1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÙI PHƯƠNG THẢO TỔNG QUAN hệ THỐNG về ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG của BỆNH NHÂN UNG THƯ vú KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ

85 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bùi Phương Thảo Tổng Quan Hệ Thống Về Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống Của Bệnh Nhân Ung Thư Vú
Tác giả Bùi Phương Thảo
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Lan Anh, ThS. Dương Viết Tuấn
Trường học Bộ Y Tế Trường Đại Học Dược Hà Nội
Chuyên ngành Dược sĩ
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (9)
    • 1.1. Khái quát về ung thư vú (9)
      • 1.1.1. Khái niệm, triệu chứng, các giai đoạn bệnh và điều trị (9)
      • 1.1.2. Dịch tễ học (11)
      • 1.1.3. Gánh nặng bệnh tật (12)
    • 1.2. Khái quát về chất lượng cuộc sống (14)
      • 1.2.1. Chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (14)
      • 1.2.2. Mô hình các khía cạnh của chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về (15)
  • CLCS 8 1.2.3. Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống (0)
    • 1.2.4. Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về CLCS để đánh giá CLCS của bệnh nhân ung thư Vú (18)
    • 1.2.5. Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú (19)
    • 1.3. Khái quát về phương pháp tổng quan (21)
      • 1.3.1. Định nghĩa và ứng dụng của tổng quan hệ thống (21)
      • 1.3.2. Các bước tiến hành tổng quan hệ thống (22)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (28)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 2.2.1. Phương pháp tìm kiếm tài liệu (28)
      • 2.2.2. Tiêu chuẩn và phương pháp lựa chọn/ loại trừ (29)
      • 2.2.3. Phương pháp sàng lọc (31)
      • 2.2.4. Trích xuất dữ liệu (31)
      • 2.2.5. Đánh giá chất lượng các bài báo được chọn (31)
      • 2.2.6. Xử lý số liệu (32)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1. Lựa chọn nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống (33)
    • 3.2. Đánh giá chất lượng các nghiên cứu (34)
    • 3.3. Tổng quan đánh giá CLCS trong các nghiên cứu (35)
      • 3.3.1. Đặc điểm các nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống (35)
      • 3.3.2. Đặc điểm của bệnh nhân ung thư vú trong các nghiên cứu (36)
      • 3.3.3. Bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống (36)
      • 3.3.4. Các khía cạnh của chất lượng cuộc sống (37)
    • 3.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới CLCS trong các nghiên cứu (39)
      • 3.4.1. Các yếu tố nhân khẩu học (39)
      • 3.4.2. Các yếu tố thuộc về điều trị (40)
      • 3.4.3. Các biện pháp hỗ trợ can thiệp (43)
      • 3.4.4. Thuốc bổ sung và thay thế (45)
      • 3.4.5. Các yếu tố ảnh hưởng khác (46)

Nội dung

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT QOL Quality of life Chất lượng cuộc sống HRQOL Health related quality of life Chất lượng cuộc sống liên quan tới sức khỏe UTV Ung thư vú SR Sys

TỔNG QUAN

Khái quát về ung thư vú

1.1.1 Khái niệm, triệu chứng, các giai đoạn bệnh và điều trị

Theo WHO, ung thư vú phát sinh từ các tế bào biểu mô của ống dẫn (85%) hoặc tiểu thùy (15%) trong mô tuyến vú Ban đầu, khối u giới hạn ở ống dẫn hoặc tiểu thùy (tại chỗ), thường không gây triệu chứng và có khả năng di căn tối thiểu Theo thời gian, các khối u tại chỗ này có thể tiến triển xâm lấn sang các mô vú xung quanh (ung thư vú xâm lấn), rồi di căn đến hạch bạch huyết vùng hoặc tới các cơ quan xa trong cơ thể.

Nhìn chung, các triệu chứng của ung thư vú bao gồm:

- Một khối u hoặc dày lên ở vú

- Sự thay đổi về kích thước, hình dạng hoặc trạng thái vú

- Lúm đồng tiền, mẩn đỏ, rỗ hoặc các thay đổi khác trên da

- Thay đổi hình dạng núm vú hoặc thay đổi vùng da xung quanh núm vú (quầng vú)

- Tiết dịch núm vú bất thường

Ung thư vú có thể biểu hiện theo nhiều cách khác nhau, vì vậy phụ nữ có các bất thường dai dẳng (thường kéo dài hơn một tháng) nên trải qua các xét nghiệm bao gồm chụp ảnh vú và, trong một số trường hợp, lấy mẫu mô (sinh thiết) để xác định xem khối u là ác tính (ung thư) hay lành tính.

Ung thư tiến triển có thể xâm lấn qua da để gây ra các vết loét hở, dù không phải lúc nào cũng gây đau Phụ nữ có vết thương ở vú kéo dài nên được thực hiện sinh thiết để xác định liệu có khối u ác tính hay không Ung thư vú có thể di căn sang các khu vực khác của cơ thể và gây ra các triệu chứng mới, trong đó vị trí di căn thường gặp nhất là hạch bạch huyết ở vùng nách Theo thời gian, tế bào ung thư có thể lan tới các cơ quan như phổi, gan, não và xương; khi khối u tới những vị trí này, triệu chứng liên quan đến ung thư sẽ xuất hiện, ví dụ đau xương hoặc đau đầu.

Các giai đoạn của UTV được xác định dựa trên kích thước khối u, loại khối u và lượng tế bào khối u đã thâm nhập vào mô vú Việc đánh giá các yếu tố này giúp xác định mức độ tiến triển của bệnh và ảnh hưởng đến phương án điều trị cũng như tiên lượng Mô tả về các giai đoạn khối u liên quan được tham khảo từ nguồn [5].

Giai đoạn 0 của ung thư vú là ung thư vú tại chỗ, giai đoạn không xâm lấn Lúc này khối u chỉ nằm trong ống dẫn sữa hoặc tiểu thùy và các tế bào ung thư chưa xâm nhập vào mô vú lân cận, nghĩa là khối u bắt đầu phát triển mà chưa phá vỡ giới hạn mô quanh nó.

Giai đoạn 1 của ung thư biểu mô vú xâm lấn được chia thành hai trường hợp: 1A và 1B Ở giai đoạn 1A, khối u có kích thước lên đến 2 cm và không có hạch bạch huyết nào liên quan Ở giai đoạn 1B, một nhóm nhỏ tế bào ung thư lớn hơn 0,2 mm xuất hiện trong hạch bạch huyết, cho thấy xâm lấn vi mô ở mức độ sớm của ung thư vú.

