Sự khác biệt về điểm số hỗ trợ xã hội giữa các nhóm bệnh nhân được phân chia theo quá trình điều trị methadone .... Nếu có, các yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến điểm số hỗ trợ xã hội
TỔNG QUAN
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1.1 Các chất dạng thuốc phiện
Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) là nhóm chất gây nghiện mạnh với tác dụng nhanh và gây khoái cảm rõ rệt, khiến người dùng nhanh chóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc hệ thần kinh trung ương ngay sau khi sử dụng Do thời gian bán hủy ngắn, CDTP đòi hỏi người dùng phải uống hoặc tiêm nhiều lần trong ngày; nếu không dùng lại sẽ gặp hội chứng cai, kéo theo chu kỳ dao động giữa trạng thái nhiễm độc và thiếu thuốc Chính chu kỳ này ở các người nghiện CDTP, đặc biệt heroin, là nguồn gốc dẫn đến hành vi nguy hiểm cho bản thân và người khác.
1.1.1.2 Methadone, điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone và mục đích
Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các
Methadone là một CDTP đồng vận khác nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị; nó có thời gian bán huỷ dài, trung bình khoảng 24 giờ nên chỉ cần dùng một lần trong ngày để không xuất hiện hội chứng cai Với độ dung nạp ổn định, methadone ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng methadone là một liệu trình lâu dài, có kiểm soát và chi phí hợp lý, được sử dụng đường uống dưới dạng siro, giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, viêm gan C, đồng thời hỗ trợ phục hồi chức năng tâm lý, xã hội và lao động và sớm tái hoà nhập cộng đồng [3].
Mục đích của việc điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng methadone trên thế giới cũng như Việt Nam là [3]:
Giảm tác hại do nghiện các CDTP nhằm ngăn lây nhiễm HIV, viêm gan B và viêm gan C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, đồng thời giảm nguy cơ tử vong do quá liều và hạn chế các hành vi phạm tội liên quan Để đạt hiệu quả, cần tăng cường tiếp cận dịch vụ y tế và tư vấn, thực hiện xét nghiệm HIV và viêm gan, cung cấp dụng cụ tiêm an toàn và triển khai các chương trình đổi kim tiêm, đồng thời đẩy mạnh giáo dục sức khỏe và hỗ trợ xã hội cho người dùng Những biện pháp này giúp cải thiện sức khỏe cá nhân, giảm gánh nặng cho cộng đồng và tạo nền tảng cho can thiệp y tế công cộng hiệu quả.
- Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP
- Cải thiện sức khỏe và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội
1.1.1.3 Tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị methadone
Tuân thủ điều trị là mức độ người bệnh thực hiện chế độ điều trị hoặc hành vi của họ đúng với lời khuyên y tế từ cán bộ y tế Đối với thuốc, tuân thủ đòi hỏi người bệnh nhanh chóng hiểu các thông tin trong đơn thuốc và dùng thuốc đúng liều dùng, đúng khoảng cách giữa các liều, đúng thời gian điều trị và thực hiện mọi hướng dẫn đặc biệt có trong đơn Người bệnh nên được giải thích để thông báo cho bác sĩ ngay khi có ý định tự ngừng thuốc hoặc thay đổi cách dùng trong quá trình điều trị.
Đến nay, chưa có một “tiêu chuẩn vàng” để đo lường hành vi tuân thủ điều trị methadone; thay vào đó, việc đánh giá dựa trên các nguyên tắc điều trị được ban hành theo hướng dẫn của Bộ Y tế (Quyết định số 3140/QĐ-BYT) và nội quy của từng cơ sở điều trị methadone Những nguyên tắc này giúp chuẩn hóa quy trình điều trị và đảm bảo tính phù hợp với thực tế tại mỗi cơ sở, đồng thời đáp ứng yêu cầu an toàn và hiệu quả cho người tham gia điều trị.
Tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị methadone:
- Đảm bảo nồng độ methadone trong huyết tương được duy trì và tránh hội chứng cai; đồng thời, khoá tác dụng của heroin
- Đảm bảo giúp người bệnh không sử dụng chất dạng thuốc phiện và đóng góp quan trọng vào hiệu quả của chương trình điều trị methadone
Việc không tuân thủ điều trị methadone, tức là không uống thuốc hàng ngày, sẽ khiến nồng độ methadone trong huyết tương không được duy trì và làm giảm hiệu quả của liệu pháp Sự giảm nồng độ dẫn tới giảm tác động dung nạp chéo với chất dạng thuốc phiện, làm giảm khả năng duy trì điều trị bằng methadone và dễ xuất hiện hội chứng cai, từ đó làm tăng nguy cơ tái nghiện.
