DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ADE Adverse drug event Biến cố bất lợi của thuốc AJCC American Joint Committee on Cancer Ủy ban liên hợp ung thư Hoa Kỳ ESMO European Society for M
Trang 2LỜI CẢM ƠN Đầu tiên, tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Tứ Sơn – Giảng
viên Bộ môn Dược lâm sàng, là người đã trực tiếp hướng dẫn, quan tâm và tạo điều kiện
giúp tôi hoàn thành khóa luận Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Nguyễn Thị Hồng Hạnh – Giảng viên bộ môn Dược lâm sàng, ThS Dương Khánh Linh – Giảng viên Bộ môn Dược lâm sàng, ThS Trần Thị Thu Trang – Giảng viên Bộ môn
Dược lâm sàng đã luôn đồng hành, tận tình giúp đỡ và cho tôi nhiều lời khuyên quý báu trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
Tôi xin trân trọng cảm ơn ThS Nguyễn Hải Trường – Trưởng ban Pha chế khoa Dược bệnh viện TWQĐ 108 và DS Nguyễn Thị Thùy Linh – Dược sĩ khoa Dược bệnh
viện TWQĐ 108 đã luôn hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập số liệu tại bệnh viện
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc bệnh viện, lãnh đạo khoa Dược cùng toàn thể cán bộ, nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện nơi tôi thực hiện nghiên cứu đã giúp đỡ và hỗ trợ để nghiên cứu này được tiến hành thuận lợi
Tôi vô cùng trân trọng và biết ơn sự tham gia nhiệt tình của hơn 150 bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất tại bệnh viện TWQĐ 108 Tôi cũng xin dành lời cảm ơn chân thành đến anh chị, các bạn và các em trong nhóm nghiên cứu khoa học đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu của đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến bố mẹ cùng tất cả người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết của tôi, những người đã luôn ở bên, động viên, ủng
hộ tôi và là nguồn động lực để tôi nỗ lực trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 06 năm 2022
Sinh viên
Vũ Thị Diệu Huế
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về bệnh lý ung thư và hóa trị trong điều trị ung thư 3
1.1.1 Bệnh lý ung thư 3
1.1.1.1 Đặc điểm bệnh học ung thư 3
1.1.1.2 Dịch tễ bệnh ung thư 3
1.1.1.3 Chẩn đoán giai đoạn ung thư 4
1.1.1.4 Các phương pháp điều trị bệnh ung thư 4
1.1.2 Hóa trị trong điều trị ung thư 6
1.1.2.1 Cơ chế và phân loại 6
1.1.2.2 Vai trò của hóa trị trong điều trị ung thư 7
1.1.2.3 Nguyên tắc chung điều trị 8
1.1.2.4 Các phương pháp hóa trị 8
1.1.2.5 Tác dụng không mong muốn của hóa trị 9
1.2 Kiến thức về hóa trị và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 10
1.2.1 Tầm quan trọng của kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 10
1.2.1.1 Tầm quan trọng của kiến thức về hóa trị 10
1.2.1.2 Tầm quan trọng của hành vi tự chăm sóc trong điều trị hóa chất 11
1.2.2 Đo lường mức độ hiểu biết về hóa trị và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 11
1.2.2.1 Các bộ công cụ đánh giá kiến thức hóa trị của bệnh nhân ung thư 11
1.2.2.2 Các bộ công cụ đánh giá hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 12 1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 13
1.2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức hóa trị của bệnh nhân ung thư 13 1.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
Trang 41.3 Giới thiệu về Viện Ung thư – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 15
1.3.1 Cơ cấu và nhiệm vụ 15
1.3.2 Điều trị ung thư tại Viện Ung thư – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 15 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 17
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 17
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 17
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu 17
2.3.3 Quy trình thu thập và phân tích dữ liệu 17
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 18
2.4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 18
2.4.2 Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 1 18
2.4.2.1 Đặc điểm kiến thức của bệnh nhân 18
2.4.2.2 Đặc điểm hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân 18
2.4.3 Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 2 19
2.4.3.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức của bệnh nhân ung thư 19
2.4.3.2 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 19 2.5 Quy ước trong nghiên cứu 19
2.6 Bộ công cụ 19
2.7 Phương pháp xử lý số liệu 20
2.8 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 21
Chương 3 KẾT QUẢ 22
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 22
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 23
3.1.2 Đặc điểm bệnh lý ung thư và điều trị 24
3.2 Đặc điểm kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 26
3.2.1 Đặc điểm kiến thức hóa trị của bệnh nhân ung thư 26
Trang 53.2.1.1 Lĩnh vực kiến thức chung về hóa trị 26
3.2.1.2 Lĩnh vực kiến thức về tác dụng không mong muốn 27
3.2.1.3 Lĩnh vực kiến thức về nguồn thông tin 29
3.2.1.4 Lĩnh vực kiến thức hóa trị đường uống 30
3.2.2 Đặc diểm hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 30
3.2.2.1 Lĩnh vực tuân thủ điều trị 30
3.2.2.2 Lĩnh vực tự quản lý triệu chứng 31
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi tự chăm sóc 32
3.3.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị của bệnh nhân ung thư 32
3.3.1.1 Mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm bệnh nhân với kiến thức hóa trị 32
3.3.1.2 Mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân và kiến thức hóa trị 34
3.3.2 Yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư 34
3.3.2.1 Mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm bệnh nhân, kiến thức hóa trị, các lĩnh vực kiến thức với hành vi tự chăm sóc 34
3.3.2.2 Mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân, kiến thức hóa trị với hành vi tự chăm sóc 36
3.3.2.3 Mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân, các lĩnh vực kiến thức với hành vi tự chăm sóc 37
Chương 4 BÀN LUẬN 39
4.1 Bàn luận về đặc điểm mẫu nghiên cứu 39
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 39
4.1.2 Đặc điểm bệnh lý ung thư và điều trị 39
4.2 Bàn luận về kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của mẫu nghiên cứu 40
4.2.1 Kiến thức hóa trị của mẫu nghiên cứu 40
4.2.2 Hành vi tự chăm sóc của mẫu nghiên cứu 41
4.3 Bàn luận về một số yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của mẫu nghiên cứu 42
4.3.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị 42
4.3.1.1 Mối liên quan giữa giới tính và kiến thức hóa trị 42
Trang 64.3.1.3 Mối liên quan giữa phẫu thuật và kiến thức hóa trị 43
4.3.2 Yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc 43
4.3.3 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 44
4.3.3.1 Điểm mạnh 44
4.3.3.2 Hạn chế 45
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADE (Adverse drug event) Biến cố bất lợi của thuốc
AJCC (American Joint Committee on
Cancer)
Ủy ban liên hợp ung thư Hoa Kỳ
ESMO (European Society for Medical
Oncology)
Hội Ung thư học Châu Âu
HER2 (Human epidermal growth factor
receptor 2)
Thụ thể yếu tố phát triển biểu bì người số
2 IARC (The International Agency for
Research on Cancer)
Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế
L-PaKC (The Leuven Questionnaire on
Patient Knowledge of Chemotherapy)
Bộ câu hỏi Leuven về kiến thức về hóa trị của bệnh nhân ung thư
L-PaSC (The Leuven questionnaire for
Patient Self-care during Chemotherapy)
Bộ câu hỏi Leuven về tự chăm sóc trong thời gian hóa trị
UICC (Union for International Cancer
Control)
Tổ chức chống ung thư quốc tế
VIF (Variance Inflation Factor) Hệ số phóng đại phương sai
WHO (World Health Organization) Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Quy định chung về phân loại giai đoạn theo hệ thống TNM 4
Bảng 1.2 Phân loại các hóa chất theo cơ chế tác dụng 7
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu (N=151) 23
Bảng 3.2 Đặc điểm về bệnh lý ung thư của mẫu nghiên cứu (N=151) 24
Bảng 3.3 Đặc điểm về điều trị của mẫu nghiên cứu (N=151) 25
Bảng 3.4 Các phác đồ bệnh nhân sử dụng trong mẫu nghiên cứu (N=151) 25
Bảng 3.5 Điểm kiến thức hóa trị tổng thể và các lĩnh vực nghiên cứu 26
Bảng 3.6 Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng một số câu hỏi về kiến thức hóa trị đường uống (N=50) 30
Bảng 3.7 Điểm hành vi tự chăm sóc và các lĩnh vực nghiên cứu 30
Bảng 3.8 Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi lĩnh vực tuân thủ khuyến cáo 31
Bảng 3.9 Mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm bệnh nhân với kiến thức hóa trị của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất (N=151) 32
