1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận kinh điển phép biện chứng trong bút ký triết học

23 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 123 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Triết học Mác – Lênin nó chung và phép biện chứng duy vật nói riêng ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt cách mạng vĩ đại trong lịch sử tư tưởng, tạo ra một hệ thống triết học khác về chất so với.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Triết học Mác – Lênin nó chung và phép biện chứng duy vật nói riêng rađời đã đánh dấu một bước ngoặt cách mạng vĩ đại trong lịch sử tư tưởng, tạo ramột hệ thống triết học khác về chất so với tất cả các hệ thống triết học trong lịch

sử, hệ thống triết học đó không chỉ giải thích mà còn cải tạo thế giới Phép biệnchứng duy vật ra đời, phát triển không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên, ýmuốn chủ quan của một giai cấp trong lực lượng xã hôi này, càng không phải dothượng đế hay các lực lượng siêu nhân khác tạo ra, mà nó hoàn toàn mang tínhtất yếu khách quan, phù hợp với quy luật vận động phát triển của lịch sử nhânloại Đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp bách giải phóng giai cấp công nhân, nhândân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản vàchủ nghĩa tư bản

Trải qua quá trình tồn tại và phát triển trong nhiều giai đoạn lịch sử phépbiện chứng duy vật đã trở thành phương pháp luận cho các Đảng Cộng sản vàphong trào công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh chôngs lại chủ nghĩa tư bản,xây dựng xã hội mới, xã hội Cộng sản chủ nghĩa Với sứ mệnh cao cả đó, phépbiện chứng duy vật “linh hồn sống của chủ nghĩa Mác” đã đưa lại sự nghiệp giảiphóng dân tộc của nhiều nước trên thế giới đến những thắng lợi hết sức vĩ đại,tạo ra bước ngoặt lịch sử to lớn Ngày nay, trước những biến động đảo lộn diễn

ra nhiều nơi trên thế giới, với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông

Âu, chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào tình trạng khủng hoảng, phong trào cáchmạng thế giới gặp nhiều tổn khó khăn Lợi dụng tình hình đó, phong trào chốngMác, chống lại những nguyên lý, quy luật, phạm trù của triết học Mác - Lêninlại rầm rộ nổi lên Các học giả tư sản, các thế lực thù địch và những người giảdanh mácxít ra sức kêu gào, xuyên tạc, đòi phủ nhận học thuyết khoa học cáchmạng đó Họ cho rằng, triết học Mác - Lênin, đặc biệt là phép biện chứng duyvật đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, không còn giá trị gì đối với lịch sử, và thời đại.Với nhân quan khoa học, sự công bằng khách quan, chúng ta khẳng địnhrằng, triết học Mác - Lênin nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng vẫn

Trang 2

là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học vàthực tiễn cách mạng nhất là trong vấn đề bảo vệ, phát triển triết học Mác – Lêninhiện nay Với ý nghĩa đó, việc nghiêm túc nghiên cứu nhận thức những vấn đề

về phép biện chứng của Lênin trong hai tác phẩm kinh điển gốc “Những “Ngườibạn dân” là như thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội rasao?” và “Bút ký triết học” có ý nghĩa không chỉ về mặt lý luận mà cả trong thựctiễn, không chỉ đối với lịch sử, hiện tại mà cả tương lai đối với sự phát triển củatriết học Mác – Lênin

Dự kiến vận dụng phần kiến thức đã học vào nghiên cứu, giảng dạy ở bộmôn: những vấn đề cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin (phần triết học)

Trong điều kiện lịch sử đó, giai cấp vô sản phát triển mạnh cả về số lượng

và chất lượng Bởi, chủ nghĩa tư bản phát triển nên kéo theo số lượng giai cấp vôsản cũng ngày càng tăng lên, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản được tổchức, lãnh đạo chặt chẽ chuyển từ tự phát sang tự giác Chủ nghĩa Mác thâmnhập vào phong trào công nhân, các Đảng cộng sản lần lượt ra đời Giai cấpcông nhân đã có khả năng lật đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới – xã hội

xã hội chủ nghĩa

Trang 3

Vào đầu thế kỷ XX tình hình thế giới diễn biến phức tạp, những mâu thuẫncủa chủ nghĩa đế quốc trở nên gay gắt đẩy nhân loại vào cuộc đại chiến thế giới,các nước đế quốc tàn sát lẫn nhau, tình hình đó cũng tạo ra điều kiện thuận lợi