1.1.1.4 Hỗ trợ xã hội và các loại hình hỗ trợ xã hội
Thuật ngữ “hỗ trợ xã hội” có thể được định nghĩa là sự trao đổi các nguồn lực giữa hai cá nhân do nhà cung cấp hoặc người nhận cho là nhằm nâng cao phúc lợi của người nhận [49]; nó bao gồm các mối quan hệ xã hội mà xã hội cung cấp về mặt vật chất hoặc con người như tư vấn, tiếp cận thông tin, dịch vụ hoặc san sẻ các nhiệm vụ, trách nhiệm của bản thân Hơn thế nữa, mối quan hệ giữa người với người còn thể hiện ở nhiều khía cạnh như: hỗ trợ cảm xúc (đồng cảm, chăm sóc, yêu thương, tin tưởng…), hỗ trợ thông tin (tư vấn, gợi ý, tiếp cận thông tin…) và hỗ trợ công cụ (chia sẻ các nhiệm vụ và trách nhiệm, truyền đạt kỹ năng…), tất cả giúp con người dễ dàng đối phó và thích nghi với các biến cố, sự căng thẳng trong cuộc sống, đồng thời hỗ trợ tích cực sức khỏe cũng như tinh thần của mỗi cá nhân [38].
Chức năng hỗ trợ xã hội gắn liền với nhu cầu và nhận thức của cá nhân về mức độ các loại hỗ trợ xã hội, đặc biệt là hỗ trợ cảm xúc và hỗ trợ hữu hình Hỗ trợ cảm xúc đề cập đến sự tôn trọng, yêu thương, chăm sóc, sự thông cảm và lắng nghe, đồng thời phản ánh mức độ hài lòng với sự hỗ trợ mà họ nhận được Hỗ trợ hữu hình bao gồm các hình thức hỗ trợ trực tiếp hoặc hỗ trợ về vật chất, như tài chính, thông tin và lời khuyên hữu ích khi cần thiết.
Trong y văn, hỗ trợ xã hội được chia làm 3 loại chính để hướng dẫn xây dựng các thang đo [13], [38]:
Kết nối xã hội, hay gắn kết xã hội, là một dạng hỗ trợ xã hội có cấu trúc, thể hiện ở số lượng và chất lượng các mối quan hệ hoặc mạng lưới xã hội của một người Các mối quan hệ này được chia thành hai nhóm chính: mối quan hệ xã hội thân thuộc như gia đình, bạn bè, hàng xóm và họ hàng; và mối quan hệ mang tính hình thức, trang trọng như các chuyên gia sức khỏe, bác sĩ và giáo viên Việc duy trì một mạng lưới kết nối xã hội đa dạng và chất lượng cao giúp tăng khả năng nhận được hỗ trợ khi cần thiết và đóng vai trò quan trọng cho sức khỏe, sự hài lòng trong cuộc sống và phúc lợi tinh thần.
Hỗ trợ xã hội cảm nhận được là khái niệm đặc trưng dùng để mô tả nhận thức của một cá nhân về sự tin tưởng đối với người khác, đồng thời phản ánh sự kết hợp hai chiều giữa sự sẵn có và sự đầy đủ của các mối quan hệ xã hội Khác với khái niệm gắn kết xã hội, ở đó tập trung vào số lượng và mức độ kết nối, hỗ trợ xã hội cảm nhận được tập trung vào đánh giá chủ quan của cá nhân về những gì họ nhận được từ các mối quan hệ xã hội Chính vì vậy, đây là cách cá nhân nhận định mức độ hỗ trợ xã hội mà họ thực sự nhận được trong đời sống hàng ngày.
Hỗ trợ xã hội thực tế tập trung vào những gì cá nhân thực sự nhận được từ mạng lưới xã hội, tức là lượng và chất của sự giúp đỡ có thật Ngược lại, hỗ trợ xã hội cảm nhận được phản ánh ý kiến và cảm nhận của người dùng về mức độ hỗ trợ họ nhận được, cho dù có hay không thực tế tương ứng Vì vậy, đánh giá hỗ trợ xã hội thực tế thường diễn ra gián tiếp thông qua các chỉ số liên quan đến hỗ trợ xã hội cảm nhận được hoặc qua các biện pháp gắn kết xã hội khác [10], [13].