Giai đoạn 2 của ung thư vú gồm hai giai đoạn 2A và 2B: 2A mô tả khối u được phát hiện trong các hạch bạch huyết ở nách hoặc trong hạch gác (hạch đầu tiên nhận di căn từ khối u nguyên phát), nhưng không tìm thấy khối u ở vú; kích thước khối u có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn 2 cm nhưng không quá 5 cm Trong khi đó, 2B mô tả khối u có thể lớn hơn 5 cm nhưng không di chuyển đến các hạch bạch huyết ở nách.

Ung thư vú giai đoạn đầu: kích thước khối u nhỏ hơn 5 cm và tế bào ung thư chưa lan đến quá 3 hạch bạch huyết Bao gồm: 1A, 1B và 2A

Giai đoạn 3: được chia thành 3 giai đoạn là 3A, 3B và 3C Trong đó, ở giai đoạn

Giai đoạn 3A: không thấy khối u ở vú nhưng có thể được tìm thấy trong hạch bạch huyết ở nách hoặc trong các hạch bạch huyết khác; Giai đoạn 3B: khối u có thể có kích thước bất kỳ nhưng đã gây sưng hoặc loét trên da vú và có thể đã lan đến hạch bạch huyết ở nách hoặc đến các hạch bạch huyết trọng điểm (tình trạng viêm da vú: da vú đỏ, ấm và sưng lên); Giai đoạn 3C mô tả sự lan rộng của khối u lên đến 10 hoặc hơn 10 hạch bạch huyết ở nách và nó cũng liên quan đến các hạch bạch huyết trên và dưới xương đòn.

Giai đoạn 4 của ung thư vú là giai đoạn tiến triển và di căn, mô tả tình trạng khối u đã lây sang các cơ quan khác của cơ thể như phổi, xương, não và gan, được gọi là ung thư vú di căn Điều trị cho ung thư vú giai đoạn 4 nhằm kiểm soát sự phát triển của bệnh, giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống, với các phương pháp như điều trị nội tiết, hóa trị, liệu pháp nhắm đích, xạ trị và chăm sóc giảm triệu chứng Việc quản lý ung thư vú di căn còn đòi hỏi theo dõi y tế thường xuyên và chăm sóc toàn diện để tối ưu hóa kết quả cho người bệnh.

Về mặt lâm sàng, mục tiêu của điều trị ung thư vú là loại bỏ tất cả khối u có thể nhìn thấy được và quản lý bệnh lâu dài Điều trị ung thư vú có thể mang lại hiệu quả cao, với xác suất sống sót 90% hoặc cao hơn, đặc biệt khi bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn sớm Hiệu quả của các liệu pháp điều trị phụ thuộc vào toàn bộ quá trình điều trị và phối hợp các bước can thiệp; điều trị một phần sẽ ít có khả năng dẫn đến kết quả tích cực Tỷ lệ sống sót được tối ưu hóa khi phác đồ đầy đủ được thực thi và theo dõi chặt chẽ.

5 năm sau chẩn đoán ung thư vú ngày càng được cải thiện, với các con số sống sót sau 5 năm theo từng giai đoạn ở Hoa Kỳ thay đổi giữa hai khoảng thời gian 2001–2002 và 2012 Cụ thể, năm 2001–2002 giai đoạn 0: 100%; giai đoạn I: 88%; giai đoạn II: 74–81%; giai đoạn III: 41–67%; giai đoạn IV: 15%; đến năm 2012, tỷ lệ này là giai đoạn 0–I: 100%; giai đoạn II: 93%; giai đoạn III: 72%; giai đoạn IV: 22% [1] Điều trị ung thư vú thường bao gồm phẫu thuật và xạ trị để kiểm soát khối u, hạch bạch huyết và các khu vực xung quanh (kiểm soát vùng); liệu pháp toàn thân bằng thuốc chống ung thư được uống hoặc tiêm tĩnh mạch để điều trị và/hoặc làm giảm nguy cơ di căn Các loại thuốc chống ung thư có thể là liệu pháp nội tiết (hormone), hóa trị và trong một số trường hợp là liệu pháp sinh học nhắm mục tiêu (kháng thể).

Trước đây, mọi bệnh nhân ung thư vú đều được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ vú hoàn toàn Ngày nay, phần lớn trường hợp có thể được điều trị bằng một thủ thuật ít xâm lấn hơn gọi là cắt bỏ khối u hoặc cắt bỏ một phần vú, chỉ loại bỏ khối u và bệnh nhân được yêu cầu xạ trị vú để giảm nguy cơ tái phát tại vú Đối với ung thư vú xâm lấn, hạch bạch huyết được loại bỏ tại thời điểm phẫu thuật Trước đây, bóc tách hoàn toàn hạch bạch huyết ở nách được cho là cần thiết để ngăn chặn sự lây lan của khối u; hiện nay, sinh thiết nút trọng điểm—một thủ thuật hạch bạch huyết nhỏ hơn được ưa chuộng vì ít biến chứng hơn—sử dụng thuốc nhuộm và/hoặc chất đánh dấu phóng xạ để tìm một vài hạch bạch huyết đầu tiên mà ung thư có thể lan từ vú.

Các phương pháp y tế để điều trị UTV, có thể được đưa ra trước phẫu thuật (tân bổ trợ) hoặc sau phẫu thuật (bổ trợ)

- Ung thư biểu hiện thụ thể estrogen (ER) và / hoặc thụ thể progesterone (PR) (dương tính với hormone) có khả năng đáp ứng với các liệu pháp nội tiết (hormone) như thuốc ức chế tamoxifen hoặc aromatase Những loại thuốc này được dùng bằng đường uống trong vòng 5-10 năm và giảm gần một nửa khả năng tái phát Các liệu pháp nội tiết có thể gây ra các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh nhưng nhìn chung được dung nạp tốt

Ung thư vú âm tính với thụ thể hormone ER và PR (ER-/PR-), nghĩa là không biểu hiện các thụ thể này, thường được điều trị bằng hóa trị liệu trừ khi khối u rất nhỏ Các phác đồ hóa trị hiện nay có hiệu quả cao trong việc giảm nguy cơ di căn và tái phát ung thư, và thường được áp dụng dưới dạng liệu pháp điều trị ngoại trú Hóa trị ung thư vú nói chung không yêu cầu nhập viện nếu không có biến chứng.

Xạ trị đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị ung thư vú và có thể giúp bảo tồn vú ở giai đoạn đầu bằng cách ngăn ngừa việc phụ nữ phải phẫu thuật cắt bỏ vú Ở giai đoạn sau, xạ trị có thể làm giảm nguy cơ tái phát ung thư ngay cả khi đã thực hiện phẫu thuật cắt bỏ vú Trong giai đoạn nặng của ung thư vú, một số trường hợp xạ trị có thể làm giảm khả năng tử vong do bệnh.