để nổ ra cách mạng xã hội chủ nghĩa

Phong trào cộng sản và công nhân lúc đó lại rơi vào cuộc khủng hoảng, đa

số các lãnh tụ của Quốc tế II không nhận rõ tính chất đế quốc xâm lược của cuộcchiến tranh, đã đứng trên lập trường của chủ nghĩa sôvanh nước lớn, ủng hộchính phủ tư sản tiến hành chiến tranh đế quốc, phản lại lợi ích giai cấp vô sản,không biết chớp thời cơ biến cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc thành nộichiến cách mạng, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, lật đổ giai cấp tưsản thống trị ở nước mình

Lênin đã sớm nhận thức rõ những đặc trưng của thời đại mới, phân tích sâusắc những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc và chỉ ra chủ nghĩa đế quốc là đêmtrước của cuộc cách mạng của giai cấp vô sản Nhưng đa số lãnh tụ của Quốc tế

II đã chống lại tư tưởng của Lênin, đưa Quốc tế II vào con đường phá sản Trướcbước ngoặt mới của lịch sử và tình thế cách mạng, Lênin thấy cần thiết phải vũtrang cho đảng cộng sản và giai cấp công nhân lý luận cách mạng để nhận thứcđúng về thời đại mới, về bản chất của cuộc chiến tranh đế quốc, về con đường đilên của cách mạng vô sản

Tình hình thế giới đó đặt ra vấn đề đối với Đảng Xã hội - Dân chủ là: đứngtrên lập trường của giai cấp tư sản nước mình ủng hộ cuộc chiến tranh, đi xâmlược dân tộc khác, chống lại người anh em giai cấp vô sản của mình hay làchống lại cuộc chiến tranh đế quốc, biến cuộc chiến tranh đó thành cuộc nộichiến cách mạng, đánh đổ giai cấp tư sản thống trị Các lãnh tụ của Quốc tế II đãchọn lập trường của giai cấp tư sản, phản bội lại giai cấp công nhân Cơ sở lýluận của đường lối phản động đó là chủ nghĩa chiết trung và thuyết ngụy biện

Về mặt lý luận, Lênin phải đề cao phép biện chứng duy vật, chống lại thuậtngụy biện và chủ nghĩa chiết trung của những lãnh tụ Quốc tế II Cơ sở lý luậncủa những quan điểm và đường lối sai lầm của Quốc tế II là sự phản lại phép

Trang 4

biện chứng duy vật Ngay từ năm 1899, Bécstanh đã công khai chống lại phépbiện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác, ông ta đòi hỏi phải "trở về với Cantơ".Cauxky cũng là một lãnh tụ của Quốc tế II không hiểu ý nghĩa của phépbiện chứng duy vật và cũng chống lại phép biện chứng duy vật, nhưng khôngtrắng trợn, công khai như Bécstanh Plêkhanốp là nhà triết học mácxít kiệt xuấtlúc đó, tuy vậy ông có hạn chế là coi nhẹ và lý giải lệch lạc phép biện chứng duyvật, quy phép biện chứng chỉ là tổng cộng các ví dụ thực tế Và cuối cùng cũng

đi theo chủ nghĩa cơ hội của Quốc tế II

Vì không hiểu phép biện chứng duy vật và bị giai cấp tư sản mua chuộc nênnhiều lãnh tụ của Quốc tế II đã không đứng vững trên lập trường cách mạng củagiai cấp vô sản, trước những tình hình phức tạp, họ đã trượt theo chủ nghĩa chiếttrung và thuật ngụy biện Điều này thể hiện rõ nhất là thái độ của họ đối vớicuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất Khi nổ ra chiến tranh, thì Plêkhanốp, Cauxky

đã ngả theo lập trường của chủ nghĩa sôvanh của giai cấp tư sản, kêu gọi giaicấp công nhân với chiêu bài "bảo vệ Tổ quốc" để bảo vệ lợi ích của giai cấp tưsản nước mình mà tham gia vào cuộc chiến tranh đế quốc, tàn sát những ngườianh em cùng giai cấp

Hai quan điểm phát triển đối lập Đó là quan điểm của phép biện chứng duyvật, mà tiêu biểu cho quan điểm này là Lênin và quan điểm chống lại phép biệnchứng duy vật là quan điểm của một số lãnh tụ của Quốc tế II Trong giai đoạnlịch sử này Lênin tập trung phê phán lý luận của các lãnh tụ Quốc tế II nhưCauxky và Plêkhanốp Những lãnh tụ này dùng thuyết ngụy biện và chủ nghĩachiết trung biện hộ cho chủ nghĩa xã hội sôvanh

