BÌA 1 LỜI CẢM ƠN Trước tiên, em xin cảm ơn tất cả quý thầy, cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình em học tập và rèn luyện tại Học viện Thanh thiếu niên Việt, để em có những k.Thông tin là một nhu cầu khách quan, thực tế của con người. Thông tin gắn bó chặt chẽ, mật thiết và có tính quyết định đến sự phát triển của xã hội loài người. Thông tin tạo ra các cuộc cách mạng về khoa học, kỹ thuật và các cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử. Mọi tri thức của nhân loại đều được cập nhật, lưu trữ và phổ biến dưới dạng thông tin. Vì vậy, nhu cầu về thông tin đang gia tăng một cách nhanh chóng.
Trang 1[BÌA]
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin cảm ơn tất cả quý thầy, cô giáo đã tậntình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình em học tập vàrèn luyện tại Học viện Thanh thiếu niên Việt, để em có nhữngkiến thức cơ bản về ngành Luật, làm cơ sở thực hiện khóa luậntốt nghiệp này
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô TS TrầnThị Tuyết Nhung - giảng viên hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp đãtận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình xây dựng
đề cương, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Học viện Thanh thiếuniên Việt Nam cùng các cán bộ, công chức đã tạo điều kiệnthuận lợi nhất về tài liệu tham khảo giúp em hoàn thành khóaluận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện đề tài songkhông thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mongnhận được sự góp ý của quý thầy cô để khóa luận được hoànchỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HRC : Ủy ban nhân quyền
ICCPR : Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị năm 1966TCTT : Tiếp cận thông tin
VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật
QLNN : Quyền lực nhà nước
MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC Tran
g
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Khóa luận 6
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM
VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
7
1.1 Khái quát chung về quyền tiếp cận thông tin 7
1.1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin 7
1.1.2 Nội dung quyền tiếp cận thông tin của công
dân
12
1.1.3 Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin 14
1.1.4 Nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông
tin
15
1.2 Bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin 19
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm bảo đảm và thúc đẩy
quyền tiếp cận thông tin
19
1.2.2 Các bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận
thông tin
20
1.3 Các yếu tố tác động đến bảo đảm và thúc đẩy
quyền tiếp cận thông tin
22
1.3.1 Nhu cầu thông tin và nhận thức của người
dân về quyền tiếp cận thông tin
22
1.3.2 Năng lực, trách nhiệm của Nhà nước trong việc 22
Trang 6cung cấp thông tin
1.3.3 Sự phát triển của công nghệ thông tin 23
1.4 Cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM VÀ THÚC ĐẨY
QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
31
2.1 Thực trạng hệ thống pháp luật về quyền tiếp
cận thông tin
31
2.1.1 Các chủ trương, chính sách của Đảng trong
bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
31
2.1.2 Hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền tiếp
cận thông tin
32
2.2 Thực tiễn bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận
thông tin ở Việt Nam từ năm 2016 đến nay
36
2.2.1 Thực trạng các yếu tố tác động đến bảo đảm
và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam
36
2.2.2 Thực trạng cơ chế bảo đảm và thúc đẩy
quyền tiếp cận thông tin ở việt nam từ năm 2016
đến nay
39
2.3 Đánh giá việc bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp
cận thông tin ở Việt Nam từ năm 2016 đến nay
44
2.3.1 Những thành thực trong việc bảo đảm và
thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
44
Trang 72.3.2 Những bất cập, hạn chế trong việc bảo đảm
và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
47
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU LỰC HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN
TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM
50
3.1 Yêu cầu việc bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin ở
Việt Nam
50
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm và thúc
đẩy quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam
52
3.2.1 Đổi mới hoạt động của các cơ quan nhà nước
nhằm bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông
tin
52
3.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến về
quyền tiếp cận thông tin của công dân
53
3.2.3 Tăng cường ứng dựng công nghệ thông tin
trong cung cấp thông tin
57
3.2.4 Tăng cường giám sát, thanh tra, xử lý vi
phạm pháp luật về quyền tiếp cận thông tin
58
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin là một nhu cầu khách quan, thực tế của conngười Thông tin gắn bó chặt chẽ, mật thiết và có tính quyếtđịnh đến sự phát triển của xã hội loài người Thông tin tạo racác cuộc cách mạng về khoa học, kỹ thuật và các cuộc cáchmạng xã hội trong lịch sử Mọi tri thức của nhân loại đều đượccập nhật, lưu trữ và phổ biến dưới dạng thông tin Vì vậy, nhucầu về thông tin đang gia tăng một cách nhanh chóng
Tiếp cận thông tin (TCTT) trở thành một nhu cầu và mộtquyền cấp thiết cần phải bảo đảm đối với mọi công dân bởithông tin, đặc biệt là thông tin về pháp luật, chính sách và hoạtđộng của các cơ quan nhà nước được coi là yếu tố cốt yếu trongmọi hoạt động khi xã hội được quản lý, vận hành theo nguyêntắc của Nhà nước pháp quyền TCTT là một trong những quyền
cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị Tôntrọng và đảm bảo quyền TCTT là một xu thế tiến bộ và mangtính chất tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loàingười
Quyền TCTT là một trong những quyền cơ bản của conngười, quyền này đã được ghi nhận trong hệ thống pháp luậtquốc tế như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948[19]; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm
1966 [20]; Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũngnăm 2003; Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển năm 1992;Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môi trường năm 1998 của
Ủy ban kinh tế Châu Âu của Liên hợp quốc
Trang 9Ngày càng có nhiều quốc gia đánh giá cao vai trò của quyềnTCTT và tầm quan trọng của việc bảo đảm và thúc đẩy quyềnnày đối với sự phát triển quốc gia Cho đến nay đã có hơn 80Quốc gia quy định về quyền TCTT ngay trong Hiến pháp củamình và có khoảng 112 quốc gia ban hành Luật Tự do Thôngtin; Luật TCTT hoặc Luật Công khai thông tin của cơ quan chínhquyền…
Bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT nhằm tăng cường tính minhbạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, đồng thời tăngcường sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý Nhànước Đảm bảo công khai, minh bạch hướng đến một đất nướcdân chủ với phương châm “đất nước của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân”
Với chủ trương hội nhập quốc tế, Việt Nam đã phê chuẩnCông ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR,1966).Nhằm nội luật hóa quy định của Liên Hợp quốc về quyền TCTT,nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
đã nghi nhận quyền này Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII năm
1991 đã khẳng định: “Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự
do sáng tạo của công dân Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[12] Lần đầu tiên Hiến pháp Việt Nam ghi nhận: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin… theo quy định của pháp luật”[31] Cụ thể hoá quy
định của Hiến pháp, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hànhtrong đó có các quy định về quyền được thông tin và tráchnhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin
Trang 10do cơ quan nhà nước đang nắm giữ như: Luật Ngân sách nhànước, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Nhà ở, Luật Báo chí; Pháplệnh Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Ban hành tiếp cận thông tincủa HĐND, UBND, Luật Phòng, chống tham nhũng Thông quaviệc ban hành các văn bản, Nhà nước ta luôn quan tâm đếnquyền được thông tin của người dân nhằm thực hiện chủ trương
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong quá trình xâydựng Nhà nước pháp quyền Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kếthừa tư tưởng, chủ trương của Nhà nước ta về quyền TCTT:
“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[32].
