm trực tiếp.
Thực trạng về việc thực hiện kết quả trúng thầu mua thuốc
1.2.1 Về cơ cấu cấu thuốc thực hiện theo kết quả trúng thầu
* Về số khoản mục và giá trị thực hiện so với kết quả trúng thầu
Theo quy định của Thông tư số 11/2016/TT-BYT và Thông tư số 15/2019/TT-BYT (thay thế Thông tư số 11/2016/TT-BYT kể từ ngày 1/10/2019), tất cả các cơ sở y tế phải thực hiện tối thiểu 80% số lượng trúng thầu và tối thiểu 80% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết.
Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện kết quả này trên phạm vi các địa phương, việc tổ chức đấu thầu tập trung cho thấy hầu hết các địa phương đều gặp khó khăn trong việc đạt được mục tiêu đã đề ra Kết quả của nghiên cứu được trình bày chi tiết trong Bảng 1.3.
Bảng 1.1 Tỷ lệ số khoản mục và giá trị thuốc thực hiện so với thuốc trúng thầu
Tác giả (năm nghiên cứu)
Tỷ lệ SKM thực hiện (%)
Tỷ lệ giá trị thực hiện (%)
1 Hà Nội Nguyễn Thị Hồng Hà
Tác giả (năm nghiên cứu)
Tỷ lệ SKM thực hiện (%)
Tỷ lệ giá trị thực hiện (%)
2 Bắc Giang Nguyễn Thị Huyền Trang
3 Đồng Nai Nguyễn Đức Thu (2017)
4 Kiên Giang Kha Vĩnh Xuyên (2017)
5 Điện Biên Đinh Thùy Linh (2017-
6 Thanh Hóa Lê Anh Hiếu (2018) [17] 92 56
* Về thực hiện theo nhóm thuốc của gói thầu
Theo kết quả danh mục thuốc trúng thầu cho các gói đấu thầu tập trung cấp địa phương ở một số tỉnh, thuốc generic chiếm tỷ lệ cao nhất về cả số khoản mục và giá trị trúng thầu so với tổng số thuốc trúng thầu Cụ thể, thuốc generic chiếm khoảng 80%–90% về số khoản mục và khoảng 50%–70% về giá trị trúng thầu, được thể hiện chi tiết tại Bảng 1.4 và Bảng 1.5.
Bảng 1 2 Tỷ lệ số khoản mục thực hiện thuốc generic so với thuốc trúng thầu
Tác giả (Năm nghiên cứu)
Tỷ lệ SKM theo từng nhóm – Gói
Tác giả (Năm nghiên cứu)
Tỷ lệ SKM theo từng nhóm – Gói
5 Điện Biên Đinh Thùy Linh
6 Thanh Hóa Lê Anh Hiếu
Bảng 1 3 Tỷ lệ về giá trị thực hiện thuốc generic so với thuốc trúng thầu
Tác giả (năm nghiên cứu)
Tỷ lệ giá trị thực hiện (%)
Tỷ lệ giá trị theo từng nhóm – Gói
Tác giả (năm nghiên cứu)
Tỷ lệ giá trị thực hiện (%)
Tỷ lệ giá trị theo từng nhóm – Gói
7 Thanh Hóa Lê Anh Hiếu
Việc thực hiện kết quả trúng thầu theo nhóm thuốc cho thấy sự khác biệt giữa các nhóm thuốc, trong đó thuốc thuộc nhóm Biệt dược được thực hiện với tỷ lệ cao Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Hoàng Điệp, năm 2013 tỷ lệ thực hiện thuốc Nhóm Biệt dược là 113,5% giá trị trúng thầu và năm 2014 là 63,61% giá trị trúng thầu.
1.2.2 Về giá trị tiền thuốc sử dụng theo kết quả trúng thầu
Theo nghiên cứu do BHXH Việt Nam với sự hỗ trợ của các chuyên gia và Văn phòng Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam thực hiện, đã thu thập và phân tích dữ liệu thanh toán chi phí thuốc BHYT trên toàn quốc trong 6 tháng đầu năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016 (dựa trên quy mô, hạng bệnh viện, số lượt khám ngoại trú, nội trú, số ngày điều trị, tổng chi phí thuốc, tổng chi phí KCB) Kết quả cho thấy chi tiêu cho thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí y tế ở Việt Nam, và tỷ lệ chi cho thuốc trên tổng chi KCB nói chung cũng như tổng chi KCB BHYT ở Việt Nam cao hơn so với các nước có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng Theo đó, tổng chi cho thuốc từ Quỹ BHYT năm 2015 là 26.132 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 48,3%; năm 2016 là 31.5419 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 41% Qua so sánh chi phí sử dụng hai năm 2015 và 2016, một số nhóm thuốc có chi phí sử dụng năm 2016 tăng trên 30% so với năm 2015, nổi bật là chi phí nhóm thuốc điều trị ung thư tăng 62% so với năm 2015, và một số nhóm thuốc khác cũng ghi nhận mức tăng đáng kể.
