1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khoá luận GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN TRONG CÁC VỤ ÁN LY HÔN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

105 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 309,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến tháng 8-2002 anh và chị Tươi quay về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Hưng Nhân vào ngày 25-9-2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp, chị Tươi nắm giữ toàn bộ kinh tế, không tôn trọng anh. Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân từ giữa năm 2018 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án nhân dân (TAND) huyện Hưng Hà giải quyết cho anh được ly hôn chị Tươi. Về nuôi con chung: Anh và chị Tươi có 04 con chung là Phạm Thị Hồng Xuân, sinh năm 1990, Phạm Thị Hồng Thu, sinh năm 1998, Phạm Thị Hồng Phương, sinh ngày 04-12-2004 và Phạm Hồng Dương, sinh ngày 21-10-2007. Hiện nay cháu Xuân, cháu Thu đã trưởng thành và tự lập về kinh tế nên không đặt trách nhiệm nuôi dưỡng, còn cháu Phương và cháu Dương có nguyện vọng ở với ai thì người đó được nuôi dưỡng. Nếu 02 con ở với chị Tươi thì anh có trách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị Tươi là 800.000đồng/01con/01 tháng đến khi con chung tròn 18 tuổi vì anh đã hết tuổi lao động, nghề nghiệp không có, thu nhập không ổn định. Về chia tài sản: Năm 1984 bố mẹ anh là ông Phạm Hồng Nguyệt, bà Trần Thị Chớp có mua diện tích đất khoảng 120m2 của ông Nguyễn Duy Hiểu và bà Đinh Thị Hạt ở khu Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, đến năm 1988 anh và bố mẹ anh xây 02 gian nhà mái bằng, diện tích sử dụng khoảng 32m2. Bố mẹ anh đã cho anh toàn bộ khối tài sản nhà và đất trên, anh đã xây thêm công trình phụ để sinh sống.

Trang 1

TRUNG ƯƠNG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN TRONG CÁC VỤ ÁN LY HÔN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

Hà Nội, năm 2022

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “ Giải quyết tranh chấp tài sản trong các vụ án ly hôn theo pháp luật Việt Nam qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình” là nội dung em chọn để nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp sau

bốn năm theo học chương trình cử nhân Luật tại Học viện Thanh thiếu niênViệt Nam

Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận này, lời đầutiên em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến Thầy Hoàng Trung Hiếu thuộc Bộmôn Luật, khoa Chính trị học – Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam Thầy làngười đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu đểhoàn thiện khóa luận Ngoài ra em xin chân thành cảm ơn các thầy cô là giảngviên Học viện nói chung và các thầy cô trong Bộ môn Luật - Khoa Chính trịhọc nói riêng trong bốn năm qua đã truyền đạt cho sinh viên chúng em nhữngkiến thức vô cùng quý báu đặc biệt là kiến thức chuyên ngành Luật mà em theohọc

Ngoài ra, em cũng xin cảm ơn tập thể cơ quan Tòa án nhân dân huyệnHưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện và thời gian cho em trong suốt quátrình nghiên cứu để làm khóa luận tốt nghiệp

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã tạo điềukiện, cơ hội để em thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật

Trân trọng cảm ơn!

Sinh viên Phạm Thị Phương Anh Lớp K7L2 – Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

Trang 3

MỤC LỤC

PHỤ LỤC 5

*Bản án số 45/2021/ HNGĐ- ST ngày 16-9-2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình 5

*Bản án số 72/2021/ HNGĐ- ST ngày 16-6-2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình 17

*Bản án số 28/2018/HNGĐ-ST ngày 18/05/2018 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình 40

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 47

MỞ ĐẦU 48

1 Tính cấp thiết của đề tài 48

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 49

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 50

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 51

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 51

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận 51

7 Kết cấu của khóa luận 51

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN KHI LY HÔN 53

1.1 Một số khái niệm 53

1.1.1 Tài sản chung của vợ chồng 53

1.1.2 Tranh chấp tài sản khi ly hôn 53

1.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn 55

1.2.1 Tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng 55

1.2.2 Bình đẳng về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng 56

1.2.3 Bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình 57

1.2.4 Chia tài sản bằng hiện vật hoặc giá trị 58

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn 58

1.3.1 Phong tục tập quán 58

1.3.2 Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng 59

Trang 4

1.3.3 Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao

động có thu nhập 59

1.3.4 Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập 60

1.3.5 Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng 60

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN KHI LY HÔN VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN KHI LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH 63

2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn 63

2.1.1 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn 63

2.1.2 Pháp luật tố tụng về giải quyết quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn 71

2.2 Thực tiễn xét xử các vụ việc tranh chấp tài sản khi ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 73

2.2.1 Áp dụng các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn 73

2.2.2 Giải quyết tranh chấp về bất động sản 78

2.2.3 Giải quyết tranh chấp về các khoản nợ 82

2.3 Một số đánh giá về giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 88

2.3.1 Những kết quả đạt được 88

2.3.2 Một số khó khăn, vướng mắc 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 93

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN KHI LY HÔN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN KHI LY HÔNTẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH 94

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn 94

3.1.1 Hoàn thiện quy định về pháp luật nội dung 94

3.1.2 Hoàn thiện quy định về pháp luật tố tụng 97

Trang 5

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tài sản khi

ly hôn tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 98

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1 Ông Đinh Ngọc Phức

2 Bà Phạm Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - thư ký Tòa án nhân dân huyện

Hưng Hà

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên

Trang 7

Nguyên đơn: Anh Phạm Hồng Phi, sinh năm 1960.

Bị đơn: Chị Đoàn Thị Tươi, sinh năm 1969.

Đều trú tại: Tổ dân phố Thị An-Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyệnHưng Hà, tỉnh Thái Bình (Anh Phi, chị Tươi đều có mặt)

Đến tháng 8-2002 anh và chị Tươi quay về chung sống với nhau và cóđăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Hưng Nhân vào ngày 25-9-2002 Sau khikết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn.Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tình không hợp, chị Tươi nắm giữ toàn

bộ kinh tế, không tôn trọng anh Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và sống lythân từ giữa năm 2018 đến nay Nay anh xác định tình cảm vợ chồng khôngcòn, anh đề nghị Tòa án nhân dân (TAND) huyện Hưng Hà giải quyết cho anhđược ly hôn chị Tươi

Về nuôi con chung: Anh và chị Tươi có 04 con chung là Phạm Thị HồngXuân, sinh năm 1990, Phạm Thị Hồng Thu, sinh năm 1998, Phạm Thị HồngPhương, sinh ngày 04-12-2004 và Phạm Hồng Dương, sinh ngày 21-10-2007.Hiện nay cháu Xuân, cháu Thu đã trưởng thành và tự lập về kinh tế nên khôngđặt trách nhiệm nuôi dưỡng, còn cháu Phương và cháu Dương có nguyện vọng

ở với ai thì người đó được nuôi dưỡng Nếu 02 con ở với chị Tươi thì anh cótrách nhiệm góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị Tươi là 800.000đồng/01con/01

Trang 8

tháng đến khi con chung tròn 18 tuổi vì anh đã hết tuổi lao động, nghề nghiệpkhông có, thu nhập không ổn định.

Về chia tài sản: Năm 1984 bố mẹ anh là ông Phạm Hồng Nguyệt, bà TrầnThị Chớp có mua diện tích đất khoảng 120m2 của ông Nguyễn Duy Hiểu và bàĐinh Thị Hạt ở khu Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, đến năm

1988 anh và bố mẹ anh xây 02 gian nhà mái bằng, diện tích sử dụng khoảng32m2 Bố mẹ anh đã cho anh toàn bộ khối tài sản nhà và đất trên, anh đã xâythêm công trình phụ để sinh sống

Năm 1990, anh và chị Tươi về chung sống như vợ chồng tại nhà đất củaanh, anh và chị Tươi có đi vay nợ để trả bà Khúc Thị Hè, sinh năm 1971, địachỉ: Khu Văn, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà 01 chỉ vàng 9999 giákhoảng 300.000 đồng; anh Đỗ Văn Tụng, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn Ruốm,

xã Tân Hòa, huyện Hưng Hà 1.000 gạch đỏ trị giá 50.000đồng, chị Tươi cóđưa cho anh 300.000đồng để anh trả tiền mua xi măng Tất cả các khoản nợtrên đều là tiền anh làm công trình phụ còn nợ Số tiền vay nợ trên do anh vàchị Tươi cùng làm để trả nợ dần Năm 1993 anh và chị Tươi đã mua thêm đượckhoảng 40m2 đất rộng 2m chạy dọc bám theo đất của anh, mua của chị Đỗ ThịHậu, sinh năm 1961 ở cùng khu Năm 1996 anh và chị Tươi lát nền nhà và mởrộng cửa và đóng toàn bộ cánh cửa của nhà; xây 03 bức tường để nối với tườngnhà ở làm nhà dệt và xây bể nước mưa Năm 1997 xây nhà bếp ăn và lát sân,xây thêm tường giậu và cổng Đến tháng 01-2001, anh và chị Tươi mâu thuẫn

đã tự chia tay Anh và chị Tươi đã phân chia tài sản với nhau, anh sở hữu toàn

bộ tài sản chung của anh và chị Tươi, anh thanh toán cho chị Tươi số tiền25.500.000đồng, có viết văn bản thanh toán tiền cho nhau nhưng đến nay giấy

tờ đó đã mất Đến tháng 9-2002, vợ chồng đoàn tụ, đã kiến thiết được các tàisản chung gồm: Năm 2003 vợ chồng mua 01 xe máy Oriental; năm 2006 vợchồng đã xây tầng 2, ốp lại tường bên trong, bên ngoài của tầng 1; năm 2016

vợ chồng trát lại tường mặt phía Bắc bên ngoài của ngôi nhà tầng 1, ốp lát lạinhà ăn, đôn, lát sân bằng gạch đỏ, ốp cầu thang, làm mái tôn hiên nhà, lợp ngóipro chống nóng bếp và mua 01 bộ bàn ghế sa lông, 01 tủ lạnh TOSIBA Ngoài

Trang 9

ra vợ chồng còn một số đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, anh không yêu cầuTòa án giải quyết Năm 2003 anh làm thủ tục hành chính đứng tên toàn bộ diệntích đất của bố mẹ anh cho anh cùng đất vợ chồng mua thêm, được UBNDhuyện Hưng Hà cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh (hiệnnay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị mất).