So sánh với các loại bệnh ung thư khác về tỷ lệ mới mắc

Khái quát về chất lượng cuộc sống

1.2.1 Chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe

Chất lượng cuộc sống (QOL) là khái niệm đa chiều liên quan đến sức khỏe, bao gồm các yếu tố thể chất, chức năng, tâm lý/cảm xúc và phúc lợi xã hội Đánh giá QOL giúp phản ánh mức độ ảnh hưởng của các yếu tố liên quan đến sức khỏe lên cuộc sống hàng ngày Trong điều trị ung thư, QOL được xem là một kết quả quan trọng vì bệnh nhân thường gặp giảm sút chất lượng cuộc sống trong quá trình hóa trị.

Chất lượng cuộc sống là khái niệm hướng sự chú ý tới bản thể xã hội và tâm lý hoàn chỉnh, nơi cá nhân thực hiện các vai trò xã hội, thể hiện sự nhạy bén về tinh thần, trải nghiệm trạng thái và cảm giác hạnh phúc, đồng thời xây dựng mối quan hệ với những người khác Tuy nhiên, khái niệm này khá trừu tượng và khó đo lường, đặc biệt khi đánh giá kinh nghiệm sống và ý nghĩa của hành động.

Mặc dù CLCS có vai trò quan trọng trong y tế và chăm sóc sức khỏe, vẫn đang tồn tại tranh luận về khái niệm và phương pháp luận liên quan đến ý nghĩa của CLCS và những tiêu chí nên được đo lường Hiện chưa có định nghĩa thống nhất cho khái niệm này, và các tổ chức y tế khác nhau đưa ra cách tiếp cận đa dạng để làm rõ CLCS Việc xây dựng một khung đo lường CLCS phù hợp đòi hỏi sự đồng thuận giữa các bên liên quan và sự cân nhắc các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc sức khỏe.

Chất lượng cuộc sống (CLCS) theo WHO là cảm nhận của từng cá nhân về vị trí của họ trong bối cảnh văn hóa mà họ đang sống và hệ thống giá trị liên quan như mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm khác Đây là một khái niệm rộng, bị chi phối bởi sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, mức độ độc lập, các mối quan hệ xã hội, tín ngưỡng cá nhân và môi trường xung quanh.

Việc theo dõi định kỳ và đo lường CLCS, cùng với can thiệp kịp thời, có thể nâng cao cảm xúc và các yếu tố liên quan khác về thể chất và tinh thần của bệnh nhân ung thư Nhờ đó, quá trình giảm triệu chứng được cải thiện, chăm sóc và phục hồi chức năng được đẩy mạnh, từ đó đạt được kết quả lâu dài tốt hơn cho người bệnh.

Kiến thức về CLCS rất quan trọng để hiểu được hậu quả của bệnh tật và phương pháp điều trị, cũng như để ra quyết định y tế giữa các nhóm tuổi và nền văn hóa CLCS được xem như một điểm cuối quan trọng trong nghiên cứu y tế và sức khỏe, giúp đánh giá kết quả và tác động của các can thiệp Nghiên cứu về CLCS liên quan đến nhiều nhóm mục tiêu và thiết kế nghiên cứu khác nhau, nhằm cung cấp bằng chứng có thể so sánh và áp dụng rộng rãi trong thực tiễn chăm sóc sức khỏe.

“Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe” (Health related quality of life

HRQOL (Health-Related Quality of Life) là khái niệm mô tả các khía cạnh sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống, phản ánh tác động của bệnh tật và quá trình điều trị đối với tình trạng khuyết tật và hoạt động hàng ngày của người bệnh; đồng thời nó thể hiện ảnh hưởng của nhận thức về sức khỏe đối với khả năng sống một cuộc sống viên mãn của mỗi cá nhân Nói một cách cụ thể, HRQOL là một thước đo giá trị cho thời gian sống gắn với trạng thái sức khỏe và chất lượng cuộc sống mà người bệnh trải qua trong các giai đoạn bệnh lý khác nhau.

Chất lượng cuộc sống được định hình bởi sự suy giảm chức năng, trạng thái nhận thức và cơ hội tham gia xã hội, chịu ảnh hưởng bởi bệnh tật, chấn thương, quá trình điều trị và các chính sách liên quan Các yếu tố này gắn kết với nhau và ảnh hưởng đến mức độ tham gia vào hoạt động hàng ngày và sự hài lòng của cá nhân, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của chăm sóc y tế, hỗ trợ xã hội và điều chỉnh chính sách để tối ưu chất lượng sống [20].

Các thuật ngữ HRQOL (Health-Related Quality of Life) và QOL (Quality of Life) thường được dùng thay thế cho nhau trong tài liệu y tế, nhưng chúng có các định nghĩa và mục đích sử dụng khác nhau Việc không phân biệt hai khái niệm này dẫn đến hiểu nhầm và gây ra hạn chế về khái niệm và phương pháp luận trong hầu hết các nghiên cứu CLCS (Chất lượng Cuộc sống) trong lĩnh vực y tế và sức khỏe [20] [4] Do đó, phân biệt rõ HRQOL và QOL là cần thiết để cải thiện đo lường, so sánh và tổng hợp kết quả nghiên cứu CLCS trong y tế và sức khỏe.

1.2.2 Mô hình các khía cạnh của chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về

Vì các khía cạnh đa chiều của Chất lượng cuộc sống (CLCS) và sự đa dạng của cách dùng thuật ngữ này trên nhiều tình trạng sức khỏe khác nhau, các nhà nghiên cứu đã áp dụng nhiều mô hình CLCS khác nhau để hướng dẫn nghiên cứu của họ [8][27] CLCS được xem là động, chủ quan và đa chiều, với các chiều thường gồm thể chất, xã hội, tâm lý và tinh thần, hoặc có thể cụ thể hơn như cảm xúc, chức năng nhận thức, tình trạng kinh tế và trí tuệ [8][27] Với mỗi khía cạnh, CLCS có thể được nhìn nhận khác nhau và có sự khác biệt có trọng lượng Những thay đổi ở một khía cạnh có thể ảnh hưởng đến nhận thức và trải nghiệm ở các khía cạnh khác Chẳng hạn, sự gián đoạn trong lĩnh vực vật lý có thể ảnh hưởng đến tâm lý của cá nhân hoặc phúc lợi xã hội [27].

Một số mô hình CLCS được sử dụng phổ biến đó là: [7]

Mô hình CLCS của Wilson và Cleary là sự hợp nhất giữa hai khung lý thuyết y sinh và khoa học xã hội, nhằm giải thích cách các yếu tố sinh học và các yếu tố nhận thức, xã hội tác động đến chất lượng cuộc sống liên quan sức khỏe Mô hình này được xác định rõ bởi năm lĩnh vực chính: sinh học, triệu chứng, chức năng, nhận thức sức khỏe chung và CLCS tổng thể.