11 insulin và thuốc hạ đường huyết tăng 38%, nhóm thuốc kháng acid và thuốc chống loét tăng nhiều nhất là 183% so với năm 2015 [1]
Trong giai đoạn 2018-2019, quỹ BHYT thanh toán cho tiền thuốc tân dược khoảng 37.000 tỷ đồng; riêng thuốc biệt dược gốc chiếm 11.500 tỷ đồng, chiếm 26,5%, con số khá cao so với các nước trên thế giới Một số địa phương có thanh toán BHYT cho biệt dược gốc ở tỷ lệ cao như TP.HCM 44,5% và Hà Nội 38,9% do có nhiều bệnh viện tuyến đầu; một số tỉnh khác như Khánh Hòa chiếm khoảng 30%, tập trung chi vào các bệnh như ung thư, tim mạch, tiêu hóa… Theo so sánh, nếu thay thế những loại thuốc biệt dược gốc bằng thuốc generic nhóm 1, Hà Nội có thể tiết kiệm được 279 tỷ đồng và TP.HCM tiết kiệm được 523 tỷ đồng [30].
Về kết quả thực hiện thuốc trúng thầu từ một số nghiên cứu cho thấy vẫn còn tình trạng một số cơ sở y tế không đảm bảo thuốc trúng thầu được sử dụng đúng quy định Tỷ lệ tuân thủ quy định ở các cơ sở này được ghi nhận ở mức trên 80% và không vượt quá 120%.
Theo tác giả Bùi Văn Đạm [13], tỷ lệ giá trị thuốc sử dụng so với giá trị trúng thầu tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương năm 2012 đạt 42,6% Những con số này phản ánh mức độ sử dụng thuốc so với giá trị trúng thầu trong năm 2012 tại bệnh viện này.
Theo tác giả Lê Thanh Tùng [25], tỷ lệ giá trị thuốc sử dụng tại Yên Bái năm 2013 đạt 94,4% so với thuốc trúng thầu, tuy nhiên năm 2014 chỉ đạt 65,2%
* Về cơ cấu nhóm tác dụng
Sử dụng kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Thùy Linh về “Phân tích việc thực hiện kết quả đấu thầu mua thuốc tập trung của các bệnh viện tuyến tỉnh trên địa bàn tỉnh Điện Biên”, nhóm thuốc chiếm tỷ lệ cao về cả số khoản mục lẫn giá trị sử dụng, cụ thể: nhóm Gây tê, mê chiếm 93,2% số khoản mục (SKM) và 90,9% giá trị sử dụng; nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 81,8% SKM và 50,2% giá trị; nhóm thuốc tim mạch chiếm 77,8% SKM và 78,2% giá trị; nhóm hoocmon và nội tiết chiếm 77,6% SKM và 62,5% giá trị.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trang cho thấy: Các thuốc trúng thầu theo nhóm tác dụng (bao gồm cả nhóm thuốc đông y, thuốc từ
Ở tỉnh Bắc Giang, có 12 nhóm tác dụng dược lý được sử dụng, cho thấy sự đa dạng của dược liệu và thuốc trong y học địa phương Nhóm thuốc tân dược chiếm tỷ lệ lớn về số khoản mục và giá trị, lần lượt đạt 89,6% số khoản mục và 89,9% giá trị; trong các thuốc tân dược, nhóm điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn có số khoản mục và giá trị cao nhất (20,5% số khoản mục và 30,4% giá trị), tiếp theo là nhóm thuốc tim mạch với 15,9% số khoản mục và 20,3% giá trị [26].