Một số bộ công cụ (thang đo) dùng để đánh giá hỗ trợ xã hội
Bảng 1.1 Một số thang đo hỗ trợ xã hội
(thang đo) Năm Tác giả
3 PSS [45] Perceived Support Scale for
Family and Friends 1983 Procidano & Heller
4 SPS [19] Social Provisions Scale 1987 Russell & Cutrona
Perceived Social Support 1988 Zimet GD, Dahlem,
Thang đo hỗ trợ xã hội Medical Outcomes Study: Social Support Survey (MOS – SSS)
Vào năm 1991, Sherbourne và Stewart đã phát triển thang đo MOS-SSS, được ứng dụng trong một nghiên cứu kéo dài 2 năm với 2.987 đối tượng mắc bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường và trầm cảm Nghiên cứu xác định độ tin cậy của thang đo MOS-SSS với Cronbach’s alpha từ 0,91–0,96 cho từng khía cạnh và 0,97 cho toàn thang đo Tính tin cậy lặp lại sau một năm đạt 0,72–0,76 cho các khía cạnh và 0,78 cho toàn thang đo [51].
Thang đo MOS-SSS là một công cụ đo lường phổ biến trên toàn thế giới, được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác nhau như Tây Ban Nha [44], Malaysia [48], Trung Quốc [67], và nhiều ngôn ngữ khác Thang đo này được áp dụng cho nhiều nhóm người bệnh khác nhau, từ ung thư và bệnh thận mạn đến suy tim và HIV/AIDS [22], [44], [48], [67].
Ở Việt Nam, thang đo MOS-SSS đã được chuẩn hoá trên đối tượng bệnh nhân điều trị các CDTP bằng methadone bởi nhóm tác giả Khương Quỳnh Long và cộng sự vào năm 2017 (Phụ lục 2) Kết quả cho thấy tính tin cậy nội bộ của thang đo MOS-SSS ở mức tốt, với Cronbach’s alpha toàn thang đo là 0,97 và các giá trị từ 0,95 đến 0,97 ở các khía cạnh Tính tin cậy lặp lại sau 2 tuần của nghiên cứu cho kết quả 0,76 cho toàn thang đo, các khía cạnh từ 0,61 đến 0,73 [29].
Thang đo gồm tổng cộng 20 câu, trong đó 19 câu đánh giá bốn thành phần chức năng của sự hỗ trợ xã hội cảm nhận được: hỗ trợ cảm xúc/thông tin (8 câu); hỗ trợ hữu hình (4 câu), bao gồm cả hỗ trợ về vật chất và hành động; hỗ trợ tình cảm (3 câu), gồm tình thương và nuôi dưỡng các mối quan hệ; tương tác xã hội tích cực (4 câu) Có thêm 1 câu thể hiện cấu trúc mạng lưới hỗ trợ, không nằm trong các mục trên [51].
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Tình hình điều trị methadone
Methadone, một chất chủ vận có tác dụng kéo dài được tổng hợp để giảm đau từ trước Thế chiến II ở Đức Năm 1949, Isbell và Vogel, làm việc tại Bệnh viện Y tế Công cộng Hoa Kỳ ở Lexington, Kentucky, đã chỉ ra methadone là loại thuốc hiệu quả nhất để cai nghiện heroin; tuy nhiên, hiểu biết về thuốc này lúc bấy giờ vẫn còn hạn chế [37] Đến năm 1964, nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về methadone được thực hiện bởi Tiến sĩ Vincent P Dole và Tiến sĩ Marie E Nyswander cùng các cộng sự nhằm đối phó với đại dịch nghiện heroin bùng phát sau Thế chiến II tại Mỹ [30] Kể từ đó điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng methadone trở thành phương pháp phổ biến và hiệu quả trên toàn thế giới trong hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV [20] Giải pháp này đã được triển khai trên hơn 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, tiêu biểu như Mỹ, Úc, Ấn Độ, Hà Lan, Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Myanmar… Toàn thế giới đã có trên 1.000.000 người được điều trị thay thế bằng methadone [31] Bên cạnh đó, từ đầu những thập niên 2000, chương trình methadone đã được triển khai ở một số nước như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tiến hành nghiên cứu về tình hình điều trị tại các quốc gia này và kết quả thu được tương đối khả quan [56]
Vào năm 2003, nghiên cứu của Kate A Dolan chỉ ra rằng hiệu quả của chương trình điều trị bằng methadone phụ thuộc vào chính sách của chương trình và sự hỗ trợ xã hội kèm theo; các yếu tố này gồm các can thiệp tâm lý như tư vấn cá nhân và tư vấn nhóm, sự khích lệ từ gia đình, bạn bè và người thân để thay đổi hành vi và hình thành lối sống tích cực, cùng với các biện pháp can thiệp phù hợp với hành vi, tâm lý trị liệu, chăm sóc y tế và trợ cấp xã hội dựa trên thực tế và nhu cầu của từng bệnh nhân Chương trình càng được tích hợp nhiều phương thức can thiệp và hỗ trợ thì tỷ lệ tuân thủ sẽ càng cao, với 92% người bệnh tuân thủ điều trị trên 1 năm.