- Mô hình CLCS của Ferrans và cộng sự (xuất bản bản sửa đổi mô hình CLCS của Wilson và Cleary)

- Mô hình CLCS của tổ chức y tế thế giới World Health Organization International Classification of Functioning Disability and Health (WHO ICF)

Điểm chung của các mô hình hiện tại là không tập trung vào bệnh nhân ung thư ở độ tuổi trưởng thành Trong việc đo lường chất lượng cuộc sống của người sống sót sau ung thư (CLCS), Ferrell và các cộng sự đã trình bày một mô hình gồm bốn lĩnh vực chính.

- thể chất, xã hội, tâm lý và tinh thần [27] [14]

Hình 1.2 : Các khía cạnh CLCS trong mô hình Ferrell

Sức khỏe thể chất là trạng thái cho phép kiểm soát hoặc giảm bớt các triệu chứng, duy trì chức năng và tính độc lập của cơ thể Nó liên quan đến thể lực và mức độ mệt mỏi, khả năng thực hiện các hoạt động chức năng hàng ngày, chất lượng giấc ngủ và nghỉ ngơi, mức độ đau đớn, khả năng sinh sản và sức khỏe thể chất tổng quát.

Sức khỏe tâm lý là nỗ lực duy trì cảm giác kiểm soát khi đối mặt với bệnh tật đe dọa tính mạng, một quá trình đi kèm đau khổ về cảm xúc, sự biến đổi của cuộc sống và nỗi sợ trước những điều chưa biết Đồng thời, nó cũng có thể mang lại những thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận và khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới Trong khuôn khổ này, các biểu hiện phổ biến gồm lo âu và trầm cảm, nỗi sợ tái mắc bệnh, những khó khăn về nhận thức và tập trung, cũng như phiền muộn liên quan đến chẩn đoán và kiểm soát điều trị.

Sức khỏe xã hội là quá trình nỗ lực đối phó với tác động của bệnh ung thư lên từng cá nhân, bao gồm các vai trò và mối quan hệ của họ trong gia đình, nơi làm việc và cộng đồng Nó ảnh hưởng đến chức năng tình cảm và tình dục, cũng như tới niềm vui sống và sự tự tin về ngoại hình Ung thư có thể tác động đến tài chính và công việc, đòi hỏi sự thích nghi và hỗ trợ để duy trì chất lượng cuộc sống cho người bệnh và người chăm sóc Sức khỏe xã hội cũng liên quan đến nguy cơ cô lập và sự cần thiết của mạng lưới hỗ trợ xã hội để duy trì kết nối và hỗ trợ tâm lý.

1.2.3 Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống

Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về CLCS để đánh giá CLCS của bệnh nhân ung thư Vú

Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) ở bệnh nhân ung thư vú nhằm đo mức độ hài lòng của người bệnh về các mặt thể chất, tinh thần và xã hội trong quá trình mắc bệnh và điều trị Khái niệm CLCS tập trung vào tác động của ung thư vú và quá trình điều trị lên cuộc sống hàng ngày, từ khả năng hoạt động thể chất, trạng thái tinh thần cho đến các mối quan hệ xã hội Những ảnh hưởng này có thể thay đổi theo từng giai đoạn điều trị và ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người bệnh Việc đánh giá CLCS giúp nhận diện khó khăn và nhu cầu hỗ trợ, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư vú và định hướng chăm sóc y tế phù hợp [4].

Theo mô hình CLCS dành cho bệnh nhân ung thư của Ferrell, CLCS có thể được nhìn nhận trong 4 khía cạnh: thể chất, tâm lý, xã hội, tinh thần [14], [27]

Vào năm 2021, Firkins và các đồng sự đã đề xuất một mô hình kết hợp giữa mô hình chất lượng cuộc sống của Ferrell và một bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, được gọi là mô hình Ferrell bổ sung Mô hình này cung cấp một cách tiếp cận cho từng khía cạnh của chất lượng cuộc sống (CLCS) dựa trên các thang đo chi tiết được sử dụng phổ biến và đã có độ xác thực rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Mô hình Ferrell bổ sung về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư được trình bày ở dưới đây [15].

Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa trên mô hình của Ferrell (1995) và mô hình Ferrell bổ sung của Firkins (2021) để thực hiện tổng quan các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú Việc kết hợp hai khung lý thuyết giúp làm rõ các yếu tố thể chất, tinh thần và xã hội ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và so sánh kết quả giữa các nghiên cứu khác nhau Bài viết nhằm tổng hợp bằng chứng hiện có, nhận diện khoảng trống nghiên cứu và đề xuất các hướng can thiệp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư vú dựa trên mô hình Ferrell và bổ sung của Firkins.

Hình 1.3 : Mô hình Ferrell bổ sung về CLCS của bệnh nhân ung thư

Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú

bệnh nhân ung thư vú

Bảng 1.1 : Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về CLCS của BN UTV

Tiêu chí lựa chọn Số lượng

Các nghiên cứu đánh giá CLCS của bệnh nhân UTV ở Iran

15 nghiên cứu về những bệnh nhân UTV ở Iran cho thấy chất lượng cuộc sống trung bình ở hầu hết các khía cạnh Chất lượng cuộc sống và tình trạng sức khỏe tổng quát được báo cáo là 72,48, với khoảng tin cậy 95% từ 64,94 đến 79,82 Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến chất lượng sống được xem xét nhằm xác định các khu vực cần cải thiện cho bệnh nhân UTV tại Iran.

Giấc ngủ và sự nghỉ ngơi

Thang thể chất: EORTC, SF 36

Thang vai trò thể chất: SF 36

Trong chăm sóc sức khỏe, sự lo âu và trầm cảm là vấn đề phổ biến ở bệnh nhân, trong khi nỗi sợ tái mắc bệnh có thể làm giảm sự tập trung và nhận thức Đánh giá tâm lý và nhận thức được hỗ trợ bởi các thang đo phổ biến như thang cảm xúc EORTC và FACT, thang nhận thức EORTC, và thang SF-36 đo lường sức sống, sức khỏe tinh thần và vai trò cảm xúc Các công cụ này cho phép đo lường mức độ căng thẳng tâm lý, trạng thái nhận thức và chất lượng sống tổng quát, từ đó theo dõi sự thay đổi theo thời gian và hỗ trợ lên kế hoạch can thiệp phù hợp cho người bệnh.

