BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI VƯƠNG LỆ HÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI MẮC PHẢI CỘNG ĐỒNG CHO TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH LÀO CAI LUẬN VĂN DƯỢ
TỔNG QUAN
Tổng quan về viêm phổi mắc phải cộng đồng ở trẻ em
Viêm phổi là tình trạng viêm cấp tính lan tỏa đến phế nang, mô k và phế quản, có thể ảnh hưởng một bên hoặc hai bên phổi Viêm phổi cộng đồng là viêm phổi mắc phải ở cộng đồng hoặc xuất hiện trong 48 giờ đầu nằm viện [5].
1.1.2 Dịch tễ viêm phổi trẻ em
Viêm phổi là một trong những bệnh lý đường hô hấp phổ biến nhất và thường gặp nhiều nhất vào mùa đông cũng như trong các đợt dịch cúm.
Theo UNICEF công bố vào tháng 11/2016, viêm phổi là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi trên toàn cầu Cứ 6 em bé dưới 5 tuổi tử vong thì có 1 em bé chết vì viêm phổi Mỗi ngày khoảng 2.500 trẻ em chết vì viêm phổi, tương đương gần 100 trẻ mỗi giờ và một trẻ chết mỗi 30 giây Tử vong do viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi nhiều hơn tổng số tử vong do HIV/AIDS, sốt rét và sởi cộng lại Khoảng 90% ca tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập trung bình và thấp [39].
Thống kê năm 2010 trên 192 quốc gia cho thấy tỷ lệ mắc viêm phổi cộng đồng ở trẻ 0–4 tuổi hàng năm là khoảng 22%, với mức cao nhất ở Đông Nam Á và châu Phi; ở Hoa Kỳ, viêm phổi là nguyên nhân thứ 6 gây tử vong, hàng năm có 4–5 triệu bệnh nhân mắc viêm phổi mắc phải cộng đồng, khoảng 500.000–600.000 ca nhập viện (tương đương 10–20%) và khoảng 45.000 ca tử vong; tại Pháp, Đức, Ý và Anh mỗi năm có khoảng 1–3 triệu trường hợp VPMPCĐ, trong đó 22–51% ca cần nhập viện điều trị.
Tỷ lệ tử vong do viêm phổi thay đổi theo từng quốc gia nhƣ ở Canada là 6%, Thụy Điển là 8%, Anh là 13% và Tây Ban Nha là 20% [34]
Việt Nam nằm trong danh sách 15 nước có số ca viêm phổi mới ở trẻ cao nhất với 2,9 triệu ca/ năm [32]
Trong năm 2012, theo UNICEF, tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi tại nước ta đã giảm đáng kể từ 51 trên 1.000 trẻ đẻ sống năm 1990 xuống còn 23 trên 1.000 năm 2010, cho thấy tiến bộ lớn về sức khỏe trẻ em Tuy vậy, viêm phổi vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em, chiếm tới 12% tổng số trẻ dưới 5 tuổi.
1.1.3 Nguyên nhân gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em
Nguyên nhân phổ biến gây viêm phổi ở trẻ em, nhất là ở các nước đang phát triển, là do vi khuẩn Trong số các tác nhân này, Streptococcus pneumoniae (phế cầu) là vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất, ước tính khoảng 30–35% các trường hợp Tiếp theo là Haemophilus influenzae (H influenzae), chiếm một phần đáng kể trong tổng số ca viêm phổi ở trẻ em.
10 – 30%), sau đó là các loại vi khuẩn khác (B.catarrhalis, S.aureus, S.pyogens )
- Ở trẻ nhỏ < 2 tháng tuổi còn có thể do các vi khuẩn Gram (-) đường ruột nhƣ K.pneumoniae, E.coli, Proteus
- Ở trẻ lớn 5 – 15 tuổi có thể do M.pneumoniae, C.pneumoniae, L.pneumophila (thường gây viêm phổi không điển hình)
Đặc điểm một số vi khuẩn điển hình:
Streptococcus pneumoniae (phế cầu) là nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ dưới 5 tuổi; đây là cầu khuẩn Gram dương có vỏ bao quanh và phế cầu có hơn 90 type huyết thanh.
- Haemophylus influenzae (HI) là trực khuẩn Gram (-) có vỏ hoặc không vỏ Chủng gây bệnh thường có vỏ được phân thành 6 type từ a đến f
HI type b là nguyên nhân chính gây viêm màng não và viêm phổi ở trẻ em
Staphylococcus aureus (tụ cầu khuẩn Gram dương) thường tập trung thành đám hình chùm nho Đây là tác nhân gây bệnh phổ biến ở bệnh nhân viêm phổi nặng và áp xe phổi, đặc biệt sau cúm hoặc ở người suy giảm miễn dịch khi tụ cầu xâm nhập vào phổi qua dịch tiết đường hô hấp Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2007 cho thấy tụ cầu là một trong những vi khuẩn gây bệnh hay gặp, đứng thứ ba trong danh sách các tác nhân gây nhiễm phổi.
Tại Việt Nam, nhiều nhóm tác giả đã tiến hành các nghiên cứu nhằm xác định căn nguyên gây bệnh chủ yếu trên trẻ em (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Một số nghiên cứu về tác nhân gây bệnh trong viêm phổi cộng đồng trẻ em tại Việt Nam Tài liệu tham khảo
Trẻ 1 tháng đến 15 tuổi viêm phổi
Trẻ 2-15 tuổi viêm phổi thùy
Trẻ 2-59 tháng VPCĐ nặng Địa điểm
Khoa Hô hấp - BV Nhi Trung ƣơng
Khoa Hô hấp - BV Nhi Trung ƣơng
Khoa Nội tổng hợp BV Nhi đồng Cần Thơ
Số xét nghiệm vi sinh
Dịch tỵ hầu/dịch rửa phế quản phế nang/dịch nội khí quản
Dịch tỵ hầu và máu
Dịch khí quản (hút qua đường mũi)
Dịch khí quản (hút qua đường mũi)
Số kết quả vi sinh (+)
Vi sinh vật gây xác định bệnh
C.pneumoni ae 3,74%; các loại virus 16%
Chú thích: NC: nghiên cứu, BV: bệnh viện, VPCĐ: viêm phổi cộng đồng
Các kết quả này tương đồng với báo cáo của WHO về các chủng loại tác nhân chính gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em theo độ tuổi, gồm S.pneumoniae, H.influenzae, E.coli, cộng thêm các tác nhân virus ở trẻ nhỏ và các tác nhân không điển hình như M.pneumoniae, C.pneumoniae ở trẻ lớn hơn Tỷ lệ của từng chủng loại dao động giữa các nghiên cứu do sự khác biệt của nhóm đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu.