Các nghiên cứu trên toàn thế giới cho thấy điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc giảm nguy cơ lây nhiễm HIV và các hậu quả do sử dụng ma túy gây ra Methadone làm giảm tần suất sử dụng chất gây nghiện, giảm hành vi nguy cơ và tăng sự tuân thủ điều trị, từ đó hạn chế sự lây lan HIV và các biến chứng y tế liên quan Những bằng chứng này cho thấy việc mở rộng và tích hợp chương trình điều trị methadone là một phần quan trọng của chiến lược can thiệp công cộng nhằm cải thiện sức khỏe của người dùng ma túy và giảm gánh nặng cho hệ thống y tế.
Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ lây nhiễm HIV qua đường tiêm chích ma túy cao, và các hình thức cai nghiện tại gia đình, cộng đồng cùng tại các trung tâm cai nghiện từng là phương thức chính trước khi điều trị duy trì bằng methadone (MMT) được triển khai thí điểm vào năm 2008 Các báo cáo gần đây cho thấy kết quả điều trị rất tích cực, với tỷ lệ nhiễm HIV ở người bệnh điều trị MMT giảm đáng kể, đồng thời hưởng lợi từ việc điều trị giúp cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống và tăng sự ổn định cho xã hội Chính phủ đã cho phép Bộ Y tế mở rộng điều trị bằng methadone cho ít nhất 30 tỉnh thành và tiếp cận hơn 80.000 người nghiện vào năm 2015 Tuy nhiên, những kết quả này mới chỉ là bước đầu, tỷ lệ tái nghiện và số vụ phạm tội liên quan đến ma túy vẫn ở mức cao.
Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh là hai địa phương đầu tiên được chọn để thí điểm chương trình methadone (MMT) Năm 2008, Chính phủ chọn Hải Phòng làm địa điểm triển khai thí điểm với 3 phòng khám ngoại trú tại các quận Lê Chân, Thủy Nguyên (4/2008) và Ngô Quyền (8/2008) Thành phố Hồ Chí Minh cũng được lựa chọn thí điểm với 3 cơ sở đầu tiên ở Quận 4 và ở các quận khác.
Chương trình điều trị Methadone tại Việt Nam đã có sự tăng tốc đáng kể từ những năm đầu thập kỷ 2010: năm 2009 cả nước chỉ có 6 cơ sở điều trị và khoảng 1.735 người bệnh; Hà Nội trở thành thành phố thứ ba triển khai MMT từ cuối 2009 với 6 cơ sở ban đầu; từ năm 2011, hai cơ sở tại Quận 8 và Quận Thủ Đức được bổ sung; đến giữa năm 2019, TP.HCM có 23 cơ sở methadone nằm ở 21 Trung tâm Y tế quận, huyện và có cơ sở cai nghiện tại Quận Thủ Đức, Đức Thanh Tâm; năm 2020 các cơ sở điều trị methadone ở Quận 5, Hóc Môn và Củ Chi đi vào hoạt động; dự án thí điểm được Chính phủ cho phép mở rộng sang các tỉnh thành khác; Hà Nội mở thêm 11 cơ sở điều trị methadone vào năm 2014, nâng tổng số cơ sở và tuyến điều trị ở các quận huyện như Tây Hồ, Hoàng Mai và các huyện Ba Vì, Đông Anh, Chương Mỹ, Ứng Hòa, Đan Phượng, Phú Xuyên cùng các đơn vị liên quan như Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Hà Nội, Bệnh viện 09 và Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động và xã hội số V Hà Nội; đến năm 2021, nhiều cơ sở như tại Hoài Đức, Sóc Sơn, Hoàn Kiếm, Gia Lâm và Bắc Từ Liêm đang hoàn thiện hồ sơ, chuẩn bị quy trình chuyên môn và nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị, nhân lực để tiếp nhận người điều trị, đồng thời tiếp tục phối hợp với CDC và Sở Y tế thành phố để mở rộng điều trị methadone và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
2017, chương trình đã được triển khai trên 63 tỉnh thành, với 294 cơ sở điều trị cho 52.818 bệnh nhân [4]
Vai trò của hỗ trợ xã hội đối với người bệnh điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone
Nhiều tài liệu cho thấy hỗ trợ xã hội là yếu tố dự báo đáng kể cho sự thành công trong điều trị methadone và quá trình phục hồi của người nghiện ma túy Tuy nhiên, quá trình điều trị là dài và người bệnh thường gặp khó khăn về tài chính, công việc và sức khỏe không ổn định; sự kỳ thị từ xung quanh càng làm tăng tự ti, cản trở tái hòa nhập cộng đồng Vì vậy, người bệnh đang điều trị nghiện cần sự giúp đỡ từ bên ngoài Hỗ trợ xã hội cung cấp nguồn lực vật chất, tư vấn và động lực, cùng thông tin và chia sẻ kinh nghiệm giữa các cá nhân, giúp giảm tự ti và cô lập, và nhắc nhở họ rằng vẫn có người yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ Nhờ đó, động lực và ý chí tuân thủ điều trị được nâng lên, quá trình hồi phục diễn ra tốt hơn và nguy cơ tái sử dụng ma túy được giảm thiểu, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh và cộng đồng.