Các vai trò và mối quan hệ

Chức năng tình cảm, tình dục

Thang xã hội: EORTC, FACT,

SF 36 Thang vai trò: EORTC

Mối quan hệ với bác sĩ UT:

Sức khỏe tinh thần Ý nghĩa của bệnh tật Tâm linh Sức khỏe bên trong

Sự siêu thoát Thang đo phổ biến Không được đề cập trong các công cụ đánh giá phổ biến

CLCS của bệnh nhân Ung thư

13 cạnh CLCS bị suy giảm tồi tệ nhất liên quan đến chức năng cảm xúc (56,70) (KTC 95%: 49,84-63,55) và khó khăn tài chính (43,57) (KTC 95%: 31,47-55,67)

Các nghiên cứu quan sát được công bố từ 01/2000 đến 7/2019 đã được thực hiện, đo lường CLCS của bệnh nhân UTV

Trong 8 nghiên cứu về chất lượng cuộc sống (CLCS) của những người sống sót sau ung thư vú, điểm CLCS dao động từ 63,0 trên thang RAND SF-36 (0-100) đến 110,5 trên thang FACT-B (0-123) So với nhóm phụ nữ không có tiền sử mắc ung thư vú, hai nghiên cứu cho thấy CLCS tốt hơn, ba nghiên cứu cho thấy CLCS tương tự và hai nghiên cứu cho thấy điểm CLCS trung bình thấp hơn.

Các nghiên cứu đánh giá CLCS của bệnh nhân UTV giai đoạn cuối

Ở 20 nghiên cứu, giá trị trung bình của CLCS được báo cáo dao động từ 31,1 đến 75,6 Dựa trên phân tích tổng hợp bằng phương pháp hiệu ứng ngẫu nhiên, giá trị trung bình gộp của CLCS là 60,5, với khoảng tin cậy 95% từ 56,0 đến 65,0 và I2 bằng 99,0%.

Có 6/20 NC phân loại CLCS là tốt, trung bình hoặc kém; ít hơn một phần ba bệnh nhân (21%) có CLCS tốt

Các bài báo báo cáo về CLCS sử dụng bộ câu hỏi EORTC- QLQ-C30,

EORTC-QLQ- BR23, FACT-G và

Ở Châu Á, bệnh nhân UTV, đặc biệt là những người mắc các bệnh đi kèm và đang được điều trị bằng hóa trị liệu, có ít hỗ trợ xã hội hơn và có nhiều nhu cầu chưa được đáp ứng.

FACT-B ở bệnh nhân UTV ở châu Á

CLCS kém hơn Hỗ trợ xã hội phù hợp và đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân có thể cải thiện CLCS của bệnh nhân

Dựa trên EORTC-QLQ-C30 và phương pháp hiệu ứng ngẫu nhiên, điểm trung bình tổng hợp của CLCS ở 1.073 người là 57,88 (95% CI 48,26–67,41; I^2 = 97,90%), và điểm trung bình tổng hợp dựa trên chất lượng cuộc sống theo WHOQOL-BREF ở 357 người là 66,79 (95% CI 45,96–87,62; I^2 = 99,50%) Như vậy, điểm CLCS ở mức độ vừa phải, có thể sử dụng các biện pháp can thiệp để cải thiện CLCS.

Khái quát về phương pháp tổng quan

1.3.1 Định nghĩa và ứng dụng của tổng quan hệ thống

Phương pháp tổng quan tài liệu có hệ thống (Systematic Review hay SR) là một cuộc điều tra khoa học tập trung vào một câu hỏi nghiên cứu cụ thể và sử dụng các phương pháp khoa học rõ ràng, được xác định trước để xác định, lựa chọn, đánh giá và tóm tắt những phát hiện từ các nghiên cứu tương tự nhưng riêng biệt Quá trình này được thực hiện một cách có hệ thống và minh bạch nhằm bảo đảm tính khách quan và khả năng tái lập của kết quả, đồng thời tổng hợp bằng chứng từ nhiều nghiên cứu để rút ra những kết luận có giá trị cho quyết định dựa trên bằng chứng, kể cả trong lĩnh vực y tế và chính sách sức khỏe [45].

Vai trò của tổng quan hệ thống là cung cấp kiến thức có hệ thống về một chủ đề cụ thể và đồng thời thực hiện việc phê bình các nghiên cứu trước đó nhằm nêu bật những phát hiện quan trọng, chứng cứ gây tranh cãi và những khoảng trống cần được lấp đầy Qua đó, tổng quan hệ thống hỗ trợ lập kế hoạch cho chương trình nghiên cứu trong tương lai và ngăn chặn những nghiên cứu không cần thiết Đó là một quá trình phân tích và tổng hợp chứ không chỉ đơn thuần liệt kê, mô tả hay tóm tắt riêng lẻ, mà đòi hỏi sự đánh giá toàn diện các bằng chứng để có cái nhìn có hệ thống về chủ đề được nghiên cứu.

Hệ thống có ưu điểm nổi bật nhờ áp dụng các phương pháp rõ ràng, giúp giảm thiểu thiên vị và từ đó nâng cao tính đáng tin cậy và độ chính xác của các kết luận Việc trình bày kết quả theo cách có cấu trúc dễ dàng cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho nhà nghiên cứu Quá trình thực hiện nghiên cứu được rút ngắn nhờ giảm thời gian chậm trễ nhờ tính minh bạch và khả năng tái sử dụng các bước phân tích Khả năng tổng quát hóa và tính nhất quán của kết quả được cải thiện, tạo nền tảng để áp dụng rộng rãi và lặp lại trong các bối cảnh khác Tóm lại, hệ thống mang lại hiệu quả nghiên cứu và độ tin cậy cao.

Việc hình thành các giả thuyết mới về các nhóm con của quần thể nghiên cứu và về tổng thể làm tăng độ chính xác của các kết quả Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, hệ thống đánh giá có hệ thống (SR) đóng vai trò đặc biệt quan trọng: các bác sĩ và dược sĩ lâm sàng cần cập nhật kiến thức và SR thường được dùng như một điểm khởi đầu để phát triển các hướng dẫn thực hành lâm sàng, vì các quyết định chăm sóc sức khỏe cho từng bệnh nhân và các chính sách y tế công cộng nên dựa trên bằng chứng nghiên cứu tốt nhất hiện có Hầu hết các bác sĩ, dược sĩ lâm sàng và chuyên gia y tế công cộng không có thời gian để theo dõi tất cả các bài báo gốc và phân tích chúng kỹ lưỡng; các đánh giá có hệ thống là nguồn bằng chứng có thể tiếp cận tốt nhất đối với họ khi xây dựng câu hỏi, thực hiện các đánh giá có hệ thống và soạn thảo hướng dẫn thực hành Đánh giá có hệ thống nhằm xác định, đánh giá và tóm tắt các phát hiện từ mọi nghiên cứu liên quan về một vấn đề sức khỏe, từ đó làm cho bằng chứng trở nên dễ tiếp cận và hữu ích hơn cho quyết định của người ra quyết định y tế công cộng và chăm sóc bệnh nhân.