Kết quả nghiên cứu của Thạc sĩ dược học Trần Thị Thúy cho thấy các thuốc trúng thầu được sử dụng tại Bệnh viện 19/8 gồm 27 nhóm tác dụng dược lý, kinh phí mua thuốc tập trung vào 10 nhóm có giá trị sử dụng lớn nhất và chiếm 96,97% tổng giá trị tiền thuốc tại bệnh viện Đáng chú ý, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn có tỷ lệ sử dụng so với trúng thầu cao nhất là 131,16% và chiếm 18,79% tổng tiền thuốc sử dụng; nhóm thuốc điều trị ung thư và điều hòa miễn dịch có tỷ lệ sử dụng so với trúng thầu là 126,10% và chiếm 25,21% tổng giá trị tiền thuốc Như vậy, riêng hai nhóm thuốc trên đã chiếm 44% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng tại bệnh viện, với tỷ lệ thuốc được sử dụng so với trúng thầu vượt 100%.
Trên thế giới, nhóm thuốc kháng sinh có giá trị sử dụng lớn nhất Theo kết quả nghiên cứu năm 2011 tại 132 bệnh viện ở Đức cho thấy kháng sinh chiếm 25% tổng chi phí thuốc, trong đó 70% là chi phí cho điều trị bằng kháng sinh và 30% là chi phí cho kháng sinh dự phòng [28].
Tại Tây Ban Nha, nghiên cứu trong năm 2012-2013 trên 1190 bệnh nhân điều trị tại 03 bệnh viện thì chi phí tiền thuốc chiếm 39% trong tổng chi phí khám chữa bệnh, trong đó kháng sinh chiếm tỷ lệ lớn nhất [29]
*Về nguồn gốc xuất xứ
Cùng một dược chất, dạng bào chế, thuốc có nguồn gốc nhập khẩu thường có giá cao hơn thuốc sản xuất trong nước, vì phải chi phí về bảo quản, vận chuyển hoặc do chiến lược định giá của các hãng khác nhau Tuy nhiên, hiện nay thuốc có nguồn gốc nhập khẩu vẫn chiếm tỷ lệ cao trong chi phí mua thuốc tại các bệnh viện
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hằng khi nghiên cứu kết quả thuốc trúng thầu tập trung cấp Quốc gia năm 2019-2020 do BHXH Việt Nam thí
Các bệnh viện tuyến trung ương có giá trị thực hiện và tỷ lệ thực hiện thuốc nhập khẩu cao hơn thuốc sản xuất trong nước, chiếm 91,8% chi phí thực hiện và 74,2% tỷ lệ thực hiện Ở tuyến tỉnh và tuyến huyện, giá trị thực hiện thuốc nhập khẩu vẫn cao hơn thuốc sản xuất trong nước (74,4% và 51,34%), nhưng tỷ lệ thực hiện thuốc nhập khẩu lại thấp hơn tỷ lệ thực hiện thuốc sản xuất trong nước Tuyến xã dù có giá trị thực hiện thấp nhưng lại có tỷ lệ thực hiện thuốc nhập khẩu cao hơn thuốc sản xuất trong nước [16].
Các nguyên nhân dẫn đến một số bất cập trong thực hiện kết quả đấu thầu 15 1.4 Sơ lược ngành Y tế Bắc Ninh
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trang [26], có 225/1.155 khoản mục thuốc không được sử dụng (19,5%) và 57,7% số khoản mục thực hiện cung ứng không đạt 80%.
Theo kết quả nghiên cứu của Kha Vĩnh Xuyên [27], có 241/1575 thuốc trúng thầu không được sử dụng, chiếm 15% số khoản mục và 1.062/1.296 khoản mục (chiếm 81,9%) thuốc thực hiện dưới 80%
1.3 Các nguyên nhân dẫn đến một số bất cập trong thực hiện kết quả đấu thầu
Theo Thông tư số 15/2019/TT-BYT thay thế Thông tư số 11/2016/TT-BYT, các cơ sở y tế phải thực hiện tối thiểu 80% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết Đối với thuốc cấp cứu, thuốc giải độc, thuốc hiếm, thuốc kiểm soát đặc biệt, dịch truyền và các tình huống khác sau khi báo cáo cơ quan có thẩm quyền, cơ sở y tế bảo đảm thực hiện tối thiểu 50% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết Trường hợp cơ sở y tế không thực hiện tối thiểu 80% giá trị của từng phần trong hợp đồng đã ký kết, thì Thủ trưởng cơ sở y tế phải báo cáo, giải trình lý do với người có thẩm quyền.