Việc so sánh kết quả các nghiên cứu này với số liệu từ Chương trình giám sát thuốc quốc gia về mức độ nhạy cảm với kháng sinh (ASTS) năm 2003-2004 cho thấy sự gia tăng đề kháng của các vi khuẩn thường gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em đối với các kháng sinh thông dụng Xu hướng kháng thuốc ngày càng tăng làm cho việc điều trị viêm phổi ở trẻ em gặp khó khăn hơn với các kháng sinh phổ biến Việc đối chiếu dữ liệu ASTS với các nghiên cứu hiện tại nhấn mạnh tầm quan trọng của giám sát kháng kháng sinh và giúp điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp cho cộng đồng.
- Là tác nhân thường gặp gây viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi ở các nước phát triển chiếm 45% trẻ viêm phổi nhập viện
In children under three years old, pneumonia is most commonly caused by the influenza virus and respiratory syncytial virus (RSV) Depending on age, additional viruses such as parainfluenza viruses, adenoviruses, rhinoviruses, and metapneumoviruses can also be involved.
1.1.3.3 Ký sinh trùng và nấm
Viêm phổi ở trẻ em có thể do Pneumocystis carinii, Toxoplasma, Histoplasma, Candida spp…[3]
- Hít sặc thức ăn, dịch dạ dày, chất béo, chất bay hơi, dịvật
- Tăng đáp ứng miễn dịch
1.1.4 Triệu chứng lâm sàng viêm phổi cộng đồng ở trẻ em
Chẩn đoán VPCĐ ở trẻ em chủ yếu dựa vào dấu hiệu lâm sàng kết hợp X-quang phổi và một số xét nghiệm khác nếu có điều kiện
Theo nghiên cứu của WHO viêm phổi cộng đồng ở trẻ em thường có những dấu hiệu sau [40]:
Sốt là dấu hiệu rất phổ biến ở trẻ em, nhưng độ đặc hiệu của sốt không cao vì nó có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Sốt có thể gặp trong nhiều bệnh lý và cho thấy trẻ có biểu hiện nhiễm khuẩn, trong đó viêm phổi là một trong những nguyên nhân cần được đánh giá.
- Ho: Dấu hiệu thường gặp và có độ đặc hiệu cao trong các bệnh đường hô hấp trong đó có viêm phổi
Thở nhanh là dấu hiệu phổ biến và là dấu hiệu sớm của viêm phổi ở trẻ em trong cộng đồng, vì có độ nhạy và độ đặc hiệu cao giúp nhận diện bệnh sớm và nâng cao hiệu quả chăm sóc Theo các khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ngưỡng thở nhanh ở trẻ em được quy định nhằm nhận diện kịp thời tình trạng viêm phổi và hỗ trợ quyết định xử trí y tế phù hợp.
+ Đối với trẻ < 2 tháng tuổi: ≥ 60 lần/phút là thở nhanh
+ Đối với trẻ 2 - 12 tháng tuổi: ≥ 50 lần/phút là thở nhanh
+ Trẻ từ 1 – 5 tuổi: ≥ 40 lần/phút là thở nhanh
- Rút lõm lồng ngực: Là dấu hiệu của viêm phổi nặng
Ran ẩm nhỏ hạt khi nghe phổi có thể là dấu hiệu của viêm phổi, tuy nhiên độ nhạy của dấu hiệu này thấp so với viêm phổi được xác định bằng hình ảnh X-quang [3], [7], [40].
1.1.5 Triệu chứng cận lâm sàng
Chụp X-quang phổi là phương pháp để xác định các tổn thương phổi, trong đó có viêm phổi Tuy nhiên không phải trường hợp viêm phổi được chẩn đoán trên lâm sàng nào cũng có dấu hiệu tổn thương trên phim X-quang phổi tương ứng và ngược lại Trong 2-3 ngày đầu của bệnh, X-quang phổi có thể bình thường
Hình ảnh viêm phổi điển hình trên phim X-quang là đám mờ ở nhu mô phổi ranh giới không rõ một bên hoặc hai bên phổi
Viêm phổi do vi khuẩn, đặc biệt do phế cầu: tổn thương phổi có hình mờ hệ thống bên trong có các nhánh phế quản chứa khí
Tổng quan điều trị viêm phổi cộng đồng trẻ em
1.2.1 Nguyên tắc điều trị viêm phổi
Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em do Bộ Y tế ban hành năm 2015, việc điều trị viêm phổi cộng đồng phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh và mức độ nặng ở từng bệnh nhi Hướng dẫn nhấn mạnh chẩn đoán xác định và đánh giá tình trạng lâm sàng để lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp, đồng thời xem xét tác nhân gây bệnh và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng Quản lý viêm phổi cộng đồng được thực hiện dựa trên từng trường hợp cụ thể, với sự điều chỉnh liệu pháp theo yếu tố nguyên nhân và độ nặng nhằm tối ưu kết quả và hạn chế biến chứng.