Năm 1915, Lênin viết tác phẩm Về vấn đề phép biện chứng, lần đầu tiênLênin nêu lên tư tưởng về hai quan điểm phát triển đối lập nhau Đây cũng làmột sự tổng kết cả quá trình đấu tranh tư tưởng của Lênin từ trước đến bây giờnhằm chống lại những tư tưởng phản biện chứng giả danh biện chứng.Plêkhanốp và Cauxky ngả theo lập trường của chủ nghĩa sôvanh tư sản lập luậnmột cách ngụy biện nhưng vẫn mang danh phép biện chứng

Trang 5

Hơn nữa bước vào đầu thế kỷ XX tình hình mới đặt ra nhiều vấn đề lý luận

và thực tiễn cấp bách cần được giải quyết:

Một là, làm rõ chủ nghĩa tư bản đã bước vào giai đoạn tột cùng của nó là

chủ nghĩa đế quốc, phải làm rõ bản chất và những mâu thuẫn cơ bản của chủnghĩa đế quốc

Hai là, làm rõ bản chất xâm lược và phản động của cuộc chiến tranh đế

quốc, chống lại lập trường của chủ nghĩa sôvanh tư sản

Ba là, chớp thời cơ, biến cuộc chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách

mạng, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, lật đổ sự thống trị của giaicấp tư sản

Bốn là, vũ trang về mặt lý luận cho giai cấp công nhân, phê phán chủ nghĩa

chiết trung và thuyết ngụy biện của các lãnh tụ trong Quốc tế II, đề ra đường lốicách mạng đúng đắn cho phong trào công nhân

Năm là, sự phát triển của khoa học tự nhiên và cuộc khủng hoảng vật lý học

cũng đang đặt ra những vấn đề cho triết học, nguyên nhân chủ yếu của cuộckhủng hoảng đó là các nhà khoa học tự nhiên không nắm được phép biện chứngduy vật

Tình hình mới đặt ra những nhiệm vụ to lớn đó, đòi hỏi Lênin quan tâm sâusắc đến vấn đề lý luận, đặc biệt là về phép biện chứng duy vật

Sau khi xuất bản tác phẩm triết học “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinhnghiệm phê phán” (1908), Lênin lại tiếp tục đi sâu nghiên cứu triết học, đặc biệt

là nghiên cứu phép biện chứng duy vật Có lẽ Lênin định viết một tác phẩm triếthọc về vấn đề này nhưng chưa kịp hoàn thành Lênin chỉ để lại cho chúng ta Tậpbút ký, mà ngày nay tập hợp lại xuất bản thành sách với tên gọi “Bút ký triếthọc” bao gồm những bản tóm tắt, những đoạn trích, những ghi chú về các cuốnsách và những bài viết, những ghi chú, những nhận xét của Lênin Tác phẩm

“Bút ký triết học” được Lênin viết trong khoảng thời gian 1895-1916, trong đóchủ yếu là 1914-1916 và lần đầu tiên xuất bản vào năm 1929-1930 sau đó được

bổ sung và hoàn thiện dần

Trang 6

1.2 Kết cấu của tác phẩm

Tập 29 trong V.I.Lê-nin Toàn tập gồm những bản tóm tắt, những đoạn trích,những ghi chú về các cuốn sách và các bài khác nhau viết về triết học, và cảnhững ý kiến và bút tích của Lê-nin ghi bên lề và trong văn bản các cuốn sáchtriết học trong tủ sách riêng của Người

Tập này được chia thành ba phần; trong mỗi phần có những tài liệu ít nhiềuđồng nhất về tính chất

Phần I gồm 9 bản tóm tắt các tác phẩm triết học của Mác, Ăngghen,Phoiơbắc, Hêghen…

Phần II gồm những ghi chú khác nhau về các sách, các bài viết và các bàiphê bình sách báo triết học từ 1903-1916

Phần III gồm những đoạn trích các cuốn sách kèm theo những ý kiến và búttích của Lênin từ 1908-1911

Trong các phần, tài liệu được sắp xếp theo thứ tự thời gian, trên cơ sởnhững ngày tháng đã được xác định bằng phương pháp gián tiếp trước đây hay

là khi soạn tập này, bởi vì hầu như tất cả các tài liệu đều không được tác giả đềngày tháng