Bắt kịp xu thế chung của thế giới, ở Việt Nam quyền TCTT đãđược thể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng vàđược hiến định trong Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm
2013 Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”[31]; Điều 25, Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”[32] Với các quy định trên, Hiến pháp 2013 đã
thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức lý luận và tư duylập hiến trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân sovới Hiến pháp năm Quyền TCTT thuộc nhóm quyền con người,quyền công dân, do vậy phải được công nhân, tôn trọng, bảo vệ,bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật
Trang 11Cụ thể hoá quy định của Hiến pháp, thực hiện chủ trươngcủa Đảng, đồng thời nội luật hoá một số quy định trong các điềuước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhiều văn bản phápluật đã được ban hành có quy định về quyền được thông tin vàtrách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấpthông tin như Luật Kiểm toán 2015, Luật Ban hành tiếp cậnthông tin năm 2015 (sửa đổi năm 2020), Luật Xuất bản năm
2012, Luật phòng chống tham nhũng năm 2018 (sửa đổi bổsung 2019), Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013,Luật Báo chí 2016, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn (2007)… Trong đó nổi bật nhất phải nhắc đến Luật TCTTđược Quốc hội thông qua và ban hành ngày 06/04/2016
Các chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản pháp luậtđược Nhà nước thể chế hóa về quyền TCTT trong những nămqua đã từng bước làm minh bạch hóa hoạt động của cơ quannhà nước, giúp người dân tiếp cận ngày một dễ dàng và thuậnlợi hơn đối với các thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ Đãlàm hạn chế các hành vi quan liêu, hách dịch, cửa quyền trongcông việc của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức đốivới người dân Người dân càng ngày càng nhận thức sâu sắc,toàn diện hơn về quyền được tiếp cận và cung cấp những thôngtin có liên quan đến lợi ích của mình Tuy nhiên, các quy địnhcủa pháp luật cũng như trong quá trình quyền này được thực thitrên thực tế còn gặp nhiều bất cập, hạn chế Việc thực thi phápluật về TCTT thiếu công khai, minh bạch dẫn đến tình trạng ápdụng pháp luật không thống nhất, tùy tiện; vẫn còn tình trạngtham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, công chức trongmột số lĩnh vực về đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, giaothông, xây dựng, các dự án ưu đãi… dẫn đến khiếu kiện kéo dài,
Trang 12khiếu kiện vượt cấp Nhiều văn bản pháp luật quy định quyềnđược TCTT của người dân, nhưng trên thực tế, quyền TCTT củangười dân hết sức khó khăn, chưa được bảo đảm, vẫn còn tìnhtrạng người dân bị sách nhiễu, gây phiền hà, bị vi phạm Ngườidân có quyền được biết thông tin theo quy định của pháp luậtnhưng rất ít người nhận thức được quyền này của mình
Việc cung cấp thông tin từ phía cơ quan nhà nước còn chưađầy đủ, hời hợt nhất là các thông tin liên quan trực tiếp đếnquyền, lợi ích của người Thực trạng này dẫn đến tình trạng bấtbình đẳng trong xã hội, tạo điều kiện cho một số cán bộ, côngchức trục lợi, gây khó khăn cho người dân
Với những lý do trên, em đã chọn đề tài “Bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay” làm đề
tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật Thông qua Khóa luận, emmong muốn đóng góp một phần công sức vào việc bảo vệ quyềncon người qua việc TCTT, nâng cao tính minh bạch, dân chủtrong thực hiện QLNN, tạo tiền đề vững chắc cho xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng pháttriển và hội nhập
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Khóa luận nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vềquyền TCTT, bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT theo quy địnhcủa pháp luật Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng việcbảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT ở Việt Nam, đề xuất một sốgiải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc đảm bảo thúcđẩy quyền TCTT ở Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 13Để đạt được mục đích trên, Khóa luận tập trung nghiên cứu,giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về quyền TCTT
và bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật
về bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT ở Việt Nam; chỉ ra nhữngkết quả đạt được, những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân củanhững bất cập, tồn tại trong việc bảo đảm và thúc đẩy quyềnTCTT ở Việt Nam;
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm và thúc
đẩy thực hiện quyền TCTT ở Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung đi sâu nghiên cứu các quy định phápluật hiện hành về việc bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT củangười dân (cá nhân) ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ tiếp cậnngành Luật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu
những vấn đề lý luận về việc bảo đảm quyền TCTT trong đó tậptrung nghiên cứu về khái niệm, vai trò của quyền TCTT và cơchế bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT hiện nay Đánh giá thựctiễn thực hiện việc bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT ở nước ta
để từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện cơ chế bảo đảm
và thúc đẩy quyền TCTT một cách hữu hiệu nhất
Về không gian: Khóa luận chủ yếu nghiên cứu về vấn đề
bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT tại Việt Nam
Trang 14Về thời gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu về vấn đề bảo
đảm và thúc đẩy quyền TCTT từ khi Luật TCTT 2016 được thôngqua và có hiệu lực thi hành đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, Khóa luận vận dụngphương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Đây là phương pháp luận khoahọc được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận án để đánhgiá khách quan quyền TCTT ở nước ta hiện nay Khóa luận cũngđược nghiên cứu dựa trên đường lối, chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta
- Phương pháp hệ thống: Phương pháp này được sử dụngxuyên suốt toàn bộ Khóa luận nhằm trình bày các vấn đề, nộidung của đề tài theo trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắnkết, kế thừa, phát triển các vấn đề để đạt được mục đích, yêucầu đã được xác định cho Khóa luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được
sử dụng trong các chương của Khóa luận nhằm tổng hợp, phântích, đánh giá quyền TCTT, việc bảo đảm và thúc đẩy quyềnTCTT ở nước ta thời gian qua
- Phương pháp luật học so sánh: nhằm so sánh quyền TCTTtrong các quy định của pháp luật Việt Nam với một số nước trênthế giới (nếu có)
- Phương pháp thống kê: nhằm thống kê, so sánh quá trìnhbảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT từ khi Luật TCTT được banhành đến nay
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Khóa luận
Kết quả nghiên cứu của Khóa luận sẽ góp phần bổ sung trithức khoa học cơ bản mang tính lý luận, giúp người đọc có cái
Trang 15nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về bảo đảm và thúc đẩy quyềnTCTT ở Việt Nam hiện nay.
Góp phần nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân, tổ chức, cơquan nhà nước về thực hiện quyền TCTT và bảo đảm và thúc đẩyquyền TCTT một cách hiệu quả
Ngoài ra Khóa luận cũng có thể làm tài liệu tham khảo đốivới sinh viên đại học và cao học luật, phục vụ cho công tácnghiên cứu và giảng dạy pháp luật cũng như một số chuyênngành liên quan ở các trường đại học
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,Khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đảo đảm và thúc đẩy
quyền TCTT
Chương 2: Thực trạng bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT ở
Việt Nam từ năm 2016 đến nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT ở Việt Nam thời gian tới
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM VÀ
THÚC ĐẤY QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN
1.1 Khái quát chung về quyền tiếp cận thông tin
1.1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin
1.1.1.1 Khái niệm thông tin
Thông tin là một nhu cầu khách quan, thực tế của conngười Thông tin gắn bó chặt chẽ, mật thiết và có tính quyếtđịnh đến sự phát triển của xã hội Thông tin tạo ra các cuộccách mạng khoa học, kỹ thuật và các cuộc cách mạng xã hội
Trang 16trong lịch sử Mọi tri thức của nhân loại đều được cập nhật, lưutrữ và phổ biến dưới dạng thông tin thông qua các hình thứcnhư: văn bản giấy, tập file điện tử…Thông tin đáp ứng mọi nhucầu tìm hiểu, nghiên cứu của con người, là động lực thúc đẩy sựphát triển của xã hội và sự tiến hóa của nhân loại [15,tr8] Córất nhiều cách hiểu về thông tin
Theo Đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “thông tin” được hiểu là
“tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh”[27,tr.1587] Theo cách hiểu này thì mọi tin tức về các sự kiệndiễn ra trong thế giới tự nhiên và xã hội đều trở thành thông tin.Dưới góc độ triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên
và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn, thông tin là tất cả mọi mặt của đời sống xãhội tác động lên giác quan của con người Theo cách hiểu thôngthường, thông tin là tất cả các sự việc, sự kiện, ý tưởng, phánđoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người, thông tin hìnhthành trong quá trình nhận biết hiện tượng xung quanh, trongquá trình giao tiếp
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới đều có điều khoảnriêng quy định về thông tin Luật về quyền được thông tin ở Ấn
Độ quy định: “Thông tin có nghĩa là bất cứ hình thức nào bao gồm các hồ sơ, tài liệu, bản ghi nhớ, thư điện tử, các quan điểm, các lời tư vấn, các thông cáo báo chí, thông tư, sắc lệnh,
mô hình, tư liệu lưu giữ dưới dạng điện tử và bất kỳ thông tin nào liên quan đến bất kỳ chủ thể tư nhân nào mà có thể phải tiếp cận bởi một nhà chức trách công cộng nào theo như quy định trong bất kì Luật nào khác đang có hiệu lực”[23,điều 2].
Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền
Hàn Quốc quy định: “Thông tin có nghĩa là các tin tức được soạn
Trang 17thảo, sở hữu và quản lý bởi các cơ quan chính quyền trong khi
họ thi hành nhiệm vụ của mình, có thể dưới dạng văn bản, tranh ảnh, bản vẽ, phim, bảng biểu, trình chiếu và các hình thức vi tính khác” [22 điều 2].
Theo Điều 2, Pháp lệnh nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
về công khai thông tin của chính quyền quy định: Thông tin của chính quyền được nêu trong Pháp lệnh này được hiểu là bất cứ thông tin nào được tạo ra hoặc thu được trong quá trình thực thi chức năng nhiệm vụ chính thức của các cơ quan công quyền,
mà được ghi chép hoặc lưu giữ dưới bất kỳ hình thức nào Với cách hiểu như vậy thông tin được khuyến khích mở một cách tối
đa cho sự tiếp cận Theo đó khái niệm về thông tin có thể được tiếp cận trong các đạo luật về tự do thông tin, TCTT cũng được hiểu rộng hơn các “tài liệu hành chính” hoặc “tài liệu chính thức” Ví dụ như tài liệu chính thức thì sẽ không bao gồm “tin tức” [29]
Theo Luật TCTT năm 2016 của Việt Nam: “Thông tin là tin,
dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra Thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra là tin, dữ liệu được tạo ra trong quá trình cơ quan nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, được người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước đó ký, đóng dấu hoặc xác nhận bằng văn bản” [33, khoản 1,2, điều 2].
Như vậy, có thể thấy một số điểm tương đồng trong quyđịnh về thông tin của các nước như: (i) Thông tin phải do cơquan chính quyền tạo ra hoặc thu thập được trong quá trình
Trang 18thực thi công vụ; (ii) Thông tin có thể được lưu giữ dưới bất kỳhình thức nào.
1.1.1.2 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin:
Khái niệm TCTT đầu tiên xuất hiện vào năm 1766 tại ThụyĐiển trong Luật về tự do báo chí của nước này có quy định: “Các
hồ sơ của Chính phủ phải công khai cho công chúng, người dân
có quyền được yêu cầu tiếp cận các văn bản của các cơ quanChính phủ Ở đạo luật này công dân có quyền tự do ngôn luận
trừ trường hợp: “báng bổ và chỉ trích nhà nước”, mặt khác cho công dân có “quyền tiếp cận tài liệu công” Đây là hai khía cạnh
cơ bản và quan trọng nhất trong khái niệm quyền TCTT Điềunày có ý nghĩa lịch sử đối với sự phát triển của các quyền conngười nói chung, quyền TCTT nói riêng bởi lần đầu tiên quyềnTCTT được đề cập, ghi nhận và bảo vệ bởi đạo luật của mộtquốc gia Nó đã tạo ra một bước đột phá lớn trong nhận thứccủa các quốc gia trên thế giới, coi việc được TCTT của người dânkhông chỉ là một nhu cầu thực tế mà còn là quyền con người cơbản
Nhận thức được tầm quan trọng của thông tin đối với conngười và xã hội, quyền tự do thông tin, quyền TCTT hay quyềnđược thông tin ngày càng được quốc tế và các quốc gia coi làmột quyền con người cơ bản, là điều kiện tiên quyết để thựchiện quyền công dân và quyền con người Tuyên ngôn thế giới
về quyền con người năm 1948 đã khẳng định: “Mọi người đều
có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến, kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất cứ phượng tiện thông tin đại chúng nào mà không bị giới hạn về biên giới" [19, điều 19] Với tinh thần của Tuyên ngôn thế giới về
Trang 19quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính
trị (ICCPR) quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”[20, điều 19].
Về khái niệm quyền TCTT, mặc dù Điều 19 ICCPR không đềcập đến thuật ngữ “quyền tiếp cận thông tin”, nhưng tại Bìnhluận chung số 34 của Ủy ban nhân quyền (HRC), đã đặc biệt lưu
ý đến quyền tiếp cận các thông tin được nắm giữ bởi cơ quannhà nước HRC giải thích rằng, quyền này được bao hàm trongkhoản 2 Điều 19 ICCPR, theo đó, mọi người có quyền TCTT màcác cơ quan công quyền nắm giữ Các thông tin ấy bao gồm cácdạng hồ sơ do một cơ quan công quyền nắm giữ, bất kể hìnhthức lưu trữ, nguồn tin và ngày xác lập Các cơ quan côngquyền là các cơ quan được nêu trong đoạn 7 của Bình luận
chung này bao gồm “Tất cả mọi nhánh quyền lực Nhà nước (hành pháp, lập pháp và tư pháp) và tổ chức của Chính phủ, dù
ở cấp độ nào quốc gia, khu vực hay địa phương”[21] Những cơ
quan ấy có thể cũng bao gồm các pháp nhân đang thực hiệnchức năng công Cũng theo quy định tại Điều 25 của Công ước,quyền TCTT bao gồm một quyền mà với quyền ấy truyền thôngđược TCTT về các vấn đề công và quyền của công chúng nóichung được tiếp nhận sản phẩm truyền thông Mỗi cá nhân cóquyền xác định qua một hình thức dễ hiểu để xem rằng những
dữ liệu cá nhân nào được lưu trữ dưới dạng các tập dữ liệu tựđộng và vì mục đích gì Mỗi cá nhân cũng phải có thể xác định
cơ quan công quyền hay cá nhân hay tổ chức nào kiểm soát
Trang 20hoặc có thể kiểm soát dữ liệu cá nhân của mình nếu khôngđúng hoặc dữ liệu đó không được thu thập hay xử lý không theoquy định của pháp luật thì mọi cá nhân đều phải có quyền yêucầu điều chỉnh dữ liệu của mình [21].