Hiện nay việc thực hiện kết quả đấu thầu vẫn phổ biến hiện tượng lệch giữa kết quả đấu thầu và kết quả trúng thầu Nguyên nhân của hiện tượng này rất đa dạng, xuất phát từ nhiều yếu tố như bất cập trong quy trình đánh giá hồ sơ dự thầu, thay đổi yêu cầu và điều kiện hợp đồng, sự can thiệp hoặc thiếu minh bạch trong quá trình thẩm định, cũng như biến động giá và chi phí so với giá trúng thầu Những yếu tố này làm giảm tính minh bạch, gia tăng rủi ro lãng phí nguồn lực và ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư công.
* Nguyên nhân do các cơ sở y tế
Theo một số đề tài nghiên cứu phân tích các nguyên nhân thuốc trúng thầu nhưng không thực hiện hoặc thực hiện dưới 80% nguyên nhân do:
- Đơn vị tự nhận dự kiến nhu cầu không sát với thực tế; số lượng bệnh nhân giảm, mô hình bệnh tật thay đổi [17]
Giá thuốc vẫn còn cao và thuốc được chia thành nhiều nhóm với các hàm lượng thay thế; thuốc sản xuất ở nước ngoài thường có giá cao, vì vậy ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước với mức giá hợp lý để tối ưu chi phí điều trị [23].
Đơn vị dự trù chưa sát với thực tế sử dụng, dẫn đến việc điều chỉnh phác đồ điều trị mới và mô hình bệnh tật thay đổi liên tục Do đó, bác sĩ không ưu tiên lựa chọn thuốc có tác dụng hỗ trợ, bổ trợ trong điều trị [23].
- Do Bảo hiểm xã hội tỉnh cảnh báo sử dụng thuốc sẽ vượt quỹ, vượt trần BHYT hoặc do đơn vị chậm thanh toán cho nhà thầu [23]
- Do bác sĩ chuyên môn đi học, điều chuyển cho cơ sở y tế khác, số thẻ bảo hiểm y tế giảm [15]
Nguyên nhân thực hiện vượt 120% do [23]:
- Đơn vị triển khai nhiều kỹ thuật mới
- Nhu cầu sử dụng tăng
- Bệnh nhân nội trú tăng
* Nguyên nhân do phía nhà thầu
Theo một số nghiên cứu thì nguyên nhân nhà thầu không cung ứng hoặc cung ứng dưới 80% do:
- Chưa nhập khẩu được thuốc, chưa sản xuất được, lượng tồn kho thực tế không đủ so với lượng nhu cầu cần cung ứng [17]
Sai sót trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu của nhà thầu có thể dẫn đến sai lệch và làm chậm tiến độ dự án Trong khi đó, nhà sản xuất có thể gặp khó khăn khi nâng cấp dây chuyền sản xuất hoặc chưa nhập được nguyên liệu, khiến nguồn cung bị gián đoạn Nguyên liệu nhập về chưa đáp ứng quy trình sản xuất tại công ty, làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu suất sản xuất Nhà sản xuất phải chờ Cục Quản lý Dược phê duyệt giấy phép nhập khẩu và quá trình nhập khẩu để sản xuất diễn ra Việc nhà sản xuất thay đổi quy trình sản xuất có thể gây biến động chất lượng Tổng hợp lại, nhà sản xuất vi phạm chất lượng [23].
Trong quá trình triển khai đấu thầu tập trung, một số vướng mắc về quy định đã khiến các cơ sở khám chữa bệnh gặp khó khăn từ khi bắt đầu triển khai cho tới khi có kết quả và ký hợp đồng sử dụng thuốc Khi nhận văn bản lưu ý về việc sử dụng thuốc từ Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, nhiều cơ sở đã ngừng sử dụng hoặc chỉ sử dụng ở mức cầm chừng, gây gián đoạn công tác điều trị và quản lý thuốc tại bệnh viện.
1.4 Sơ lược ngành Y tế Bắc Ninh
1.4.1 Vài nét về ngành y tế của Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi với các tuyến quốc lộ chủ chốt như QL 18 và QL 1 Diện tích khoảng 824 km2, dân số khoảng 1,3 triệu người, khiến tỉnh có mật độ dân số cao trong khu vực.