Một số nghiên cứu về hỗ trợ xã hội ở người bệnh điều trị methadone
Vào năm 2001, nghiên cứu của David A Wasserman và cộng sự nhằm xác định mối liên hệ giữa hỗ trợ xã hội và tái sử dụng chất ma túy ở Mỹ, trên 128 bệnh nhân đang điều trị duy trì bằng methadone hoặc LAAM, với thiết kế theo dõi 3 tháng và phương pháp tự báo cáo hỗ trợ xã hội thông qua thang MOS-SSS; dù thời gian ngắn khiến việc đánh giá tái nghiện chưa đầy đủ, kết quả cho thấy hỗ trợ xã hội đóng vai trò quan trọng trong mô hình phòng chống hành vi tái sử dụng trong quá trình điều trị Đến năm 2008, Tiến sĩ Subadra Panchanadeswaran và cộng sự tiến hành nghiên cứu về mức độ hỗ trợ xã hội nhận thức của phụ nữ bị bạo hành bởi bạn tình trong chương trình điều trị duy trì bằng methadone, phỏng vấn trực diện với 416 phụ nữ và sử dụng MSPSS để đánh giá; kết quả cho thấy nguồn hỗ trợ quan trọng nhất đến từ “những người quan trọng khác” (5,64 ± 1,27), trong khi hỗ trợ từ bạn bè thấp nhất (4,20 ± 1,48), và sự khác biệt này có thể phản ánh khác biệt văn hóa Đông – Tây đồng thời tập trung vào phụ nữ bị bạo hành từ bạn tình.
Vào năm 2017, một nhóm nhà nghiên cứu tại Úc tiến hành nghiên cứu thuần tập tiến cứu về sự kỳ thị nhận thức được và sự hỗ trợ của xã hội trong điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện Nghiên cứu gồm 108 người phụ thuộc được giới thiệu từ các cơ sở điều trị, với các cuộc phỏng vấn qua điện thoại tại thời điểm ban đầu và sau 3, 12 và 24 tháng, đồng thời sử dụng thang đo MOS-SSS để đánh giá mức độ hỗ trợ xã hội Kết quả cho thấy sự kỳ thị ảnh hưởng đến tất cả người tham gia trong quá trình điều trị; đồng thời phát hiện có mối liên hệ giữa hỗ trợ xã hội (khoảng cách cảm xúc - thông tin, tương tác xã hội tích cực, và mức độ trung bình của MOS-SSS) với tình trạng hôn nhân, sống chung và sức khỏe tinh thần trong 12 tháng qua Nghiên cứu cho thấy hỗ trợ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng hiệu quả điều trị của người bệnh Tuy nhiên, nghiên cứu không xác nhận mối quan hệ nhân quả giữa hỗ trợ xã hội và các yếu tố liên quan.
Vào năm 2017, tác giả Khương Quỳnh Long đã tiến hành nghiên cứu “Thuộc tính đo lường của Thang đo hỗ trợ xã hội MOS–SSS trên người bệnh điều trị methadone tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam” Kết quả cho thấy điểm trung bình của thang đo MOS–SSS là 3,1 ± 0,9 và độ tin cậy nội bộ của thang đo ở mức tốt với Cronbach’s alpha cho toàn thang đo là 0,97 (lĩnh vực hữu hình 0,97; cảm xúc – thông tin 0,97; tương tác xã hội tích cực 0,97; tình cảm 0,95) Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá thuộc tính của MOS–SSS trên người bệnh điều trị methadone tại Việt Nam Hơn thế nữa, phiên bản tiếng Việt của MOS–SSS đã được chứng minh là công cụ đáng tin cậy và hợp lệ để đánh giá các khía cạnh chức năng của hỗ trợ xã hội người bệnh nhận thức được ở Việt Nam, cung cấp bằng chứng hữu ích cho các cơ sở điều trị và nhà hoạch định chính sách để thực hiện các can thiệp nhằm nâng cao sự hỗ trợ xã hội và nâng cao hiệu quả điều trị MMT; đồng thời gợi ý cần có các nghiên cứu chuyên sâu hơn về bệnh nhân methadone ở các giai đoạn điều trị khác nhau và ở các khu vực khác nhau của Việt Nam [7].