Như vậy, quyền TCTT chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vìnhu cầu tôn trọng những quyền tự do, thanh danh của ngườikhác và an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe côngcộng hay đạo lý Đây là hai văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng,ghi nhận các quyền cơ bản của con người về dân sự, chính trị,trong đó quyền TCTT được coi là quyền cơ bản nhất trong nhómcác quyền dân sự, chính trị đó
Bình luận chung số 34 của HRC đã kêu gọi: Để quyền TCTT
có hiệu lực, quốc gia thành viên phải chủ động cung cấp chocông chúng những thông tin Nhà nước vì lợi ích công Quốc giathành viên phải dùng mọi nỗ lực để đảm bảo cho người dânđược TCTT này một cách dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả vàthực tiễn Quốc gia thành viên phải xây dựng một thủ tục cầnthiết để một người có thể tiếp cận được thông tin, ví dụ nhưbằng các biện pháp lập pháp để tự do thông tin Những thủ tục
ấy phải tạo điều kiện xử lý nhanh chóng các yêu cầu thông tintheo những nguyên tắc rõ ràng và phù hợp với công ước Chi phíyêu cầu thông tin không được trở thành rào cản phi lý trongTCTT Cơ quan chức năng phải đưa ra lý do cho bất kỳ việc từchối cung cấp TCTT nào Phải có cơ chế khiếu nại việc từ chốiTCTT cũng như những trường hợp không thực hiện việc phản hồiyêu cầu TCTT [40, tr324-325]
Quyền TCTT tiếp tục được ghi nhận trong nhiều văn bảnquốc tế quan trọng khác như Công ước của Liên Hợp quốc vềchống tham nhũng năm 2003, Tuyên bố Rio về Môi trường và
Trang 21phát triển năm 1992, Công ước UNECE về tiếp cận thông tin môitrường, v.v…
Bước sang thế kỷ 20, với việc thừa nhận rộng rãi quyền tự dodân chủ và quyền con người, đặc biệt, xu hướng về việc nội luậthóa quyền TCTT đã hình thành trên phạm vi toàn cầu Một sốquốc gia như Hoa Kỳ ban hành Luật Tự do thông tin (năm 1966),Canada (1983), Hungary (1992), Anh (2000), Nam Phi (2000),Mêxico… Đến nay, trên thế giới đã có hơn 100 nước ban hànhLuật về TCTT
Tại một số quốc gia, Tòa án tối cao đã ra phán quyết rằng,quyền TCTT là quyền hiến định và là một yếu tố điển hình củaquyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí Ngoài việc quyđịnh quyền TCTT trong Hiến pháp, nhiều quốc gia còn ban hànhđạo luật riêng về TCTT hoặc tự do thông tin
Một số quốc gia trên thế giới ghi nhận Luật TCTT là một vănbản pháp luật rất quan trọng, chỉ đứng sau Hiến pháp Một sốđạo luật về tự do thông tin hoặc nêu rõ: các quy định về quyềnTCTT, tự nó, đã là các quy định hiến định Một số quốc gia lạiquy định Luật TCTT có địa vị pháp lý cao hơn các đạo luật khác
Ở Canada, Tòa án đã tuyên bố rằng Luật về TCTT là quy định
“mang tính chất của Hiến pháp”; ở New Zealand, năm 1988,Tòa phúc thẩm đã phán quyết rằng “tầm quan trọng của LuậtThông tin chính thức là ở chỗ các biện pháp trong Luật này cóthể được coi là các biện pháp mang tính hiến định” Nhiều quốcgia trên thế giới có quan điểm mở về TCTT và tự do thông tin.Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều ghi nhận quyền TCTTthành một đạo luật riêng hoặc quy định trong một đạo luật
chung Theo đó “Quyền TCTT được hiểu là quyền của các chủ thể được TCTT đang được cơ quan nhà nước quản lý hoặc kiểm
Trang 22soát Quyền này bao gồm các quyền: được xem các tác phẩm, tài liệu, hồ sơ, được ghi chép, trích dẫn, sao chụp các tài liệu, hồ
sơ đó; được thu thập thông tin dưới dạng đĩa mềm, thẻ nhớ, băng ghi âm, băng ghi hình hoặc bất kì dạng thiết bị điện tử nào khác v.v…”[6, tr14] Quyền TCTT bao hàm cả quyền tìm kiếm,
tiếp nhận và phổ biến thông tin Quyền này là một quyền có giớihạn, có nghĩa là không được tự do tiếp cận tất cả các thông tinNhà nước đang nắm giữ hoặc được tự do tìm kiếm tất cả các loại
hồ sơ, tài liệu lưu trữ thông tin ngay cả khi “tự do thông tin”, việcnày phải chịu một số hạn chế nhất định được quy định trongpháp luật
Việc ghi nhận quyền TCTT là một quyền con người là nhucầu thực tế, khách quan và hết sức cần thiết đối với mỗi quốcgia nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa như hiệnnay Theo Tony Mendel, chuyên gia quốc tế về quyền TCTT thì
xu hướng ngày càng có nhiều luật về tự do thông tin được banhành bởi quan điểm phổ biến trên thế giới hiện nay là các cơquan công quyền nắm giữ thông tin không phải cho chính bảnthân họ mà là vì lợi ích công cộng [35]
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm quyền
TCTT như sau: Quyền TCTT tin là quyền của cá nhân, công dân tiếp cận các thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ để biết được thông tin về tổ chức cũng như hoạt động của các cơ quan
đó nhằm mục đích thực hiện hoặc bảo vệ các quyền; lợi ích hợp pháp của mình Đây là quyền tự do cơ bản của con người, bao gồm: Tự do tìm kiếm, tiếp nhận, tiếp cận và phổ biến thông tin.
1.1.2 Nội dung quyền tiếp cận thông tin của công dân
Trang 23Hiện nay có hai quan điểm về nội dung của quyền TCTT củacông dân:
Quan điểm thứ nhất, nội hàm quyền TCTT của công dân bao
gồm ba quyền: quyền TCTT, quyền tìm kiếm thông tin và quyềnphổ biến thông tin [11,tr 31-37] Theo đó, truyền bá hay phổbiến thông tin có nghĩa là cá nhân, công dân có thông tin đượcquyền truyền đạt, chia sẻ quan điểm, thông tin mà mình đangnắm giữ cho mọi người mà không có bất kỳ sự phân biệt nào vềranh giới hay các hình thức đưa tin [37,tr112-114]
Quan điểm thứ hai, nội hàm quyền TCTT của công dân chỉ
bao gồm quyền tiếp nhận thông tin và quyền tìm kiếm thôngtin Việc tiếp cận chỉ nằm ở phương diện hướng chủ thể đạt đếnmục đích thu thập thông tin mà hoàn toàn không đề cập đếnvấn đề sử dụng thông tin, còn hoạt động phổ biến thông tinnằm trong một khái niệm rộng hơn, đó là quyền tự do thông tin[18] Quan điểm này phù hợp với quy định Luật TCTT năm 2016của nước ta Theo đó, công dân được TCTT bằng các cách thức
sau: “Tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai; Yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin” [33,điều
10]
Trong khóa luận này, tác giả tiếp cận quyền TCTT theo quanđiểm thứ hai, bao gồm quyền TCTT và quyền tìm kiếm thông tincủa công dân
1.1.2.1 Quyền tiếp nhận thông tin của công dân
Quyền TCTT của công dân là khả năng công dân nhận đượcnhững thông tin, tài liệu do cơ quan nhà nước tạo ra, nắm giữtrong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước thôngqua các hình thức công khai phù hợp, sẵn có mà không cần phảiyêu cầu
Trang 24Quyền TCTT của công dân thể hiện công dân có quyền tiếpnhận những thông tin đúng, đủ, kịp thời và dễ tiếp cận Thôngtin đúng đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải công khai thông tinchính xác, không được đưa tin định hướng dư luận khác với sựthật Thông tin đủ đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải công khaiđầy đủ nội dung, hiệu lực của thông tin, không được công khaimột phần thông tin Thông tin kịp thời đòi hỏi các thông tin phảicông khai ngay khi có thể để phù hợp với những vấn đề quản lýNhà nước đang diễn ra, không được chậm trễ Thông tin dễ tiếpnhận đòi hỏi việc công khai thông tin phải có nhiều cách thứckhác nhau phù hợp với từng nhóm chủ thể khác nhau như ởnông thôn.
Quyền tiếp nhận thông tin đòi hỏi các cơ quan nhà nướcphải có trách nhiệm công bố thông tin cũng như tạo điều kiệnthuận lợi cho việc tiếp nhận thông tin Thiếu các cơ chế để bảođảm quyền tiếp nhận thông tin đồng nghĩa với việc không bảođảm quyền TCTT của công dân Hậu quả của việc thiếu cơ chếbảo đảm quyền tiếp nhận thông tin của người dân là tình trạngđặc quyền, đặc lợi của những người có điều kiện, vị trí công tác
dễ dàng TCTT, gây nên sự bất bình đẳng, bất công bằng trong
xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai và kinh doanh Vì vậy,quyền tiếp nhận thông tin cũng gắn liền với quyền yêu cầu Nhànước có trách nhiệm bảo đảm rằng các loại thông tin cần thiếtliên quan đến lợi ích của cộng đồng phải luôn sẵn sàng cho việctiếp cận
1.1.2.2 Quyền tìm kiếm thông tin của công dân
Quyền tìm kiếm thông tin của công dân chính là khả năngcủa công dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩmquyền cung cấp thông tin, tiếp xúc các thông tin, tài liệu do cơ
Trang 25quan nhà nước đang nắm giữ mà mình cần hoặc quan tâmtrong phạm vi pháp luật cho phép.