Anh xác định 120m2 đất ở và 02 gian nhà 32m2 tầng 1 là tài sản riêng củaanh có trước khi anh và chị Tươi chung sống Còn lại các tài sản khác là tài sảnchung của vợ chồng gồm: 40m2 đất mua thêm, nhà tầng 2, nhà dệt tầng1, máitôn, sân, cổng giậu, công trình phụ, bể nước mưa, bộ bàn ghế, xe máy, tủ lạnh

là tài sản chung của anh và chị Tươi Anh đề nghị Tòa án cho anh được sở hữutoàn bộ tài sản chung của vợ chồng, anh có trách nhiệm thanh toán 1/2 giá trịcác tài sản bằng tiền cho chị Tươi

Về nợ chung: Vợ chồng anh không vay nợ ai, còn chị Tươi trình bày năm

2016, chị Tươi có vay con gái Phạm Thị Hồng Xuân 85.000.000đồng để sửanhà và mua sắm đồ dùng trong nhà, vay của anh Lương Đức Hoàng số tiền165.000.000đồng để nuôi hai con ăn học anh không biết, chị Tươi không bànbạc gì với anh

Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị đơn chị Đoàn Thị Tươi trình bày:

Quá trình chị và anh Phi về chung sống từ ngày 16-02-1990 (âm lịch) vàđến ngày 07-01-2001 (âm lịch) chia tay nhau như anh Phi trình bày là đúng.Đến tháng 8-2002 (âm lịch) chị và anh Phi lại về chung sống với nhau, cóđăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Hưng Nhân vào ngày 25-9-2002 Sau khikết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn.Nguyên nhân là do anh Phi nói chị không nhận bố mẹ và anh em nhà chồngdẫn đến anh Phi vô trách nhiệm với vợ con Vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng và

đã sống ly thân nhau từ giữa năm 2018 đến nay Năm 2019 chị đã làm đơn xin

ly hôn anh Phi, nhưng sau đó vì thương con chị không nộp đơn Nay anh Phikhởi kiện xin ly hôn với chị, quan điểm của chị không muốn vợ chồng ly hôn

vì con Nếu anh Phi cố tình xin ly hôn, chị cũng đồng ý

Trang 10

Về nuôi con chung: Chị và anh Phi có 04 con chung như anh Phi trình bày

là đúng Hiện nay cháu Xuân, cháu Thu đã trưởng thành và tự lập về kinh tếnên không đặt trách nhiệm nuôi dưỡng, còn cháu Phương và cháu Dương cónguyện vọng ở với ai thì chị tôn trọng quan điểm của hai cháu, nếu hai cháu ởvới chị thì chị nuôi cả hai con, chị yêu cầu anh Phi góp cấp dưỡng nuôi concùng chị 1.500.000đồng/1con/1tháng đến khi con chung tròn 18 tuổi, chị đềnghị anh Phi cấp dưỡng nuôi con 1 lần để chị có điều kiện chăm sóc, nuôidưỡng các con ăn học

Về chia tài sản: Năm 1990 khi chị và anh Phi chung sống với nhau như vợchồng tại nhà đất của anh Phi ở khu Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyệnHưng Hà, lúc đó anh Phi đã có khoảng 120m2 đất ở và 02 gian nhà xây đổ máibằng diện tích khoảng 32m2 Khi chị về chung sống với anh Phi, chị và anh Phiphải đi vay nợ lãi để trả các khoản nợ anh Phi vay trước đó để trả tiền anh Phimua đất và làm nhà gồm: Vay dì Khúc Thị Hè 01 chỉ vàng 9999 giá 300.000đồng; vay anh Đỗ Văn Tụng, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn Ruốm, xã Tân Hòa,huyện Hưng Hà 630.000đồng là tiền anh Phi vay 7000 gạch xây nhà Chị vàanh Phi phải trả tiền vay và lãi đến năm 1995 mới hết số nợ trên Chị còn đưacho anh Phi 500.000đồng để trả tiền nợ mua xi măng làm nhà

Năm 1993, chị và anh Phi mua thêm 40m2 đất với giá 300.000đồngcủa chị Đỗ Thị Hậu ở cùng khu Năm 1996, chị và anh Phi lát nền nhà và mởrộng cửa và đóng toàn bộ cánh cửa của nhà và xây 03 bức tường để nối vớitường nhà ở làm nhà dệt và xây bể nước mưa Năm 1997 xây nhà bếp, ăn và látsân, xây thêm tường giậu và cổng

Ngày 07-01-2001 (âm lịch) chị và anh Phi thỏa thuận chia tay Chị để anhPhi sở hữu, sử dụng toàn bộ tài sản chung của chị và anh Phi, anh Phi thanhtoán cho chị số tiền 25.500.000đồng, có viết văn bản chia tài sản, anh Phi đãthanh toán đủ số tiền cho chị, nhưng đến nay giấy tờ đó đã mất

Tháng 9-2002, chị và anh Phi quay lại chung sống với nhau Chị đã mang

số tiền 25.500.000đồng về, vợ chồng đã mang tiền để đi mua đất, nhưng khôngmua được, số tiền đó vợ chồng đã chi tiêu chung và nuôi con Tháng 12-2003,

Trang 11

vợ chồng chị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất156m2 mang tên chủ hộ anh Phạm Hồng Phi gồm diện tích đất anh Phi có trướckhi chị và anh Phi chung sống như vợ chồng và khoảng 40m2 đất chị và anhPhi mua của bà Hậu Năm 2003, vợ chồng mua 01 xe máy Oriental Năm 2006,

vợ chồng đã xây tầng 2, ốp lại tường bên trong, bên ngoài của tầng 1 Năm

2016, vợ chồng trát lại tường tầng 1 mặt phía Bắc bên ngoài của ngôi nhà, ốplát lại nhà ăn, đôn, lát sân bằng gạch đỏ, ốp cầu thang, làm mái tôn hiên nhà,lợp ngói pro chống nóng bếp Năm 2016, vợ chồng mua 01 bộ bàn ghế sa lông,

01 tủ lạnh TOSIBA Ngoài ra vợ chồng chị còn một số đồ dùng sinh hoạt tronggia đình, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

Chị xác định toàn bộ tài sản nêu trên (gồm 156m2 đất ở và toàn bộ tài sảngắn liền với đất cùng các tài sản là động sản) là tài sản chung của vợ chồng.Chị đề nghị Tòa án chia đôi tài sản chung của vợ chồng, chia cho chị bằng hiệnvật để chị có chỗ ăn ở nuôi con Còn ai sử dụng, sở hữu phần tài sản có giá trịcao hơn thì có trách nhiệm thanh toán chênh lệch giá trị bằng tiền cho bên kia

Về khoản nợ: Năm 2016, chị có vay con gái là Phạm Thị Hồng Xuân85.000.000đồng để xây, sửa nhà và mua sắm đồ dùng trong nhà; vay của anhLương Đức Hoàng số tiền 165.000.000đồng để nuôi hai con ăn học trong 3năm Các khoản vay này đều không có giấy tờ, văn bản Anh Phi biết khoảnvay của con gái, không biết khoản vay của anh Hoàng Hiện nay cháu Xuân vàanh Hoàng đều đang sinh sống tại Nhật Bản Mặc dù đã được Tòa án giải thíchquy định của pháp luật về giải quyết các khoản nợ, nhưng chị vẫn đề nghị Tòa

án xem xét giải quyết các khoản nợ trên cho chị đỡ thiệt thòi

Anh Phi và chị Tươi đều thống nhất về giá các tài sản tranh chấp mà Hộiđồng đã định giá gồm: Nhà ở tầng 1 tường 220 trị giá 65.762.000 đồng; nhà ởtầng 2 tường 220 trị giá 62.963.000 đồng, nhà dệt tầng 1 trị giá 26.322.000đồng; nhà ở tầng 2 tường 110 trị giá 41.498.000 đồng; sân phơi lợp tôn trị giá22.444.000 đồng; điện nước 15.055.000 đồng; 01 xe máy trị giá 2.000.000đồng; 01 tủ lạnh trị giá 1.000.000 đồng; bộ bàn ghế trị giá 15.000.000 đồng;các tài sản như: Cổng, tường giậu, nhà lợp pro phía đường, nhà bếp, bể nước

Trang 12

giá trị khấu hao đã hết; trị giá đất là 156 m2 x 6.000.000đồng/m2 =936.000.000đồng Tổng cộng trị giá toàn bộ tài sản tranh chấp là1.188.044.000đồng.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hàphát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết

vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý đếntrước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tốtụng dân sự Người tham gia tố tụng đã chấp hành cơ bản đúng các quy địnhcủa pháp luật tố tụng dân sự

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử cho ly hôn giữa anhPhi và chị Tươi Về nuôi con chung: Giao cháu Dương cho anh Phi nuôidưỡng, giao cháu Phương cho chị Tươi nuôi dưỡng, đôi bên không phải cấpdưỡng nuôi con cho nhau Anh Phi, chị Tươi được quyền thăm nom chăm sóccon chung mà không ai được cản trở

Về chia tài sản:

- Xác nhận 120 m2 đất ở trong thửa đất số 356/45, tờ bản đồ số 07,diện tích 156m2 tại khu Thị An -Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng

Hà, tỉnh Thái Bình và tài sản gắn liền với đất 02 gian nhà mái bằng diện tích 32

m2 là tài sản riêng của anh Phi

- Buộc anh Phi có trách nhiệm thanh toán công sức đóng góp của chịTươi trong 02 gian nhà tầng 1, diện tích 32m2 thuộc quyền sở hữu của anh Phi

số tiền là: 16.440.000đồng

- Giao cho anh Phi được quyền sở hữu và sử dụng tài sản chung củaanh Phi và chị Tươi gồm: 40m2 đất trong thửa số 356/45, tờ bản đồ số 07 diệntích 156m2 tại khu Thị An-Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà,tài sản gắn liền với thửa đất trên (gồm nhà dệt xây tường 110 tầng 1, nhà ở tầng

2, nhà bếp, bể nước, sân phơi, cổng, tường giậu, nhà lợp pro phía đường, hệthống điện nước) và các đồ dùng sinh hoạt: 01 xe máy, 01 tủ lạnh, bộ bàn ghế,

ở khu Thị An-Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà cho anh Phi sở

Trang 13

hữu sử dụng Tổng trị giá tài sản là: 426.282.000đ Anh Phi phải thanh toántiền chênh lệch trị giá tài sản chung cho chị Tươi là: 213.141.000đồng.