Bảng 3.10 Các yếu tố liên quan đến kiến thức hóa trị trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 34
Bảng 3.11 Mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm bệnh nhân, kiến thức hóa trị với hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất (N=151) 35
Bảng 3.12 Đặc điểm bệnh nhân, kiến thức hóa trị liên quan đến hành vi tự chăm sóc trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 37
Bảng 3.13 Đặc điểm bệnh nhân và lĩnh vực kiến thức liên quan đến hành vi tự chăm sóc trong mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 37
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
Hình 3.1 Sơ đồ quá trình lựa chọn bệnh nhân 22Hình 3.2 Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng câu hỏi về kiến thức chung của hóa trị (N=151) 27Hình 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng/sai các câu hỏi liên quan đến dấu hiệu cần liên
hệ nhân viên y tế (N=151) 27Hình 3.4 Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra trong quá trình điều trị (N=151) 28Hình 3.5 Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng/sai về lý do tránh thai, thời gian mệt mỏi, thời gian buồn nôn khi hóa trị (N=151) 29Hình 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng một số câu hỏi về nguồn thông tin (N=151) 29Hình 3.7 Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi về tự quản lý triệu chứng gặp phải 32
Trang 10Hiện nay có nhiều biện pháp điều trị bệnh ung thư nhưng hóa trị vẫn là phương pháp phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong điều trị cho bệnh nhân ung thư Việc sử dụng hóa chất mang lại đáp ứng lâm sàng, kéo dài thời gian sống thêm và sống thêm không bệnh [11], [16], [53] Tuy nhiên, hóa trị lại tiềm tàng rất nhiều các tác dụng không mong muốn do hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư nhưng cũng đồng thời hủy hoại tế bào lành, đồng thời có khoảng điều trị hẹp nên gây ra tác dụng không mong muốn toàn thân cho bệnh nhân, đặc biệt là các mô/tế bào tăng sinh nhanh như tiêu hoá, tủy xương, tóc,… [4] Dựa trên thời gian xuất hiện, tác dụng không mong muốn bao gồm cấp tính và mạn tính Trong đó, các tác dụng không mong muốn cấp tính có thể xảy ra trên da, tóc, tủy xương và huyết học, hệ tiêu hóa hoặc thận,… Các tác dụng không mong muốn lâu dài của hóa trị bao gồm sự kháng thuốc, khả năng gây ung thư, hoặc gây vô sinh [49], [58] Các tác dụng này tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu quả, an toàn, tuân thủ điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [14], [27], [57]
Kiến thức hóa trị là những thông tin bệnh nhân thu được về mục tiêu, thời gian điều trị, các tác dụng phụ có thể xảy ra, các lưu ý trong điều chỉnh lối sống,…[19] Nhiều nghiên cứu cho thấy việc trang bị kiến thức cho bệnh nhân giúp bệnh nhân giảm bớt lo
âu, giảm các gánh nặng bệnh tật, tăng khả năng tự chăm sóc, giúp đạt được hiệu quả điều trị và tăng mức độ hài lòng của người bệnh [8], [19], [45], [52] Tự chăm sóc là hành vi của bản thân tự thực hiện để duy trì sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật và chống chọi với bệnh tật dù có hoặc không có sự hỗ trợ của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe [48], [64] Bệnh nhân ung thư tự chăm sóc sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, kiểm soát các triệu chứng và sự hài lòng của bệnh nhân [38] Vì thế, việc cải thiện kiến thức về hóa trị và kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân là rất cần thiết để phòng tránh, giảm thiểu và quản lý các tác dụng không mong muốn một cách phù hợp
Bệnh viện Trung ương Quân đội (TWQĐ) 108 là bệnh viện hạng đặc biệt, đa khoa, chuyên khoa sâu, tuyến cuối toàn quân Với quy mô lớn và trang thiết bị hiện đại,
số lượng bệnh nhân nhập viện điều trị bệnh ung thư tương đối lớn Theo báo cáo của Ban pha chế – khoa Dược, mỗi tháng Ban pha chế tiếp nhận khoảng 1000 – 2000 đơn
Trang 11hóa trị liệu, tính riêng năm 2021 là 18497 đơn Với phương châm lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ để đổi mới và phát triển, bệnh viện luôn chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ung thư Trong đó, một hoạt động đang được thực hiện bởi Dược sĩ lâm sàng là triển khai kế hoạch thông tin thuốc và tư vấn sử dụng thuốc hóa trị cho bệnh nhân ung thư Hoạt động này nhằm giúp bệnh nhân hiểu hơn về hóa trị, biết cách quản lý phù hợp khi gặp vấn đề sức khỏe, nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân Do đó, với mục đích hỗ trợ các NVYT xác định được thực trạng về kiến thức và hành vi tự chăm sóc của các bệnh nhân đang hoá trị tại bệnh viện, từ đó có cơ sở cho việc tối ưu hoá nội dung và quy trình tư vấn,
chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát đặc điểm kiến thức và hành vi tự chăm sóc của
bệnh nhân ung thư điều trị hoá chất tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108” với 2
mục tiêu:
Mục tiêu 1: Khảo sát kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
đang điều trị hóa chất tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức và hành vi tự chăm
sóc của bệnh nhân ung thư đang điều trị hóa chất tại bệnh viện Trung ương Quân đội
108
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về bệnh lý ung thư và hóa trị trong điều trị ung thư
1.1.1 Bệnh lý ung thư
1.1.1.1 Đặc điểm bệnh học ung thư
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách bất thường và không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [4]
Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u Khác với các khối u lành tính chỉ phát triển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, các khối u ác tính (ung thư) có khả năng xâm lấn vào các tổ chức lành xung quanh Các tế bào của khối u ác tính còn
có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa, hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn tới các hậu quả nghiêm trọng như tử vong Cùng với di căn xa, tính chất bệnh ung thư hay tái phát đã khiến việc điều trị bệnh khó khăn và ảnh hưởng xấu đến tiên lượng bệnh [4]
Ung thư không phải là một bệnh Người ta đã biết có đến hơn 200 loại ung thư khác nhau trên cơ thể người Những loại ung thư này tuy có đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng có nhiều điểm khác nhau về nguyên nhân, tiến triển bệnh, tiên lượng bệnh
2020, Việt Nam có khoảng 183 ngàn ca ung thư mới, và khoảng 123 ngàn ca tử vong do ung thư Tỉ lệ tử vong do ung thư hiệu chỉnh theo độ tuổi tại Việt Nam là 106/100 000 dân [67], [73] Hiện nay, chỉ có 185/204 quốc gia có báo cáo thống kê về tình hình bệnh ung thư theo GLOBOCAN Năm 2020, Việt Nam xếp thứ 91/185 về tỷ suất mắc mới và thứ 50/185 về tỷ suất tử vong trên 100.000 người Thứ hạng này tương ứng của năm
2018 là 99/185 và 56/185 Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và tử vong do ung thư ở Việt Nam đều đang tăng nhanh [67] Theo đánh giá của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (The International Agency for Research on Cancer - IARC), Việt Nam có tỷ
lệ chữa khỏi bệnh ung thư đạt 40% Tỷ lệ này chưa được như mong muốn, lý do chủ yếu
Trang 13là phần lớn bệnh nhân ung thư ở nước ta phát hiện và điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn muộn [2]
1.1.1.3 Chẩn đoán giai đoạn ung thư
Chẩn đoán giai đoạn là đánh giá sự xâm lấn và lan tràn của ung thư, bao gồm đánh giá tình trạng tại chỗ, tại vùng và di căn xa [4] Chẩn đoán giai đoạn có vai trò quan trọng giúp đánh giá được tiên lượng bệnh, chọn lựa phác đồ điều trị thích hợp và giám sát hiệu quả điều trị [4], [32]
Có nhiều cách phân loại giai đoạn ung thư, trong đó có 2 phân loại được áp dụng phổ biến đó là phân loại theo giai đoạn và phân loại theo hệ thống TNM [7] Cụ thể:
- Phân loại theo giai đoạn dựa trên mức độ xâm lấn của khối u, từ đó chia thành
4 giai đoạn: (I) – khối u giới hạn ở vị trí ban đầu, không có xâm lấn cục bộ; (II) – xâm lấn cục bộ; (III) – khối u lan rộng đến các hạch bạch huyết tại chỗ; (IV) – di căn xa [32]
- Hệ thống phân giai đoạn TNM của Tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC –Union for International Cancer Control) và Ủy ban liên hợp ung thư Hoa Kỳ (AJCC – American Joint Committee on Cancer) gồm ba yếu tố chính: T (Tumor): u nguyên phát;
N (Node): hạch tại vùng; M (Metastase): di căn xa [7]
TNM được đánh giá trước khi điều trị và theo quy định được trình bày tại bảng sau:
Bảng 1.1 Quy định chung về phân loại giai đoạn theo hệ thống TNM
T (U nguyên
phát)
To: chưa có dấu hiệu u nguyên phát
Tis(insitu): ung thư tại chỗ
T1 - T4: theo kích thước tăng dần hoặc mức xâm lấn tại chỗ của u nguyên phát
Tx: không thể đánh giá được u nguyên phát
N (Hạch tại
vùng)