Quyền tìm kiếm thông tin được xem là một trong nhữngđiều kiện để bảo đảm cho việc tiếp nhận thông tin Do vậy,ngoài những thông tin được công khai theo thủ tục pháp luậtquy định, nhiều thông tin sẽ chỉ được cung cấp khi có yêu cầucủa công dân vì thông tin đó có thể chỉ liên quan đến quyền vàlợi ích của một hoặc một số công dân cụ thể
Một trong những nội dung cơ bản của quyền TCTT là quyềnđược có các thông tin đang được quản lý hoặc kiểm soát bởi các
cơ quan nhà nước Để có được các thông tin này, chủ thể củaquyền được thông tin có quyền thực hiện việc chủ động tìmkiếm, thu thập thông tin theo đúng trình tự, thủ tục nhữngthông tin cần thiết mà người đó quan tâm
Quyền tìm kiếm thông tin của người dân đòi hỏi một nghĩa
vụ tương ứng từ phía các cơ quan nhà nước nắm giữ các thôngtin Đó là nghĩa vụ cung cấp thông tin Như vậy, để bảo đảmquyền tìm kiếm thông tin cần có cơ chế quy định về trình tự, thủtục tạo điều kiện cho công dân có thể thực hiện được quyền nàymột cách hiệu quả
1.1.3 Ý nghĩa của quyền tiếp cận thông tin
TCTT là một quyền cơ bản của công dân, thuộc nhóm quyềndân sự, chính trị, do đó tầm quan trọng của quyền này là rất lớntrong việc đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân.Tầm quan trọng của quyền TCTT đối với người dân trong mộtquốc gia được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau, phản ánh
và đánh giá sự công khai, minh bạch và dân chủ của một Nhànước, quyền này có ý nghĩa sau:
Trang 26Một là, quyền TCTT là công cụ, phương tiện quan trọng,
thiết yếu để công dân có điều kiện tham gia vào công việc Nhànước, quản lý, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước,vừa nâng cao tính minh bạch, tính trách nhiệm trong hoạt độngcủa cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừabệnh quan liêu, phòng ngừa tham nhũng Thông tin công khai
và bảo đảm quyền tiếp cận công bằng sẽ giảm thiểu sự độcquyền và lũng đoạn thông tin; tăng cường khả năng cạnh tranhlành mạnh trong xã hội, qua đó, củng cố lòng tin của người dânđối với Nhà nước và chế độ xã hội, mở rộng các hoạt động chínhtrị, xã hội và làm cho đất nước ngày một phồn thịnh, an ninhtrật tự được giữ vững; các nhóm lợi ích trong xã hội được duy trì
và bảo đảm công bằng, phát triển hài hòa
Hai là, tự do thông tin còn giúp cho việc nâng cao tính
trách nhiệm của Nhà nước, các cán bộ, công chức nhà nướctrong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền khác củacon người được tốt hơn
Ba là, đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng, TCTT giúp
cho các nhà đầu tư, nhà sản xuất, kinh doanh lựa chọn thịtrường, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu, về chính sách, phápluật, sẽ giảm được chi phí khởi nghiệp, tránh rủi ro; qua đó tintưởng hơn vào các kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mình; xâydựng cho mình các chiến lược, kế hoạch đầu tư, sản xuất kinhdoanh ngắn hạn và dài hạn, dự liệu và tiên đoán được nhữngthay đổi và kịp thời điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mìnhcho phù hợp
Như vậy có thể khẳng định rằng: Quyền TCTT là một trongnhững công cụ pháp lý quan trọng nhất để làm trong sạch vànâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, phòng
Trang 27chống tham nhũng, thực hiện dân chủ xã hội Vì vậy, trongkhoảng ba thập kỷ vừa qua, đã có hàng trăm quốc gia ban hànhvăn bản pháp luật riêng về quyền TCTT
1.1.4 Nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin
Để thúc đẩy việc thực thi quyền TCTT, nhiều tổ chức quốc tế
và khu vực đã xây dựng các nguyên tắc chuẩn về quyền quantrọng này Trong đó, ARTICLE 19 (một tổ chức phi chính phủquốc tế chuyên hoạt động nhằm thúc đẩy quyền tự do thôngtin, lấy tên gọi theo Điều 19 - ARTICLE 19 của Tuyên ngôn thếgiới về quyền con người) đã đặt ra các nguyên tắc mẫu cơ bảncủa quyền tự do thông tin, trong đó có quyền TCTT Nhữngnguyên tắc này đề cập một cách rõ ràng và cụ thể đến nhữngcách thức mà các Chính phủ có thể công khai hóa tối đa hoạtđộng của họ phù hợp với các tiêu chuẩn và kinh nghiệm quốc
tế Ủy ban của Liên Hiệp Quốc về quyền con người cũng đã kêugọi và khuyến nghị các quốc gia cân nhắc nghiên cứu bộ cácnguyên tắc này
Những nguyên tắc về quyền TCTT do ARTICLE 19 đưa rađược Ủy ban nhân quyền của Liên Hợp quốc ghi nhận tại phiênhọp thứ 56 năm 2000 Ngoài ATICLE 19 còn có các tổ chức kháctuyên bố về quyền TCTT như: Tổ chức sáng kiến tư pháp và các
tổ chức thành viên đã tuyên bố 10 nguyên tắc về quyền TCTTnhân dịp kỷ niệm lần thứ ba ngày Quốc tế quyền TCTT; Tuyên
bố Budapest về quyền TCTT trong Hội thảo quốc tế tổ chức tạiĐại học Trung Âu, Tuyên bố về các cơ chế quốc tế nhằm thúcđẩy quyền tự do ngôn luận
Nội dung của quyền TCTT ở mỗi nước có thể khác nhau,nhưng các nguyên tắc mà ARTICLE 19 đưa ra là những tư tưởng
Trang 28chủ đạo của quyền TCTT ở nhiều nước trên thế giới, theo đóARTICLE 19 đưa ra 9 nguyên tắc sau [1]:
Nguyên tắc 1: Công khai thông tin một cách tối đa
Đây là nguyên tắc nền tảng, có tính chất quan trọng nhấtcủa quyền TCTT Những thông tin nào công chúng được phéptiếp cận, những thông tin nào bị hạn chế cần phải được phápluật quy định cụ thể, rõ ràng theo hướng công khai tối đa.Nguyên tắc này đòi hỏi các thông tin do các cơ quan nhà nướcnắm giữ đều phải được công khai một cách tối đa đến tất cả mọingười và mọi tổ chức kể cả chính thức và phi chính thức, khôngxét đến quốc tịch hay nơi cư trú Nói cách khác, những danhmục thông tin được phép công bố, tiếp cận phải được pháp luậtquy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng Điều này nhằm công khai chocông chúng biết được những thông tin nào họ được phép tiếpcận và được cung cấp từ các cơ quan, tổ chức của chính phủ,những thông tin nào bị hạn chế, giới hạn Việc công khai tối đathông tin giúp người dân đảm bảo lợi ích của mình và thực hiệntốt các quyền, nghĩa vụ theo quy định Mặt khác là biện pháphạn chế các hành vi cản trở việc thực hiện quyền của người dântrên thực tế
Như vậy, theo nguyên tắc này người dân có quyền tiếp cậntới mọi thông tin mà cơ quan nhà nước đang nắm giữ, trừ nhữngtrường hợp ngoại lệ được quy định rõ ràng và cụ thể trong luật.Mục tiêu quan trọng nhất nguyên tắc này là phải bảo đảmthông tin được công khai tối đa trong thực tế
Nguyên tắc 2: Xác định nghĩa vụ công khai
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan công quyền phải nghĩa
vụ công khai tin mà cơ quan nhà nước đang nắm trừ nhữngtrường hợp ngoại lệ được quy định rõ ràng và cụ thể trong luật
Trang 29Chỉ cần người dân đưa ra yêu cầu cung cấp thông tin thì nghĩa
vụ cung cấp thông tin đã phát sinh đối với cơ quan nhà nướctương ứng Ngoài nghĩa vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu, các
cơ quan nhà nước còn có nghĩa vụ chủ động công bố một số loạithông tin cần thiết tới công chúng mà không cần phải có nhữngyêu cầu cụ thể Pháp luật cần quy định nghĩa vụ chung phảicông khai thông tin và danh mục những thông tin chủ chốt cầnphải được công khai
Nguyên tắc 3: Khuyến khích xây dựng mô hình chính quyền mở.