Trong Lênin Toàn tập, cuốn “Bút ký triết học” thuộc về thời kỳ chiến tranhthế giới thứ nhất, khi đó Lê-nin đã viết xong phần chính của các bản tóm tắt, cácđoạn trích và các ghi chú Chính trong thời gian này, Lênin tóm tắt cuốn "Khoahọc lô-gích", và song song với việc đó, Người tóm tắt phần một cuốn "Báchkhoa toàn thư các bộ môn triết học" của Hêghen, "Những bài giảng về lịch sửtriết học" và "Những bài giảng về triết học của lịch sử" của Hêghen, tác phẩmcủa Phoiơbắc "Trình bày, phân tích và phê phán triết học của Lai-bni-txơ", củaPh.Lát-xan "Triết học của Hê-ra-clít Bí ẩn ở Ê-phe-xơ", "Phép siêu hình" của A-ri-xtốt và một số cuốn sách khác về triết học và khoa học tự nhiên Những bảntóm tắt và những ghi chú này là nội dung của tám tập bút ký giống nhau, bìamàu xanh mà Lênin đặt đầu đề là “Bút ký triết học Hê-ghen, Phơ-bách vànhững tác giả khác"; thuộc về loại này còn có bản tóm tắt cuốn "Những bài

Trang 7

giảng về bản chất của tôn giáo" của Phơ-bách; bản tóm tắt này được viết trên các

tờ rời, sớm nhất là năm 1909

2 Những vấn đề về phép biện chứng trong “Bút ký triết học” của Lênin và ý nghĩa đối với việc bảo vệ, phát triển triết học Mác-Lênin hiện nay

2.1 Những vấn đề về phép biện chứng trong tác phẩm “Bút ký triết học” của Lênin

Trong “Bút ký triết học”, Lênin tập trung chú ý vào vấn đề phép biệnchứng Đây là một nội dung chủ yếu của triết học Mác Kế thừa tư tưởng vềphép biện chứng trong lịch sử triết học và đặc biệt là triết học của Hêghen,Lênin đã nêu ra và trình bày một cách sáng tạo về phép biện chứng duy vật

Khái niệm về phép biện chứng

Bàn về khái niệm phép biện chứng trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”,Ăngghen đã đưa ra định nghĩa về phép biện chứng như sau: “Phép biện chứngchẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và

sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”1

Để bảo vệ, phát triển phép biện chứng của Mác và Ăngghen trong tác phẩmnày, Lênin đã đi từ việc phân tích sự khác nhau giữa hai quan điểm khác nhau vềphát triển trong lịch sử triết học qua đó đưa ra định nghĩa về phép biện chứng.Lênin cho rằng trong lịch sử đã tồn tại hai quan điểm khác nhau về sự phát triển:hoặc phát triển được xem như sự tăng lên đơn giản về lượng, sự lặp lại (quanđiểm thứ nhất); hoặc như sự thống nhất của các mặt đối lập (quan điểm thứ hai)

“Với quan niệm thứ nhất về sự vận động, sự tự vận động, động lực của nó,nguồn gốc của nó, động cơ của nó nằm trong bóng tối (hay người ta đem nguồngốc ấy đặt ra bên ngoài - Thượng đế, chủ thể etc.) Với quan niệm thứ hai, sựlưu ý chủ yếu lại hướng chính vào sự nhận thức nguồn gốc của “tự” vận động”2.Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệm thứ hai

là sinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khoá của “sự tự vận

1 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb CTQG, HN.1994, tr96

2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 29, tr 379 Nxb TBM.1981

Trang 8

động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khoá củanhững “bước nhảy vọt”, của “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyểnhoá thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới”1

Lênin nhấn mạnh rằng: Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ và sựvận động Trước hết, Lênin nói về sự vận động và tự thân vận động Vận động

và vận động tự thân có những ý nghĩa khác nhau Vận động là sự liên hệ qua lạigiữa các sự vật và hiện tượng, sự vận động tự thân là muốn nói đến nguồn gốccủa sự vận động, là mâu thuẫn bên trong của sự vật và hiện tượng Trong “Bút