No: chưa có dấu hiệu xâm lấn hạch tại vùng
N1 - N3: mức độ tăng dần sự xâm lấn của hạch tại vùng
Nx: mhông thể đánh giá được hạch tại vùng
M (Di căn xa) Mo: chưa có di căn xa
M1: di căn xa (có thể chỉ ra vị trí di căn)
Trong 2 phân loại trên, TNM chính xác hơn, nhiều thông tin hơn, cho phép theo dõi tiến triển và đáp ứng điều trị nên được áp dụng nhiều hơn trong thực hành lâm sàng [4], [32]
1.1.1.4 Các phương pháp điều trị bệnh ung thư
Đặc tính chung của bệnh ung thư là phát triển tại chỗ, xâm lấn tổ chức xung quanh, di căn theo đường bạch huyết và di căn xa qua đường máu tới các cơ quan khác [2], [4], [72] Chính vì vậy, điều trị bệnh ung thư phụ thuộc vào loại, giai đoạn bệnh, mô bệnh học, thể trạng người bệnh,… Các biện pháp điều trị bao gồm: phẫu thuật là phương
Trang 14nhắm đích, miễn dịch là các phương pháp điều trị toàn thân Hiện nay, tiếp cận chung trong điều trị ung thư thường là đa mô thức, phối hợp các biện pháp khác nhau nhằm tăng hiệu quả điều trị [2], [4], [71]
*Các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng:
Phẫu thuật: là phương pháp điều trị tại chỗ, cho phép loại bỏ tổ chức ung thư
Có hai chỉ định chính là điều trị phẫu thuật triệt căn và phẫu thuật tạm thời Phẫu thuật triệt căn trong ung thư là phẫu thuật cắt bỏ rộng rãi khối u nguyên phát, các tổ chức lân cận, nạo vét hạch vùng để đảm bảo không còn tế bào ung thư; có thể phẫu thuật đơn thuần hoặc phẫu thuật phối hợp với các phương pháp điều trị khác Phẫu thuật tạm thời
là phẫu thuật với mục đích dự phòng hoặc giải quyết biến chứng do bệnh gây ra, chỉ định cho những trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn, tổn thương đã lan rộng [2], [4] Xu hướng hiện nay là phối hợp với các phương pháp điều trị khác (xạ trị, hóa trị, nội tiết, điều trị nhắm đích, miễn dịch) nhằm nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân [2]
Xạ trị: là phương pháp điều trị tại vùng, sử dụng các tia bức xạ ion hóa có năng
lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư Xạ trị tiêu diệt được các tế bào ung thư đã xâm lấn rộng ra các vùng xung quanh khối u nguyên phát, là các vị trí khó có thể điều trị bằng phương pháp phẫu thuật Chỉ định xạ trị cho bệnh nhân phải được cân nhắc cụ thể trong từng trường hợp Phác đồ cụ thể phụ thuộc vào độ nhạy với tia xạ, loại bệnh, giai đoạn bệnh, vị trí tổn thương,… [4], [59] Điều trị triệt căn có thể gồm xạ trị đơn độc, xạ trị phối hợp với phẫu thuật, xạ trị phối hợp với hóa chất Xạ trị tạm thời áp dụng với trường hợp bệnh tiến triển ở giai đoạn muộn, không thể điều trị triệt để dược nhằm giảm nhẹ triệu chứng và chống lại các biến chứng của ung thư với mục đích giảm đau, giảm tắc nghẽn, chống chảy máu,… [4], [59] Xạ trị bao gồm: xạ trị chiếu ngoài, xạ trị áp sát,
xạ trị chiếu trong bằng đồng vị phóng xạ hay còn gọi là xạ trị nguồn hở, cấy hạt phóng
xạ là sự phối hợp giữa xạ trị áp sát và xạ trị chiếu trong [2]
Ngoài ra, một số phương pháp điều trị tại chỗ khác như đốt sóng cao tần, nút mạch hóa chất cũng được sử dụng Đốt sóng cao tần là phương pháp phá hủy nhu mô khối u bằng nhiệt của dòng điện dao động với tần số 200-1200 kHz, có thể kết hợp với phương pháp khác để tăng hiệu quả điều trị Nút mạch hóa chất thường được áp dụng trong điều trị ung thư gan [2]
*Các phương pháp điều trị toàn thân:
Hóa trị: là phương pháp điều trị toàn thân bằng cách sử dụng các hóa chất dạng
uống, tiêm, truyền gây độc tế bào để điều trị bệnh ung thư Các hóa chất này ngăn cản quá trình nhân lên của tế bào bằng cách tác động vào chu trình tế bào với các đích tác dụng là ADN, ARN và sự trao đổi chất của tế bào [2], [58] Tuy nhiên, hóa chất tiêu diệt
tế bào ung thư cũng đồng thời hủy hoại tế bào lành và gây ra tác dụng phụ toàn thân Vì
Trang 15vậy liều lượng hóa chất đưa vào cơ thể bị hạn chế, có nhiều bệnh bản thân hóa chất không điều trị triệt để được mà phải phối hợp với các phương pháp điều trị khác [4]
Điều trị đích: điều trị nhắm đích là biện pháp sử dụng các chất để ngăn chặn sự
phát triển của tế bào ung thư bằng cách tác động vào các phân tử là đích tác dụng đặc hiệu, cần thiết cho quá trình sinh ung thư và phát triển khối u Điều trị đích có thể tác động vào các thụ thể nằm trên màng tế bào hoặc trong màng tế bào [2] Có nhiều cách phân loại thuốc điều trị đích nhưng cách phân loại theo cơ chế tác động vào thụ thể bên ngoài và bên trong màng tế bào hay được sử dụng nhất Với cách phân loại này, thuốc điều trị đích được chia làm hai loại kháng thể đơn dòng và thuốc có phân tử nhỏ [2]
Điều trị nội tiết: một số loại tế bào ung thư được kích thích phát triển bởi các
hormone như estrogen và testosterone Các ví dụ phổ biến bao gồm ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú và ung thư nội mạc tử cung/tử cung Liệu pháp nội tiết điều trị ung thư bằng cách ngăn chặn các tế bào ung thư bị ảnh hưởng bởi hormone hoặc bằng cách ngăn
cơ thể tạo ra hormone [32] Có nhiều cơ chế khác nhau khi điều trị bằng phương pháp nội tiết như [4], [32]: (1) Ngăn chặn sản xuất estrogen bằng phẫu thuật cắt buồng trứng,
xạ trị hoặc bằng thuốc hoá chất, thuốc ức chế men aromatase, ; (2) Ức chế gắn estrogen vào thụ thể bằng các thuốc kháng estrogen (tamoxifen); (3) Ngăn chặn sản xuất androgen bằng phẫu thuật cắt tinh hoàn hoặc hoá chất hoặc các thuốc đồng vận LH-RH (goserelin, leuprorelin, ); (4) Ngăn chặn gắn androgen lên các thụ thể của nó (các thuốc kháng androgen: bicalutamid, nilutamid, )
Điều trị miễn dịch: Điều trị miễn dịch (miễn dịch trị liệu) có thể được hiểu là
phương pháp sử dụng một trong các thành phần của hệ thống miễn dịch của bệnh nhân
để chống lại bệnh tật trong đó có bệnh ung thư [2]
Như vậy, ung thư không chỉ đa dạng về bệnh học mà còn đa dạng trong điều trị Hạn chế của phương pháp điều trị này có thể được khắc phục bởi phương pháp điều trị khác Các phương pháp sẽ bổ sung cho nhau tạo thành một liệu trình điều trị hoàn chỉnh, phù hợp với mỗi đối tượng bệnh nhân [4]
1.1.2 Hóa trị trong điều trị ung thư
1.1.2.1 Cơ chế và phân loại
Hóa trị sử dụng các hóa chất dạng uống, tiêm, truyền gây độc tế bào để điều trị bệnh ung thư Các hóa chất này ngăn cản quá trình nhân lên của tế bào bằng cách tác động vào chu trình tế bào với các đích tác dụng là ADN, ARN và sự trao đổi chất của tế bào [2], [58] Dựa theo cơ chế tác dụng, các thuốc hóa chất sử dụng trong hóa trị được phân loại như sau [4], [32]:
Trang 16Bảng 1.2 Phân loại các hóa chất theo cơ chế tác dụng
Nhóm Alkyl
hóa
Gắn nhóm alkyl vào các phân tử ADN ức chế quá trình sao chép hoặc sai sót trong quá trình sao
mã, gây đột biến hoặc làm chết
tế bào
Clorambucin, cyclophosphamid, busulfan, melphalan, mitomycin
C, dacarbazin,…
Muối kim loại Giống nhóm Alkyl hóa Cisplatin, carboplatin,
oxaliplatin Nhóm kháng
chuyển hóa
Ức chế tổng hợp acid nucleic - Kháng acid folic: methotrexat,
ralitrexed, pemetrexed
- Chất tương tự purin: 6- mercaptopurin, 6- thioguanin, pentostatin
- Chất tương tự pyrimidin: 5-FU, cytarabin, gemcitabin,
- Ức chế men topoisomerase I: irinotecan, camptothecin
- Ức chế men topoisomerase II: doxorubicin, etoposid
tế bào ở giai đoạn phân chia
- Nhóm Taxane: taxotere, docetaxel, palitaxel
- Alcaloid dừa cạn: vincristin, vinblastin, vinorelbin
Nhóm kháng
sinh kháng
ung thư
(anthracid)
Gây đứt gãy phân tử ADN Bleomycin, actinomycin D
1.1.2.2 Vai trò của hóa trị trong điều trị ung thư
Trong những năm gần đây, đã có nhiều bước tiến đáng kể trong điều trị bệnh lý ung thư Tuy vậy, hóa trị liệu vẫn là một biện pháp điều trị quan trọng trong điều trị cho
đa số bệnh nhân ung thư và nhiều loại bệnh ung thư, có thể được sử dụng đơn độc hoặc phối hợp nhiều hóa chất hoặc kết hợp với các liệu pháp khác [4], [9], [35] Ví dụ với bệnh ung thư vú, sự hiểu biết về sinh học phân tử bệnh ung thư vú đã dẫn đến sự ra đời của các thuốc mới có tác dụng trên nội tiết tố, kháng thể đơn dòng kháng HER-2 hay các thuốc kháng tyrosin kinase [17] Mặc dù vậy điều trị hóa chất vẫn được Hội Ung thư
Trang 17học Châu Âu (ESMO – European Society for Medical Oncology) khuyến cáo điều trị cho gần như mọi thể bệnh ung thư vú giai đoạn sớm, có gánh nặng bệnh lý không quá lớn [13]
Hóa trị không chỉ giúp tiêu diệt tế bào ung thư, giảm kích thước khối u, giảm nguy cơ tái phát mà còn giúp giảm nhẹ triệu chứng và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân Trường hợp bệnh nhân tiến triển hoặc di căn, hóa chất có hoặc không phối hợp với các thuốc điều trị đích tiếp tục được khuyến cáo để kéo dài cuộc sống và cải thiện triệu chứng cho bệnh nhân [11]
Bên cạnh đó, thuốc hoá chất có tác dụng chống lại hầu hết các loại ung thư Mức