Tổ chức bộ máy Sở Y tế Bắc Ninh gồm [20]:
1 Ban Giám đốc Sở Y tế gồm: Giám đốc và 03 Phó Giám đốc
2 Các Phòng thuộc Sở Y tế: 06 phòng, gồm:
Phòng Tổ chức- Hành chính, Thanh tra Sở; Phòng Nghiệp vụ Y, Phòng Nghiệp vụ Dược, Phòng Kế hoạch - Tài chính, phòng Dân số
3 Các cơ đơn vị trực thuộc Sở Y tế: gồm 18 đơn vị, cụ thể:
Hệ thống bệnh viện tuyến tỉnh bao gồm Bệnh viện Đa khoa tỉnh làm cơ sở chính và 6 bệnh viện chuyên khoa, gồm Bệnh viện Sản Nhi, Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Y học cổ truyền và phục hồi chức năng, Bệnh viện Da liễu, Bệnh viện Sức khỏe tâm thần và Bệnh viện Phổi.
- 03 Trung tâm chuyên môn, kỹ thuật tuyến tỉnh: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm kiểm nghiệm, Trung tâm Pháp y;
Hiện có 8 Trung tâm y tế cấp huyện, thị xã, thành phố và 126 Trạm y tế Trạm y tế là đơn vị y tế thuộc Trung tâm y tế tuyến huyện, chịu sự quản lý toàn diện và trực tiếp điều hành của Giám đốc Trung tâm y tế.
Hệ thống ngoài công lập:
- 04 Bệnh viện, 45 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc; hơn 800 nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý thuốc; hơn 200 phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa…
Trong những năm qua, ngành Y tế Bắc Ninh đã tăng cường công tác quản lý nhà nước về dược trên toàn tỉnh nhằm đảm bảo cung ứng đầy đủ thuốc và vật tư y tế cho cộng đồng Việc đẩy mạnh công tác cấp phép, kiểm nghiệm chất lượng và giám sát phân phối dược phẩm đã giúp ổn định nguồn cung, giảm thiểu tình trạng thiếu thuốc và tăng cường an toàn cho người bệnh Ngành y tế địa phương tổ chức hệ thống quản lý kho vận dược, theo dõi tồn kho và liên kết chặt chẽ với các cơ sở khám chữa bệnh, nhà phân phối dược phẩm nhằm đảm bảo phân bổ nguồn lực dược phẩm hợp lý, minh bạch và hiệu quả Các chính sách quản lý dược được triển khai đồng bộ, kết hợp với thanh tra, giám sát giá thuốc và kiểm soát các hoạt động nhập khẩu - sản xuất - phân phối để đảm bảo chất lượng và giá cả phù hợp Nhờ đó, công tác cung ứng dược trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã được cải thiện, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân và góp phần nâng cao hiệu quả hệ thống y tế địa phương.
18 kịp thời nhu cầu thuốc, vật tư y tế tiêu hao, hóa chất xét nghiệm phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trong toàn tỉnh
1.4.2 Về hoạt động đấu thầu mua thuốc tại Bắc Ninh
Từ năm 2010, UBND tỉnh giao cho Sở Y tế thực hiện đấu thầu tập trung thuốc, và kết quả đấu thầu được áp dụng cho tất cả các đơn vị khám chữa bệnh công lập và ngoài công lập có hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế với Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh Thời gian áp dụng kết quả là 12 tháng kể từ ngày phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu Đối với các thuốc ngoài danh mục lựa chọn nhà thầu tập trung tại Sở Y tế nhưng có trong danh mục phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu và không trúng thầu, các đơn vị khám chữa bệnh tổ chức thực hiện mua sắm theo các quy định pháp luật hiện hành.
Sau 10 năm thực hiện đấu thầu tập trung, Sở Y tế Bắc Ninh đã xây dựng và củng cố đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao và có khả năng huy động nguồn lực dược từ khắp tỉnh tham gia vào các hoạt động đấu thầu Việc tập trung nguồn lực và điều phối nhân sự dược trên toàn tỉnh cho thấy hiệu quả trong tổ chức và quản lý công tác đấu thầu, đồng thời nâng cao năng lực thực thi và chất lượng quá trình lựa chọn nhà thầu Những thành công ban đầu được ghi nhận từ việc tăng cường cạnh tranh trên thị trường, tối ưu hóa chi phí mua sắm và đảm bảo cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế đáp ứng nhu cầu địa phương Nhìn về tương lai, Bắc Ninh tiếp tục phát huy thế mạnh về nguồn lực và quy trình chuẩn hóa nhằm mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả của hoạt động đấu thầu tập trung.