Nhìn chung, việc điều trị viêm phổi ở trẻ em cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
- Chống mất nước, rối loạn điện giải
- Đảm bảo dinh dƣỡng Điều trị viêm phổi do vi khuẩn chủ yếu là sử dụng kháng sinh sau đó là các điều trị hỗ trợ khác:
- Làm thông thoáng đường thở bằng cách hút đờm dãi, nằm đầu cao, nới rộng quần áo Cho thở oxy khi trẻ có biểu hiện suy thở
- Dùng thuốc hạ sốt, làm mát
- Cân bằng nước, điện giải
- Chế độ dinh dƣỡng, nghỉ ngơi hợp lý
- Điều trị viêm phổi do vi khuẩn chủ yếu là sử dụng kháng sinh sau đó là các điều trị hỗ trợ khác [2]
1.2.2 Nguyên tắc điều trị bằng kháng sinh
Các nguyên tắc chính nhằm sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý là:
- Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn
- Phải chọn đúng kháng sinh và đường cho thuốc thích hợp
- Phải sử dụng kháng sinh đúng liều lƣợng và đúng thời gian đúng quy định
- Phải biết các nguyên tắc chủ yếu về phối hợp kháng sinh [26]
Nguyên tắc điều trị viêm phổi cho trẻ em là viêm phổi do vi khuẩn bắt buộc được điều trị bằng kháng sinh, trong khi viêm phổi do virus thuần túy không có tác dụng của kháng sinh; tuy nhiên thực tế rất khó phân biệt giữa viêm phổi do vi khuẩn, virus hoặc sự kết hợp giữa chúng dựa trên lâm sàng, X-quang và các xét nghiệm khác, và ngay cả khi cấy vi khuẩn âm tính cũng không thể loại trừ viêm phổi do vi khuẩn, vì vậy WHO khuyến cáo nên dùng kháng sinh để điều trị cho tất cả các trường hợp viêm phổi ở trẻ em.
Ban đầu, kháng sinh được chọn theo kinh nghiệm, sau khi xác định được nguyên nhân gây bệnh bằng các phương pháp vi sinh tin cậy, kháng sinh nên có tác dụng trực tiếp lên vi khuẩn gây bệnh Phần lớn bệnh nhân viêm phổi đáp ứng với điều trị sau 2–3 ngày, nhưng sự cải thiện trên phim X-quang thường chậm hơn tiến triển lâm sàng Những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp kháng sinh ban đầu có thể do tình trạng viêm phổi tiến triển nhanh dẫn đến suy hô hấp cấp hoặc sốc nhiễm khuẩn; hoặc do kháng thuốc, do nguyên nhân khác, dùng thuốc không đúng liều hoặc có vấn đề về hấp thu thuốc, hoặc chẩn đoán sai Những trường hợp này cần được khám xét lại cẩn thận, làm lại các xét nghiệm về nhiễm trùng và cân nhắc lại chẩn đoán [30].
1.2.3 Cơ sở lựa chọn kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng
Việc lựa chọn kháng sinh trong điều trị viêm phổi lý tưởng nhất là dựa vào kết quả nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để xác định kháng sinh phù hợp Tuy nhiên trong thực tế khó thực hiện vì các hạn chế về thời gian trả kết quả xét nghiệm, sự đa dạng của tác nhân gây bệnh và độ nhạy cảm kháng sinh có thể thay đổi theo ngữ cảnh, chi phí và khả năng tiếp cận các xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn và kháng sinh đồ.
+ Việc lấy bệnh phẩm để nuôi cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ rất khó khăn, đặc biệt là tại cộng đồng
+ Thời gian chờ kết quả xét nghiệm mới quyết định điều trị là không kịp thời, nhất là những trường hợp viêm phổi nặng cần điều trị cấp cứu
Quy trình lựa chọn kháng sinh điều trị viêm phổi ở trẻ em dựa trên các yếu tố lâm sàng như đặc điểm lâm sàng, lứa tuổi, tình trạng miễn dịch và mức độ nặng nhẹ của bệnh, đồng thời đánh giá tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp để đảm bảo phác đồ phù hợp [3].
- Theo tuổi và nguyên nhân:
+ Đối với trẻ sơ sinh và < 2 tháng tuổi: Nguyên nhân thường gặp là liên cầu B, tụ cầu, vi khuẩn Gram-âm, phế cầu (S pneumoniae) và H influenzae
+ Trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi nguyên nhân hay gặp là phế cầu (S pneumoniae) và H influenzae
+ Trẻ trên 5 tuổi ngoài S pneumoniae và H influenzae còn có thêm
Mycoplasma pneumoniae, Chlamydia pneumoniae, Legionella pneumophila [3]
- Theo tình trạng miễn dịch:
Trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay mắc phải đặc biệt là trẻ bị HIV
AIDS thường gây viêm phổi do tác nhân cơ hội, gồm Pneumocystis jirovecii (nấm Pneumocystis), Toxoplasma gondii (kí sinh trùng), các nấm Candida spp và Cryptococcus spp, virus như Cytomegalovirus (CMV) và Herpes simplex, cùng các vi khuẩn như Staphylococcus aureus, các vi khuẩn Gram âm và Legionella spp.
- Theo mức độ nặng nhẹ của bệnh:
Các trường hợp viêm phổi nặng và rất nặng thường diễn tiến nhanh và đi kèm suy hô hấp cấp, sốc, tím tái, bỏ bú hoặc không uống được, ngủ li bì khó đánh thức, co giật, hôn mê và có thể suy dinh dưỡng nặng Nguyên nhân gây bệnh ở các trường hợp này thường là các vi khuẩn Gram-dương và tụ cầu, nhiều hơn so với phế cầu và Haemophilus influenzae.
- Theo mức độ kháng thuốc:
Mức độ kháng kháng sinh dao động theo địa phương và vùng miền: các thành phố thường có tỷ lệ kháng kháng sinh cao hơn nông thôn; ở bệnh viện kháng kháng sinh cao hơn ở cộng đồng; và nơi lạm dụng kháng sinh có mức kháng kháng sinh cao hơn nơi dùng kháng sinh an toàn và hợp lý Ở Việt Nam, nguyên nhân chính gây viêm phổi cộng đồng ở trẻ em là do vi khuẩn với các chủng phổ biến như S pneumoniae, H influenzae và Moraxella catarrhalis, và tình hình kháng kháng sinh của ba vi khuẩn này đã được thống kê trong bảng dưới đây [3].