độ nhạy cảm với điều trị hoá chất thay đổi theo mỗi bệnh ung thư, thể mô bệnh học của mỗi bệnh ung thư hay từng loại hoá chất khác nhau [32]:
- Rất nhạy cảm, hóa chất có khả năng chữa khỏi: ung thư nguyên bào nuôi, bệnh bạch cầu cấp, u lympho Hodgkin, u nguyên bào thận, u nguyên bào thần kinh
- Nhạy cảm hóa chất nhưng hóa chất không điều trị khỏi: ung thư biểu mô tuyến
vú, buồng trứng, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi tế bào nhỏ, ung thư tiền liệt tuyến
- Ít nhạy cảm: ung thư dạ dày, ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư bàng quang
- Kháng hóa chất: ung thư tụy, ung thư thận, ung thư hắc tố
1.1.2.3 Nguyên tắc chung điều trị
Việc sử dụng hoá trị cho bệnh nhân ung thư sẽ áp dụng một số nguyên tắc chung sau [2], [32]:
- Lựa chọn thuốc thích hợp theo bệnh ung thư, loại tế bào ung thư
- Phải nắm vững cơ chế dược động học, cơ chế tác dụng, liều lượng, cách dùng và tác dụng phụ của thuốc
- Liều và liệu trình điều trị theo nguyên lý liều cao ngắt quãng, liều được dùng theo phác đồ
- Phối hợp các thuốc hoá chất có cơ chế tác dụng khác nhau, liều mỗi hoá chất khi phối hợp nên thấp hơn liều khi dùng đơn độc
- Theo dõi, xử lý và dự phòng các tác dụng không mong muốn và biến chứng của điều trị hoá chất
1.1.2.4 Các phương pháp hóa trị
Tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, mục tiêu điều trị có thể lựa chọn các phương pháp hóa trị khác nhau, bao gồm: điều trị triệt căn; điều trị tân bổ trợ; điều trị bổ trợ và điều trị bệnh ở giai đoạn di căn, lan tràn Trong đó:
- Hóa trị triệt căn: hoá trị được áp dụng đơn thuần, có hiệu quả trong một số bệnh
ung thư hệ tạo huyết: bệnh bạch cầu, u lympho ác tính không Hodgkin, bệnh Hodgkin
Trang 18- Hóa trị bổ trợ trước hay hóa trị tân bổ trợ: là phương pháp điều trị hóa trị trước
một phương pháp điều trị chính khác, với mục đích làm giảm kích thước u, giảm giai đoạn bệnh [2], [59]
- Hóa trị bổ trợ: là sử dụng hóa chất sau khi đã điều trị triệt căn bằng các phương
pháp điều trị khác (phẫu thuật, xạ trị) Hóa trị bổ trợ nhằm mục đích tiêu diệt các ổ vi di căn, làm giảm nguy cơ tái phát, tăng thời gian sống của bệnh nhân Phác đồ hóa trị có thể kết hợp với các thuốc điều trị đích (trastuzumab, bevacizumab…) [2], [59]
- Hóa trị điều trị bệnh ở giai đoạn di căn, lan tràn: nhằm mục đích giảm nhẹ
triệu chứng và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân Hóa chất toàn thân hoặc tại chỗ: bơm hóa chất vào màng phổi hoặc màng bụng nhằm giảm tràn dịch màng phổi, màng bụng; nếu thể trạng bệnh nhân cho phép, xem xét khả năng hóa trị toàn thân [2]
1.1.2.5 Tác dụng không mong muốn của hóa trị
Hóa chất tiêu diệt tế bào ung thư nhưng cũng đồng thời hủy hoại tế bào lành và
có khoảng điều trị hẹp nên gây ra tác dụng không mong muốn toàn thân cho bệnh nhân, đặc biệt là các mô/tế bào tăng sinh nhanh như tiêu hoá, tủy xương, tóc,… [4] Dựa trên thời gian xuất hiện, tác dụng không mong muốn bao gồm cấp tính và mạn tính Trong
đó, các tác dụng không mong muốn cấp tính có thể xảy ra trên da, tóc, tủy xương và huyết học, hệ tiêu hóa hoặc thận,… Các tác dụng không mong muốn lâu dài của hóa trị bao gồm sự kháng thuốc, khả năng gây ung thư, hoặc gây vô sinh [49], [58]
Dưới đây là các tác dụng không mong muốn thường gặp và được đề cập đến trong
bộ câu hỏi về kiến thức hóa trị, hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất:
- Tác dụng không mong muốn trên da, móng, tóc: các triệu chứng thường gặp là
ban đỏ, phản ứng lòng bàn tay, bàn chân, nhạy cảm ánh sáng, tăng sắc tố da, rụng tóc từng mảng, thay đổi ở móng,… Tùy từng hóa chất hoặc độc tính mà tỉ lệ xuất hiện của chúng có thể khác nhau, ví dụ: cyclophosphamid, doxorubicin, paclitaxel,… là những tác nhân gây rụng tóc nhiều; bleomycin, fluorouracil, docetaxel,… gây hội chứng bàn tay chân tới 57% [53] Một số biện pháp bệnh nhân có thể thực hiện để giảm thiểu các triệu chứng trên da như bảo vệ làn da khỏi ánh nắng mặt trời, giữ ẩm da, làm sạch da bằng nước ấm, mặc quần áo rộng và mềm mại, bác sĩ có thể kê đơn thuốc để giúp giảm phát ban, ngứa [70] Đối với các vấn đề về móng, bệnh nhận có thể mang găng tay khi dọn dẹp, cắt ngắn móng tay, giữ móng tay sạch tránh nhiễm trùng, và bệnh nhân có thể được kê thuốc khi có nhiễm trùng móng [69] Có thể giảm thiểu rụng tóc bằng cách giảm
sự tiếp cận toàn thân của thuốc vào da đầu (ga rô da đầu hoặc làm lạnh), bệnh nhân cũng
có thể sử dụng tóc giả [32]
- Phản ứng tại chỗ: có khoảng 0,1-6% bệnh nhân bị thoát mạch khi truyền hóa
chất Ở bệnh nhân ung bướu sự thoát mạch dễ xảy ra hơn do tĩnh mạch bị cắm tiêm
Trang 19truyền nhiều lần, viêm tĩnh mạch, phù bạch huyết do phẫu thuật trước đó,… Hậu quả của thoát mạch có thể là ban đỏ nhẹ, khó chịu, đến đau dữ dội, hoại tử mô, da và xâm lấn các cấu trúc sâu như gân, khớp [53]
- Tác dụng không mong muốn trên hệ tiêu hóa: rất phổ biến với các biểu hiện
như nôn, buồn nôn, viêm miệng, viêm thực quản, dạ dày,… Tác dụng không mong muốn
ở miệng thường xảy ra ở khoảng 10% bệnh nhân điều trị hóa chất bổ trợ và ở khoảng 40% bệnh nhân điều trị chính là hóa chất Độc tính nghiêm trọng ở khoang miệng đòi hỏi phải giảm liều hóa trị dẫn đến ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị và sống thêm của bệnh nhân Theo các nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư tạng đặc hoặc u lympho, việc giảm liều hóa trị ở bệnh nhân có biến chứng viêm niêm mạc miệng nhiều hơn gấp đôi ở bệnh nhân không gặp biến chứng này Ngoài ra, một số hóa chất gây nôn mức độ nặng như cisplatin, streptozotocin, cyclophosphamid liều từ 1500 mg/m2, một số hóa chất gây tiêu chảy độ 3-4 như capecitabin (11-15%), irinnotecan (19-36%),… Mặc dù vậy, các chuyên gia nhận định rằng các độc tính trên tiêu hóa vẫn chưa được báo cáo đầy đủ Một
số biện pháp giảm thiểu viêm miệng như vệ sinh răng miệng, sử dụng nước súc miệng Bên cạnh đó, có thể giảm buồn nôn bằng các thuốc chống nông, hoặc áp dụng liệu pháp thư giãn, thôi miên [32], [53]
1.2 Kiến thức về hóa trị và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
1.2.1 Tầm quan trọng của kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
Hóa trị có thể gây ra rất nhiều các tác dụng không mong muốn Các tác dụng này tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn, tuân thủ, hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [14], [27], [57] Bên cạnh đó, hầu hết hóa trị liệu được thực hiện ở cơ sở ngoại trú hoặc nội trú trong thời gian ngắn, nên bệnh nhân cần có kiến thức
cơ bản về hóa trị liệu cũng như kỹ năng tự chăm sóc bản thân để nhận biết, quản lý các tác dụng phụ và điều chỉnh để thay đổi lối sống nhằm đảm bảo hiệu quả và an toàn trong quá trình điều trị [18], [26]
1.2.1.1 Tầm quan trọng của kiến thức về hóa trị
Kiến thức hóa trị là những thông tin bệnh nhân thu được về mục tiêu, thời gian điều trị, các tác dụng phụ có thể xảy ra, các lưu ý trong điều chỉnh lối sống, …[19] Thu thập và áp dụng thông tin về hóa trị liệu tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ và giúp bệnh nhân nhanh chóng nhận ra mức độ nghiêm trọng của triệu chứng để có biện pháp
dự phòng và xử trí phù hợp khi gặp vấn đề sức khỏe [12], [31], [33]
Bằng chứng cho thấy rằng những bệnh nhân có kiến thức sẽ tự chăm sóc bản thân tốt hơn, tăng khả năng đối phó bệnh tật và mức độ hài lòng cao hơn [19] Các can thiệp giáo dục cho bệnh nhân bắt đầu điều trị hóa trị đã cho thấy làm tăng sự hài lòng của bệnh nhân và tuân thủ lời khuyên của các chuyên gia, để tăng cường khả năng tự chăm
Trang 20Những bệnh nhân có kiến thức hóa trị hạn chế có thể dẫn đến tăng tỷ lệ nhập viện, tăng
tỷ lệ mắc bệnh và giảm chất lượng cuộc sống [36], [39]
Như vậy, kiến thức giúp bệnh nhân hiểu rõ hơn về bệnh ung thư và quá trình điều trị của bản thân, tăng tuân thủ điều trị, giảm thiểu rủi ro trong quá trình điều trị, cũng như biết cách xử trí khi gặp tác dụng không mong muốn của hóa trị [15], [19], [33]
1.2.1.2 Tầm quan trọng của hành vi tự chăm sóc trong điều trị hóa chất
Tự chăm sóc là khả năng của các cá nhân, gia đình và cộng đồng để thúc đẩy, duy trì sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật và chống chọi với bệnh tật dù có hoặc không có sự
hỗ trợ của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Chăm sóc bản thân bao gồm một
số vấn đề về vệ sinh, dinh dưỡng, lối sống, các yếu tố môi trường và kinh tế xã hội [64]
Nhu cầu ngày càng cao về hệ thống chăm sóc sức khỏe đòi hỏi bệnh nhân phải
có những vai trò tích cực hơn đối với sức khỏe của họ Nhiều bằng chứng đã cho thấy