Chị Tươi được lưu cư tại nhà chia cho anh Phi sử dụng đến khi anhPhi thanh toán các khoản tiền xong cho chị Tươi

Về lệ phí, án phí: Anh Phi tự nguyện chịu cả 5.000.000đồng tiền lệ phí

đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản Miễn tiền án phí ly hôn sơthẩm và tiền án phí chia tài sản cho anh Phi Chị Tươi có đơn xin xem xét giảm

án phí chia tài sản, nên đề nghị Tòa án xem xét giảm án phí chia tài sản cho chịTươi theo quy định của pháp luật

vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

[3] Về hôn nhân: Anh Phi và chị Tươi kết hôn với nhau trên cơ sở tự

nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Hưng Nhân vào ngày

25-9-2002, đây là hôn nhân hợp pháp Trước đó anh Phi và chị Tươi chung sống vớinhau như vợ chồng từ năm 1990 nhưng không đăng ký kết hôn nên khôngđược coi là quan hệ hôn nhân Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận đếnnăm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng tính tìnhkhông hợp, vợ chồng không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi cọ nhau, hơnnữa chị Tươi có mâu thuẫn với gia đình anh Phi, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồngcàng trầm trọng Vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2018 đến nay, anh Phi đềnghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Tươi, mặc dù chị Tươi khôngmuốn vợ chồng ly hôn vì con cái, nếu anh Phi cố tình chị cũng chấp nhận Hộiđồng xét xử (HĐXX) xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh Phi, chị Tươi đã trầmtrọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được,

Trang 14

cần xử cho ly hôn giữa anh Phi và chị Tươi là phù hợp với quy định tại khoản 1Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về nuôi con chung: Anh Phi và chị Tươi có 04 con chung là Phạm Thị

Hồng Xuân, sinh năm 1990 và Phạm Thị Hồng Thu, sinh năm 1998, Phạm ThịHồng Phương, sinh ngày 04-12-2004 và Phạm Hồng Dương, sinh ngày 21-10-

2007 Hiện nay cháu Xuân, cháu Thu đã trưởng thành và tự lập về kinh tế nênkhông đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng Tại phiên tòa cháu Phương xin ở với chịTươi; cháu Dương xin ở với anh Phi HĐXX xét thấy cần tôn trọng nguyệnvọng của hai cháu Do vậy cần giao cháu Dương cho anh Phi nuôi dưỡng, giaocháu Phương cho chị Tươi nuôi dưỡng, đôi bên không phải cấp dưỡng nuôi concho nhau là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83-Luật Hôn nhân và giađình

nêu trên là do ông Phạm Hồng Nguyệt và bà Trần Thị Chớp (bố mẹ đẻ anh Phi)nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Duy Hiểu, bà Đinh Thị Hạt và tặng choanh Phi vào khoảng năm 1984-1985, sau đó anh Phi đã làm 02 gian nhà máibằng trên đất để ở Vì vậy cần xác định 120 m2 đất ở trong thửa đất số 356/45,

tờ bản đồ số 07, diện tích 156m2 tại khu Thị An -Tiền Phong, thị trấn Hưng

Trang 15

Nhân, huyện Hưng Hà và tài sản gắn liền với đất là 02 gian nhà mái bằng diệntích 32 m2 là tài sản riêng của anh Phi.

Năm 1990 anh Phi và chị Tươi chung sống với nhau như vợ chồng.Chị Tươi cho rằng khi về chung sống chị và anh Phi đã phải đi vay nợ lãi để trảtiền anh Phi còn nợ tiền mua đất, làm nhà, cụ thể: Trả bà Khúc Thị Hè 01 chỉvàng, anh Đỗ Văn Tụng 630.000 đồng tiền anh Phi mua gạch và đưa cho anhPhi 500.000đồng để trả tiền xi măng Mặc dù chị Tươi không cung cấp đượccăn cứ chứng minh cho yêu cầu của chị, nhưng anh Phi thừa nhận một phần làanh và chị Tươi có đi vay nợ để trả bà Hè 01 chỉ vàng, anh Tụng 1000 gạch giá50.000 đồng và chị Tươi đưa cho anh 300.000 đồng để anh trả tiền xi măng.Hơn nữa, anh Phi và chị Tươi đều thống nhất: năm 1996 anh, chị đã lát nềnnhà, mở rộng cửa và đóng toàn bộ cánh cửa nhà ở này Năm 2006 (lúc này đãkết hôn) vợ chồng ốp lại tường bên trong, bên ngoài Năm 2016 trát lại tườngtầng 1 mặt phía Bắc bên ngoài của ngôi nhà Như vậy mặc dù 02 gian nhà máibằng tầng 1 diện tích 32m2 là tài sản riêng của anh Phi (có trước khi anh chịchung sống với nhau như vợ chồng), nhưng xét thấy chị Tươi có công sức đónggóp cùng anh Phi trả nợ, sửa sang, duy trì, tôn tạo 02 gian nhà trên nên cầnphải tính công sức của chị Tươi tương đương bằng 1/4 trị giá hiện tại của 02gian nhà là hợp lý (65.762.000 đồng : 4 = 16.440.000 đồng)

Anh Phi và chị Tươi đều thừa nhận: Tháng 01-2001, anh Phi và chị Tươichia tay, hai bên thỏa thuận để anh Phi sở hữu toàn bộ tài sản chung của anhchị, anh Phi thanh toán cho chị Tươi số tiền 25.500.000đồng, anh Phi đã thanhtoán cho chị Tươi xong số tiền trên Chị Tươi trình bày, khi chị và anh Phiquay lại chung sống vào năm 2002 thì chị đã mang số tiền 25.500.000 đồng vềchi tiêu chung trong gia đình Mặc dù anh Phi không thừa nhận lời trình bàycủa chị Tươi, nhưng anh Phi vẫn chấp nhận những tài sản anh và chị Tươi đãtạo lập trong thời gian anh và chị Tươi chung sống như vợ chồng và sau khi kếthôn đến nay đều là tài sản chung Do vậy cần xác định khối tài sản sau đây làtài sản chung của anh Phi và chị Tươi: 40m2 đất ở (mua năm 1993) nằm trongthửa đất số 356/45, tờ bản đồ số 07, diện tích 156m2 tại khu Thị An -Tiền

Trang 16

Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà; tài sản gắn liền với thửa đất trêngồm: Nhà dệt xây tường 110 tầng 1, nhà ở tầng 2, nhà bếp, bể nước, sân phơi,cổng, tường giậu, nhà lợp pro phía đường, hệ thống điện nước và các đồ dùngsinh hoạt gồm: 01 xe máy Oriental, 01 tủ lạnh TOSIBA và bộ bàn ghế sa long.

[6] Về chia tài sản chung: HĐXX xét thấy không thể chia tài sản chung

cho chị Tươi bằng hiện vật theo yêu cầu của chị được, nên cần giao toàn bộ tàisản chung của anh Phi và chị Tươi cho anh Phi sở hữu và sử dụng Anh Phi cótrách nhiệm thanh toán cho chị Tươi ½ trị giá tài sản bằng tiền là phù hợp Cụthể: Trị giá khối tài sản chung là 426.282.000 đồng : 2 = 213.141.000đồng

[7] Về nợ: Chị Tươi trình bày, năm 2016 chị có vay con gái Phạm Thị

Hồng Xuân 85.000.000đồng để sửa nhà và mua sắm đồ dùng trong nhà; vaycủa anh Lương Đức Hoàng số tiền 165.000.000đồng để nuôi hai con ăn họctrong 3 năm Các khoản vay trên đều không có giấy tờ, văn bản Hiện nay chịXuân, anh Hoàng đang sinh sống tại Nhật bản Chị Tươi có nộp cho Tòa ánđơn đề nghị của chị Xuân và anh Hoàng nhưng đều nộp sau ngày Tòa án mởphiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tòa

án đã có thông báo trả lại đơn cho chị Xuân, anh Hoàng Do vậy Tòa án khôngxem xét giải quyết các khoản nợ này

[8] Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá: Anh Phi tự nguyện chịu cả

số tiền 5.000.000đồng lệ phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản

[9] Về án phí: Miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm và tiền án phí chia tài sản

cho anh Phi Giảm ½ án phí chia tài sản cho chị Tươi theo quy định của phápluật

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản

1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình Nghịquyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốchội về án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

Trang 17

1 Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Hồng Phi và chị Đoàn

Thị Tươi

2 Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Hồng Dương, sinh ngày

21-10-2007 cho anh Phi nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Thị Hồng Phương, sinhngày 04-12-2004 cho chị Tươi nuôi dưỡng; anh Phi, chị Tươi không phải cấpdưỡng nuôi con cho nhau Anh Phi, chị Tươi có quyền và nghĩa vụ thăm nomcon chung mà không ai được cản trở

3 Về chia tài sản:

3.1 Xác nhận 120 m2 đất ở trong thửa đất số 356/45, tờ bản đồ số 07,diện tích 156m2 tại khu Thị An-Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng

Hà, tỉnh Thái Bình và tài sản gắn liền với đất là 02 gian nhà mái bằng tầng 1diện tích 32 m2 là tài sản riêng của anh Phi

3.2 Buộc anh Phi có trách nhiệm thanh toán công sức đóng góp củachị Tươi trong 02 gian nhà tầng 1, diện tích 32m2 thuộc quyền sở hữu của anhPhi số tiền là: 16.440.000đồng (Mười sáu triệu bốn trăm bốn mươi nghìnđồng)

3.3 Giao cho anh Phi được quyền sở hữu và sử dụng tài sản chungcủa anh Phi và chị Tươi gồm: 40m2 đất ở trong thửa số 356/45, tờ bản đồ số 07diện tích 156m2 tại khu Thị An-Tiền Phong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng

Hà, tỉnh Thái Bình, tài sản gắn liền với thửa đất trên (gồm nhà dệt xây tường

110 tầng 1, nhà ở tầng 2, nhà bếp, bể nước, sân phơi, cổng, tường giậu, nhà lợppro phía đường, hệ thống điện nước) và các đồ dùng sinh hoạt: 01 xe máyOriental, 01 tủ lạnh TOSIBA và bộ bàn ghế sa long ở tại khu Thị An-TiềnPhong, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà cho anh Phi sở hữu sử dụng Tổngtrị giá tài sản là 426.282.000đồng Anh Phi phải thanh toán tiền chênh lệch trịgiá tài sản chung cho chị Tươi là: 213.141.000đồng (Hai trăm mười ba triệumột trăm bốn mươi mốt nghìn đồng)

4 Chị Tươi được lưu cư tại nhà chia cho anh Phi sử dụng đến khi anhPhi thanh toán các khoản tiền xong cho chị Tươi

Trang 18

5 Về lệ phí: Anh Phi tự nguyện chịu cả 5.000.000đồng tiền lệ phí đođạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản (anh Phi đã nộp đủ).