ký triết học”, Lênin nhấn mạnh đến sự vận động tự thân Lênin trích dẫn mộtđoạn của Hêghen nói về vận động tự thân: "Vận động và "tự vận động" (đây làNB! vận động tự thân (độc lập), tự nhiên, tất yếu bên trong), "sự biến đổi", "vậnđộng và sức sống", "nguyên tắc của tất cả mọi sự tự vận động", "xung lực" kích thích "sự vận động" và "sự hoạt động" - đối lập với "tồn tại chết" " Lênincho rằng, Hêghen đã nêu rõ căn nguyên bên trong của vận động tự thân, đó làtính tất nhiên bên trong, xung lực bên trong và sức sống Do đó, vật chất là tựvận động, có tính năng động Lênin nói tiếp: "Ai có thể tin rằng đấy là bản chấtcủa "chủ nghĩa Hêghen" Cái bản chất đó, phải phát hiện nó ra, hiểu nó, bóc

nó ra, lọc cho nó trong, và đó là công việc mà Mác và Ăngghen đã làm"2 Ở đâyLênin chỉ ra hạt nhân hợp lý của triết học Hêghen và nêu lên thái độ đúng đắnđối với nó Bản thân Mác và Ăngghen cũng đã làm như vậy

Khoa học cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ thứ XX đã chứng minh cho nguyên lývận động và phát triển của phép biện chứng duy vật Điều đó làm cho nhữngngười có đầu óc siêu hình cũng phải thừa nhận Song, sự thừa nhận của họ làmiễn cưỡng, là bề ngoài, là không thực chất, hoàn toàn khác với phép biệnchứng duy vật "Ở thế kỷ XX (và ngay hồi cuối thế kỷ XIX), "mọi người đềuđồng ý" với "nguyên tắc về sự phát triển" - Nhưng sự "đồng ý" nông cạn, thiếusuy nghĩ, ngẫu nhiên, Philixtanh ấy là một loại đồng ý mà người ta dùng để bópnghẹt và tầm thường hoá chân lý" Tiếp đó, Lênin nói về nguyên lý phát triển

1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 29, tr 379 Nxb TBM.1981

2 V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, HN.2005 Tập 29 tr150

Trang 9

theo quan điểm biện chứng như sau: "Nếu tất cả đều phát triển thì tức là tất cảđều chuyển hoá từ cái nọ sang cái kia, bởi vì, như người ta đã biết, sự phát triểnkhông phải là một sự lớn lên, một sự tăng thêm (respective một sự giảm bớt) etc.đơn giản, phổ biến và vĩnh viễn"1.

Lênin đi sâu vào luận giải sự thống nhất phép biện chứng và nhận thứcluận Lênin nói: "Một là phải hiểu một cách chính xác hơn sự tiến hoá là sự sinh

ra và sự huỷ diệt của mọi vật, là những sự chuyển hoá lẫn nhau - Và hai là, nếutất cả đều phát triển, thì cái đó có áp dụng cho những khái niệm và những phạmtrù chung nhất của tư duy không? Nếu không thì tức là tư duy không có liên hệgì với tồn tại cả Nếu có, thì tức là có phép biện chứng của những khái niệm vàphép biện chứng của nhận thức, phép biện chứng này có một ý nghĩa kháchquan"2

Lênin nói về nguyên lý mối liên hệ của phép biện chứng duy vật Sau khiphân tích, phê phán "lôgích học" của Hêghen, Lênin cho rằng: "Nếu tôi khônglầm thì ở đây có nhiều chủ nghĩa thần bí và sự trống rỗng thông thái rởm trongnhững suy luận ấy của Hêghen, nhưng tư tưởng cơ bản thì thiên tài" Lêninmuốn nói đến: "Tư tưởng về mối liên hệ phổ biến, toàn diện, sống của tất cả, vớitất cả, và về sự phản ánh của mối liên hệ ấy"3

Có nhiều loại liên hệ, nhiều hình thức liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng,mối liên hệ bản chất nhất là quy luật phổ biến Theo Lênin, "quy luật = phản ánhyên tĩnh của những hiện tượng" Trong cuộc sống, trong giới tự nhiên, mọi sựvật, hiện tượng đều luôn luôn biến đổi, nhưng cũng có những mối liên hệ ổnđịnh, tồn tại trong những quá trình đó, đấy là quy luật Lênin cho rằng: "Quyluật là hiện tượng có tính chất bản chất" và "quy luật và bản chất là những kháiniệm cùng một loại (cùng một bậc), hay nói đúng hơn, là cùng một trình độ,những khái niệm này biểu hiện con người nhận thức ngày càng sâu các hiệntượng, thế giới"4

Trang 10

Lênin trích dẫn câu nói của Hêghen: "Như vậy, quy luật là một quan hệ bảnchất", rồi sau đó ông viết: "Quy luật là quan hệ Cái này NB đối với nhữngngười theo chủ nghĩa Makhơ và những người theo thuyết bất khả tri khác vànhững người theo chủ nghĩa Cantơ etc."1.