Dựa trên cơ sở này, vào năm 2018 và 2019, hai nghiên cứu của tác giả Lê Yến Nhi và Nguyễn Thị Hồng Diễm trên bệnh nhân điều trị methadone tại các cơ sở ở Quận Bình Thạnh và Quận 8, TP Hồ Chí Minh đã dùng thang đo MOS-SSS được chuẩn hóa cho MMT tại Việt Nam; kết quả cho thấy điểm trung bình tổng MOS-SSS lần lượt là 3,48 ± 1,06 và 3,3 ± 0,8, cùng với việc xác định mối liên hệ giữa điểm hỗ trợ xã hội và các yếu tố như tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, bệnh mắc kèm, thời gian điều trị và số lượng người thân (p < 0,05) Bên cạnh đó, Hồng Diễm chỉ ra mối quan hệ giữa thời gian điều trị methadone và điểm số hỗ trợ xã hội trên toàn thang đo, cũng như giữa việc tái sử dụng ma túy và điểm số hỗ trợ xã hội ở các khía cạnh cảm xúc – thông tin và tình cảm (p < 0,05) Các nghiên cứu được tiến hành theo mẫu ngẫu nhiên có hệ thống và thu thập dữ liệu bằng phỏng vấn mặt đối diện, hạn chế tối đa bỏ sót câu trả lời Đến năm 2020, Hồ Gia Bảo thực hiện nghiên cứu “Hỗ trợ xã hội trên bệnh nhân điều trị methadone và các yếu tố liên quan tại cơ sở điều trị quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh” trên 192 bệnh nhân, cho thấy điểm trung bình toàn thang đo là 3,4 ± 0,8 và có mối liên hệ có ý nghĩa giữa điểm thang đo với tình trạng sống chung, nghề nghiệp và số người thân – bạn thân Tuy nhiên, hạn chế chung của cả ba nghiên cứu là thiết kế mô tả cắt ngang nên không thể khẳng định mối quan hệ nhân quả, và các nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện ở TP Hồ Chí Minh, chưa mở rộng tới các tỉnh thành khác.
Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị methadone
Vào năm 2007, nghiên cứu “Các mô hình tuân thủ methadone đường uống - Ý nghĩa đối với người kê đơn” do Michael Haskew và cộng sự tiến hành nhằm điều tra các mô hình không tuân thủ trong điều trị thay thế bằng methadone tại một đơn vị cai nghiện ma túy ở nội thành London và khám phá các yếu tố liên quan Dữ liệu thu thập từ 91 cuộc phỏng vấn đối mặt được tiến hành bí mật với những bệnh nhân đang được duy trì bằng methadone Kết quả cho thấy 38 bệnh nhân (42%) tuân thủ một phần hoặc không tuân thủ trong vòng 1 tháng gần nhất Nghiên cứu xác định bảy loại hành vi không tuân thủ, trong đó chia nhỏ liều là phổ biến nhất (34%), tiếp theo là lưu liều (28%) và quên lấy thuốc từ hiệu thuốc (18%) Các kết quả gợi ý cần có các cách tiếp cận mới để thúc đẩy tuân thủ và giám sát tuân thủ một cách hệ thống hơn nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình điều trị bằng methadone.
Vào năm 2013, Sanders J Justin J cùng các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu nhận thức của người bệnh về liều methadone và mô hình thúc đẩy tuân thủ điều trị duy trì (MMT) trên 19 bệnh nhân thông qua phỏng vấn bán cấu trúc Kết quả cho thấy người tham gia liên kết liều methadone với hai khía cạnh là sự thoải mái và sự hỗ trợ chức năng, từ đó đề xuất một mô hình xác định liều lượng phù hợp và liều methadone lý tưởng dựa trên các yếu tố nội tại và ngoại sinh đối với MMT Các yếu tố nội tại bao gồm sự thiếu kiểm soát trong điều trị, lo ngại về sự phụ thuộc vào methadone, mong muốn tránh tác dụng phụ và vấn đề kinh tế của người bệnh; các yếu tố ngoại sinh gồm sự xấu hổ và kỳ thị quanh MMT, tình trạng y tế và tương tác thuốc, áp lực từ gia đình và các mối quan hệ bạn bè Từ kết quả, các tham gia cho thấy nhận thức về liều dùng methadone vượt ra ngoài các tham số y tế điển hình được bác sĩ sử dụng để xác định liều, và mô hình trong dữ liệu của nghiên cứu có thể hỗ trợ người bệnh duy trì và thay đổi liều cũng như tăng sự tuân thủ và thành công trong MMT [50].