6 Về án phí: Miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm và tiền án phí chia tàisản cho anh Phi Chị Tươi phải chịu 5.740.000đồng (Năm triệu bẩy trăm bốnmươi nghìn đồng) tiền án phí chia tài sản

7 Anh Phi, chị Tươi có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngàytuyên án sơ thẩm

Nơi nhận:

- Đương sự

- VKSND huyện Hưng Hà;

- Chi cục THA huyện Hưng Hà;

- UBND thị trấn Hưng Nhân;

- Lưu hồ sơ.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

*Bản án số 72/2021/ HNGĐ- ST ngày 16-6-2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Trang 19

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1 Ông Đinh Ngọc Phúc

2 Bà Quách Thị Anh Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Đức - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà,tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2001/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theoQuyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2021/QĐXX-ST ngày 01 tháng 9 năm

2021 giữa các đương sự:

1 Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn Tộc, sinh năm 1963 Địa chỉ: Tổ dân phố

Vân Đông, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

2 Bị đơn: Bà Thái Thị Hiền, sinh năm 1965

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Vân Đông, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng

Hà, tỉnh Thái Bình

Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Xuân Trúc - Kiều Thạch, thị trấn Hưng Nhân,huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

3 Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1 Ông Đỗ Thanh Dân, sinh năm 1950, Địa chỉ: Thôn Khánh ThànhNam, xã Suối Cát, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa

- Người đại diện theo 1 quyền cho ông Đỗ Thanh Dân: Bà Đỗ Thị Chủ,

sinh năm 1955; Địa chỉ: Số 48B, tổ 14, phường Sông Hiên, thành phố CaoBằng, tỉnh Cao Bằng

3.2 Bà Đỗ Thị Khéo, sinh năm 1953, Địa chỉ: Tổ dân phố Vân Đông, thịtrấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Trang 20

3.3 Bà Đỗ Thị Chủ, sinh năm 1955; Địa chỉ: Số 48B, tổ 14, phường SôngHiến, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

3.4 Chị Đỗ Thị Tuyền, sinh năm 1984

3.5 Anh Hà Văn Tiến, sinh năm 1980 Đều ở địa chỉ: Khu Xuân Trúc Kiều Thạch, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Người đại diện theo ủy quyền cho anh Hà Văn Tiến: Chị Đỗ Thị Tuyền.

sinh năm 1984

3,6, Ông Nguyễn Văn Cừ, sinh năm 1953: Địa chỉ: Tổ dân phố khu Đầu,thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

3.7 UBND thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Quang Tứ - Chức vụ Chủ tịchUBND thị trấn Hưng Nhân

(Ông Tộc, bà Hiền, chị Tuyền có mặt; bà Chủ, bà Khéo, ông Cự và ông

Tứ xin văng Imặt)

Trang 21

Về con chung: Ông và bà Hiền có 05 con chung là Đỗ Thị Tuyền, sinhnăm 1984, Đỗ Thị Hòa, sinh năm 1987, Đỗ Thị Hồng và Đỗ Thị Tâm đều sinhnăm 1989 và Đỗ Thanh Tùng, sinh năm 1999 Tất cả các con chung đều đãtrưởng thành và tự lập về kinh tế nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng ông có những tàisản chung sau: Có (04 gian nhà xây trong đó 03 gian nhà xây lợp ngói xi măng,hiện đồ mái bằng và 01 gian thờ, 1/3 gian thỏ đổ mái bằng để làm gác xép, trênbắn mái tôn, Nhà được xây dựng năm 1999, phần mái tôn được làm năm 2010;

01 lán tôn làm năm 2015; 01 bể nước xây năm 1999; 02 gian bếp lợp ngói ximăng xây dựng năm 1999; 02 gian lán (nhà xay xát) lợp ngói xi măng xâydựng năm 2015; Tường dậu, bờ ao xây năm 1993; tường dậu hoa trước nhà xâynăm 2001; 01 giếng đào; 01 chuồng chăn nuôi, 01 miếu thờ xây Ngoài ra vợchồng còn trồng được các cây như sau: 01 cây bơ, 03 cây mít, 01 cây nhãn, 03cây bưởi, 03 cây xoài, 14 cây cau, 06 chậu xanh Toàn bộ các công trình và cáccây trên được xây dựng và trồng trên diện tích đất ở và đất ao theo Tòa án đođạc ngày 19-8-2021 là 854,4 m ở tại tổ dân phố Vận Đông, thị trấn HưngNhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Ông nhất trí với kết quả đo đạc, xemxét thẩm định và định giá tài sản ngày 19-8-2021 của Tòa án nhân dân huyệnHưng Hà Về nguồn gốc các công trình xây dựng và các cây trồng trên đất nêutrên là do vợ chồng ông tạo lập được trong quá trình chung sống Nguồn gốcdiện tích đất ở và đất ao trên là của bố mẹ để ông là cụ Đỗ Văn Múa, chết năm

1990 và bà Nguyễn Thị Út chết năm 1987 để lại, bố mẹ ông không để lại dichúc cũng chưa định đoạt cho ai diện tích đất này, chưa cho vợ chồng ông Từkhi bố mẹ ông chết vợ chồng sinh sống trên diện tích đất này và vợ chồng ông

là người thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với nhà nước Nếu Tòa án giảiquyết cho ông và bà Hiền ly hôn ống đề nghị được sở hữu toàn bộ nhà và cáccông trình xây dựng cũng như toàn bộ cây cối trên đất, ông có trách nhiệmthanh toán cho bà Hiền giá trị chênh lệch tài sản theo giá mà hội đồng định giá

đã định giá toàn bộ tài sản là 200.244.658 đồng : 2 = 100.122.329 đồng

Trang 22

Về di sản của bố mẹ ông để lại gồm: 02 cây nhãn (trị giá mỗi cây2.000.000 đồng, hai cây là 4.000.000 đồng) và toàn bộ diện tích đất ở và đất aocủa bố mẹ ông để theo Tòa án đo đạc ngày 19-8-2021 là 854,4 m thuộc quyền

sở hữu của anh chị em ông, ông đề nghị Tòa án không phân chia trong vụ án lyhôn giữa ông và bà Hiền, đề nghị Tòa án xác định đất ở và đất ao, 02 cây nhãntrên là di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại, không đề nghị Tòa án phân chia disản thừa kế và giao cho ông được quyền quản lý, sử dụng để chị em ông đi vềhương hoa cho các cụ Ông từ chối yêu cầu tính công sức của ông trong việcduy trì và tôn tạo toàn bộ diện tích đất ở và đất ao được xác định là di sản thừa

kế của bố mẹ ông Bố mẹ đẻ ông sinh 04 người con gồm: Ông Đỗ Thanh Dân,

Bà Đỗ Thị Khéo, Bà Đỗ Thị Chủ và ông (Đỗ Văn Tộc) Ngoài ra bố mẹ ôngkhông có người con riêng hay con nuôi nào

Về nợ chung: Trong quá trình chung sống ông và bà Hiền có vay củaNgân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn phòng giao dịch thị trấn HưngNhân số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), ông không nhớ rõ nămnào nhưng khoán nợ này vợ chồng ông đã thanh toán trả cho Ngân hàng, hiệnnay không còn nợ nữa, ông không còn tài liệu nên không xuất trình cho Tòa ánđược Bà Hiền trình bày bả Hiện có vay của ông Nguyễn Văn Cự ở tổ dân phốDầu, thị trấn Hưng Nhân số tiền 50.000.000 đồng để trả cho Ngân hàng Nôngnghiệp phát triển nông thôn khu vực thị trấn Hưng Nhân khi đến hạn trả nợ.Ông xác định ông không vay của ông Cự khoản tiền nào như bà Hiền trình bàynên không có trách nhiệm thanh toán tra cho ông Cự Vợ chồng ông có vay củaQuỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hưng Nhân số tiền 150,000,000 đồng (Mộttrăm năm mươi triệu đồng) vào năm nào ông không nhớ rõ những khoản vaynày đã được vợ chồng ông trả cho Quỹ tín dụng, đến nay không còn khoản nợnào đối với Quỹ tín dụng Việc bà Hiền khai vay của con gái và con rể là ĐỗThị Tuyền và Hà Văn Tiến ở khu Châu, thị trấn Hưng Nhân số tiền110.000.000 đồng để trả nợ gốc và 26.768.000 đồng để trả nợ lãi cho Quỹ tíndụng , ông xác định ông không vay của chị Tuyền và anh Tiên khoản tiền nàonên không có trách nhiệm trả nợ cho chị Tuyền và anh Tiên như chị Tuyền yêu

Trang 23

cầu Bà Hiền khai vợ chồng có vay của Ngân hàng chính sách xã hội phònggiao dịch huyện Hưng Hà thông qua Hội phụ nữ thị trấn Hưng Nhân số tiền là50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) Sau đó của chị Tuyền và anh Tiếncho vợ chồng ông vay để trả số nợ trên Ông xác định việc bà Hiền vay của Hộiphụ nữ hay vay của chỉ Tuyền, anh Tiến thời gian nào ông không biết nên ôngkhông không có trách nhiệm trả cho chị Tuyền và anh Tiến số tiền 93.384.000công như chị Tuyền anh Tiến về, cầu Việc bà Hiền trình bày bà Hiển tự trả nợ

số tiền 40.000.000 đồng tiền cho Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hưng Nhân và50.000.000 đồng vay có Cự để trả cho Ngân hàng nông nghiệp và 4,900,000đồng tiền lãi cho N nông nghiệp, tổng số tiền là 94.900.000 đồng, bà Hiền yêucầu ông phải trả một 1/2 số tiền là 47.453.000 đồng ông không nhất trí vì mặc

dù vợ chồng sống thân nhưng tiền của bà Hiền cũng là tiền chung của vợchồng Ông xác định những khoản vay trên đều ghi trong hợp đồng vay là phục

vụ sinh hoạt đời sống hàng ngày nhưng khi nhận tiền về bà Hiền sử dụng mụcđích gì ông không biết vì chi tiêu hàng ngày là do bà Hiền cầm tiền, ông khônggiao nộp thêm cho Tòa án tài liệu chứng cử nào

Tại các bản tự khai và tại phiên tòa, bị đơn bà Thái Thị Hiền trình bày:

Về hôn nhân: Bà nhất trí với trình bày của ông Đỗ Văn Tộc về thời gian,điều kiện và hoàn cảnh kết hôn như ông Tộc trình bày Sau khi kết hôn vợchồng chung sống hòa thuận đến năm 1996 thì phát sinh mâu thuẫn Nguyênnhân mâu thuẫn chủ yếu do ông Tộc thường xuyên chơi bời lô đề, rượu chè,tính tình gia trưởng nên không bảo bạn được nhau trong cuộc sống hàng ngày,hay xảy ra đảnh, cãi, chửi nhau Bà đã cố gắng khắc phục nhiều nhưng ông Tộctính gia trưởng nên rất nhiều lần đánh gây thương tích cho bà khiến bà phải điđiều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện và tỉnh Nhất là vào năm 2017, không biết

vì lý do gì ông Tộc chửi và đánh bà, cắt một bên tại của bà nhưng bà nghĩ vìcác con nên tôi không làm đơn gửi đến các cơ quan có thẩm quyền Sau khiđiều trị xong, bà không dám về chung sống cùng ông Tộc nữa, bà và ông Tộcsống ly thân từ tháng 4 năm 2018 đến nay Nay bà xác định tình cảm vợ chồnggiữa bà và ông Tộc không còn, ông Tộc có đơn xin ly hôn bà nhất trí ly hôn

Trang 24

Về nuôi con chung: Bà nhất trí với trình bày của ông Tộc về họ tên, nămsinh của các con Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành và tự lập vềkinh tế nên không đặt ra yêu cầu giải quyết.