Lênin tán thành cách nói của Hêghen và cho rằng, điều đó đã chống lạiquan điểm của chủ nghĩa Makhơ vì những người theo quan điểm duy tâm chủquan này và những người theo thuyết bất khả tri giải thích quy luật là những giảthiết, những phù hiệu chủ quan của con người tạo ra để giải thích sự vật và hiệntượng Lênin khẳng định, quy luật là "mối quan hệ của những bản chất hay giữanhững bản chất" Về quy luật, Lênin cho rằng: "Khái niệm quy luật là một trongnhững giai đoạn của sự nhận thức của con người về tính thống nhất và về liên

hệ, về sự phụ thuộc lẫn nhau và tính chỉnh thể của quá trình thế giới"2

Những quy luật cơ bản của phép biện chứng

Trong “Bút ký triết học”, Lênin bàn đến ba quy luật cơ bản: Quy luật thốngnhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật lượng đổi dẫn đến chất đổi vàngược lại, quy luật phủ định của phủ định Ba quy luật này có mối liên hệ mậtthiết với nhau, Lênin coi quy luật mâu thuẫn là hạt nhân và thực chất của phépbiện chứng duy vật

Về quy luật mâu thuẫn: Nội dung quy luật mâu thuẫn đã được Mác và

Ăngghen đề cập đến trong hệ thống của triết học Mác nhất là trong hai tác phẩm

“Chống Đuyrinh” và “Biện chứng của tự nhiên” của Ăngghen Mác và Ăngghenđều cho rằng: “mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các sựvật và các quá trình và có thể bộc lộ ra dưới một hình thức hữu hình”3

“Chừng nào chúng ta xem xét các sự vật như là đứng im và không có sinh khí,cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái kia, thìchắc chắn là chúng ta không thấy được một mâu thuẫn nào trong các sự vật cả”4

Trang 11

Lênin cho rằng quy luật mâu thuẫn đã giải thích được căn nguyên của sựvận động Vấn đề này trong lịch sử triết học đã được đề cập đến, song nhữngnhà triết học siêu hình thì cho căn nguyên của vận động là một sức mạnh ở bênngoài thế giới vật chất và thường đi đến thần hay là Thượng đế Những nhà triếthọc duy tâm thì cho tinh thần là căn nguyên của vận động Ngay Hêghen là nhàtriết học có tư tưởng biện chứng, song vì dựa trên lập trường duy tâm kháchquan nên không thể giải thích đúng đắn được căn nguyên của sự vận động Chỉ

có phép biện chứng duy vật mới thực sự giải quyết được vấn đề này Trong tácphẩm “Bút ký triết học”, Lênin quan tâm và giải thích một cách sâu sắc về cănnguyên của sự vận động đó là mâu thuẫn của sự vật và hiện tượng, là sự đấutranh của các mặt đối lập Lênin trích dẫn một đoạn của Hêghen nói về mối quan

hệ giữa vận động và mâu thuẫn: Mâu thuẫn, "nó là cái phủ định trong sự quyđịnh bản chất của nó, là nguyên tắc của mọi sự tự vận động, mà sự tự vận độngnày không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện nào đấy của mâu thuẫn Vận động là bản thân mâu thuẫn đang tồn tại"1

Cũng với tinh thần mâu thuẫn là căn nguyên của vận động, Lênin viết:

""Nguồn gốc nội tại của những sự khác nhau" - đó là lôgích bên trong kháchquan của sự tiến hoá và của sự đấu tranh của những sự khác nhau, của các cực"2.Trong tác phẩm, Lênin đã chỉ ra chỉ có tư duy biện chứng mới nắm đượcmâu thuẫn, do đó mà giải thích được quá trình vận động tự thân của mọi sự vật,hiện tượng Ông viết: "Lý tính (trí tuệ) đang tư duy mài sắc sự khác nhau đã cùn

đi của cái khác nhau, tính nhiều vẻ đơn giản của những biểu tượng thành một sựkhác nhau bản chất, một sự đối lập Chỉ khi nâng lên đến chóp đỉnh của mâuthuẫn thì những cái nhiều hình nhiều vẻ mới trở nên động và sống đối với nhau,

- và mới chứa đựng một tính phủ định, tức là sự phốc động bên trong của tự vậnđộng và của sức sống"3

Ngày đăng: 18/08/2022, 23:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w