Bảng 1.2 Tình hình kháng kháng sinh của 3 vi khuẩn thường gặp gây viêm phổi ở trẻ em
Kháng sinh S.pneumoniae (%) H.influenzae (%) M.catarrhalis (%)
1.2.4 Các hướng dẫn lựa chọn kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng trẻ em tại Việt Nam
1.2.4.1 Hướng dẫn sử dụng kháng sinh Bộ Y tế 2015
Kháng sinh uống vẫn đảm bảo an toàn và hiệu quả trong điều trị viêm phổi cộng đồng ở trẻ em, kể cả một số trường hợp nặng Lúc đầu có thể dùng các kháng sinh đường uống phù hợp với độ tuổi và mức độ nặng của bệnh để bắt đầu điều trị sớm, giảm triệu chứng và ngăn biến chứng Việc lựa chọn phác đồ cần dựa trên tình trạng lâm sàng, tiền sử dị ứng và đáp ứng điều trị, với theo dõi chặt chẽ để điều chỉnh khi cần thiết nhằm tối đa hóa hiệu quả điều trị và an toàn cho trẻ.
+ Co-trimoxazol 50mg/kg/ngày chia 2 lần (uống) ở nơi vi khuẩn S pneumoniae chƣa kháng nhiều với thuốc này
Amoxicillin 45 mg/kg/ngày, uống chia làm 3 lần Theo dõi diễn tiến 2–3 ngày; nếu tình trạng bệnh đỡ, tiếp tục điều trị cho đủ 5–7 ngày Đối với trẻ viêm phổi, thời gian dùng kháng sinh ít nhất là 5 ngày.
Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì điều trị nhƣ viêm phổi nặng
Ở những nơi có tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn S pneumoniae cao, có thể tăng liều amoxicillin lên 75 mg/kg/ngày hoặc 90 mg/kg/ngày, chia làm hai lần trong ngày, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
+ Trường hợp vi khuẩn H influenzae và B catarrhalis sinh betalactamase cao có thể thay thế bằng amoxicillin-clavulanat
+ Benzyl penicilin 50mg/kg/lần (TM) ngày dùng 4-6 lần
Theo dõi sau 2–3 ngày; nếu tình trạng đỡ, tiếp tục điều trị đủ 5–10 ngày Nếu không đỡ hoặc nặng thêm thì phải điều trị như viêm phổi rất nặng Trẻ đang được dùng kháng sinh đường tiêm để điều trị viêm phổi cộng đồng có thể chuyển sang đường uống khi có bằng chứng bệnh đã cải thiện rõ và tình trạng chung của trẻ ổn định, lúc đó thuốc có thể được dùng theo đường uống.
- Viêm phổi rất nặng ( VPRN ):
+ Benzyl penicilin 50mg/kg/lần (TM) ngày dùng 4-6 lần phối hợp với gentamicin 5 -7,5 mg/kg/ ngày (TB hoặc TM) dùng 1 lần trong ngày
+ Hoặc chloramphenicol 100mg/kg/ngày (tối đa không quá 2g/ngày) Một đợt dùng từ 5- 10 ngày Theo dõi sau 2-3 ngày nếu đỡ thì tiếp tục điều trị cho đủ 7 -10 ngày hoặc có thể dùng ampicilin 100 – 150mg/kg/ngày kết hợp với gentamicin 5 -7,5 mg/kg/ ngày (TB hoặc TM) dùng 1 lần trong ngày
Nếu không đỡ hãy đổi 2 công thức trên cho nhau hoặc dùng cefuroxim 75– 150 mg/kg/ ngày (TM) chia 3 lần
Nếu nghi ngờ viêm phổi do tụ cầu hãydùng:
+ Oxacilin 100 mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 3-4 lần kết hợp với gentamicin 5 -7,5 mg/kg/ ngày (TB hoặc TM) dùng 1 lần trongngày
+ Nếu không có oxacilin thay bằng: cephalothin 100mg/kg/ngày (TM hoặc TB) chia 3-4 lần kết hợp với gentamicin liều nhƣ trên
Nếu tụ cầu kháng methicilin cao có thể sử dụng:
+ Vancomycin 10mg/kg/lần ngày 4 lần [3]
1.2.4.2 Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh thường gặp ở trẻ em của Bộ Y tế năm 2015 [5]
Viêm phổi Điều trị kháng sinh:
+ Đối với trẻ dưới 5 tuổi
Uống một trong các kháng sinh sau:
- Amoxicillin 80mg/kg/24 giờ, chia 2 lần hoặc amoxicillin/acid clavulanic 80mg/kg/24 giờ, chia 2 lần Thời gian điều trị 5 ngày
- Nếu trẻ dị ứng với beta – lactam hoặc nghi ngờ viêm phổi do vi khuẩn không điển hình thì dùng nhóm macrolid: (azithromycin, clarithromycin hoặc erythromycin)
+ Đối với trẻ trên 5 tuổi:
Viêm phổi do vi khuẩn không điển hình rất thường gặp Kháng sinh lựa chọn ban đầu là nhóm macrolid Dùng một trong các thuốc sau:
- Erythromycin 40 mg/kg/24 giờ, chia 3 lần, uống khi đói Hoặc
- Clarithromycin 15 mg/kg/24 giờ, uống, chia 2 lần Hoặc
- Azithromycin 10 mg/kg/24 giờ, uống một lần khi đói
Thời gian điều trị 7 - 10 ngày Azithromycin có thể dùng 5 ngày
Kháng sinh lựa chọn ban đầu thuộc nhóm penicillin A kết hợp một kháng sinh nhóm aminosid Lựa chọn:
- Ampicillin 200mg/kg/24 giờ, chia 4 lần, tiêm tĩnh mạch chậm cách mỗi
- Hoặc amoxicillin-acid clavulanic 90mg/kg/24 giờ, chia 3 lần, tiêm tĩnh mạch chậm hoặc tiêm bắp cách mỗi 8 giờ, kết hợp với gentamicin 7,5mg/kg tiêm tĩnh mạch chậm 30 phút hoặc tiêm bắp một lần Có thể thay thế bằng amikacin 15mg/kg tiêm tĩnh mạch chậm hoặc tiêm bắp
Điều trị bằng ceftriaxon 80 mg/kg/ngày tiêm tĩnh mạch chậm một lần hoặc cefotaxim 100–200 mg/kg/ngày, chia làm 2–3 lần tiêm tĩnh mạch chậm; dùng khi thất bại với các thuốc trên hoặc dùng ngay từ đầu Thời gian dùng kháng sinh ít nhất 5 ngày.