* Kết quả đấu thầu trong 03 năm gần đây (2019-2021) của Gói thầu thuốc Generic, Generic bổ sung và Gói thuốc Cổ truyền tại Sở Y tế Bắc Ninh như sau:
Bảng 1 4 Tình hình đấu thầu thuốc tập trung tại Sở Y tế Bắc Ninh từ năm 2019-2021
STT Nội dung Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021
1 Số khoản mục đấu thầu 1.077 1.111 1.163
2 Số khoản mục trúng thầu 921 941 1.046
3 Giá trị trúng thầu (triệu đồng) 306.349 327.609 351.185
4 Giá trị thực hiện (triệu đồng) 301.648 293.687 264.681
6 Số nhà thầu trúng thầu 71 99 131
Bảng 1 5 Danh sách các cơ sở khám chữa bệnh công lập sử dụng danh mục thuốc đấu thầu tập trung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
STT Tên đơn vị Hạng bệnh viện
1 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hạng 1
2 Bệnh viện Sản Nhi Hạng 1
3 Trung tâm Y tế huyện Tiên Du Hạng 2
4 Trung tâm Y tế huyện Gia Bình Hạng 2
5 Trung tâm Y tế huyện Thuận Thành Hạng 2
6 Trung tâm Y tế huyện Quế Võ Hạng 2
7 Trung tâm Y tế huyện Lương Tài Hạng 2
8 Trung tâm Y tế huyện Yên Phong Hạng 2
9 Trung tâm Y tế thành phố Từ Sơn Hạng 2
10 Bệnh viện YHCT và PHCN Hạng 2
12 Bệnh viện Sức khỏe tâm thần Hạng 2
14 Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hạng 3
15 Trung tâm Y tế thành phố Hạng 3
17 Bệnh viện Da liễu Hạng 3
* Ưu điểm của việc đấu thầu mua thuốc tập trung tại Bắc Ninh
- Giá thuốc thống nhất trong toàn tỉnh cho cùng một mặt hàng, trong vòng
- Cung ứng cơ bản đủ thuốc cho nhu cầu sử dụng của các đơn vị khám, chữa bệnh công lập
Việc huy động nguồn nhân lực từ các đơn vị trên toàn tỉnh đồng thời tạo môi trường đào tạo, tập huấn và nâng cao kiến thức, trình độ cho cán bộ tuyến dưới để thực hiện tốt công tác mua sắm và đấu thầu.
Giảm thời gian, nguồn lực và chi phí liên quan đến quy trình đấu thầu tại các cơ sở khám chữa bệnh giúp tối ưu hóa hoạt động mua sắm thuốc và trang thiết bị y tế Quá trình này được đơn giản hóa và có thể được tự động hóa để giảm gánh nặng hành chính, tăng tính minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý nguồn lực Nhờ đó, đơn vị có thể tập trung nhiều hơn vào công tác chuyên môn về dược bệnh viện, từ đó cải thiện chất lượng điều trị và an toàn thuốc cho người bệnh.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Danh mục thuốc trúng thầu năm 2020 của Sở Y tế Bắc Ninh
- Danh mục thuốc thực hiện của các đơn vị công lập (17 bệnh viện và trung tâm y tế) theo kết quả trúng thầu năm 2020
2.1.1 Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 31/3/2020 đến 31/3/2021
(Do hợp đồng giữa nhà thầu và đơn vị KCB theo kết quả đấu thầu năm 2020 hết hiệu lực vào ngày 31/3/2021)
Sở Y tế Bắc Ninh Số 3, đường Lý Thái Tổ, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Phương pháp nghiên cứu
Bảng 2.6 Biến số nghiên cứu xác định các bất cập trong việc thực hiện kết quả đấu thầu mua thuốc tập trung tại Sở Y tế Bắc Ninh năm 2020
TT Tên biến Định nghĩa/giải thích Phân loại biến Kỹ thuật thu thập
Thuốc trúng thầu không được thực hiện, thực hiện không đúng quy định
Là các thuốc trúng thầu không được thực hiện, thực hiện không đúng quy định tại các cơ sở y tế
Dựa trên tài liệu sẵn có:
DMT trúng thầu và Báo cáo thực hiện thuốc trúng thầu năm