Năm 2014, Roux Perrine và đồng sự tiến hành nghiên cứu về sự tiến triển của việc không tuân thủ methadone và ảnh hưởng của các yếu tố trước và trong điều trị đối với sự tuân thủ lâu dài ở 145 bệnh nhân, được theo dõi bằng bảng câu hỏi đa chiều tại 3, 6 và 12 tháng Kết quả cho thấy tại tháng thứ 12 có 35,2% người bệnh tuân thủ, 55,9% không tuân thủ và 9% rất không tuân thủ Phân tích đa biến về việc không tuân thủ điều trị methadone trong thời gian dài cho thấy 4 yếu tố dự báo trước điều trị (là phụ nữ, không có nhà ở ổn định, uống rượu, sử dụng cocain) và 1 yếu tố dự báo sau điều trị (không đủ liều lượng methadone) có ảnh hưởng rõ rệt lên sự tuân thủ điều trị Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố dự báo trước điều trị đóng vai trò quan trọng và cần được xem xét khi bắt đầu điều trị duy trì bằng methadone, đồng thời đây là vấn đề cốt lõi để đạt được sự tuân thủ tốt ở đối tượng bệnh nhân này [47].
Theo kết quả của một nghiên cứu thuần tập tiến cứu với 965 bệnh nhân MMT tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh, theo dõi trong 2 năm (từ 1/2009 đến 10/2011) và đánh giá tại các thời điểm 3, 6, 9, 12, 18 và 24 tháng, tỷ lệ duy trì và tuân thủ điều trị suốt 2 năm đạt 82,3% Sau 2 năm, có 171 người (tương đương 17,7%) đã dừng và ra khỏi chương trình điều trị Tỷ suất bỏ chương trình dao động từ 7 đến 10,8 ca trên 1000 bệnh nhân mỗi tháng.
GIỚI THIỆU ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Trung tâm Y tế quận Long Biên được thành lập từ cuối năm 2003 và chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm 2004, đồng thời đánh dấu sự ra đời của Quận Long Biên; từ đó đến nay, dù gặp nhiều khó khăn, trung tâm đã thực hiện tốt các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về y tế dự phòng và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân trên địa bàn, trở thành địa chỉ vàng cho thăm khám và điều trị tại Hà Nội và góp phần giảm tải đáng kể cho các bệnh viện tuyến trên Bên cạnh hoạt động khám chữa bệnh, Trung tâm Y tế quận Long Biên còn hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu y học.
Hơn thế nữa, Chương trình phòng chống HIV/AIDS đã được triển khai từ năm
2016 và đạt được nhiều thành tích nổi bật Hiện nay, TTYT đang điều trị ARV cho
340 bệnh nhân được điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone; chương trình này đã phục vụ 395 người Có 1.259 lượt tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai được thực hiện nhằm tăng cường nhận thức và phòng ngừa HIV/AIDS Ngoài ra, 155 người nghiện chích ma túy được tiếp cận chương trình cấp phát bơm kim tiêm, nước cất và bao cao su miễn phí, góp phần giảm thiểu rủi ro lây truyền HIV Vì vậy, cơ sở methadone của Trung tâm y tế quận Long Biên luôn được xem là hình mẫu của cả nước và là điểm đến tham quan, học tập của nhiều đoàn khách trong và ngoài nước.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, nghiện các chất dạng thuốc phiện đang là vấn đề phổ biến và đáng lo ngại trên toàn cầu và tại Việt Nam; từ giữa thập niên 1990, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình can thiệp nhằm giảm và kiểm soát lây truyền HIV trong nhóm người nghiện chích ma túy và các nhóm nguy cơ khác Đến năm 2008, Cục Phòng, chống HIV/AIDS (VAAC) – Bộ Y tế bắt đầu thí điểm chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone và đã mang lại những hiệu quả đáng kể; phương pháp này đã được chứng minh là liệu pháp điều trị hiệu quả và được áp dụng trên hơn 50 năm tại nhiều quốc gia trên thế giới, không những giúp người bệnh giảm sử dụng ma túy qua đường tiêm, giảm nguy cơ lây truyền HIV mà còn tăng tỷ lệ có việc làm, cải thiện chất lượng cuộc sống, phục hồi chức năng tâm lý và tái hòa nhập cộng đồng Một số thành phố lớn sau khi thí điểm thành công đã mở rộng mạng lưới cơ sở điều trị methadone, tiêu biểu Hà Nội hiện có 18 cơ sở và TP Hồ Chí Minh 23 cơ sở tính đến tháng 10 năm 2019 Tính đến cuối năm 2019, cả nước có 52.200 người bệnh đang được điều trị methadone tại 335 cơ sở điều trị và 227 cơ sở cấp phát thuốc trải khắp 63 tỉnh thành.