1.3.2 Các bước tiến hành tổng quan hệ thống

Cấu phần của tổng quan hệ thống được bắt đầu bằng một câu hỏi nghiên cứu rõ ràng; nó sử dụng các phương pháp rõ ràng, chặt chẽ để xác định, phê bình, thẩm định và tổng hợp các nghiên cứu liên quan; trước khi tiến hành tổng hợp và phân tích dữ liệu, tổng quan đánh giá chất lượng và xem xét giá trị của bằng chứng; phần báo cáo nêu rõ phương pháp luận và liệt kê các nghiên cứu được đưa vào đánh giá và kết luận; cuối cùng tổng quan được thiết kế để có thể tái sản xuất và cập nhật kết quả khi có dữ liệu mới.

Có nhiều tài liệu trình bày các cách chia các bước tiến hành tổng quan hệ thống khác nhau, và bài viết này giới thiệu 3 giai đoạn (8 bước tiến hành) cơ bản để thực hiện tổng quan tài liệu có hệ thống, tham khảo từ các nguồn [3], [18], [45], [51], [28], [40] Tuy nhiên, trên thực tế, các bước cơ bản này không dễ thực hiện và các nghiên cứu viên thường gặp phải nhiều vấn đề mà không có chỉ dẫn chi tiết để xử lý.

Hình 1.4 : Các bước tiến hành tổng quan hệ thống

Giai đoạn 1: Xác định phạm vi và câu hỏi nghiên cứu

Xác định phạm vi và câu hỏi nghiên cứu là bước quan trọng nhất của bài tổng quan hệ thống, vì các bước tiếp theo đều dựa trên bước này Để xác định câu hỏi nghiên cứu, trước tiên hãy thiết lập chi tiết mục tiêu chính và phụ của nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu của tổng quan hệ thống (SR) phải khả thi, thú vị, mới lạ và phù hợp với chuẩn đạo đức, đồng thời được xây dựng rõ ràng và logic Hai công cụ phổ biến được sử dụng là PICO hoặc SPIDER: PICO (P – Population: Quần thể, I – Intervention: Can thiệp, C – Comparison: So sánh, O – Outcome: Kết quả) được dùng nhiều trong tổng hợp bằng chứng định lượng và đã được chứng minh có độ nhạy cao hơn SPIDER; SPIDER (S – Sample: Mẫu, PI – Phenomenon of Interest: Hiện tượng quan tâm, D – Design: Thiết kế, E – Evaluation: Đánh giá, R – Research type: Loại nghiên cứu) được đề xuất cho tìm kiếm định tính và phương pháp hỗn hợp Đối với nghiên cứu quan sát (không có yếu tố can thiệp và so sánh), thường chỉ dùng hai yếu tố P (quần thể) và O (kết quả) để xây dựng câu hỏi nghiên cứu.

Sau khi xây dựng được câu hỏi nghiên cứu, cần xác định phạm vi nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp thông qua tìm kiếm sơ bộ để nhận diện các bài viết liên quan, đảm bảo tính hợp lệ của ý tưởng nghiên cứu, tránh trùng lặp với các câu hỏi đã giải quyết trước đó và đảm bảo có đủ tài liệu để phân tích Đồng thời, các chủ đề chọn lọc nên tập trung vào các vấn đề chăm sóc sức khỏe có liên quan và có ý nghĩa thực tiễn, nhằm tối ưu hóa hiệu quả phân tích và tăng khả năng tiếp cận của độc giả và công cụ tìm kiếm.

17 quan trọng, phản ánh khoa học hiện tại và phù hợp với các phương pháp đánh giá đã được thông qua [51]

Giai đoạn 2: Xác định các nghiên cứu liên quan

- Xây dựng tiêu chí lựa chọn và loại trừ

Tiêu chí lựa chọn dựa trên câu hỏi nghiên cứu theo khung PICO và sự kết hợp của các đặc điểm nghiên cứu gồm thiết kế (ví dụ: nghiên cứu can thiệp, đoàn hệ hoặc đa trung tâm), ngày xuất bản và vị trí địa lý; đặc điểm của dân số nghiên cứu như tuổi, giới tính và tình trạng bệnh; đặc điểm của sự phơi nhiễm và kết quả đo lường; cùng với đặc điểm của các phương pháp được áp dụng như loại phân tích, mức độ điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu và các biện pháp được báo cáo liên quan đến hiệp hội giữa phơi nhiễm và kết quả, nhằm đảm bảo tính phù hợp và tối ưu hóa tính so sánh giữa các nghiên cứu.

Trong quá trình rà soát, các tiêu chí loại trừ chủ yếu gồm: (i) không liên quan đến câu hỏi nghiên cứu, (ii) nghiên cứu trùng lặp, (iii) nghiên cứu không tìm được toàn văn Tóm lại, chúng tôi sẽ lựa chọn những bài báo chứa thông tin trả lời câu hỏi nghiên cứu Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất là thông tin phải rõ ràng và đầy đủ, kể cả kết quả tích cực hay tiêu cực, nhằm đảm bảo tính toàn diện và khách quan cho phân tích [20].

 Xây dựng chiến lược tìm kiếm

Một chiến lược tìm kiếm tiêu chuẩn được áp dụng cho PubMed và sau đó được tùy chỉnh cho từng cơ sở dữ liệu cụ thể như Cochrane và Embase để tối ưu hóa tính phù hợp của kết quả Chiến lược tìm kiếm cơ bản dựa trên công thức câu hỏi nghiên cứu (ví dụ: PICO hoặc PICOS) và bao gồm các thành phần xác định tình huống, can thiệp, so sánh và kết quả nhằm hệ thống hóa quá trình tra cứu và thu thập bằng chứng liên quan.

MeSH (Medical Subject Headings) là một từ điển điện tử có khoảng 19.000 từ vựng và thuật ngữ liên quan đến y sinh và sức khỏe, con số này tăng dần theo thời gian khi có bệnh và khái niệm mới được bổ sung Nó được sắp xếp theo hệ thống giai tầng (hierarchical), từ các chủ đề khái quát đến các chủ đề chuyên biệt, nhằm hỗ trợ lập chỉ mục, lập danh mục và tìm kiếm thông tin liên quan đến y sinh và sức khỏe.

Các từ khóa (keywords) được lựa chọn để phục vụ mục đích tìm kiếm và hướng tới mang lại nhiều kết quả phù hợp nhất với mục tiêu, đồng thời được đặt trong dấu ngoặc kép để đảm bảo tìm đúng từ khóa cần tìm Từ đại diện '*' có thể được dùng để thay thế cho các ký tự có thể có, giúp mở rộng phạm vi tìm kiếm mà vẫn duy trì độ chính xác của kết quả.