Thuốc trúng thầu không thực hiện, thực hiện không đúng quy định theo nhóm
Là thuốc trúng thầu không thực hiện, thực hiện không đúng quy định theo nhóm của gói thầu của Thông tư 15/2019: Nhóm 1, Nhóm 2…
Dựa trên tài liệu sẵn có: DMT trúng thầu và Báo cáo thực hiện thuốc trúng thầu năm 2020
TT Tên biến Định nghĩa/giải thích Phân loại biến Kỹ thuật thu thập gói thầu
Thuốc trúng thầu không được thực hiện, thực hiện không đúng quy định theo nguồn gốc, xuất xứ của thuốc
Là thuốc trúng thầu không thực hiện, thực hiện không đúng quy định theo nguồn gốc, xuất xứ của thuốc:
Dựa trên tài liệu sẵn có: DMT trúng thầu và Báo cáo thực hiện thuốc trúng thầu năm 2020
Thuốc trúng thầu không được thực hiện, thực hiện không đúng quy định theo nhóm tác dụng dược lý
Là thuốc trúng thầu không thực hiện, thực hiện không đúng quy định theo nhóm tác dụng dược lý quy định tại
-Thuốc giảm đau, hạ sốt -…
Dựa trên tài liệu sẵn có: DMT trúng thầu và Báo cáo thực hiện thuốc trúng thầu năm 2020
Thuốc trúng thầu không được thực hiện, thực hiện không đúng quy định theo hạng cơ sở
- Là thuốc trúng thầu không thực hiện, thực hiện không đúng quy định theo phân hạng cơ sở KCB: Hạng 1, Hạng
Dựa trên tài liệu sẵn có: DMT trúng thầu và Báo cáo thực hiện thuốc trúng thầu năm 2020
Bảng 2.7 Biến số nghiên cứu các nguyên nhân về việc không thực hiện, thực hiện 120% theo nhóm tác dụng dược lý, kết quả như sau:
Bảng 3 21 Tỷ lệ số khoản mục và giá trị thuốc thực hiện >120% theo nhóm tác dụng dược lý
Số khoản mục Giá trị (triệu đồng)
2 Thuốc giảm đau, hạ sốt; chống viêm không steroid
Thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn
4 Thuốc điều trị ung thư 15 01 6,7 4.315 153 3,5
5 Thuốc tác dụng đối với máu 18 01 5,6 11.917 4.788 40,2
Hocmon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết
Trong danh mục thuốc, nhóm tân dược có tỷ lệ trúng thầu vượt ngưỡng 120% ở mức 3,1% của 867 khoản mục (27/867) Về giá trị, nhóm tân dược chiếm 10,4% tổng giá trị trúng thầu, tương đương 30,5/292,7 tỷ đồng; ngược lại, nhóm thuốc cổ truyền không có khoản mục nào vượt ngưỡng 120%.
Đối với thuốc tân dược, phân tích 10 nhóm tác dụng dược lý chính cho thấy nhóm thuốc hooc môn và nội tiết có tỷ lệ khoản mục thực hiện trên 120% lớn nhất, ở mức 8,8% (07/80 KM) và tương ứng chiếm 17,7% về giá trị (6,9/38,9 tỷ đồng) Nhóm thuốc điều trị ung thư có 6,7% khoản mục thực hiện trên 120%; tiếp theo là nhóm gây tê, mê với 6,5%; nhóm dịch truyền 5,9%; riêng nhóm giảm đau, hạ sốt, chống viêm và nhóm khoáng chất, vitamin thì không có thuốc nào thực hiện trên 120%.
3.1.3.5 Các thuốc trúng thầu thực hiện >120% theo hạng bệnh viện
Bảng 3.22 Số khoản mục, giá trị thuốc thực hiện >120% theo hạng bệnh viện
STT Tên hạng bệnh viện
Số khoản mục Giá trị (Triệu đồng)
Phân tích theo hạng bệnh viện cho thấy bệnh viện hạng I có tỷ lệ số khoản mục thuốc thực hiện vượt 120% cao nhất, chiếm 12,8% (76 trên 595 khoản mục), tương ứng 19,6% về giá trị (18,6 trên 94,6 tỷ đồng); bệnh viện hạng II có tỷ lệ này là 4,6% và 9,5% về giá trị; trong khi bệnh viện hạng III là thấp nhất, với 3,3% số khoản mục và 6,6% về giá trị.
So sánh các thuốc trúng thầu thực hiện <50% trong đó có thuốc thay thế hoặc không có thuốc thay thế
Bảng 3.23 Các thuốc thực hiện