Một số nghiên cứu về sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng ở trẻ em ở Việt Nam
đồng ở trẻ em ở Việt Nam
Trần Ngọc Hoàng (2018) thực hiện nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Huyện Văn Bàn, Lào Cai Kết quả cho thấy nhóm tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở trẻ từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi, chiếm 39,50% tổng số ca được khảo sát Nghiên cứu cũng đề cập đến tỷ lệ trẻ em bị viêm phổi, nhưng giá trị cụ thể của tỷ lệ này chưa được nêu rõ trong dữ liệu được cung cấp.
Trong nghiên cứu, viêm phổi nặng chiếm 2,5% tổng số ca Nhóm kháng sinh cephalosporin được sử dụng nhiều nhất, chiếm 54,93% tổng số lần dùng và ceftizoxim là kháng sinh có tần suất sử dụng cao nhất, đạt 45,77% Phác đồ kháng sinh điều trị chủ yếu là phác đồ đơn độc, 94,96%, trong khi phác đồ phối hợp chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, 2,52% [15].
Hai nghiên cứu năm 2016, của Lê Nhị Trang tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Lặc, Thanh Hóa và của Cao Thị Thu Hiền tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, cùng tập trung khám phá đặc điểm và phân bố tuổi của bệnh VPCĐ Về nhóm tuổi mắc bệnh VPCĐ phổ biến nhất, kết quả cho thấy bệnh thường gặp ở nhóm tuổi (2- ).
Trong hai nghiên cứu về thói quen dùng kháng sinh trong 12 tháng, mức độ tương đồng được ghi nhận ở 52,1% ở nghiên cứu của Lê Nhị Trang và 40,6% ở nghiên cứu của Cao Thị Thu Hiền Ở nghiên cứu của Lê Nhị Trang, cephalosporin thế hệ 3 là nhóm được sử dụng nhiều nhất với 38,16%, trong khi ceftriaxon là kháng sinh được dùng với tần suất lớn nhất (18,12%) Kết quả từ Cao Thị Thu Hiền cũng cho thấy cephalosporin là nhóm kháng sinh được lựa chọn nhiều nhất với 57,7%, tuy nhiên kháng sinh được sử dụng nhiều nhất lại là ceftazidim, chiếm 35,9% lượt chỉ định Phác đồ điều trị được ghi nhận gồm 3 loại, trong đó phác đồ phối hợp hai kháng sinh chiếm tỷ lệ cao nhất với 55,2% số bệnh nhân; phác đồ phối hợp ba kháng sinh cũng xuất hiện nhưng ở mức rất nhỏ (3,6%) [14], [22].
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hội (2017) tại Bệnh viện Đa khoa Xín
Mần – Hà Giang Kết quả cho thấy nhóm tuổi mắc bệnh VPCĐ phổ biến nhất ở 6–12 tháng tuổi, chiếm 46,53%, và mức độ phổ biến này tương đồng với các nghiên cứu trước đó Các nhóm kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là penicillin, cephalosporin và aminoglycoside, lần lượt chiếm 26,63%, 36,98% và 36,39%.
Có 9 phác đồ điều trị viêm phổi đã đƣợc sử dụng khi bệnh nhân mới vào nhập viện, trong đó có 5 phác đồ đùng kháng sinh đơn độc, 4 phác đồ phối hợp kháng sinh với kháng sinh Trong nhóm bệnh nhân viêm phổi, phác đồ đƣợc sử dụng chủ yếu là phác đồ phối hợp, chiếm tỷ lệ 61,73% Trong số các phác đồ phối hợp, hai phác đồ đƣợc sử dụng phổ biến nhất là penicilin+kháng beta lactamse+aminosid và C3+aminosid, chiếm tỷ lệ lần lượt tương ứng là 26,96% và 24,35% Số phác đồ đơn độc chỉ chiếm hơn một nửa số phác đồ đơn độc (chiếm 38,27%); trong đó, phác đồ đơn độc đƣợc sử dụng phổ biến nhất là penicilin + kháng beta lactamase (chiếm 18,26%) Trong nhóm bệnh nhân viêm phổi nặng, tỷ lệ phác đồ phối hợp và phác đồ đơn độc tương đối bằng nhau, chiếm lần lượt là 49,42% và 50,58% Trong số các phác đồ phối hợp, tương tự nhóm viêm phổi, hai phác đồ được sử dụng phổi biến nhất cũng là C3+aminosid và penicilin+kháng beta lactamase + aminosid, chiếm tỷ lệ lần lượt tương ứng là 25,29% và 16,09% Trong số các phác đồ đơn độc, phác đồ đƣợc sử dụng phổ biến nhất là C3 (chiếm 20,69%), tiếp sau là phác đồ penicilin + kháng beta lactamase (chiếm 18,39%) [17]
Giới thiệu về Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Lào Cai và hoạt động quản lý kháng sinh tại Bệnh viện
1.5.1 Giới thiệu về Bệnh viện
Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Lào Cai là bệnh viện chuyên khoa hạng II và là tuyến chuyên môn cao nhất của tỉnh về Sản khoa và Nhi khoa Bệnh viện được thành lập theo Quyết định số 3105/QĐ-UBND ngày 30/12/2012 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Ngày 08/10/2018, Bệnh viện chuyển đến cơ sở mới khang trang, hiện đại hơn, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Hiện tại Bệnh viện có 218 cán bộ, gồm 04 bác sĩ chuyên khoa cấp II, 17 bác sĩ chuyên khoa cấp I, 06 thạc sĩ y khoa, 35 bác sĩ đại học, 07 dược sĩ đại học; 59 điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên và các cán bộ khác có trình độ đại học; và 90 điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên có trình độ cao đẳng và trung học.