Các cơ quan công quyền khuyến khích xây dựng mô hìnhchính quyền mở Chủ động công bố một số loại thông tin cầnthiết tới công chúng mà không cần phải có những yêu cầu cụthể Thực tế, kinh nghiệm ở nhiều nước chỉ ra rằng một nềncông chức cứng nhắc có gây tổn hại cho luật pháp tiến bộ nhất
Do vậy, các hoạt động xúc tiến thúc đẩy chính là thành phầnthiết yếu của chế độ quyền được thông tin Đây là một khíacạnh trong đó các hoạt động cụ thể sẽ khác nhau theo từngnước, tùy thuộc vào các yếu tố như cách thức tổ chức nền côngchức, những trở ngại chính đối với việc tiết lộ thông tin tự do,mức độ biết chữ và mức độ nhận thức của quảng đại quầnchúng Pháp luật cần có điều khoản quy định về tuyên truyền
và phổ biến thông tin về quyền TCTT, phạm vi thông tin có sẵn
và cách thức mà các quyền đó có thể được thực hiện
Nguyên tắc 4: Phạm vi các trường hợp ngoại lệ
Tất cả những yêu cầu về thông tin của công dân gửi đến cơquan nhà nước đều phải được đáp ứng, trừ khi cơ quan đó cóthể công bố rõ ràng là thông tin liên quan nằm trong phạm vihạn chế hay các trường hợp ngoại lệ không được công khai
Trang 30Danh mục những thông tin không được công khai hay công khai
có điều kiện cần được quy định hạn chế tối đa về nội dung, rõràng về hình thức Điều này đảm bảo rằng những thông tin đượcgiới hạn tiếp cận chỉ với mục đích bảo vệ quyền lợi công cộng,
vì lợi ích của công chúng mà bảo vệ các bí mật Nhà nước và suycho cùng cũng nhằm mục đích bảo vệ công dân của Nhà nước
đó Một điểm nên lưu ý, không nên yêu cầu công dân phảichứng minh những lý do cần thiết khi TCTT mà chính các cơquan nhà nước phải chứng minh rằng thông tin mà họ muốn giữ
bí mật nằm trong phạm vi của một số trường hợp ngoại lệ
Nguyên tắc 5: Tạo thuận lợi cho quá trình TCTT
Tạo thuận lợi cho quá trình TCTT bằng thông tin mà họmuốn giữ bí mật nằm trong phạm vi của một số trường hợpngoại lệ, thông tin liên quan nằm trong phạm vi hạn chế haycác trường hợp ngoại lệ không được công khai Đảm bảo quyềnđược yêu cầu cũng như tiếp nhận thông tin của công chúng Các
cơ quan công quyền cũng cần phải được yêu cầu hỗ trợ nhữngngười nộp yêu cầu thông tin khi những yêu cầu của họ liên quanđến thông tin đã được công khai, hoặc chưa rõ ràng, quá chungchung hoặc cần trình bày lại Mặt khác, các cơ quan công quyền
có thể từ chối những yêu cầu ngờ nghệch hoặc nhằm gây phiềntoái chỉ nhằm làm gián đoạn các hoạt động của cơ quan côngquyền Các cơ quan công quyền không cần phải cung cấp chocác cá nhân những thông tin đã có tại một ấn phẩm phát hành
đã sẵn có miễn phí cho đại chúng, nhưng trong những trườnghợp như thế cơ quan phải chỉ dẫn cho người yêu cầu thông tinđến nguồn thông tin đã được xuất bản Cần có quy định nhằmđảm bảo tiếp cận đầy đủ đến thông tin cho các nhóm thiệt thòi,
ví dụ như những người không thể đọc hay viết, những người
Trang 31không thể nói được ngôn ngữ của hồ sơ, dữ liệu lưu, hay nhữngngười bị tàn tật, ví dụ như bị mù Ngoài ra, luật còn cho phépcông dân được quyền khiếu nại khi bị từ chối cung cấp thôngtin.
Nguyên tắc 6: Chi phí TCTT
Chi phí TCTT có thể không phải trả hoặc trả chi phí quá caocho việc yêu cầu thông tin Nếu phải trả phí thì khoản tiền nàykhông cần được xác định là lệ phí mà là một khoản phí Khoảnphí này là cần thiết nhằm đảm bảo và bù đắp cho hoạt độngcủa các cơ quan công quyền, và tránh tình trạng cung cấpthông tin một cách tùy tiện Tuy nhiên, khoản phí này khôngđược mang tính chất kinh doanh vì lợi nhuận và phải đảm bảongười dân chấp nhận được Bởi vì, Luật TCTT là để thúc đẩyTCTT và nhằm hướng tới lợi ích lâu dài của sự mở cửa thông tinhơn là vấn đề chi phí, không cảm thấy sợ phải nộp khi TCTT
Nguyên tắc 7: Các cuộc họp mở
Các cuộc họp mở thúc đẩy TCTT nhằm hướng tới lợi ích chocông chúng về những công việc do chính quyền thực hiện Cáccuộc họp mở có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức nhưvăn bản, nói chuyện trực tiếp, thông tin đại chúng, trực tuyến,
Dĩ nhiên, việc thực hiện nguyên tắc này cũng phải đảm bảonguyên tắc về các giới hạn của thông tin được tiếp cận
Nguyên tắc 8: Công khai quyền ưu tiên
Những quy định pháp luật không phù hợp với nguyên tắccông khai tối đa thông tin phải được sửa đổi, bổ sung hoặc bãi
bỏ cho phù quy định của pháp Về lâu dài cần đưa tất cả cácluật liên quan đến thông tin phù hợp với các nguyên tắc cơ bảncủa Luật TCTT, coi Luật TCTT là luật gốc để bảo đảm quyềnTCTT của công chúng
Trang 32Nguyên tắc 9: Bảo vệ người cung cấp thông tin
Các cá nhân phải được pháp luật bảo vệ khi cung cấp thôngtin liên quan đến những việc làm sai trái Người cung cấp thôngtin phải được bảo vệ nếu hành vi của họ đáng tin và các thôngtin được cung cấp đúng sự thật, kèm theo bằng chứng cho hành
vi sai phạm Việc bảo vệ cần áp dụng cho cả trường hợp côngkhai thông tin theo đúng pháp luật
1.2 Bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm bảo đảm và thúc đẩy
quyền tiếp cận thông tin
1.2.1.1 Khái niệm bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
Từ khái niệm về quyền TCTT trên có thể hiểu bảo đảm vàthúc đẩy quyền TCTT là cách thức và thủ tục do pháp luật quyđịnh mà các chủ thể có liên quan phải thực hiện nhằm đảm bảothực hiện quyền TCTT trong thực tiễn và theo sau đó là đẩymạnh và nâng cao nhận thức về quyền TCTT Ở tầm cao nhất làviệc ghi nhận quyền TCTT vào trong Hiếp pháp và hơn nữa làcác văn bản pháp luật cụ thể trên tinh thần Nhà nước tôn trọng
và bảo vệ quyền TCTT của người dân
1.2.1.2 Đặc điểm bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận
thông tin
Từ thực tế cho thế các bảo đảm và thúc đẩy quyền TCTT sẽ
có một vai trò vô cùng đặc biệt trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền TCTT Nhưng chủ yếu có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, các bảo đảm như một công cụ sắc bén của Nhà
nước trong việc thực hiện bảo vệ quyền TCTT, thể hiện này quyđịnh các quyền TCTT trong pháp luật được bảo đảm bằng cáchthức tác động quyền lực của Nhà nước Nhà nước ban hành các
Trang 33quy định cụ thể và cụ thể hóa nó bằng các văn bản pháp luậtgiúp cho việc đảm bảo quyền TCTT được thực hiện một cáchtriệt để từ đó đem lại sự thúc đẩy trong việc TCTT.