Về chia tài sản chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có những tàisản chung sau: Có 04 gian nhà xây trong đó 03 gian nhà xây lợp ngói xi măng,hiên mái đổ mái bằng và 01 gian thờ, 1/3 gian thỏ đổ mái bằng để làm gác xép,trên bãn mải tôn Nhà được xây dựng năm 1999, phần mái tôn được làm năm2010; 01 lán tôn làm năm 2015; 01 bể nước xây năm 1999; 02 gian bếp lợpngói xi măng xây dựng năm 1999; 02 gian lán (nhà xay xát) lợp ngói xi măngxây dựng năm 2015; Tường dậu, bờ 40 xây năm 1993; tường dậu hoa trước nhàxây năm 2001; 01 giêng đào; 01 chuồng chăn nuôi, 01 miếu thờ xây Ngoài ra

vợ chồng còn trồng được các cây như sau: 01 cây bơ, 03 cây mít, 01 cây nhăn,

03 cây bưởi, 03 cây xoài, 14 cây cau, 06 chậu xanh Toàn bộ các công trình vàcác cây trên được xây dựng và trồng trên diện tích đất ở và đất ao theo Tòa án

đo đạc ngày 19-8-2021 là 854,4 m ở tại tổ dân phố Vân Đông, thị trấn HưngNhãn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Bà nhất trí với kết quả đo đạc, xem xétthẩm định và định giá tài sản ngày 19-8-2021 của Tòa án nhân dân huyệnHưng Hà Về nguồn gốc các công trình xây dựng và các cây trồng trên đất nêutrên là do vợ chồng bà tạo lập được trong quá trình chung sông Nguồn gốcdiện tích đất ở và đất ao trên là của bố mẹ chồng bà là cụ Đỗ Văn Múa, chếtnăm 1990 và bà Nguyễn Thị Út chết năm 1987 để lại, bố mẹ chồng bà đã cho

vợ chồng bà diện tích đất trên nhưng không có văn bản giấy tờ gì Từ khi bị mẹchồng bà chết, vợ chồng sinh sống trên diện tích đất này và là người thực hiệnnghĩa vụ nộp thuế đất đối với nhà nước

Nếu Tòa án giải quyết cho bả và ông Tộc ly hôn bà đề nhường ông Tộcđược sở hữu nhà và các công trình xây dựng cũng như toàn bộ cây cối trên đất,ông Tộc có trách nhiệm thanh toán cho bà giá trị chênh lệch tài sản theo giá màhội đồng định giá đã định giá toàn bộ tài sản là 200.244.658 đồng : 2=100.122.329 đồng

Trang 25

Về diện tích đất ở và đất ao của bố mẹ chồng bà để theo Tòa án đo đạcngày 19-8-2021 là 854,4 m bà không đề nghị Tòa án phân chia trong vụ án lyhôn giữa bà và ông Tộc, đề nghị Tòa án không phân chia di sản thừa kế và giaocho ông Tộc được quyền quản lý, sử dụng để các con cháu đi về hương hoacho các cụ Bà đề nghị Tòa án xem xét công sức của của bà trong việc duy trì,tôn tạo diện tích đất ở và đất ao do bố mẹ chồng bà để lại bằng 1/2 suất thừa

kế, đề nghị Tòa án buộc những người được hưởng di sản thừa kế có tráchnhiệm thanh toán trị giá thành tiền cho bà Trị giá di sản thừa kế của bố mẹchồng bà là 02 cây nhãn = 4.000.000 đồng bà không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Tộc có vay nhữngkhoản sau: Ngày 24-8-2016, vay của Ngân hàng chính sách xã hội phòng giaodịch huyện Hưng Hà thông qua hội phụ nữ thị trấn Hưng Nhân số tiền là50.000.000 đồng Ngày 11-10-2017 vay của Ngân hàng Nông nghiệp phát triểnnông thôn phòng giao dịch thị trấn Hưng Nhân số tiền 50.000.000 đồng Ngày17-11-2017 vay của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hưng Nhân số tiền là150.000.000 đồng, mục đích của các khoản vay trên đều là tu sửa nhà cửa, muamáy móc để sản xuất (máy xay, sát, máy đùn cảm) Sau khi vợ chồng sông lythân các khoản vay trên đến hạn trả nợ, ông Tộc không trả, các cơ quan chovay liên tục đôn đốc bà trả nợ nên con gái và con rể bà là chị Tuyền và anhTiên phải cho vợ chồng bà vay số tiền 50.000.000 đồng để trả nợ cho Ngânhàng chính sách xã hội Việt Nam phòng giao dịch thị trấn Hưng Hà, số tiền lãicủa khoản vay này bà là người đứng ra trả 12.600.000 đồng Khoản nợ của quỹtín dụng nhân dân thị trấn Hưng Nhân chị Tuyền và anh Tiến trả nợ số tiền110.000.000 đồng tiền gốc và 26,768.000 đồng tiền lãi, tổng là 136.768.000đồng, số tiền gốc còn lại 40.000.000 đồng bà trực tiếp phải trả cho Quỹ tíndụng Tổng số tiền chị Tuyền và anh Tiến trả nợ hộ cho vợ chồng bà là186.768.000 đồng Số tiền nợ của Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thônphòng giao dịch thị trấn Hưng Nhân vào ngày 02-01-2018, bả phải vay của ông

Cự số tiền 50.000.000 đồng để trả nợ gốc (khi vay có viết giấy nhưng bà đãlàm mất nên không xuất trình cho Tòa án được) và bản thân bà phải thanh toán

Trang 26

trả lại cho Ngân hàng là 4.900.000 đồng Đến nay toàn bộ những khoản vaytrên đã được thanh toán cho Ngân hàng nông nghiệp, Quỹ tín dụng nhân dânthị trấn Hưng Nhân và Ngân hàng chính sách xã hội Nếu ly hôn bà đề nghịTòa án buộc ông Tộc phải | trả cho chị Tuyển và anh Tiến số tiền là 93.384.000đồng; trả cho bà 1/2 số tiền bà đã vay và trả gồm: 50.000.000 đồng vay của ông

Cự + 4.906.000 đồng tiền trả lãi cho Ngân hàng nông nghiệp + 40.000.000đồng tiền gốc trả cho Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hưng Nhân, tổng =94.900.000 đồng vì mục đích các khoản vay trên là vay để mua máy mócnhưng ông Tộc không làm nữa và đã bán máy đi nên ông Tộc phải có tráchnhiệm thanh toán trả lại cho bà số tiền là 47.453.000đồng Còn số tiền lãi bà đãtrả cho Ngân hàng chính sách xã hội và một số khoản bà vay bên ngoài bàkhông yêu cầu Tòa án giải quyết Bà xác định bà và ông Tộc không vay của chịgái ông Tộc là bà Chủ số tiền nào

Tại các biên bản ghi lời khai và các đơn đề nghị và đơn đề nghị xét xử văng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Chủ trình bày:

Bố mẹ để bà là cụ Đỗ Văn Múa (chết năm1990) và cụ Nguyễn Thị Út chếtnăm 1987, bố mẹ bà sinh 04 người con gồm: Ông Đỗ Thanh Dân, Bà Đỗ ThịKhéo, ông Đỗ Văn Tộc và bà (Đỗ Thị Chủ) Bố mẹ bà không có người conriêng hay con nuôi nào Trước khi chết bố mẹ bà không để lại di chúc gi Khicòn sống bố mẹ bà có diện tích đất ở, đất vườn và đất ao ở thôn Vân Đông, xãPhú Sơn cũ nay là tổ dân phố Vân Đông, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà,tỉnh Thái Bình Theo đo đạc bản đồ 299 năm 1986 diện tích đất này thể hiện tạithửa đất ở số 559, tờ bản đồ số 5, diện tích 350 m ghi tên người sử dụng cụMúa và diện tích đất 40 tại thửa số 560, tờ bản đồ số, diện tích 235 m ghi tênngười sử dụng cụ Múa Đến năm 2007 đo đạc, xác định ranh giới, mốc giớitheo hiện trạng đang sử dụng thì diện tích đất nêu trên thể hiện tại số thửa 336,

tờ bản đồ địa chính số 7 diện tích là 434,1 m gồm loại đất ở và đất lâu nămkhác và số thửa 337 cùng ở tờ bản đồ địa chỉnh số 07, diện tích là 425,6 m loạiđất ao, địa chỉ ở thôn Vân Đông, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnhThái Bình ghi tên người sử dụng ông Đỗ Văn Tộc Đến ngày 19-8-2021, Tòa

Trang 27

án đo đạc thẩm định thì diện tích đất ở và đất ao trên có tổng diện tích là844m Toàn bộ diện tích đất trên khi bố mẹ bà mất đi ông Tộc và bà Hiền sửdụng Nay ông Tộc và bà Hiển ly hôn, bà đề nghị Tòa án giải quyết phân tàisản mà vợ chồng ông Tộc bà Hiền tạo dựng được trên đất theo quy định củapháp luật Đối với tổng diện tích đất ở và đất vườn, ao mà ông Tộc và bà Hiệnđang sử dụng, bố mẹ đẻ bà chưa phân chia định đoạt cho ai nên bà đề nghị Tòa

án xác định toàn bộ diện tích đất ở, đất vườn và đất ao theo số liệu mà Tòa án

đã đo đạc ngày 19-8-2021 là 844 m là di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại (vìdiện tích đất này không có tranh chấp gì về ranh giới, mốc giới với các hộ liền

kề, không chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng, tặng cho diện tích đất nào, sửdụng từ thời bố mẹ bà đến nay đã hàng trăm năm); bà không đề nghị Tòa ánphân chia khối di sản thừa kế là diện tích đất ở và đất ao nêu trên Bà Khéo làchị gái bà đã từ chối nhận di sản thừa kế này nên bà, ông Dân và ông Tốc đãthống nhất và đề nghị Tòa án giao quyền quản lý về đất đai cho ông Tộc, ôngTộc có trách nhiệm trong nom và hương khói cho gia tiên, ông Tộc khôngđược thực hiện quyền cầm cố, chuyển nhượng, tặng cho ai phản diện tích đất là

di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại

Về số tiền chi phí thẩm định tài sản theo quyết định thẩm định ngày

22-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, bà tự nguyện chịu toàn bộ chi phíthẩm định này, không phân chia cho ai

Vì tình hình dịch bệnh phức tạp và đi lại khó khăn nên bà đề nghị Tòa áncho bà được văng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa ông Tộc và bàHiền

Tại các đơn đề nghị và đơn đề nghị ghi ngày 20-7-2021, người có quyềnlợi và nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Thanh Dân trình bày: Ông Dân trình bày nộidung như bà Đỗ Thị Chủ trình bày