tự chăm sóc hiệu quả có liên quan đến cải thiện kết quả sức khỏe [50] Ở Anh, tự chăm sóc sức khỏe là một đặc điểm chính của chính sách chăm sóc sức khỏe Bệnh nhân ung thư tự chăm sóc sẽ cải thiện chất lượng cuộc sống, kiểm soát các triệu chứng và sự hài lòng của bệnh nhân Tuy nhiên, số lượng người biết về chăm sóc bản thân còn hạn chế [38]
Vì phần lớn bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất có thời gian nằm viện ngắn, chủ yếu điều trị ngoại trú nên khả năng tự quản lý đầy đủ là rất quan trọng đối với bệnh nhân và/hoặc người chăm sóc bệnh nhân ung thư Bệnh nhân hóa trị cần có hành động xử trí thích hợp với các vấn đề sức khỏe (các tác dụng phụ, biến chứng phát sinh do tác dụng điều trị, khởi phát bệnh tật,…) khi chưa tiếp cận ngay sự hỗ trợ từ NVYT Bởi vậy, NVYT có thể nâng cao khả năng tự chăm sóc của bệnh nhân, đặc biệt bệnh nhân điều trị ngoại trú thông qua giáo dục [18]
1.2.2 Đo lường mức độ hiểu biết về hóa trị và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
1.2.2.1 Các bộ công cụ đánh giá kiến thức hóa trị của bệnh nhân ung thư
Nâng cao hiểu biết của bệnh nhân về hóa trị là tiền đề giúp bệnh nhân thay đổi hành vi, nâng cao khả năng tự chăm sóc, tối ưu hóa hiệu quả điều trị cũng như giúp triển khai các hoạt động mang lại những thay đổi tích cực cho bệnh nhân, như là tư vấn và thông tin thuốc Do vậy, các bộ công cụ khác nhau được xây dựng giúp dược sĩ cũng như các NVYT khác đánh giá được hiểu biết và thực hành của bệnh nhân, từ đó sẽ giúp định hướng tiếp theo cho hoạt động tư vấn cũng như cho các nghiên cứu trong lĩnh vực này
Để đo lường kiến thức của bệnh nhân, hiện tại còn thiếu các bộ công cụ cập nhật, được thẩm định và có tính ứng dụng Bộ câu hỏi “Kiến thức về hóa trị” (The Chemotherapy Knowledge Questionnaire) được xây dựng bởi tác giả Dodd và Mood từ
Trang 21năm 1981, gồm có 20 câu hỏi trong các lĩnh vực: tên thuốc, tác dụng không mong muốn
có thể xảy ra, và mục đích của hóa trị Tuy vậy các lĩnh vực đề cập trong bộ câu hỏi chưa thực sự được thẩm định về mức độ liên quan đến hóa trị [19] Một số bộ công cụ khác đo lường mức độ tái hiện hoặc nhớ lại được kiến thức sau một chương trình tư vấn hơn là đánh giá kiến thức của bệnh nhân [63]
Từ những hạn chế của bộ câu hỏi trên, bộ câu hỏi Leuven về kiến thức về hóa trị của bệnh nhân ung thư (The Leuven Questionnaire on Patient Knowledge of Chemotherapy, L-PaKC) được phát triển Nhóm tác giả đã xây dựng những chủ đề về kiến thức mà bệnh nhân ung thư cần có Những chủ đề này được thẩm định nội dung bởi quy trình lấy đồng thuận Delphi 3 vòng từ một nhóm chuyên gia gồm 3 bác sĩ và 6 điều dưỡng để loại bỏ những chủ đề ít liên quan Sau đó là quá trình thẩm định nội dung, hình thức các câu hỏi và đánh giá độ khó, độ tin cậy của bộ câu hỏi Bộ câu hỏi cuối cùng cho thấy độ chính xác và độ tin cậy tốt [19]
1.2.2.2 Các bộ công cụ đánh giá hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
Để đo lường khả năng thực hiện những biện pháp chăm sóc sức khỏe trong thời gian hóa trị, một số bộ công cụ đã được xây dựng và áp dụng:
Bộ câu hỏi về hành vi tự chăm sóc trong thời gian hóa trị (the Self-care Behavior Questionnaire) cho phép bệnh nhân báo cáo về 44 loại ADE: mức độ nghiêm trọng nếu ADE đó xảy ra, hành động gì đã làm để xử trí, hiệu quả của các xử trí đó, nguồn thông tin nào hướng dẫn cách xử trí đó Tuy vậy bộ câu hỏi có mức độ tin cậy thấp khi đánh giá bằng test-retest (r=0,21) [23]
Nhật ký tự chăm sóc (the Self-care Diary): cũng tương tự như bộ câu hỏi trên nhưng giới hạn ở 17 loại ADE và không hỏi về nguồn thông tin hướng dẫn xử trí Bộ câu hỏi này có độ tin cậy cao hơn (r=0,80) Tuy nhiên độ tin cậy chỉ dựa trên dữ liệu về mức độ nghiêm trọng của ADE, chỉ có 2 bệnh nhân và 3 y tá thẩm định về mặt nội dung của bộ câu hỏi này [47]
Một số bộ công cụ khác như bộ câu hỏi cũng dựa trên bộ câu hỏi về hành vi tự chăm sóc trong thời gian hóa trị nhưng chỉ hỏi bệnh nhân về 5 triệu chứng nặng nhất gặp phải; hoặc bộ câu hỏi về gánh nặng của hóa trị Tuy nhiên những bộ công cụ này đều chỉ tập trung vào chăm sóc các tác dụng không mong muốn của hóa trị [18]
Bộ câu hỏi Leuven về tự chăm sóc trong thời gian hóa trị (The Leuven questionnaire for Patient Self-care during Chemotherapy, L-PaSC), đã khắc phục được những nhược điểm trên Nhóm tác giả đã xây dựng danh mục các vấn đề về sức khỏe cần thực hiện trong khi hóa trị và lấy đồng thuận Delphi 3 vòng Bộ câu hỏi cuối cùng được đánh giá độ chính xác và độ tin cậy trên quần thể bệnh nhân lớn, cho thấy có thể
áp dụng được trong thực hành và nghiên cứu [18]
Trang 221.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
1.2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức hóa trị của bệnh nhân ung thư
Trong khi có nhiều nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng kiến thức hóa trị trong các hành vi tự chăm sóc bản thân [24], [25], [62], thì lại có ít nghiên cứu về những người
hỗ trợ và rào cản đối với việc đạt được kiến thức về hóa trị Một số đặc điểm thuộc về
cá thể người bệnh có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu kiến thức hóa trị của bệnh nhân bao gồm mức độ hiểu biết về sức khỏe của bệnh nhân, các yếu tố nhân khẩu học (tuổi tác, thu nhập, giáo dục, tình trạng hôn nhân,…) và đặc điểm của bệnh lý ung thư [19], [37], [61]
Trình độ học vấn: bệnh nhân có trình độ học vấn, hiểu biết về sức khỏe hạn chế
có thể không quen với các thuật ngữ hay từ vựng được sử dụng khi được tư vấn về ung thư, chẳng hạn như “di căn”, “tiên lượng” [20] và kết quả là có thể gây ra thiếu hoặc hiểu sai kiến thức hóa trị
Tuổi: bệnh nhân lớn tuổi có thể bị suy giảm các chức năng và giác quan của cơ
thể, do đó giảm khả năng tiếp thu kiến thức hóa trị [30], [61]
Thu nhập: một nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư vú ở Mỹ cho thấy các yếu tố
như thu nhập cùng với trình độ học vấn cao hơn đã được chứng minh là tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân tiếp cận kiến thức và nâng cao hiểu biết về bệnh ung thư và quá trình điều trị của họ [37] Nghiên cứu của Parker và cộng sự cũng cho ra kết quả tương
tự, kiến thức hóa trị bị ảnh hưởng bởi thu nhập (p <0,001) [51]
Tình trạng hôn nhân: kết quả nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư vú cho thấy
kiến thức hóa trị bị ảnh hưởng bởi tình trạng hôn nhân (p = 0,018), phụ nữ đã kết hôn
có điểm kiến thức hóa trị cao hơn đáng kể (M = 92,6, SD = 6,6) so với phụ nữ đã ly hôn (M = 83,3, SD = 16,7) [51] Bên cạnh đó, sự căng thẳng của việc chẩn đoán ung thư kết hợp với sự vắng mặt của người chồng/vợ có thể cản trở bệnh nhân trong việc tiếp thu và ghi nhớ kiến thức hóa trị mới [51]
Đặc điểm bệnh lý và điều trị: các đặc điểm về bệnh ung thư và điều trị (giai
đoạn và số chu kỳ hóa trị đã hoàn thành) thường quyết định phạm vi và mức độ của kiến thức hóa trị mà bệnh nhân cần nhận được [51] Các giai đoạn tiến triển hơn của ung thư
có thể khiến bệnh nhân lo lắng hơn [65] nên làm giảm thiểu khả năng hiểu thông tin và gây cản trở việc nâng cao kiến thức về hóa trị liệu [28]
1.2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
Kiến thức về hóa trị: bằng chứng cho thấy rằng những bệnh nhân có kiến thức
sẽ tự chăm sóc bản thân tốt hơn, khả năng đối phó bệnh tật cao hơn và hài lòng hơn [19] Các can thiệp giáo dục cho bệnh nhân bắt đầu điều trị hóa trị đã cho thấy làm tăng sự hài lòng và mức độ tuân thủ lời khuyên của các chuyên gia, từ đó tăng cường khả năng
Trang 23tự chăm sóc, đối phó và giảm gánh nặng triệu chứng liên quan đến điều trị [15], [21],
[22], [34]
Tuổi: độ tuổi là yếu tố quan trọng liên quan đến việc tự quản lý của bệnh nhân ở
Ả Rập Xê Út [6] Ngoài ra, một nghiên cứu trên 307 bệnh nhân ung thư ở tất cả các giai đoạn bệnh của Lev và cộng sự đã chứng minh rằng tuổi tác là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tự chăm sóc bản thân Mức độ hiệu quả của việc tự chăm sóc bản thân giảm dần theo thời gian bất kể khi có hay không có can thiệp [42]
Giới tính: điểm số của việc tự chăm sóc bản thân hiệu quả cao hơn có ý nghĩa
thống kê ở những bệnh nhân là nam so với nữ (101,91±25,32 so với 89,75±23,42, p
<0,05) [44]
Nghề nghiệp: mức độ hiệu quả tự chăm sóc cao hơn ở nhóm bệnh nhân đã đi
làm thấp hơn ở nhóm thất nghiệp (p <0,001) [44] Những bệnh nhân ung thư thất nghiệp
có điểm số về hiệu quả tự chăm sóc bản thân thấp hơn so với những người đã nghỉ hưu hoặc làm việc toàn thời gian [56] Sự khác biệt về hiệu quả tự chăm sóc bản thân theo tình trạng công việc là đáng kể và phù hợp với các phát hiện từ các nghiên cứu của Lev [41] Akin cũng báo cáo rằng nghề nghiệp có liên quan đến hiệu quả tự chăm sóc bản thân [5]