Thứ hai, các bảo đảm là phương tiện bảo đảm giá trị thực
tế của quyền TCTT Các bảo đảm đóng vai trò là công cụ giúpNhà nước bảo đảm sự tuân thủ và thực thi quyền TCTT của cácchủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời là công cụ của các cánhân trong việc bảo vệ quyền TCTT thông qua việc vận dụngcác quy phạm và cơ chế pháp lý cho liên quan
1.2.2 Các bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
1.2.2.1 Bảo đảm về khía cạnh pháp luật về quyền tiếp cận thông tin
Quyền TCTT thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị và là mộttrong những quyền cơ bản của con người Như đã phân tích ởtrên quyền TCTT có vai trò và ý nghĩa rất lớn Do đó để đảm bảoquyền TCTT thì cơ quan nhà nước, người có quyền lực trong cơquan nhà nước đã sử dụng tất cả các cơ chế, biện pháp để quyềnTCTT được bảo đảm thực hiện trên thực tế Về vấn đề pháp luật
về quyền TCTT trên thế giới chỉ quy định mang tính chất nguyêntắc và có những nội dung cơ bản như sau: phạm vi cung cấpthông tin; giới hạn cung cấp thông tin; các nguyên tắc bảo đảmcung cấp thông tin; chủ thể của quyền TCTT; nội dung của quyềnTCTT; trình tự thủ tục thực hiện; v.v… Ở nước ta, Nhà nước chủtrương cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, thực hiện các chủtrương của Đảng, đồng thời nội luật hóa một số quy định trongcác điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhiều văn bảnpháp luật và văn bản dưới dạng luật đã được ban hành quy định
về quyền được thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà
Trang 34nước trong việc cung cấp thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra
và nắm giữ đặc biệt cụ là Luật TCTT
1.2.2.2 Bảo đảm trên khía cạnh hoạt động cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước
Ngoài việc công dân có thể yêu cầu cung cấp thông tinhoặc tài liệu chính thức do cơ quan nhà nước nắm giữ, cơ quannhà nước cần chủ động cung cấp và phát hành những thông tin
cơ bản một cách rộng rãi nhằm đáp ứng sự quan tâm của ngườidân Cơ quan nhà nước phải đăng tải các thông tin được phépcông khai trên các cổng thông tin điện tử giúp người dân, côngchúng có thể tiếp cận được với các thông tin cụ thể và chínhxác Trên tinh thần đó cơ chế quản lý và lưu trữ các tài liệu khoahọc về việc thu thập phải được quản lý và lưu trữ một cách cụthể để giúp người dân có thế tiếp nhanh chóng với thông tin.Tiếp theo đó về quy trình và thủ tục thực hiện quyền yêu cầucung cấp thông tin phải đảm bảo các nội dung như: cơ quan cóthẩm quyền, thời hạn xử lý yêu cầu, trả lời và cung cấp thôngtin, mức phí cho việc cung cấp thông tin,…[30, tr33]
1.2.2.3 Bảo đảm trên khía cạnh hoạt động của các cơ quan nhà nước trong giám sát, xử lý pháp luật về quyền tiếp cận thông tin
Khi pháp luật đã quy định quyền TCTT thì phải có cơ chếthanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý những vi phạm về việcthực hiện Đây được xem là một cơ chế giúp cho quy định củaLuật được thực thi trên thực tế nâng cao trách nhiệm, tránhđược sự lạm quyền, từ chối hoặc trì hoãn việc cung cấp thôngtin của cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, bảo đảm các
cơ quan nhà nước luôn thực hiện tốt các quy định về quyềnTCTT và đảm bảo người dân được tiếp cận với thông tin
Trang 351.3 Các yếu tố tác động đến bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
1.3.1 Nhu cầu thông tin và nhận thức của người dân
về quyền tiếp cận thông tin
Một trong những yếu tố tác động lớn đến việc đảm bảo vàthúc đẩy quyền TCTT phải nhắc đến vấn đề nhu cầu và nhậnthức của người dân Các yếu tố chủ yếu nhất trong nhu cầu vànhận thức về quyền TCTT gồm có:
- Nhu cầu nhận thức về dân chủ: Đây là yếu tố thể hiện nhucầu của người dân tham gia vào quá trình quản lý
- Nhu cầu về thông tin như những nguồn lực xã hội từ đónhu cầu về sự bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng và khaithác thông tin
- Nhu cầu về lợi ích từ sự tiếp cận và khai thác thông tin đểgiải quyết những vấn đề về kinh tế, an sinh xã hội, hằng ngàytrong việc tiếp cận, sử dụng và đấu tranh bảo vệ những quyền
cơ bản và quyền lợi khác của người dân
- Nhu cầu về thông tin như là cơ sở để đấu tranh và ngănchặn các hành vi tham nhũng, tiêu cực,…
Có thể thấy nhu cầu về thông tin rất cần thiết trong đờisống xã hội, là công cụ để điều hành quản lý, là phương tiện mởrộng sự hiểu biết, là nguồn cung cấp tri thức để phát triển kinh
tế xã hội
Về nhận thức của người dân về quyền TCTT cũng đóng mộtvai trò quan trọng Mặc dù có nhu cầu về thông tin nhưng đaphần người dân còn thiếu nhận thức về quyền TCTT Nếu ngườidân không sử dụng thậm chí không biết đến quyền TCTT - mộttrong những quyền con người, quyền công dân cơ bản thì việcthực hiện quyền đó cũng trở nên vô nghĩa Mặt khác, nếu cán
Trang 36bộ, công chức, cơ quan nhà nước không nhận thức hoặc khôngnhận thức đầy đủ về quyền TCTT thì việc thực hiện các biệnpháp nhằm bảo đảm và thực hiện quyền TCTT sẽ trở nên qualoa, thiếu hiệu quả.
Như vậy, chỉ khi cả người dân có nhu cầu và nhận thức rõràng về quyền và lợi ích của bản thân trong việc thực hiệnquyền TCTT thì những bảo đảm quyền TCTT mới được thực hiện
đề liên quan đến vấn đề yêu cầu TCTT Do đó, để có thể bảođảm quyền TCTT thì năng lực và trách nhiệm của Nhà nước giữvai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin [30, tr38]
Đối với trường hợp công khai thông tin, các quốc gia đềuquy định các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin phảichủ động cung cấp một loại thông tin nhất định Các thông tinnày bao gồm chi tiết về cơ cấu tổ chức và thông tin của những
vị lãnh đạo, các chính sách, quy định hiện hành,… Việc công bốthông tin được thực hiện bằng nhiều cách như đăng tải lên cổngthông tin điện tử, trên các phương tiện thông tin đại chúng,… Đối với trường hợp cung cấp thông tin theo yêu cầu thì phải
có các quy định cụ thể về từng loại thông tin được quyền tiếp cận
và phạm vi tiếp cận Điều này được thể hiện qua các quy định củapháp luật và trách nhiệm của cơ quan cung cấp
Như vậy, năng lực và trách nhiệm của Nhà nước trong việccung cấp thông tin còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng nhìn
Trang 37chung đây là cơ sở quan trọng trong việc người dân có thể thựchiện quyền TCTT của mình một cách nhanh gọn và triệt để nhất.