Khoa Dược Bệnh viện được thành lập theo đúng quy định tại Thông tư 22/2011/TT-BYT Hiện nay, đội ngũ nhân lực của khoa Dược gồm 11 cán bộ, trong đó có 6 dược sĩ đại học, 1 dược sĩ cao đẳng, 3 dược sĩ trung học và 1 kỹ sư trang thiết bị y tế.
Khoa Dược đã triển khai cơ bản việc lập kế hoạch và cung ứng thuốc đảm bảo đủ số lượng, chất lượng phục vụ nhu cầu điều trị và công tác khám chữa bệnh theo đúng quy định; hệ thống kho được tổ chức và quản lý đúng nguyên tắc Thực hành tốt bảo quản thuốc, đồng thời tiến hành cấp phát thuốc tới các khoa, phòng Trong công tác Dược lâm sàng, Bệnh viện đã thành lập Tổ Dược lâm sàng - Thông tin thuốc và phối hợp với các khoa lâm sàng để cập nhật thông tin thuốc cho nhân viên y tế và bệnh nhân; tổ đã tham gia theo dõi, kiểm tra giám sát kê đơn ngoại trú và tham gia các hoạt động bình bệnh án, rà soát đơn thuốc hàng tháng nhằm đẩy mạnh việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả tại Bệnh viện Đồng thời triển khai mạng lưới theo dõi, giám sát và báo cáo tác dụng không mong muốn của thuốc và công tác cảnh giác dược.
1.5.2 Hoạt động quản lý kháng sinh tại bệnh viện
Đã thành lập Ban quản lý sử dụng kháng sinh theo Quyết định 5631/QĐ-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2020, ban hành “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”, nhằm chuẩn hóa quản lý và đảm bảo an toàn khi sử dụng kháng sinh trong bệnh viện.
- Phân công nhiệm vụ và có kế hoạch thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện với các mục tiêu:
+ Nâng cao hiệu quả điều trị bệnh nhiễm trùng
+ Đảm bảo an toàn, giảm thiểu các biến cố bất lợi cho người bệnh + Giảm khả năng xuất hiện đề kháng của vi sinh vật gây bệnh
+ Giảm chi phí nhưng không ảnh hưởng tới chất lượng điều trị
+ Thúc đẩy chính sách sử dụng kháng sinh hợp lý, an toàn
- Xây dựng danh mục kháng sinh cần ƣu tiên quản lý và các quy định giám sát
Xây dựng tài liệu và hướng dẫn về kỹ thuật vi sinh lâm sàng; Bộ phận Vi sinh của Khoa Xét nghiệm chịu trách nhiệm xây dựng, thẩm định, triển khai và định kỳ rà soát, điều chỉnh Quy trình nuôi cấy, phân lập, định danh và làm kháng sinh đồ nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm và độ tin cậy trong chẩn đoán.
- Kiểm tra việc tuân thủ các quy trình chuẩn trong sử dụng thuốc kháng sinh tại các khoa lâm sàng
- Kiểm tra việc tuân thủ phác đồ điều trị thông qua việc kiểm tra HSBA
Phối hợp chặt chẽ với bộ phận Vi sinh để nắm bắt kịp thời các trường hợp bệnh nhân có kết quả vi khuẩn đa kháng thuốc và nhiễm khuẩn huyết Dựa trên dữ liệu từ Vi sinh, chúng tôi chủ động xem xét và điều chỉnh việc sử dụng thuốc trên người bệnh nhằm tối ưu hóa hiệu quả điều trị và giảm thiểu kháng thuốc Đồng thời, quy trình này tăng cường giám sát vi khuẩn kháng thuốc và cập nhật hướng dẫn sử dụng thuốc dựa trên bằng chứng lâm sàng thực tế.
- Mời giảng viên trường Đại học Dược/Trung tâm DI & ADR Quốc gia về tập huấn sử dụng kháng sinh cho các bác sĩ lâm sàng
- Đầu mối xây dựng và ban hành các hướng dẫn cụ thể có liên quan đến quản lý sử dụng kháng sinh chung
- Xây dựng mẫu phiếu đánh giá sử dụng kháng sinh chung trình Hội đồng thuốc và điều trị
Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát sử dụng kháng sinh thông qua các hoạt động kiểm tra HSBA, báo cáo sử dụng thuốc và phân tích sử dụng thuốc để nâng cao tính minh bạch và tuân thủ hướng dẫn kê đơn Việc kiểm tra HSBA rà soát quy trình kê đơn, liều lượng và thời gian sử dụng kháng sinh; báo cáo sử dụng thuốc cung cấp dữ liệu đầy đủ, kịp thời cho quản trị viên và ban lãnh đạo; và phân tích sử dụng thuốc đánh giá mức độ tuân thủ, hiệu quả điều trị và từ đó đề xuất biện pháp cải thiện Nhờ đó, hệ thống y tế có thể tối ưu hóa quản lý kháng sinh, giảm thiểu sai sót và nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh án viêm phổi của bệnh nhi từ 2 tháng tuổi đến 5 tuổi tại khoa Nhi, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Lào Cai Thời gian ra viện được giới hạn từ ngày 01/04/2021 đến 30/06/2021 Các hồ sơ này đáp ứng các tiêu chuẩn đã đề ra cho nghiên cứu.