Trình độ học vấn: điểm số tự chăm sóc bản thân cao hơn đáng kể ở nhóm bệnh
nhân tốt nghiệp đại học so với nhóm có trình độ học vấn thấp hơn (p <0,001) [44] Trình
độ học vấn là yếu tố quan trọng liên quan đến việc tự quản lý của bệnh nhân ở Ả Rập
Xê Út [6] Cuộc điều tra về hiệu quả của việc tự uống opioid của Liang và cộng sự đã ghi nhận rằng những người có trình độ học vấn thấp hơn cho biết mức độ tin tưởng thấp hơn trong việc dùng thuốc giảm đau của opioid [43] Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Akin và cộng sự trên các bệnh nhân ung thư vú Thổ Nhĩ Kỳ [5] Trình độ học vấn gắn liền với hiệu quả tự chăm sóc bản thân, bệnh nhân có trình độ học vấn cao hơn tự tin hơn về việc thực hiện các hoạt động tự chăm sóc [56] Những kết quả này tương tự trong báo cáo của Lam và Porter [40], [54]
Giai đoạn bệnh: sự khác biệt về hiệu quả tự chăm sóc giữa các nhóm chia theo
giai đoạn bệnh là có ý nghĩa Khi bệnh tiến triển, điểm số của hiệu quả tự chăm sóc bản thân giảm xuống [56]
Thời gian mắc bệnh: mức độ hiệu quả tự chăm sóc thấp hơn ở nhóm bệnh nhân
được chẩn đoán mắc bệnh ung thư trên 10 tháng [44]
Số chu kỳ hóa trị: hiệu quả tự chăm sóc thấp hơn đáng kể ở những người được
hóa trị 7-12 đợt so với những người khác (p <0,05) [44]
Trang 241.3 Giới thiệu về Viện Ung thư – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
1.3.1 Cơ cấu và nhiệm vụ
Viện Ung thư là chuyên khoa sâu, đầu ngành tuyến cuối của Quân đội về chuyên ngành Ung thư, Xạ trị Về cơ cấu, viện gồm 04 khoa: khoa chống đau và chăm sóc giảm nhẹ (A6-A), khoa hóa trị liệu và bệnh máu (A6-B), khoa xạ trị, xạ phẫu (A6-C) và khoa ung thư tổng hợp (A6-D) Về hoạt động, Viện có các các nhiệm vụ chính sau [66]:
- Khám bệnh, chẩn đoán, thu dung, cấp cứu, điều trị bệnh nhân ung thư
- Tham gia thực hiện nhiệm vụ đào tạo sau đại học (tiến sĩ y học, chuyên khoa I, chuyên khoa II) thuộc chuyên ngành Ung thư, Xạ trị
- Tham gia công tác chỉ đạo tuyến, huấn luyện đào tạo, hỗ trợ chuyên môn cho các đơn vị tuyến dưới trong công tác cấp cứu, điều trị về chuyên ngành Ung thư, Xạ trị toàn quân
- Nghiên cứu khoa học về lĩnh vực Ung thư và Xạ trị, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới, kỹ năng cao, nâng cao chất lượng chẩn đoán, cấp cứu và điều trị
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học chuyên ngành để nhanh chóng hội nhập và đạt trình độ khu vực và quốc tế
- Tham gia các tổ chức chuyên ngành ở trong nước và quốc tế
1.3.2 Điều trị ung thư tại Viện Ung thư – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Tháng 6 năm 2018, khoa Huyết học lâm sàng thành lập khu điều trị ban ngày, giảm tải tình trạng bệnh nhân nội trú, rút ngắn thời gian nằm viện của bệnh nhân Trước đây bệnh nhân điều trị tại viện từ 5 – 7 ngày, hiện nay rút ngắn còn 1 – 2 ngày Ngày đầu tiên bệnh nhân được khám, xét nghiệm sinh hóa máu, thực hiện các xét nghiệm khác
do bác sĩ chỉ định, kê thuốc cho bệnh nhân nếu bệnh nhân có đủ điều kiện truyền hóa chất Ngày thứ hai, bệnh nhân truyền hóa chất xong có thể làm thủ tục xuất viện Thời gian điều trị ngắn rất thuận tiện cho bệnh nhân, hạn chế thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian Tuy nhiên, chính vì thời gian nằm viện ngắn mà bệnh nhân càng phải có kiến thức và kỹ năng tự chăm sóc bản thân khi gặp vấn đề sức khỏe mà chưa thể tiếp cận ngay sự hỗ trợ từ NVYT
Với phương châm lấy người bệnh làm trung tâm phục vụ để đổi mới và phát triển, bệnh viện luôn chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân ung thư Chính vì thế, bệnh viện đang triển khai kế hoạch thông tin thuốc và tư vấn sử dụng thuốc hóa trị cho bệnh nhân ung thư được thực hiện bởi Dược sĩ lâm sàng, giúp bệnh nhân hiểu hơn về hóa trị, biết cách quản lý bệnh tật cũng như xử trí phù hợp khi gặp vấn đề sức khỏe trong quá trình điều trị
Thực tế hiện nay có rất ít tài liệu đánh giá thực trạng kiến thức hóa trị và hành vi
tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư cũng như các yếu tố ảnh hưởng ở Việt Nam Do đó, nghiên cứu này thực hiện đánh giá thực trạng kiến thức và hành vi tự chăm sóc, xác định
Trang 25mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học, bệnh lý và điều trị với kiến thức, hành vi
tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất ở bệnh viện TWQĐ 108 Chúng tôi tin rằng thông tin thu được sẽ hỗ trợ các NVYT xác định được những nhóm bệnh nhân cần nâng cao kiến thức và cải thiện khả năng tự chăm sóc của họ, từ đó có thể cung cấp nội dung, quy trình tư vấn phù hợp nhằm mục đích tối ưu hóa việc điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân ung thư điều trị tại Viện Ung thư – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 04/2021 đến tháng 04/2022 thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ sau:
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
• Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên
• Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư dạng khối u rắn
• Bệnh nhân đang điều trị hóa chất toàn thân từ chu kỳ thứ 2 trở lên
• Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
• Bệnh nhân có chẩn đoán mắc kèm một loại ung thư khác
• Bệnh nhân hóa xạ trị đồng thời hoặc sử dụng các thuốc điều trị ung thư khác (thuốc điều trị đích, thuốc điều trị nội tiết,…) trong khoảng thời gian từ chu kỳ hóa trị trước đến thời điểm khảo sát
• Bệnh nhân không có khả năng giao tiếp và đọc phiếu khảo sát
• Bệnh nhân không hoàn thành phiếu khảo sát
• Bệnh nhân không tiếp cận được do tình hình Covid-19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
• Thời gian nghiên cứu: thời gian thu thập số liệu từ 06/04/2021 – 21/4/2022
• Địa điểm nghiên cứu: bệnh viện Trung ương Quân đội 108
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu
Lấy mẫu thuận tiện tại từng khoa A6A, A6B, A6D Nghiên cứu thu thập toàn bộ các bệnh nhân thoả mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ trong khoảng thời gian từ 06/04/2021 - 29/04/2021 và 17/03/2022 - 21/4/2022 (việc thu thập số liệu bị gián đoạn
do ảnh hưởng của dịch Covid-19)
2.3.3 Quy trình thu thập và phân tích dữ liệu
(1) Sàng lọc: Nghiên cứu viên trao đổi trực tiếp với bệnh nhân đang nằm điều trị tại
khoa để nắm được các thông tin về loại ung thư hiện mắc và phương pháp điều trị để xác định bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu và mời tham gia nghiên cứu
(2) Thu tuyển:
- Lấy chấp thuận tham gia nhiên cứu: đối với mỗi bệnh nhân thoả mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ, nghiên cứu viên giới thiệu cho bệnh nhân các thông tin về
Trang 27nghiên cứu (cung cấp cho bệnh nhân Bản cung cấp thông tin cho đối tượng tham gia
nghiên cứu - Phụ lục 1) và mời bệnh nhân tham gia nghiên cứu Bệnh nhân đồng ý tham
gia sẽ được nghiên cứu viên cung cấp Đơn chấp thuận tham gia nghiên cứu (Phụ lục
2) để lấy xác nhận chấp thuận tham gia vào nghiên cứu của bệnh nhân
- Thu thập thông tin bệnh nhân:
+ Mỗi bệnh nhân thoả mãn tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu được nghiên cứu viên quy ước bằng 01 mã ID bệnh nhân Mã ID bệnh nhân được quy ước thống nhất trong
nghiên cứu và được sử dụng trong quá trình nhập và xử lí dữ liệu
+ Nghiên cứu viên phỏng vấn bệnh nhân theo mẫu phiếu phỏng vấn đã được thiết
kế sẵn (Phụ lục 3), bao gồm: đặc điểm nhân khẩu học; đặc điểm về kiến thức và hành vi
tự chăm sóc của bệnh nhân đang điều trị hóa chất
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
- Số lượng bệnh nhân được đưa vào mẫu nghiên cứu
- Đặc điểm nhân khẩu học: tuổi (liên tục và theo nhóm tuổi: ≤40; 41-60; >60), giới tính (nhị phân: nam, nữ), nơi cư trú (nhị phân: Hà Nội, ngoài Hà Nội), tình trạng hôn nhân (nhị phân: kết hôn, khác-độc thân/đơn thân/góa), trình độ học vấn (nhị phân: dưới THPT, từ THPT trở lên), nghề nghiệp (theo nhóm: lao động trí óc; lao động chân tay; hưu trí/nội trợ; không lao động), thu nhập (nhị phân: không thu nhập, có thu nhập), chế độ bảo hiểm y tế (nhị phân: ≤80%, >80%)
- Đặc điểm bệnh lý và điều trị ung thư: loại ung thư, giai đoạn bệnh (theo nhóm: I; II; III; IV/Tái phát), thời gian chẩn đoán bệnh (liên tục và theo nhóm: <6 tháng; 6-12 tháng; >12 tháng), phương pháp điều trị đã từng trải qua: phẫu thuật (nhị phân: đã, chưa),
xạ trị (nhị phân: đã, chưa), số chu kỳ hóa chất đã điều trị (liên tục và theo nhóm: ≤2;
>2), bệnh mắc kèm (nhị phân: có, không); phác đồ hóa trị (nhị phân: đơn độc, kết hợp)
2.4.2 Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 1
2.4.2.1 Đặc điểm kiến thức của bệnh nhân
- Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng từng câu hỏi