1.3.3 Sự phát triển của công nghệ thông tin
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nayviệc đăng tải các thông tin lên mạng xã hội, cổng thông tin điện
tử, phương tiện đại chúng,… được xem là một trong những cách
để người dân, công chúng tiếp cận với thông tin một cáchnhanh nhất và thuận tiện Điều này không những mở rộngquyền TCTT mà còn thúc đẩy việc TCTT không chỉ vậy mà còngiúp nâng cao chất lượng thông tin Điều này cũng thuận lợi chocác cơ quan nắm giữ thông tin giúp giảm tải công việc Tuynhiên hoạt động cung cấp thông tin qua internet cũng đem lạimột số nguy cơ như: mất an toàn trên không gian mạng, lỗhổng về bảo mật thông tin, có các thông tin sai lệch,… Vì vậy sựphát triển của công nghệ thông tin đem lại nhưng nhiều mặttích cực nhưng cũng còn nhiều thách thức trong đưa thông tinchính xác tiếp cận đến người dân và công chúng
1.4 Cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
1.4.1 Cơ chế bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin
Nội hàm của khái niệm cơ chế bảo đảm quyền TCTT nói chủyếu đến các vấn đề về cơ cấu tổ chức, quy trình thủ tục, để đảmbảo quyền TCTT chủ yếu là trách nhiệm của cơ quan nhà nước
và cách thức người dân, công chúng tiếp cận với thông tin Vềbản chất, cơ chế bảo đảm quyền TCTT chính là nói đến các quyđịnh và cách thức tổ chức nhằm bắt buộc các cơ quan công cộngphải công khai các hoạt động và các quyết định giải quyết côngviệc trên các phương tiện thông tin đại chúng [34] Như vậy có
Trang 38thể hiểu, cơ chế bảo đảm quyền TCTT bao gồm các nội dung nhưsau: Các quy định pháp luật làm cơ sở, nền tảng pháp lý đểngười dân thực hiện quyền TCTT, hiến định, các quy định về trình
tự TCTT, các quy định và trách nhiệm của cơ quan cung cấpthông tin, cơ chế kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền TCTT…Tất cả các yếu tố này có mối liên hệ tương quan lẫn nhau cùnghướng về mục tiêu chung đó là đảm bảo quyền TCTT
Phạm vi thông tin được bảo đảm tiếp cận là các quy địnhmang tính giới hạn chủ thể có quyền cung cấp thông tin, chủthể có quyền TCTT có quyền được TCTT với phạm vi đến đâu,bao gồm những nội dung gì? Yêu cầu này đặt ra nhằm bảo đảmtính minh bạch trong việc cung cấp thông tin, từ đó chủ thể cóquyền TCTT sẽ biết được mình được quyền tiếp cận nhữngthông tin nào, không được quyền tiếp cận những thông tin nàonhằm bảo đảm cho việc thực hiện quyền TCTT trên thực tế
Xuất phát từ trình độ phát triển của mình, các nước có cáchquy định khác nhau về phạm vi, nội dung, các thông tin cầnphải được công bố công khai trong luật của mỗi nước Điều nàyphản ánh đặc điểm lịch sử cụ thể, sự phát triển kinh tế, xã hội,
sự đa dạng về văn hoá, cũng như mối quan tâm khác nhau củacông chúng đối với hoạt động của cơ quan nhà nước
Đạo luật về quyền TCTT ở mỗi nước cụ thể sẽ quy địnhphạm vi quyền TCTT theo hai cách chính:
Cách thứ nhất: Luật TCTT liệt kê một loạt các loại thông tin
cơ quan công quyền có trách nhiệm phải công bố trong thời hạnluật định và sau đó là những thông tin miễn trừ tiết lộ
Cách thứ hai: Luật TCTT liệt kê những thông tin không công
khai, hạn chế tiếp cận, miễn trừ tiếp cận còn lại là các thông tinkhông được nhắc tới sẽ là các thông tin được tiếp cận
Trang 39Đối với loại thông tin công khai công bố dựa trên bộ nguyêntắc do của HRC của Liên hợp quốc thông qua, hầu hết các quốcgia trên thế giới đã ban hành Luật TCTT đều quy định về nhữngloại thông tin chủ chốt cần được phổ biến công khai và rộng rãicho công chúng biết đó là:
- Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, hoạt động, cơ cấu của
cơ quan, tổ chức công quyền;
- Thông tin về ngân sách nhà nước gồm: mục tiêu ngân sáchnhà nước; nguồn thu chi ngân sách, thông tin kiểm toán, kết quảđạt được của cơ quan công quyền;
- Thông tin hướng dẫn thủ tục, quy trình sử dụng dịch vụcông do cơ quan công quyền cung cấp hoặc quy trình tham giavào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật;
- Thông tin về Nghị viện: Những thảo luận trong các phiênhọp, những chính sách mà Nghị viện phê duyệt
- Thông tin về quy hoạch đô thị, nông thôn, về các côngtrình quốc gia, về chính sách an sinh xã hội và bảo vệ môitrường…
Thông tin về dự báo thời tiết, dịch bệnh, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội…[28,tr37]
-Bảo đảm quyền thông tin không loại trừ việc hạn chế cungcấp thông tin trong một số trường hợp đặc biệt Gần như tất cảcác Luật TCTT trên thế giới đều có quy định về các loại thông tin
có thể giữ bí mật, không công bố Một số trường hợp ngoại lệđược quy định giống nhau ở hầu hết các đạo luật Các ngoại lệnày bao gồm các thông tin về bảo vệ an ninh quốc gia và quan
hệ quốc tế, quyền riêng tư cá nhân, bí mật thương mại, thi hànhpháp luật và trật tự công cộng
Trang 40Công dân có được TCTT hay không phụ thuộc chủ yếu vàohoạt động của các cơ quan nhà nước, luật TCTT của các quốcgia đề quy định khá cụ thể trách nhiệm của cơ quan nhà nướctrong việc cung cấp thông tin.
Ngoài ra công dân có thể yêu cầu thông tin hoặc tài liệu docác cơ quan công quan công quyền nắm giữ, cơ quan côngquyền cần chủ động cấp và phát nhưng thông tin cơ bản TheoNguyên tắc số 2 của Liên Hợp quốc thì các cơ quan năm giữthông tin cần chủ động cung cấp thông tin một cách rộng rãinhằm đáp ứng sự quan tâm của công chúng Những thông tin
đó bao gồm chức năng, hoạt động quyết định chính sách ảnhhưởng đến đại chúng
Một đặc điểm chung trong pháp luật của hầu hết các quốcgia là đều có quy định các cơ quan Chính phủ có nghĩa vụ cungcấp một số thông tin nhất định một cách tích cực Các thông tinnày thường bao gồm chi tiết về cơ cấu tổ chức và các cơ quanchức chủ yếu của Chính phủ, lời văn của các đạo luật và quyđịnh, các đề xuất và chính sách hiện hành, các biểu mẫu vàquyết định Các đạo luật về TCTT mới ban hành có xu hướngquy định một danh mục các thông tin cần phải công bố Việccông khai thông tin bằng nhiều hình thức như: đăng tải trêntrang thông tin điện tử, trên các phương tiện thông tin đạichúng, qua người phát ngôn,…
Đăng tải thông tin website của cơ quan: nhiều luật TCTT của
các quốc gia quy định, các cơ quan Chính phủ có nghĩa vụ công
bố thông tin nhất định trên trang thông tin điện tử của mìnhtheo định kể ví dụ như Mỹ, Canada, Anh,… Biện pháp này chophép việc TCTT được thực hiện một cách nhanh chóng và đỡ tốnkém về phía người dân và cơ quan nắm giữ thông tin