- Bệnh án của bệnh nhân nhi có chẩn đoán ra viện là J12-J18 và có chỉ định dùng kháng sinh
- Có thời gian điều trị kháng sinh tại viện từ 3 ngày trở lên
- Bệnh án mắc viêm phổi bệnh viện hoặc chẩn đoán viêm phổi sau 48 giờ kể từ thời điểm nhập viện
- Bệnh nhân viêm phổi có các bệnh khác mắc kèm phải chuyển sang điều trị ở khoa khác
- Bệnh nhân viêm phổi phải chuyển viện do bệnh quá nặng
- Bệnh án không tiếp cận đƣợc.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu hồi cứu mô tả, dựa trên số liệu và thông tin thu thập từ bệnh án nội trú đủ tiêu chuẩn lựa chọn
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Để nghiên cứu, lọc danh sách bệnh án từ phần mềm Quản lý bệnh viện có ngày ra viện từ 01/04/2021 đến 30/06/2021, lựa chọn các bệnh nhân có tuổi từ 2 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán viêm phổi xác định và có chỉ định kháng sinh cùng điều trị nội trú từ 3 ngày trở lên Các bệnh án của bệnh nhân viêm phổi sau 48 giờ nhập viện được loại bỏ khỏi nghiên cứu Sau đó, tiến hành tìm kiếm các bệnh án lưu trữ tại Phòng Kế hoạch tổng hợp và loại trừ các bệnh án không tiếp cận được Sơ đồ thu thập bệnh án nghiên cứu được thực hiện như sau.
Sơ đồ thu thập bệnh án nghiên cứu 2.2.3 Các chỉ tiêu được mô tả bao gồm:
Thông tin thu thập đƣợc lấy theo mẫu phiếu thu thập thông tin bệnh án (Phụ lục 1) để khảo sát các tiêu chí đã đƣợc xác định gồm:
2.2.3.1 Khảo sát đặc điểm bệnh nhân nhi viêm phổi mắc phải cộng đồng
- Liên quan giữa lứa tuổi và giới tính trong bệnh viêm phổi cộng đồng
- Mức độ nặng của viêm phổi cộng đồng
- Bệnh mắc kèm ở bệnh nhân viêm phổi cộng đồng
- Tỷ lệ bệnh nhân đã sử dụng kháng sinh trước khi nhập viện
- Đặc điểm xét nghiệm vi sinh của mẫu nghiên cứu
2.2.3.2 Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng
- Tỷ lệ các kháng sinh đã sử dụng tại bệnh viện
- Các phác đồ điều trị ban đầu khi bệnh nhân mới nhập viện
- Số lƣợt thay đổi phác đồ kháng sinh và lý do thay đổi phác đồ
Phần mềm quản lý hồ sơ bệnh án của bệnh viện
Loại trừ 19 bệnh án thoả mãn tiêu chuẩn loại trừ
148 Bệnh án thoả mãn tiêu chuẩn lựa chọn
Mẫu nghiên cứu: 148 Bệnh án
Bệnh án ra viện khoa Nhi đƣợc chẩn đoán xác định là viêm phổi mã ICD
- Các phác đồ kháng sinh thay đổi trong quá trình điều trị
- Độ dài đợt điều trị và sử dụng kháng sinh
- Hiệu quả điều trị viêm phổi của các kháng sinh đã sử dụng
2.2.3.3 Phân tích tính phù hợp của việc sử dụng phác đồ kháng sinh trong điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng:
- Phân tích tính phù hợp trong việc sử dụng phác đồ kháng sinh ban đầu
- Phân tích tính phù hợp trong việc sử dụng phác đồ kháng sinh thay thế
- Phân tích tính phù hợp về liều dùng, nhịp đƣa thuốc so với khuyến cáo trên bệnh nhân nhi khoa
- Phân tích tính hợp lý về đường dùng thuốc
Một số tiêu chuẩn đƣợc sử dụng để phân tích kết quả
2.3.1 Tiêu chuẩn phân loại mức độ nặng của viêm phổi trẻ em:
Mức độ nặng nhẹ của viêm phổi ở trẻ em được phân loại dựa vào phác đồ kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng dành cho trẻ em trong Hướng dẫn sử dụng kháng sinh do Bộ Y tế ban hành năm 2015 [3], và được đánh giá cụ thể theo các tiêu chí lâm sàng, tuổi và đáp ứng điều trị để xác định phác đồ phù hợp.
Bàng 2.7 Tiêu chuẩn phân loại mức độ bệnh của viêm phổi trẻ em Đặc điểm Viêm phổi Viêm phổi nặng Viêm phổi rất nặng
Uống Uống đƣợc Uống đƣợc Không uống đƣợc
Thở Nhanh hoặc khó thở
Thở rít khi nằm yên Đặc điểm Viêm phổi Viêm phổi nặng Viêm phổi rất nặng
Tiếng ran Ran ẩm hoặc không
Ran ẩm nhỏ hạt, rì rào phế nang Phập phồng cánh mũi Không Có Có
Rút lõm lồng ngực Không Có Có
Tím tái Không Có thể tím tái nhẹ Tím tái nặng
Co giật hoặc hôn mê Không Không Có
Trạng thái Kích thích nhẹ Kích thích nhiều Ngủ li bì, suy dinh dƣỡng nặng
Thở nhanh: Trẻ 2 ≤ 12 tháng tuổi: ≥ 50 lần/phút
2.3.2 Bệnh mắc kèm ở bệnh nhân
Phân tích thông tin từ hồ sơ bệnh án cho thấy tình trạng mắc kèm được xác định dựa trên dữ liệu thu thập, bao gồm các bệnh Rối loạn tiêu hoá, viêm mũi họng, thiếu máu, viêm thanh quản và các bệnh khác Việc nhận diện bệnh mắc kèm từ hồ sơ bệnh án giúp làm rõ mối liên hệ giữa các bệnh nền và tình trạng sức khỏe tổng quát của người bệnh, từ đó hỗ trợ chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị phù hợp.