Tại biên bản ghi lời khai, đơn xin xét xử và giải quyết vắng mặt ngày 8-2021, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Đỗ Thị Khéo trình bày:

30-Bà đã được Tòa án cho xem văn bản từ chối nhận di sản ghi ngày 12-7-2021 do

bà Đỗ Thị Chủ giao nộp cho Tòa án, bà xác định nội dung, chữ ký chữ viết

Trang 28

trong mục ghi “Người từ chối nhận di sản” là chữ ký và chữ viết của bà Bàđược biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa ông Đỗ Văn Tộc và bà TháiThị Hiền, có giải quyết tài sản liên quan đến diện tích đất do cụ Múa và cụ Út

là bố mẹ đẻ bà để lại gồm thửa đất ở số 559, diện tích 350 m và thửa đất ao số

560, diện tích 235 m tại khu Vân Đông, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà,tỉnh Thái Bình hiện nay diện tích đất này do ông Tộc và bà Hiện đang sử dụng.Nếu Tòa án giải quyết về diện tích đất bà trình bày ở trên, bà từ chối nhận disản thừa kể do bố mẹ bả để lại là 02 thửa đất trên Vì sức khỏe yếu, không đilại được nên bà đề nghị Tòa án cho bà được vãng mặt tại các buổi làm việc,vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa ông Tộc và bà Hiền

Tại đơn đề nghị và bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa,người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị Tuyền trình bày: Chị làcon chung của ông Đỗ Văn Tộc và bà Thái Thị Hiền Vào năm 2017 do bố mẹchị có vay của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hưng Nhân số tiền 150,000,000đồng, đến hạn tra nợ, bố mẹ chị sống ly thân nên Quỹ tín dụng nhiều lần đônđốc vợ chồng chị trả nợ cho bố mẹ chị nên vợ chồng chị (chị và anh Hà VănTiến) cho ông Tộc và bà Hiền vay số tiền 110.000.000 đồng + 26.768.000đồng, chị và anh Tiến đã trả nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Hưng Nhân

số tiền gốc và lãi, cụ thể như sau: Vào ngày 29-11-2018 trả 20.000.000 đồngtiền gốc, ngày 26-8-2019 trả 30.000.000 đồng tiền gốc, ngày 21-11-2019 trả60.000.000 đồng tiền gốc và 26.768.000 đồng tiền lãi Nguồn gốc số tiền vợchồng chị cho vay trên là do vợ chồng chị vay của Quỹ tín dụng nhân dân thịtrấn Hưng Nhân để trả nợ cho khoản vay của ông Tộc và bà Hiền Ngoài ra vàonăm 2019 vợ chồng chị còn cho ông Tộc và bả Hiển số tiền vay là 50.000.000đồng để trả Ngân hàng chính sách xã hội (thông qua Hội phụ nữ thị trấn HưngNhân), số tiền này cũng do chị trực tiếp đi trả cho Ngân hàng, Tổng số tiền vợchồng chị đã trả cho ông Tộc và là 186.768.000 đồng Nếu Tòa án giải quyết

vụ án ly hôn giữa ông Tộc và bà Hiền chị đề nghị như sau: Số tiền vợ chồngchị cho ông Tộc và bà Hiền vay là 186,768.000 đồng chia đôi cho ông Tộc và

bà Hiển, ông Tộc và bà Hiền có trách nhiệm trả cho vợ chồng chị mỗi người

Trang 29

phải trả số tiền là 93.384.000 đồng Chị yêu cầu Tòa án buộc ông Tộc phải trảcho vợ chồng chị số tiền 93.384.000 đồng, khoản tiền bà Hiền phải trả thì vợchồng chí và bà Hiền tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết Số tiền

vợ chồng chị cho ông Tộc và bà Hiền vay không viết giấy vay nợ giữa hai bên,chị là người trực tiếp đứng ra thanh toán trả nợ số tiền trên cho Quỹ tín dụngnhân dân thị trấn Plug Nhân, Ngân hàng chính sách xã hội huyện Hưng Hà,ông Tộc và bà Hiền không đưa cho vợ chồng chị bất cứ khoản tiền nào để vợchồng chị trả cho Ngân hàng chính sách và Quỹ tín dụng

Tại đơn đề nghị, biên bản ghi lời khai và đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Cự trình bày: Ông là chủ rể của bà Thái Thị Hiền, vào khoảng giữa năm 2018, ông cho

bà liền vay số tiền 50.000.000 đồng, khi vay giữa ông và bà Hiền có viết giấybiên nhận và giấy này do bà Hiền cầm, hai bên có thỏa thuận về tính lãi Nay

bà Hiền và ông Tộc ly hôn, ông đề nghị Tòa án buộc bà Hiền phải trả cho ổng

số tiền đã vay là 50.000.000 đồng tiền gốc, số tiền lãi ông không yêu cầu Tòa

án giải quyết

Tại biên bản xác minh ngày 27-8-2021 và đơn đề nghị giải quyết và xét xívàng mặt, ông Đặng Quang Tứ trình bày: Theo số sách lưu trữ tại UBND thịtrấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thể hiện: Diện tích đất hiệnnay ông Dô Văn Tộc và bà Thái Thị Hiền đang sử dụng tại khu Vân Đông, thịtrấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình theo bản đồ 299 năm 1986thể hiện tại thưa đất ở số 559, tờ bản đồ số 5 diện tích 350 m’ ghi tên người sửdụng cụ Múa (là bố đẻ ông Tộc) và diện tích đất ao tại thửa số 560, tờ bản đồ

số 5, diện tích 235 m ghi tên người sử dụng cụ Múa Trước năm 1986 thì diệntích đất ở và đất ao trên có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của ai thì địaphương không lưu trữ được các loại giấy tờ gì

Đến năm 2007 theo quy định của cơ nhà nước, chính quyền địa phương

đo đạc, xác định ranh giới, mốc giới theo hiện trạng đang sử dụng để lập bản

đồ địa chính thì diện tích đất nêu trên thể hiện tại sổ thừa 336, tờ bản đồ địachính số 7 diện tích là 434,1 m gồm loại đất ở và đất lâu năm khác và số thửa

Trang 30

337 cùng ở tờ bản đồ địa chính số 07, diện tích là 425,6 m loại đất ao địa chỉ ởthôn Vân Đồng, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ghi tênngười sử dụng chủ hộ ông Đỗ Văn Tộc Khi đo đạc hiện trạng để lập bản đồđịa chính năm 2007 gia đình ông Tộc và các hộ liền kê ký xác nhận ranh giớihiện trạng sử dụng đất Trong quá trình sử dụng đất gia đình ông Tộc và bàHiền không có tranh chấp gì về ranh giới, mốc giới với các hộ liền kề, khôngchuyển nhượng, nhận chuyển nhượng, tặng cho diện tích đất nào Theo đo đạccủa Tòa án ngày 19-8-2021 thì diện tích đất ở là 427.3m2, diện tích đất ao là427,1 m2 Ông Tộc và bà Hiền nộp thuế đất hàng năm Diện tích đất ở và đất aotheo số liệu đo đạc 299 năm 1986 so với đo đạc năm 2007 và đo đạc hiện trạngtăng là do 02 nguyên nhân, thứ nhất do sai số trong quá trình đo đạc (giữa đothủ công và đo máy), thứ hai là do trong quá trình sử dụng ông Tộc và bà Hiền

đã lấn ra diện tích đất ao do UBND thị trấn Hưng Nhân quản lý về phía đất là145,6 m2 Căn cứ UBND thị trấn Hưng Nhân xác định ông ông Tộc và bà Hiềnlấn ra diện tích đất thuộc quản lý của thị trấn Hưng Nhân vì dựa theo bản đồ đođạc 299 và tỷ lệ bản đồ địa chính năm 1986 so với thực trạng cách lưu trữ tạiUBND thị trấn Hưng Nhân Nếu Tòa án giải quyết vụ án ly hôn giữa ông Tộc

và bà Hiền, giải quyết về diện tích đất thì diện tích đất ao lần chiếm trên thuộcquyền quản lý của Ủy ban nhân dân thị trấn Hưng Nhân UBND thị trấn HưngNhân không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này, UBND thị trấn HưngNhân sẽ giải quyết về phần diện tích đất do UBND thị trấn Hưng Nhân quản lývới người sử dụng đất theo quy định của pháp luật Vì công việc bận nên ông

Tử đề nghị Tòa án cho ông được vắng mặt tại các buổi làm việc, văng mặt tạiphiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa ông Tộc và bà Hiển

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh TháiBình giám sát sự tuân theo pháp luật tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quátrình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thuthập chứng cử và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tốtụng mà pháp | luật quy định, các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụđúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Về việc giải quyết vụ án:

Trang 31

[2] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà thụ lý vụ án dân sự số139/TLST- HNGĐ, ngày 26-5-2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và giađình” Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án giải quyết quan hệ tài sản cóliên quan đến vụ án dân sự thụ lý số 26/TLST-DS, ngày 21-10-2020 về việc

“Chia thừa kế” có liên quan đến quan hệ tài sản trong vụ án hôn nhân và giađình vì vậy ngày 16-72021, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà đã nhập vụ ándân sự thụ lý số 26/TLSTDS, ngày 21-10-2020 vào vụ án dân sự số 139/TLST-HNGĐ, ngày 26-5-2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” để giảiquyết trong cùng vụ án

Trong quá trình chuẩn bị xét xử bà Khéo, bà Chủ, ông Cừ và ông Tử lànhững người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin giải quyết và xét

xử văng mặt vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tạikhoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

[3] Về hôn nhân: Ông Đỗ Văn Tộc kết hôn với bà Thái Thị Hiền tựnguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã xã Phú Sơn (cũ) nay là thị trấn HưngNhân vào ngày 27-01-1984, là hôn nhân hợp pháp Sau khi kết hôn, vợ chồngchung sống hóa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân do

vợ chồng bất đồIg quan điểm sống, hay xảy ra đánh cãi chữi nhau, đôi bênkhông khắc phục được và đã ly thân từ tháng 4 năm 2018 đến nay, Nay ôngTộc khởi kiện xin ly hôn, bà liền nhất trí thuận tình ly hôn Xét mâu thuẫn vợchồng giữa ông Tộc và bà Hiền đã trân trọng, cuộc sống chung không thể kéodài, mục đích hôn nhân không đạt được Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của ông

Trang 32

Tộc, xử cho ông Tốc được ly hôn bả Hiền lă phù hợp với quy định tại khoản 1Điều 56 Luật hôn nhđn vă gia đình.