Các trường dữ liệu phổ biến của một bài báo khoa học gồm Title (ti), Abstract (ab) và Keyword (kw), tương ứng lần lượt với tiêu đề, phần tóm tắt và danh sách từ khóa Trong đó, ti nêu tiêu đề bài báo, ab là tóm tắt ngắn gọn nội dung và kw chứa từ khóa chính giúp tối ưu hóa tìm kiếm Đối với cơ sở Cochrane Library, còn có trường Keyword được hệ thống mặc định thêm vào khi thực hiện tìm kiếm, nhằm cải thiện khả năng tra cứu và nhận diện chủ đề trên nền tảng này.

Các toán tử OR và AND được dùng để liên kết MeSH và các từ khóa với nhau trong tìm kiếm, từ đó điều chỉnh phạm vi và độ chi tiết của kết quả Toán tử OR cho kết quả là hợp của các tìm kiếm riêng lẻ, giúp mở rộng phạm vi bằng cách kết hợp nhiều từ khóa; toán tử AND cho kết quả là giao của các tìm kiếm riêng lẻ, giúp thu hẹp kết quả bằng cách yêu cầu cả hai điều kiện xuất hiện Việc hiểu và áp dụng đúng các toán tử này sẽ tối ưu hóa việc tra cứu liên quan đến MeSH và từ khóa, nâng cao độ liên quan và hiệu quả của truy vấn.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các nghiên cứu đánh giá CLCS và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân UTV.

Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp tìm kiếm tài liệu a, Nguồn dữ liệu tìm kiếm Đề tài sử dụng 2 cơ sở dữ liệu là Pubmed (Medline) và Cochrane Library

PubMed là một cơ sở dữ liệu miễn phí, chủ yếu truy cập qua MEDLINE, chứa các tham khảo và tóm tắt về các chủ đề khoa học đời sống và y sinh học PubMed còn cung cấp đường dẫn đến bản toàn văn của các bài báo khoa học, các bản đầy đủ này thường được công bố trên trang web của nhà xuất bản hoặc trên PubMed Central (PMC).

Cochrane Library là cơ sở dữ liệu y văn tổng hợp được dùng để trả lời các câu hỏi lâm sàng cho những chủ đề quen thuộc, với sẵn có nhiều nghiên cứu Nói một cách đơn giản, chúng ta có vô số nghiên cứu nhỏ được thiết kế để giải đáp một câu hỏi cụ thể, và việc tổng hợp những nghiên cứu này cho phép rút ra những kết luận y khoa có giá trị.

Xác định và làm rõ các thuật ngữ khác biệt hoặc từ đồng nghĩa cho từng khái niệm cụ thể dựa trên câu hỏi nghiên cứu Trong quá trình tìm kiếm, sử dụng Mesh term (tiêu đề y khoa) và một tập hợp rộng các từ khóa liên quan, sau đó ghép chúng với các toán tử logic, các trường dữ liệu và dấu ngoặc kép để kiểm soát phạm vi kết quả Việc kết hợp giữa các thuật ngữ chuyên ngành, từ khóa liên quan và các ký hiệu tìm kiếm sẽ giúp tối ưu hóa độ chính xác và khả năng phủ sóng, đồng thời tăng cơ hội nhận được các bài viết phù hợp nhất với mục tiêu nghiên cứu Ngoài ra, việc sử dụng ký tự thay thế và các toán tử/nhóm từ khóa cho phép mở rộng hoặc giới hạn tìm kiếm theo nhu cầu, giúp xây dựng một chiến lược tìm kiếm linh hoạt, có thể tái sử dụng cho các nền tảng tìm kiếm khác nhau.

- Hoàn thiện câu lệnh tra cứu trên 2 nguồn cơ sở dữ liệu

- Chạy các tìm kiếm sơ bộ để kiểm tra việc thu hồi và truy xuất

- Lưu chính xác các chiến lược tìm kiếm cho các cơ sở dữ liệu

Chi tiết về chiến lược tìm kiếm được trình bày ở Phụ lục 1 b, Chiến lược tìm kiếm

Để tiến hành tìm kiếm hệ thống các nghiên cứu, chúng tôi tra cứu đồng thời trên PubMed và Cochrane vào ngày 05/01/2022, với các nhóm từ khóa được xác định theo phương pháp PICO và một hệ thống tự động cập nhật các bài báo mới qua email Câu lệnh tìm kiếm chi tiết được trình bày tại Phụ lục 1 để đảm bảo tính đầy đủ và có thể tái lặp.

Bảng 2.2: Câu hỏi nghiên cứu PICO(T)

Bệnh nhân bị ung thư vú

O (Outcome) Chất lượng cuộc sống, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe đươc đánh giá bởi các bộ công cụ EORTC C30, EORTC BR23, FACT G, FACT B

Câu hỏi nghiên cứu được xác định ở đề tài này là: “Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú được đánh giá như thế nào?”

Thời gian nghiên cứu được chọn là 5 năm gần đây vì CLCS của bệnh nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thay đổi liên tục cùng với sự vận động, phát triển của kinh tế, văn hóa và xã hội Đặc biệt là những năm gần đây, trước sự phát triển của nền y học và dược học, đã có nhiều thay đổi trong chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa UTV; vì vậy dữ liệu được xuất bản trong giai đoạn này đảm bảo tính cập nhật, hạn chế sai sót giữa các nghiên cứu và đồng thời đảm bảo đủ dữ liệu để tiến hành tổng quan tài liệu có hệ thống Đề tài chỉ chọn dữ liệu có bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống là EORTC QLQ-C30, EORTC QLQ-BR23 và FACT-B, FACT-G với hai lý do: thứ nhất, đây là các bộ công cụ phổ biến và đáng tin cậy để đánh giá chất lượng cuộc sống; thứ hai, chúng cho phép so sánh kết quả giữa các nghiên cứu khác nhau và tổng hợp chúng trong phân tích tổng quan.