Hiệu quả điều trị dựa trên kết luận của bác sỹ khi tổng kết bệnh án
- Điều trị thành công bao gồm:
+ Khỏi: hết hoàn toàn các triệu chứng lâm sàng
+ Đỡ: các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm, bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú
- Điều trị không thành công bao gồm:
+ Không thay đổi: tình trạng bệnh nhân không đƣợc cải thiện
+ Nặng hơn: tình trạng bệnh nhân có chiều hướng xấu đi
2.3.4 Về phân tích tính ph hợp trong việc sử dụng phác đồ kháng sinh ban đầu Để phân tích tính phù hợp trong việc lựa chọn kháng sinh điều trị VPCĐ, chúng tôi tham chiếu phác đồ điều trị VPCĐ ở trẻ em trong Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế năm 2015 Trong nghiên cứu này phác đồ kháng sinh đƣợc tập trung phân tích là phác đồ khởi đầu điều trị theo kinh nghiệm Phác đồ đƣợc coi là phù hợp khuyến cáo khi các kháng sinh trong phác đồ sử dụng cho bệnh nhân nằm trong phác đồ trong Hướng dẫn điều trị Phác đồ không phù hợp khi phác đồ có ít nhất 1 thuốc không nằm trong phác đồ đƣợc khuyến cáo sử dụng Chúng tôi tóm tắt thông tin về lựa chọn, liều dùng, đường dùng, và tần số đưa thuốc theo khuyến cáo của BYT trong bảng 2.8 nhƣ sau
Bảng 2.8 Tóm tắt chế độ liều của các kháng sinh sử dụng trong điều trị
VPCĐ trẻ e từ 2 tháng – 5 tuổi theo khuyến cáo của BYT
Mức độ nặng Điều trị Liều
(mg/kg/ngày) Đường dùng Số lần
Mức độ nặng Điều trị Liều
(mg/kg/ngày) Đường dùng Số lần
Viêm phổi nặng + nếu nghi ngờ do tụ cầu vàng
1 Viêm phổi nặng + nếu tụ cầu kháng methicillin cao
Vancomycin 40 TM 4 Đánh giá phác đồ phù hợp là phác đồ đƣợc khuyến cáo, phác đồ không phù hợp là phác đồ có ít nhất một thuốc không nằm trong phác đồ đƣợc khuyến cáo sử dụng
2.3.5 Tiêu chuẩn phân tích liều d ng, đường d ng và nhịp đưa thuốc
Kháng sinh được sử dụng để điều trị VPCĐ có thể ảnh hưởng đến chức năng thận Vì vậy, việc điều chỉnh liều dùng và nhịp đưa thuốc ở đối tượng bệnh nhân có chức năng thận không bình thường là rất cần thiết để đảm bảo an toàn và tối ưu hiệu quả điều trị, đồng thời theo dõi chức năng thận và điều chỉnh liều theo mức độ suy giảm thận.
Trong nghiên cứu này, liều dùng và nhịp đưa thuốc theo đường dùng thực tế được phân tích trên hai nhóm đối tượng: bệnh nhân có chức năng thận bình thường và bệnh nhân có chức năng thận không bình thường.
Ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường, khi sử dụng kháng sinh, không cần phải điều chỉnh liều và khoảng cách đưa thuốc Để phân tích liều dùng và nhịp đưa thuốc theo đường dùng trong mẫu nghiên cứu, chúng tôi so sánh ưu tiên với Hướng dẫn sử dụng kháng sinh (2015) do Bộ Y tế ban hành.
Trong trường hợp các hướng dẫn trên không cung cấp đủ thông tin, liều dùng và nhịp đưa thuốc sẽ dựa vào tài liệu chính là Dược thư quốc gia Việt Nam [4] Các yếu tố liều dùng, đường dùng và nhịp đưa thuốc được xác định cụ thể cho từng thuốc điều trị Đối với VPCĐ ở trẻ em, việc tham khảo lần lượt các tài liệu trên được tổng hợp và trình bày trong bảng dưới đây.
Bảng 2.9 Liều điều trị VPCĐ ở trẻ em của một sô KS [3], [4]
Nhóm kháng sinh Kháng sinh Đường dùng
Cefoperazon TMC 50-200 3 - 4 Carbapenem Imipenem/cila statin
Đối với bệnh nhân có chức năng thận không bình thường, việc đánh giá mức độ tổn thương thận ở trẻ em đòi hỏi các chỉ số đáng tin cậy về chức năng lọc Đối với trẻ em, khuyến cáo dùng công thức Schwartz để ước tính độ lọc cầu thận (GFR) nhằm đánh giá chức năng thận một cách chính xác và thuận tiện GFR được ước tính từ công thức Schwartz giúp nhận diện sớm suy thận, theo dõi tiến triển và hướng dẫn quản lý lâm sàng ở trẻ Việc đo lường và theo dõi GFR ở trẻ em bằng Schwartz là yếu tố quan trọng cho quyết định điều trị và theo dõi lâu dài Các yếu tố như chiều cao và nồng độ creatinin máu được sử dụng trong công thức Schwartz để tính GFR, từ đó mang lại cái nhìn toàn diện về chức năng thận trẻ.
= (KxH)/ CR (mL/min/1,73m 2 ) Trong đó:
K là hệ số có giá trị thay đổi nhƣ sau:
+ K=0,33 nếu trẻ đẻ non dưới 1 tuổi
+ K=0,45 nếu trẻ sinh đủ tháng dưới 1 tuổi
H: Chiều cao của trẻ (cm)
Cr: Creatinin huyết tương (mg/dl)
Một số kháng sinh điều trị VPCĐ ở trẻ em có liều khuyến cáo điều chỉnh theo chức năng thận nhƣ sau:
Bảng 2.10 Liều khuyến cáo theo chức năng thận của một số KS [25]
Kháng sinh Giá trị GFR
Ceftazidim >50 Liều dùng bình thường
Tobramycin > 80 1 mg/kg/ngày, cách 8 giờ
40 – 80 1 mg/kg/ngày, cách 12 giờ
25 – 40 1 mg/kg/ngày, cách 18 giờ
15 – 25 1 mg/kg/ngày, cách 24 giờ
10 – 15 1 mg/kg/ngày, cách 36 giờ
5 – 10 1 mg/kg/ngày, cách 48 giờ
< 5 1 mg/kg/ngày, cách 72 giờ
Xử lý số liệu
Phương pháp thống kê mô tả, sử dụng phần mềm Microsoft Office
Excel, từ đó đƣa ra kết luận và đánh giá.