[4] Về nuôi con chung: Ông Tộc vă bă Hiền có 05 con chung lă Đỗ ThịTuyển, sinh năm 1984, Đỗ Thị Hòa, sinh năm 1987, Đỗ Thị Hồng vă Đỗ ThịTđm đều sinh năm 1989 vă Đỗ Thanh Tùng, sinh năm 1999 Tất cả câc conchung đều đê trưởng thănh vă tự lập về kinh tế nín không đặt ra yíu cầu giảiquyết

[5] Về chia tăi sản chung: 5.1 Về tăi sản;

* Đối với diện tích đất ông Tộc vă bă Hiền đang sử dụng ở tổ dđn phốVđn Đông, thị trấn Hưng Nhđn, huyện Hưng Hă, tỉnh Thâi Bình: Ông Tộc, băHiền, bă Chủ, bă Khĩo, ông Dđn đều xâc định nguồn gốc diện tích đất nói trín

lă của cụ Múa vă cụ Út để lại, chưa định đoạt cho ai, bă Hiền không đề nghịTòa ân giải quyết phđn chia về diện tích đất năy; UBND thị trấn Hưng Nhậncung cấp về nguồn gốc diện tích đất níu trín theo bản đồ 299 năm 1986 thểhiện tại thửa đất ở số 559, tờ bản đồ số 5 diện tích 350 m ghi tín người sử dụng

cụ Múa (lă bố đẻ ông Tộc) vă diện tích đất ao tại thửa số 560, tờ bản đồ số,diện tích 235 m ghi tín người sử dụng cụ Múa Theo số liệu đo đạc hiện trạngnăm 2007 thì diện tích đất năy thể hiện tại số thửa 336, tờ bản đồ địa chính số 7diện tích lă 434,1 m gồm loại đất ở vă đất lđu năm khâc vă số thửa 337 củng ở

tờ bản đồ địa chính số 07, diện tích lă 425,6 m2 loại đất ao ghi tín chủ hộ lẵng Đỗ Văn Tộc Theo đo đạc của Tòa ân ngăy 19-8-2021 thì diện tích đất ở lă427,3 m, diện tích đất ao lă 427,1 m

Trong quâ trình sử dụng đất ông Tộc vă bă Hiền đê lấn ra một phần diệntích đất ao do UBND thị trấn Hưng Nhđn quản lý, hơn nữa bă Hiền cũng trìnhbăy trong quâ trình sử dụng đất bă vă ông Tộc có lần ra diện tích đất ao doUBND thị trấn Hưng Nhđn quả lý Vì vậy trong tổng diện tích 854,4 m thì cómột phần diện tích đất lă 145,6 m2 lă diện tích đất do UBND thị trấn HưngNhđn quản lý (theo số liệu thể hiện trín bản đồ địa chính 299 vă số mục kể sovới số liệu do Tòa ân đo đạc ngăy 19-8-2021) Như vậy cần xâc định 708,8 mtrong đó có 350 m diện tích đất

Trang 33

có trị giá 350 m x 2.000.000 đồng = 700.000.000 đồng và 358,8 m diệntích đất ao trị giá 358,8 m x 42.000 đồng 15,069,600 đồng là tài sản của cụ ĐỗVăn Mia và cụ Nguyễn Thị Út.

- Đối với yêu cầu của ông Tộc và bà chủ yêu cầu Tòa án xác định tổngdiện tích 854,4 m là tài sản của cụ Múa và cụ Út Tuy nhiên ông Tộc và bà Chủkhông đưa ra được căn cứ nào vì vậy yêu cầu này của ông Tộc và bà Chủkhông có căn cứ chấp nhận

* Đối với diện tích đất 145,6 m trong quá trình sử dụng ông Tộc và bì liên

đã lấn ra diện tích đất ao do UBND thị trấn Hưng Nhân quản lý, UBND thị trấnHưng Nhân không đề nghị Tòa án giải quyết diện tích đất này nên HĐXXkhông xem xét giải quyết

* Đối với các công trình xây dựng và cây cối được trồng trên đất ÔngTộc và bà Hiền đều thống nhất ông và bà Hiền có những tài sản được xây dựng

và các cây được trồng trên diện tích đất ở và đất ao ở theo đo đạc hiện trạngcủa Tòa án ngày 19-8-2021 có diện tích 854,4 m ở tổ dân phố Vân Đông, thịtrấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình như sau:

* Về công trình xây dựng: 04 gian nhà xây trong đó 03 gian nhà xây lợpngói xi măng, hiện đổ mái bằng và 01 gian thờ, 1/3 gian thờ đổ mái bằng đểlàm các xép, trên bắn mái tôn Nhà được xây dựng năm 1999, phần mái tônđược làm năm 2010; 01 lán tôn làm năm 2015; 01 bể nước xây năm 1999; 02gian bếp lợp ngói xi măng xây dựng năm 1999; 02 gian lán (nhà xay xát) lợpngói xi măng xây dựng năm 2015; Trường dậu, bờ ao xây năm 1993; tườngdậu hoa trước nhà xây năm 2001, (ngoài ra còn có 01 giếng đào; 01 chuồngchăn nuôi, 01 miếu thờ đây là những tài sản xây dựng đã lâu nên ông Tộc và bàHiển thông nhất không đề nghị định giá)

+ Về các cây trồng trên đất: 01 cây bơ, 03 cây mít, 01 cây nhăn, 03 câybưởi, 03 cây xoài, 14 cây cau, 06 chậu xanh; 02 cây nhãn trị giá mỗi cây2.000.000 đồng, là của cụ Múa và cụ Út

Như vậy tổng khối tài sản chung của vợ chồng ông Tộc và bà Hiền có trịgiá là 200,244,658 đồng Ông Tộc và bà Hiền đều thống nhất nếu ly hôn ông

Trang 34

Tốc được sở hữu toàn bộ khối tài sản gồm các công trình và cây cối đã liệt kê ởtrên và có trách nhiệm thanh toán cho bà Hiền % giá trị chênh lệch tại sản là100.122.329 đồng Hội đồng xét xử thấy đây là sự tự nguyện của các đương sựkhông trái đạo đức, pháp luật nên cần ghi nhận sự thỏa thuận này.

Tổng trị giá khối di sản thừa kế của cụ Đỗ Văn Múa và cụ Nguyễn Thị Út

là 715,069.600 đồng + 4.000.000 đồng Cụ Út và cụ Múa chết di chưa địnhđoạt diện tích đất, cây trồng trên cho ai nên cần xác định diện tích đất và 02cây nhãn này là di sản thừa kế của cụ Múa và cụ Ủt Những người thuộc hàngthừa kế thứ nhất của cụ Múa và cụ Út là bà Khéo, ông Dân, bà Chủ và ôngTộc Bà Khéo từ chối nhận di sản thừa kể do cụ Múa và cụ Út để lại, ông Dân,

bà Chủ và ông Tộc đều thống nhất giao khỏi di sản là diện tích đất ở và đất aocủa cụ Múa và cụ Út cho ông Tốc quan lý nên cân cần ghi nhận sự tự nguyệnnày và giao cho ông Tộc quản lý diện tích đất

350 m diện tích đất ở và 358,8 m diện tích đất ao theo số liệu của Tòa án

đo đạc ngày 19-8-2021, có trị giá là 715.069.600 đồng cùng 02 cây nhãn có giátrị 4.000.000 đồng

* Đối với yêu cầu của bà Hiền về việc đề nghị Tòa án tính công sức đónggóp cho bà trong việc duy trì và tôn tạo khối di sản là diện tích đất của cụ Múa

và cụ Út bằng 1/2 trị giá suất thừa kế (bà Hiền không yêu cầu công sức duy trì

và tôn tạo 02 cây nhãn là di sản thừa kế của cụ Múa và cụ Út) Hội đồng xét xửthấy từ khi cụ Múa và cụ Út chết, bà Hiển và ông Tốc sử dụng diện tích đất của

cụ Múa và cụ Út để lại, bà Hiền và ông Tộc duy trì và tôn tạo cũng như nộpthuế đất đối với diện tích đất này Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu này của bàHiền và tính tính công sức | đóng góp cho bà Hiển trong việc duy trì và tôn tạokhối di sản là diện tích đất ở và đất ao của cụ Múa và cụ Ut bằng 1/2 trị giásuất thừa kế như sau: Tổng trị giá khối di sản thừa kế của cụ Múa và cụ Út cótrị giá = 715.069.600 đồng :3 suất thừa kế (gồm ông Dân, bà Chủ và ông Tộc)

= 238.356.533 đồng; 1/2 suất thừa kế - 238.356.533 đồng : 2 119.178.267đông Ong Dân, bà Chủ và ông Tộc là những người được hưởng di sản thừa kế

Trang 35

nên mỗi người phải thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho bà Hiền là(119,178.267 đống :3 = 39.726.089 đồng).

là do bà Hiên và ông TQ khách hàng vay, hiện nay đã được trả nợ cho Ngânhàng và Quỹ tín dụng Nhà khoản vay này là những khoản vay trong thời kỳhôn nhân, mục đích ông Tộc và bà Hien vay để phục vụ đời sống hàng ngàycủa ông Tốc và bà Hiên nên cần xác định là khoản vay chung của vợ chồngông Tộc và bà Hiền Tuy nhiên khi vợ chồng ông Tộc và bà Hiên sông ly thân

từ tháng 4 năm 2018, đến hạn trả nợ cho các khoản Vay trên ông Tộc khôngthực hiện nghĩa vụ trả nợ mà khoản vay, bà Hiền đã vay của ông Cự số tiền50.000.000 đồng, bà Hiền là người trực tiếp trả nợ cho Ngân hàng, ông Tộcbiết việc bà Hiền đã trả nợ còn nguồn gốc số tiền do đâu mà có ông Tộc khôngbiết, không đưa cho bà Hiền, không chứng minh được số tiền này là của vợchồng trong khi bà Hiền đã trả nợ trong thời gian ông Tộc và bà Hiền đã sống

ly thân (ngày 02-1-2018) Vì vậy số tiền 50.000.000 đồng này được xác định

bà Hiền vay của ông Cự để trả nợ chung nên ông Tộc phải có trách nhiệmthanh toán trả cho bà Hiền 1/2 số tiền này bằng 25.000.000 đồng là có căn cứchấp nhận Đối với số tiền 44.900.000 đồng bà Hiền trình bày bà Hiền tự đilàm ô sin để lấy tiền trả nợ, HĐXX thấy bà Hiền là người trực tiếp trả cho Quỹtín dụng nhân dân số tiền gốc 40.000.000 đồng và số tiền lãi là 4.900.000 đồng