BR 23 thường được sử dụng cùng nhau, tương tự đối với FACT B, FACT G Thứ 2, việc chỉ định 4 bộ công cụ này giúp hạn chế số lượng kết quả tìm được, phù hợp với người nghiên cứu và đảm bảo dữ liệu thu được đồng bộ hơn Và lý do cuối cùng, 4 bộ công cụ trên phù hợp với mô hình Ferrell bổ sung mà đề tài này sẽ căn cứ

Chi tiết mô tả về 4 bộ công cụ đánh giá CLCS theo mô hình Ferrell được trình bày chi tiết ở Phụ lục 2

2.2.2 Tiêu chuẩn và phương pháp lựa chọn/ loại trừ a, Tiêu chuẩn lựa chọn

- Đối tượng của các nghiên cứu: bệnh nhân bị UTV ở châu Á

Việc chỉ chọn các nghiên cứu có đối tượng tham gia là BN UTV ở châu Á giúp dữ liệu tập trung đúng vào quần thể đích Châu Á là châu lục lớn nhất thế giới, chiếm 29,4% tổng diện tích đất đai Trong khu vực này, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Israel, Hồng Kông và Ma Cao được công nhận là những nơi có nền kinh tế công nghiệp phát triển và cơ sở hạ tầng nghiên cứu tiên tiến, tạo điều kiện cho các nghiên cứu y khoa chất lượng cao.

23 còn lại là các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) Mặc dù còn tồn tại khoảng cách, tuy nhiên các nước châu Á nhìn chung có sự tăng trưởng và phát triển nhất định Ngoài ra, các nước trong cùng khu vực có sự giao thoa văn hóa, phát triển công nghệ, khoa học, kỹ thuật điều trị ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng

- Kết quả đầu ra: chất lượng cuộc sống, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân ung thư vú, được đo lường bởi các bộ công cụ EORTC C30, EORTC

- Nghiên cứu đã được công bố và được viết bằng Tiếng Anh

- Thời gian: lựa chọn các nghiên cứu được xuất bản trong thời gian từ 01/01/2017- 01/01/2022 b, Tiêu chuẩn loại trừ

Căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn, tiến hành loại trừ nghiên cứu theo các tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: nghiên cứu không có địa điểm quan tâm (châu Á) và ở các nước ngoài châu Á

Tiêu chí 2: nghiên cứu là các bài tổng quan

Tiêu chí 3: nghiên cứu không sử dụng các bộ công cụ đánh giá CLCS: EORTC QLQ C30, EORTC QLQ BR23, FACT G, FACT B

Tiêu chí 4: nghiên cứu không đo lường CLCS, CLCS không phải “primary outcome” (*)

Tiêu chí 5: nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư nói chung và/hoặc không nói về ung thư vú

Tiêu chí 6: nghiên cứu không phải trên người

Tiêu chí 7: nghiên cứu không được viết bằng Tiếng anh

Tiêu chí 8: nghiên cứu không được công bố

Tiêu chí 9: nghiên cứu thí điểm

Tiêu chí 10: chỉ là báo cáo hội nghị

Tiêu chí 11: đối tượng nghiên cứu không mắc K vú, có thể là người chăm sóc, người trong gia đình bệnh nhân

Tiêu chí 12: các nghiên cứu trùng lăp

Các nghiên cứu cho thấy dù có báo cáo kết quả đánh giá CLCS, CLCS không phải là kết quả chính (primary outcome) Nghiên cứu đánh giá chi phí hiệu quả và đánh giá chi phí- tiện ích thường được ưu tiên trong phân tích kinh tế y tế, trong khi CLCS chỉ đóng vai trò hỗ trợ Phương pháp luận của nhiều nghiên cứu dựa trên các kết quả từ những khía cạnh triệu chứng nhỏ được bệnh nhân báo cáo, như giảm khả năng hoạt động, mệt mỏi, suy giảm nhận thức, vấn đề tâm lý và suy giảm đời sống tình dục; tuy nhiên chúng không phải đại diện đầy đủ cho chất lượng cuộc sống Nghiên cứu sử dụng các bộ công cụ đo lường không chuẩn hóa hoặc không phù hợp, dẫn đến giới hạn khi diễn giải và so sánh kết quả CLCS giữa các nghiên cứu.

24 phải do bệnh nhân tự báo cáo Nghiên cứu thẩm định, đánh giá tính xác thực và độ tin cậy của bộ công cụ đo lường CLCS

Trước khi tiến hành sàng lọc nghiên cứu, tiến hành loại bản trùng lặp dữ liệu vừa thu được bằng phần mềm Endnote X9

Quá trình sàng lọc được thiết kế làm hai giai đoạn: sàng lọc tiêu đề và tóm tắt trước, sau đó sàng lọc toàn văn các nghiên cứu Khi kết quả tìm kiếm từ hai nguồn cơ sở dữ liệu được ghi nhận, các nhà nghiên cứu sẽ xem xét tiêu đề và tóm tắt để lựa chọn các nghiên cứu đáp ứng tiêu chí sơ bộ (giai đoạn N1) Những nghiên cứu phù hợp ở giai đoạn N1 này sẽ được đọc toàn văn để xác định và chọn ra các nghiên cứu đáp ứng tiêu chuẩn cuối cùng (giai đoạn N2).

Ở bước sàng lọc này, căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn và loại trừ, hai người tiến hành đọc, đánh giá và sàng lọc nghiên cứu một cách độc lập nhằm giảm thiểu thiên vị và đảm bảo tính khách quan cho nghiên cứu Trong trường hợp hai người có sự không nhất trí, cần có đánh giá độc lập và quyết định của người thứ ba để đảm bảo kết quả cuối cùng được đồng thuận.

Trong quá trình làm đề tài, toàn bộ dữ liệu tra cứu được lưu trữ trên phần mềm EndNote X9 và được sắp xếp theo thứ tự thời gian giảm dần từ năm 2022 xuống năm 2017, giúp quản lý nguồn tham khảo hiệu quả và thuận tiện cho việc tham khảo khi viết bài.

Biểu mẫu trích xuất dữ liệu được tiến hành trên phần mềm Microsoft Excel và bao gồm các trường như tên nghiên cứu, tiêu đề, tóm tắt và các tiêu chí loại trừ từ 1 đến n nhằm lọc các nghiên cứu không phù hợp Các tiêu chí loại trừ được thiết kế để loại bỏ các bài báo không đáp ứng yêu cầu nghiên cứu Sau khi hoàn thành biểu mẫu, hệ thống sẽ xác định số bài báo thỏa mãn tiêu chí để đưa vào tổng quan.

Tiếp tục trích xuất dữ liệu từ các nghiên cứu được lựa chọn sau cùng và chi tiết hóa trên file Microsoft Excel Các dữ liệu được trích xuất từ các nghiên cứu bao gồm các biến, kết quả và thông tin liên quan được sắp xếp rõ ràng để phục vụ cho phân tích tổng thể và so sánh giữa các nghiên cứu.

- Các đặc điểm của nghiên cứu, bao gồm: tên nghiên cứu, tác giả, năm xuất bản, nơi tiến hành (quốc gia); loại thiết kế nghiên cứu

- Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu, bao gồm: cỡ mẫu, nhân khẩu học, giai đoạn bệnh, can thiệp được sử dụng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 19/08/2022, 00:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w