- Điểm kiến thức hóa trị tổng thể của các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
- Điểm kiến thức hoá trị theo từng lĩnh vực nghiên cứu về kiến thức hóa trị (kiến thức chung của hóa trị; kiến thức về tác dụng không mong muốn; kiến thức về cách thức liên lạc với NVYT, nguồn thông tin; kiến thức về hóa trị đường uống)
2.4.2.2 Đặc điểm hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân
- Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng trên từng câu hỏi
- Điểm hành vi tự chăm sóc tổng thể của các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
- Điểm hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân theo từng lĩnh vực nghiên (tuân thủ
Trang 282.4.3 Chỉ tiêu nghiên cứu của mục tiêu 2
2.4.3.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức của bệnh nhân ung thư
- Mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm bệnh nhân (đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý và điều trị) với kiến thức hóa trị
- Mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân (đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý và điều trị) với kiến thức hóa trị
2.4.3.2 Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
- Mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm bệnh nhân (đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý và điều trị), kiến thức hóa trị, các lĩnh vực kiến thức với hành vi tự chăm sóc
- Mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân (đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý và điều trị), kiến thức hóa trị với hành vi tự chăm sóc
- Mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân (đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm bệnh lý và điều trị), các lĩnh vực kiến thức với hành vi tự chăm sóc
2.5 Quy ước trong nghiên cứu
- Về phân nhóm nghề nghiệp của bệnh nhân: bệnh nhân tùy theo ngành nghề được chia thành 4 nhóm: nhóm lao động chân tay (ví dụ công nhân, nông dân, thợ thủ công,…), nhóm lao động trí óc (ví dụ cán bộ, viên chức, nhân viên, kinh doanh,…), nhóm bệnh nhân nghỉ hưu/nội trợ và nhóm thất nghiệp
- Giai đoạn bệnh: phân loại theo hệ thống TNM [7], được tính tại thời điểm bệnh nhân tham gia nghiên cứu
2.6 Bộ công cụ
Nghiên cứu sử dụng hai bộ công cụ L-PaKC và L-PaSC được phát triển bởi Khoa ung thư thuộc bệnh viện đại học Leuven, Bỉ để khảo sát kiến thức hoá trị liệu và hành
vi tự chăm sóc của bệnh nhân [18], [19]
Bộ công cụ L-PaKC: Bộ câu hỏi bao gồm 20 mục: 13 câu hỏi chính (Q1 – Q13)
trong đó các câu Q5, Q7 và Q9 bao gồm tương ứng 5, 2 và 3 câu hỏi nhỏ [19] Cụ thể:
- Các câu hỏi về kiến thức chung của hóa trị (Q1 – Q4): các câu hỏi nhiều lựa chọn, đáp án phụ thuộc vào phác đồ điều trị, loại khối u, mục tiêu điều trị
- Các câu liên quan đến tác dụng không mong muốn, biến chứng mà bệnh nhân
có thể gặp phải trong quá trình điều trị (Q5 – Q8): các câu hỏi đúng sai hoặc nhiều lựa chọn Riêng câu Q6 đáp án phụ thuộc vào từng phác đồ điều trị
- Các câu hỏi về nguồn thông tin (Q9: Q9a, Q9b, Q9c): Q9a và Q9b là các câu hỏi về cách thức liên lạc của bênh nhân với NVYT Q9c là câu hỏi liên quan đến lựa chọn nguồn thông tin khi muốn tìm kiếm thông tin tác dụng không mong muốn
- Các câu hỏi về hóa trị đường uống (Q10 – Q13): các câu hỏi nhiều lựa chọn phụ thuộc vào từng phác đồ điều trị
Trang 29Cách tính điểm được trình bày chi tiết tại phụ lục 4
Bộ công cụ L-PaSC: Bộ câu hỏi bao gồm 22 mục: 12 câu hỏi chính, trong đó
câu Q1 và Q2 bao gồm tương ứng với 7 và 5 câu hỏi nhỏ [18] Cụ thể:
- Các câu hỏi về tuân thủ khuyến cáo (Q1 – Q5): Q1: bao gồm các câu hỏi nhỏ
về mức độ tuân thủ của BN với các khuyến cáo tự chăm sóc trong cuộc sống hàng ngày, được đánh giá bằng thang đo Likert 5 điểm tương ứng với 5 mức độ tần suất; Q2: câu hỏi nhiều lựa chọn; Q3 – Q5: các câu hỏi liên quan đến tuân thủ hóa trị liệu đường uống, các thuốc hỗ trợ và lời khuyên tự chăm sóc giảm triệu chứng sử dụng thang đo từ 0 – 100%
- Các câu hỏi quản lý triệu chứng (Q6 – Q12): các câu hỏi nhiều lựa chọn và có thêm mục “Khác” cho phép bệnh nhân viết ra các biện pháp quản lý triệu chứng khác của mình mà chưa được liệt kê ở trên trong bộ câu hỏi
Cách tính điểm được trình bày chi tiết tại phụ lục 5
Phân tích mối liên quan đơn biến (mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm bệnh nhân (nhân khẩu học, bệnh lý và điều trị) với kiến thức hóa trị; mối liên quan đơn biến giữa đặc điểm bệnh nhân (nhân khẩu học, bệnh lý và điều trị), kiến thức hóa trị, các lĩnh vực kiến thức với hành vi tự chăm sóc): so sánh giữa hai giá trị trung bình: sử dụng Independent Sample T Test với phân phối chuẩn hoặc Mann Whitney với phân phối không chuẩn So sánh giữa nhiều giá trị trung bình (từ 3 nhóm trở lên) sử dụng Anova Test với phân phối chuẩn hoặc Kruskal Wallis với phân phối không chuẩn Sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến khi biến độc lập là biến liên tục, với sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
Phân tích mối liên quan đa biến (mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân với kiến thức hóa trị; mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân, kiến thức hóa trị với hành vi tự chăm sóc – mô hình 1 của biến hành vi; mối liên quan đa biến giữa đặc điểm bệnh nhân, các lĩnh vực kiến thức với hành vi tự chăm sóc – mô hình 2 của biến hành vi) bằng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến theo lần lượt các bước sau:
- Lựa chọn các biến đưa vào mô hình: là các biến độc lập khi phân tích đơn biến
có p < 0,2
Trang 30- Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến: các biến độc lập khi phân tích đơn biến với
p < 0,2 được đưa vào kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến với tiêu chuẩn lựa chọn VIF <
2 trước khi đưa vào mô hình đa biến
- Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến: mô hình hồi quy tuyến tính đa biến được xác định bằng phương pháp Forward Stepwise để tìm ra các yếu tố liên quan có ý nghĩa, các yếu tố có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 Hệ số B cho biết ảnh hưởng của biến độc lập lên biến phụ thuộc Hệ số hồi quy đã chuẩn hóa (β) cho phép so sánh mức độ ảnh hưởng giữa các yếu tố
2.8 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
Trước khi tham gia nghiên cứu, tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được cung cấp thông tin rõ ràng liên quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu Đối tượng được tự nguyện quyết định tham gia vào nghiên cứu hay không và ký tên vào đơn chấp thuận tham gia nghiên cứu (Phụ lục 2)
Các thông tin thu thập được từ các đối tượng được bảo mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Mỗi bệnh nhân được có một mã định danh (ID) riêng trong quá trình nhập và xử lý dữ liệu Dữ liệu công bố là dữ liệu quần thể, không chỉ đích danh bệnh nhân
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ 3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, có 170 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn
lựa chọn Trong đó, có 5 bệnh nhân không hoàn thành phiếu khảo sát (do bệnh nhân mệt
không thể tiếp tục trả lời hoặc có việc riêng nên từ chối tiếp tục) Sau khi tra thông tin
bệnh lý và phác đồ hóa chất, có 3 bệnh nhân bị loại do mắc kèm ung thư khác và 11
bệnh nhân bị loại do dùng các thuốc điều trị ung thư khác (thuốc điều trị đích, nội tiết,
miễn dịch) trong khoảng thời gian từ chu kỳ hóa trị trước đến thời điểm phỏng vấn Cuối
cùng, có 151 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu Quá trình lựa chọn bệnh nhân được
thể hiện ở hình 3.1
Hình 3.1 Sơ đồ quá trình lựa chọn bệnh nhân
Bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn
Bệnh nhân đủ điều kiện đưa
vào nghiên cứu (N=151)
Trang 323.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Một số đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu được thể hiện trong bảng 3.1
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu (N=151)
Trang 33nhân lao động chân tay chiếm tỷ lệ cao nhất (47,0%), và thấp nhất là nhóm bệnh nhân thất nghiệp (8,6%) Hơn một nửa số bệnh nhân có trình độ học vấn từ THPT trở lên (55,6%) Số bệnh nhân không có thu nhập chiếm tới 40,4% Đa số bệnh nhân đang sống cùng vợ/chồng (91,4%) Số bệnh nhân có mức bảo hiểm y tế trên 80% chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm ≤80% (58,9% so với 41,1%)
3.1.2 Đặc điểm bệnh lý ung thư và điều trị
Một số đặc điểm về bệnh lý và điều trị của mẫu nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.2 và bảng 3.3
Bảng 3.2 Đặc điểm về bệnh lý ung thư của mẫu nghiên cứu (N=151)
Loại bệnh ung thư
Tiêu hóa (thực quản, dạ dày, đại tràng, trực tràng) 95 62,9