Trang 36

cho Ngân hàng nông nghiệp Mặc dù bà Hiền trả những khoản nợ trong thờigian bà Hiền và ông Tộc sống ly thân nhưng số tiền này có nguồn gốc trongthời gian ông Tộc và bà Hiền là vợ chồng vì vậy số tiền trên được xác định làtài sản chung của vợ chồng nên bà Hiền Lyêu cầu Tòa án buộc ông Tộc phảithanh toán trà cho bà Hiên 12 số tiền trên là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu của chị Tuyền và anh Tiến yêu cầu Tòa án buộc ông Tốcphải thanh toán trả cho vợ chồng anh số tiền là 93.384.000 đồng HĐXX thấy

số tiền chị Tuyền anh Tiến đã trả cho Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn HưngNhân có nguồn gốc từ khoản vay của Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn HưngNhân vào ngày 17-11-2017 của ông Tộc và bà Hiên và khoản vay của Ngânhàng chính sách xã hội Việt Nam phòng giao dịch thị trấn Hưng Hà (vay quaHội phụ nữ UBND thị trấn Hưng Nhân) ngày 24-8-2016 Hiện nay chị Tuyền

và anh Tiển đã trả cho khoản nợ gốc và lãi, tại Quỹ tín dụng và Ngân hàngchính sách Những khoản vay này là những khoản vay trong thời kỳ hôn nhân,mục đích ông Tộc và bà Hiền vay để phục vụ đời sống hàng ngày của ông Tộc

và bà Hiền nên cần xác định là khoản vay chung của vợ chồng ông Tộc và bàHiền Tuy nhiên khi vợ chồng ông Tộc và bà Hiện sống ly thân từ tháng 4 năm

2018, ông Tộc và bà Hiền không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà chị Tuyền vàanh Tiến phải trực tiếp trả nợ số tiền 186.768.000 đồng, ông Tộc xác định đãtrả nợ nhưng ông Tộc không xuất trình được căn cứ nào chứng minh cho việcông Tộc trả nợ, ông Tộc cũng thừa nhận không đưa cho chị Tuyên và anh Tiến

số tiền nào để trả nợ Vì vậy ông Tộc và bà Hiền mỗi người phải có tráchnhiệm trả nợ cho chị Tuyền và anh Tiến số tiền là 93.384.000 đồng Chị Tuyên

và anh Tiên yêu cầu Tòa án buộc ông Tộc phải có trách nhiệm thanh toán tràcho vợ chồng anh chị số tiền trên là có căn cứ chấp nhận Việc chị Tuyên vàanh Tiển không yêu cầu Tòa án buộc bà Hiền phải trả nợ nên HĐXX khôngxem xét giải quyết

* Đối với yêu cầu của ông Cự về việc ông Cự yêu cầu Tòa án buộc bàHiền phải trả cho ông số tiền 50.000.000 đồng, bà Hiền thừa nhận có vay của

Trang 37

ông Cự số tiền 50.000.000 đồng nên yêu cầu này của ông Cự là có căn cứ chấpnhận.

[6] Về chi phí tố tụng: Bà Đỗ Thị Chủ tự nguyện chịu cả số tiền xem xétthâm định ngày 22-4-2021 (bả Chủ đã nộp đủ) nên HĐXX không xem xét giảiquyết Do yêu cầu giải quyết tài sản của ông Tộc và bà Hiền được chấp nhậnnên ông Tộc và bà Hiền mỗi người phải chịu 2.000.000 đồng tiền chi phí xemxét thẩm định và định giá tài sản (ông Tộc và bà Hiền đã nộp đủ)

[7] Về án phí: Ông Tộc phải chịu 150.000 đồng tiền án phi ly hôn sơ thẩmtheo quy định của pháp luật và phải chịu tiền án phí có giả có giá ngạch đối với

số tiền: 102.122.329 +25.000.000 đồng + 39.726.089 đồng +93.384.000 đồngx5% = 13.011.000 đồng Bà Hiền có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí lyhôn và án phí chia tài sản cho bà Hiền Ông Dân và bà Chủ là người cao tuổinên miễn án phí cho ông Dân và bà Chủ Yêu cầu của ông Cự và chị Tuyềnđược chấp nhận nên trả lại cho chị Tuyền và ông Cự số tiền tạm ứng án phí dãnộp

[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà về hướnggiải quyết vụ án phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận Vì các

lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147,khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 609, 613,649,650,651

và 660 của Bộ luật dân sự; Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao thông qua ngày 06-4-2016: Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyđịnh về án phí, lệ phí Toà án

1 Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Đỗ Văn Tộc và bà Thái Thị Hiền.2.Về nuôi con chung: Không đặt ra giải quyết

3 Về xác định di sản thừa kế:

3.1 Xác định diện tích đất ở 350,0 m nằm trong thửa đất số 336 tại tờ bản

đồ số 7 và diện tích đất ao 358,8 m nằm trong thửa đất số 336 tại tờ bản đồ số 7

Trang 38

thửa đất số 337 tại tờ bản đồ số 7 (theo biên bản xác định ranh giới, mốc giớitheo hiện trạng đang sử dụng năm 2007) và 02 cây nhãn được trồng trên diệntích đất trên ở | tại tổ dân phố Vân Đông, thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà,tỉnh Thái Bình ghi tên người sử dụng là ông Đỗ Văn Tộc và bà Thái Thị Hiền

là di sản thừa kế của cụ Đỗ Văn Múa và cụ Nguyễn Thị Út có trị giá thành tiền

là 719.069.600 đồng Chấp nhận sự tự nguyện của ông Đỗ Thanh Dân, bà ĐỗThị Chủ và ông Đỗ Văn Tộc giao toàn bộ diện tích đất ở và đất ao có diện tíchnêu trên cùng 02 cây nhãn được tông trên đất cho ông Đỗ Văn Tộc quản lý và

sử dụng Diện tích đất ở và đất ao trên có vị trí (sơ đồ kèm theo) như sau):

* Diện tích đất ở: - Phía Bắc giáp đường giao thông có các cạnh dài 11,20

Trang 39

3.2 Vẽ chia tài sản chung và nợ chung của ông Đỗ văn Tộc và bà TháiThị Hiền:

- Ghi nhận sự tự nguyên thỏa thuận về tài sản giữa ông Đỗ văn Tộc và bàThái Thị Hiền Giao cho ông Đỗ Văn Tộc sở hữu bộ nhà và các công trình, câytrồng trên đất gồm: 04 gian nhà xây trong đó 03 gian nhà xây lợp ngói xi măng,mái bằng và 01 gian thờ, 1/3 gian thờ đổ mái bằng để làm gác xép, trên băn hảitôn; 01 lản tôn làm năm 2015; 01 bể nước; 02 gian bếp lợp ngói xi măng; 02gian lán (nhà xay xát) lợp ngói xi măng; Tường dậu, bờ ao; tưởng dậu hoatrước nhà; 01 giếng đào; 01 chuồng chăn nuôi; 01 miếu thờ; 01 cây bơ; 03 câymít; 01 cây nhãn 03 cây bưởi; 03 cây xoài; 14 cây cau; 06 chậu xanh Trị giátoàn bộ khối tài sản trên là 200.244.658 đồng Ông Tộc có trách nhiệm thanhtoán cho bà Hiền 1/2 giá trị chênh lệch tài sản chung số tiền là 100.122.329đồng (Một trăm triệu, một trăm hai mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chínđông)

- Buộc ông Tộc phải thanh toán cho bà Hiên số tiền tin chung của vợchồng là 25.000.000 đồng (Hai mươi năm triệu đồng)

- Buộc ông Tộc phải thanh toán trị giá chênh lệch tài sản theo kỳ phầncông duy trì và tôn tạo di sản thừa kế cho bà Hiền số tiền là 39.726.089 đồng(Ba mươi chín triệu, bảy trăm hai mươi sáu nghìn, không trăm tám mươi chínđông)

Tổng số tiên ông Tộc phải thanh toán trả cho bà Hiền là 164.848.418 đồng(Một trăm sáu mươi tự triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, bốn trăm mười támđồng)

- Buộc ông Tộc phải thanh toán trả cho chị Đỗ Thị Tuyền và anh Hà VănTiến số tiền là 93.384.000 đồng ( Chín mươi ba triệu, ba trăm tám mươi tưnghìn đồng)

- Buộc bà Thái Thị Hiền phải trả cho ông Nguyễn Văn Cừ số tiền là50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)

4.Về án phí: Ông Đỗ Văn Tộc phải chịu 150.000 đồng tiền án phí ly hôn

sơ thầm và số tiền 12.911.620 đồng tiền án phí dân sự có giá ngạch Được trừ

Trang 40

đi số tiền 300.000 đồng ông Tốc đã nộp tại biên lai thu tiền số 0006094, ngày10-8-2020 và số tiền 2,000,000 đồng tại biên lai thu tiền số 0003345, ngày 15-7-2021 của Chí cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình thànhtiền án phí ly hôn và tiền án phí chia tàn sản Ông Tộc còn phải nộp số tiền10.91 1,620 đồng (Mười triệu, chín trăm mười một nghìn, sáu trăm hai mươiđồng) tiền án phí chia tài sản.

Miên tiên án phí chia có giá ngạch đối với ông Đỗ Thanh Dân và bà ĐỗThị Chủ

Trả lại ông Nguyễn Văn Cừ số tiền 1.250.000 đồng tiền tạm ứng án phíong Cự dã nộp tại biên lai thu tiền số 0003337, ngày 08-7-2021 tại Chi cục thihành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Trả lại chị Đỗ Thị Tuyền sốtiền 2,354,000 dòng tiền tạm ứng án phi chị Tuyền đã nộp tại biên lai thu tiền

số 0003347, ngày 15-7-2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà,tỉnh Thái Bình

Kể từ ngày người có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ nếu người phải thi hành không thi hành khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điềui 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành ản hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều

6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sạc; thời hiệu thi hành án trợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5.Về quyển khảng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo tronghạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáobản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tổng đạt hoặc niêm yết bản án hợplệ

Ngày đăng: 18/08/2022, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bùi Tiến Bình, năm 2018. “Thực tiễn giải quyết các vụ việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trên địa bàn thành phố Sơn La” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn giải quyết các vụ việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trên địa bàn thành phố Sơn La
Tác giả: Bùi Tiến Bình
Năm: 2018
7. Đinh Thị Mẫn, năm 2014. “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chungcủa vợ chồng khi ly hôn
12. Nguyễn Ngọc Long, năm 2017. “Giải quyết tranh chấp tài sản trong các vụ án ly hôn heo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp tài sản trongcác vụ án ly hôn heo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn xét xử tại Tòa ánnhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
16. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2021
Tác giả: Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Nhà XB: Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Năm: 2021
1. Bản án số 45/2021/ HNGĐ- ST ngày 16-9-2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình Khác
2. Bản án số 72/2021/ HNGĐ- ST ngày 16-6-2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình Khác
3. Bản án số 28/2018/HNGĐ-ST ngày 18/05/2018 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình Khác
13. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2018 Khác
14. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2019 Khác
15. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 2020 Khác
17. ThS. Đoàn Thị Phương Diệp, Chế độ tài sản giữa vợ chồng trong Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8(264), tháng 4/2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w