Khác (ung thư đường mật, tuyến ức, tinh hoàn,
xương, vòm mũi họng, tụy, phổi, bàng quang,
Trang 34bệnh nhân có thời gian chẩn đoán dưới 6 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất (42,4%) Khoảng 1/3 bệnh nhân (35,8%) có bệnh mắc kèm Bệnh mắc kèm chủ yếu là tăng huyết áp, đái tháo đường và loãng xương
Bảng 3.3 Đặc điểm về điều trị của mẫu nghiên cứu (N=151)
Bảng 3.3 cho thấy, có tới 74,2% bệnh nhân đã được phẫu thuật và có khoảng 1/5
số bệnh nhân đã từng xạ trị (21,2%) Trung vị số chu kỳ hóa chất đã điều trị là 4, số chu
kỳ nhiều nhất mà bệnh nhân đã trải qua là 22 chu kỳ Có khoảng 2/3 bệnh nhân đã điều trị trên 2 chu kỳ (65,6%)
Trong số 36 phác đồ được thống kê ở mẫu nghiên cứu , phần lớn bệnh nhân được dùng phác đồ hóa chất kết hợp (88,1%), còn lại dùng phác đồ đơn độc (11,9%)
Các phác đồ hóa trị bệnh nhân sử dụng được liệt kê ở bảng 3.4
Bảng 3.4 Các phác đồ bệnh nhân sử dụng trong mẫu nghiên cứu (N=151)
Các phác đồ được sử dụng Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
mFolfox6 (oxaliplatin + 5-fluorouracil + leucovorin) 23 15,2
5-AC (doxorubicin + cyclophosphamid) (7,9%), phác đồ gemcitabin + cisplatin (6,0%),
Trang 35phác đồ Docetaxel (5,3%), phác đồ AC-T (doxorubicin + cyclophosphamid + paclitaxel) (4,0%), phác đồ CF (cisplatin + 5-fluorouracil) (4,0%), phác đồ SOX (oxaliplatin + TS-one) (3,3%)
3.2 Đặc điểm kiến thức hóa trị và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
3.2.1 Đặc điểm kiến thức hóa trị của bệnh nhân ung thư
Điểm trung bình của kiến thức hóa trị tổng thể và các lĩnh vực nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.5
Bảng 3.5 Điểm kiến thức hóa trị tổng thể và các lĩnh vực nghiên cứu
Điểm kiến thức Điểm kiến thức hóa trị (%) Min – Max
Điểm kiến thức hóa trị tổng thể 63,0 ± 15,0 17,0 – 90,8
3.2.1.1 Lĩnh vực kiến thức chung về hóa trị
Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức chung về hóa trị được thể hiện ở hình 3.2
Trang 36Hình 3.2 Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng câu hỏi về kiến thức chung của
hóa trị (N=151)
70,2% bệnh nhân xác định đúng mục đích của việc dùng hóa trị Có tới 77,5% bệnh nhân biết mục đích của xét nghiệm máu trước mỗi đợt điều trị 62,3% bệnh nhân xác định đúng những biện pháp cần thực hiện để có lối sống phù hợp trong quá trình điều trị Tuy nhiên chỉ có khoảng hơn một nửa bệnh nhân trả lời đúng về thời gian thực hiện hóa trị (56,3%)
3.2.1.2 Lĩnh vực kiến thức về tác dụng không mong muốn
Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi liên quan đến dấu hiệu cần thông báo khẩn cấp đến NVYT được thể hiện ở hình 3.3
Hình 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng/sai các câu hỏi liên quan đến dấu hiệu cần
liên hệ nhân viên y tế (N=151)
trùng
Vùng da cắm kim truyền đỏ/sưng
Đúng Sai
Trang 37Kết quả ở hình 3.3 cho thấy, có 50,3% trả lời đúng khi cho rằng ớn lạnh là một dấu hiệu của nhiễm trùng Đa số bệnh nhân trả lời đúng tiêu chảy kéo dài/nôn mửa liên tục trong một ngày có thể dẫn đến mất nước (89,4%) Hơn một nửa bệnh nhân (56,3%) trả lời sai khi cho rằng nếu đột ngột cảm thấy khó thở trong quá trình điều trị thì chỉ cần nghỉ ngơi là đủ Có tới 69,5% bệnh nhân xác định đúng hầu hết nhiễm trùng trong quá trình hóa trị cần điều trị ngay bằng kháng sinh Khoảng một nửa bệnh nhân trả lời sai khi nhận định vùng da xung quanh vị trí cắm kim truyền có dấu hiệu đỏ/sưng lên sau khi thực hiện hóa trị là bình thường (54,1%)
Khi được hỏi về các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra trong quá trình điều trị, tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng rất thấp, chỉ chiếm 3,3% Đặc điểm cụ thể về số lượng và tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra trong quá trình điều trị được trình bày tại hình 3.4
Hình 3.4 Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn các tác dụng không mong muốn có
thể xảy ra trong quá trình điều trị (N=151)
Hầu hết bệnh nhân (96,0%) báo cáo rằng có thể xảy ra mệt mỏi khi thực hiện hóa trị Trên 60% bệnh nhân cho rằng có thể bị buồn nôn/nôn, rụng tóc, táo bón Khoảng một nửa bệnh nhân xác định có thể gặp phải thiếu máu, tăng nguy cơ nhiễm trùng, tiêu chảy khi điều trị Sốt là tác dụng không mong muốn có tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn thấp nhất (14,6%)
Về thời gian xảy ra các tác dụng không mong muốn, phần lớn bệnh nhân trả đúng
về thời gian buồn nôn (80,8%) và thời gian mệt mỏi (72,8%) Tuy nhiên, có khoảng một
Rụng tóc Táo bón Thiếu máu Tăng nguy cơ nhiễm trùng
Tiêu chảy Tổn thương niêm mạc miệng
Dễ chảy máu
Tê tay chân
Sốt
Trang 38nửa số bệnh nhân trả lời sai lý do cần tránh thai (56,3%) Kết quả chi tiết được trình bày tại hình 3.5
Hình 3.5 Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng/sai về lý do tránh thai, thời gian mệt mỏi,
thời gian buồn nôn khi hóa trị (N=151)
3.2.1.3 Lĩnh vực kiến thức về nguồn thông tin
Đặc điểm tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng một số câu hỏi về nguồn thông tin được thể hiện tại hình 3.6
Hình 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng một số câu hỏi về nguồn thông tin (N=151)
Hầu hết bệnh nhân biết cách liên hệ với NVYT khi về nhà và có thêm thắc mắc (98,7%); biết cách liên hệ NVYT vào những ngày cuối tuần khi gặp vấn đề sức khỏe (96,7%) Đa số bệnh nhân có lựa chọn tìm kiếm thông tin về tác dụng không mong muốn
từ nguồn thông tin uy tín (82,1%)
Biết cách liên hệ NVYT Biết cách liên hệ NVYT
vào cuối tuần Lựa chọn nguồn thông tin
Trang 393.2.1.4 Lĩnh vực kiến thức hóa trị đường uống
Nghiên cứu ghi nhận đa số bệnh nhân trả lời đúng về đường dùng thuốc hóa trị của bản thân (87,4%) Trong đó, có 50/61 (82,0%) bệnh nhân trả lời đúng bản thân có đường dùng hóa trị là đường uống Tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng một số câu hỏi về kiến thức hóa trị đường uống được thể hiện tại bảng 3.6
Bảng 3.6 Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng một số câu hỏi về kiến thức hóa
trị đường uống (N=50)
Hóa trị đường uống Số lượng BN trả lời đúng (n) Tỷ lệ (%)
Đối với hóa trị đường uống, hầu hết bệnh nhân xác định đúng thời điểm dùng thuốc (98%) và số lần dùng thuốc trong một ngày (90%) Tuy nhiên, chỉ có 20% bệnh nhân biết cách xử trí nếu quên uống thuốc
3.2.2 Đặc diểm hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân ung thư
Điểm trung bình của hành vi tự chăm sóc và các lĩnh vực nghiên cứu được trình bày ở bảng 3.7
Bảng 3.7 Điểm hành vi tự chăm sóc và các lĩnh vực nghiên cứu
Điểm hành vi (%) Min – Max
Lĩnh vực
Lĩnh vực tuân thủ khuyến cáo 77,0 ± 16,3 25,0 – 100,0 Lĩnh vực tự quản lý triệu chứng 61,9 ± 33,7 0 – 100,0 Kết quả nghiên cứu thu được ở bảng 3.7 cho thấy trung bình điểm hành vi tự chăm sóc của mẫu nghiên cứu là 74,2 ± 16,2% điểm Lĩnh vực tuân thủ khuyến cáo có điểm trung bình là 77,0 ± 16,3% điểm, và điểm trung bình lĩnh vực tự quản lý triệu chứng là 61,9 ± 33,7% điểm
3.2.2.1 Lĩnh vực tuân thủ điều trị
Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi lĩnh vực tuân thủ khuyến cáo được trình bày tại bảng 3.8
Trang 40Bảng 3.8 Số lượng và tỷ lệ bệnh nhân trả lời đúng các câu hỏi lĩnh vực tuân thủ
khuyến cáo
lời đúng (n)
Tỷ lệ (%)
Tránh tiếp xúc người mắc bệnh truyền nhiễm (N=151) 138 91,4
Đo thân nhiệt khi cảm thấy không khỏe (N=151) 53 35,1 Dùng thuốc ngoài thuốc bác sĩ kê (N=151) 125 82,8
Xử trí nếu đột nhiên khó thở sau vận động nhẹ (N=151) 115 76,2
Xử trí nếu tiêu chảy >3 lần/ngày (N=151) 122 80,8
Uống thuốc hóa trị đúng cách và đúng thời điểm (N=50) 40 80,0 Dùng thuốc điều trị tác dụng không mong muốn đúng
cách (N=82)
Đa số bệnh nhân tuân thủ đánh răng ít nhất 2 lần/ngày (80,8%), tránh tiếp xúc người mắc bệnh truyền nhiễm (91,4%), không dùng thuốc ngoài thuốc bác sĩ kê (82,8%) Trên 60% bệnh nhân tuân thủ uống tối thiểu 1,5L nước mỗi ngày và xử lý tốt dịch tiết
cơ thể (ví dụ dịch nôn) bằng cách gói riêng vào túi ni-lông trước khi vứt đi Tuy nhiên, chỉ có khoảng 1/3 bệnh nhân (35,1%) tuân thủ luôn đo thân nhiệt khi cảm thấy không khỏe Có 67,9% bệnh nhân trong số 28 bệnh nhân luôn sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục Phần lớn bệnh nhân có cách xử trí đúng nếu đột nhiên khó thở sau vận động nhẹ (76,2%), nếu sốt > 38 độ (87,4%), nếu tiêu chảy >3 lần/ngày (80,8%), nếu nôn
>5 lần/ngày (93,4%), nếu tê ngón tay (67,5%) Trên 80% bệnh nhân báo cáo dùng thuốc hóa trị đúng cách, đúng thời điểm, dùng thuốc điều trị tác dụng không mong muốn đúng cách và áp dụng tốt lời khuyên của NVYT
3.2.2.2 Lĩnh vực tự quản lý triệu chứng
Hình 3.7 biểu diễn tỷ lệ bệnh nhân xử trí đúng các tác dụng không mong muốn
đã gặp phải