Hỗ trợ xã hội đóng vai trò then chốt trong duy trì điều trị và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh, giúp tuân thủ quá trình điều trị, tăng hiệu quả điều trị và giảm tỉ lệ bỏ trị liệu cũng như quên liều; không chỉ giúp người bệnh tự tin tham gia điều trị mà còn định hướng và tạo động lực suốt quá trình duy trì, góp phần dự phòng tái nghiện và tăng khả năng hồi phục Hỗ trợ xã hội là yếu tố quan trọng cho chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, nhất là với các bệnh mãn tính như chạy thận nhân tạo, suy tim, ung thư, tiểu đường, HIV/AIDS và người nghiện; mặc dù tác động lớn tới sức khỏe, số lượng nghiên cứu về hỗ trợ xã hội và các yếu tố liên quan đối với người điều trị methadone ở Việt Nam còn rất hạn chế, tại quận Long Biên, Hà Nội hiện chưa có nghiên cứu đánh giá nhu cầu hỗ trợ xã hội và các yếu tố liên quan cho đối tượng này.
Vì tính cấp thiết của vấn đề, nghiên cứu được tiến hành nhằm cung cấp thông tin về hỗ trợ xã hội và những ảnh hưởng của nó đối với người bệnh đang điều trị methadone tại Trung tâm Y tế quận Long Biên Từ đó, kết quả nhằm giúp cán bộ và nhân viên y tế nhận diện các yếu tố tác động và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả của chương trình điều trị trong tương lai.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Người bệnh đang điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng methadone trong giai đoạn duy trì tại Trung tâm Y tế quận Long Biên, Hà Nội
Người bệnh đang được điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng methadone tại TTYT Quận Long Biên, Hà Nội ở giai đoạn duy trì Ở giai đoạn này, hội chứng cai ít xuất hiện hoặc không xuất hiện, giúp tinh thần người bệnh ổn định hơn so với những người khởi liều và đang dò liều Do đó, điều trị thay thế nghiện bằng methadone tại đơn vị này mang lại sự ổn định tâm lý và kết quả lâm sàng tích cực cho người bệnh.
- Người bệnh đủ 18 tuổi trở lên
- Đối tượng có mặt tại thời điểm nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu
- Người bệnh không trả lời đầy đủ 20 câu hỏi của bộ công cụ đánh giá hỗ trợ xã hội MOS – SSS.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y tế quận Long Biên, Hà Nội
- Thời gian thu thập dữ liệu: Tháng 11 và tháng 12 năm 2021
Xác định các biến số nghiên cứu
Bảng 2.3 Các biến số cần thu thập
Tên biến số Khái niệm biến số Giá trị của biến số
Cách thức thu thập biến số
Tuổi được hiểu là tuổi tròn, được tính từ năm sinh dương lịch của đối tượng đến thời điểm nghiên cứu, nhằm xác định độ tuổi tham gia và phân nhóm trong nghiên cứu Mỗi nhóm tuổi bao gồm các đối tượng có cùng phạm vi tuổi, được phân chia để phục vụ cho mục đích nghiên cứu và phân tích dữ liệu.
Biến liên tục dạng số
Thu thập qua phỏng vấn và hồ sơ bệnh án
2 Giới tính Giới tính của đối tượng tham gia nghiên cứu
Biến phân loại (Nam/Nữ)
Thu thập qua quan sát và hồ sơ bệnh án
Là trình độ học vấn cao nhất của đối tượng tham gia nghiên cứu
Thu thập qua phỏng vấn và hồ sơ bệnh án
Là các tùy chọn riêng biệt mô tả mối quan hệ của một người với một người khác
Thu thập qua phỏng vấn
Là tình trạng có hay không sống cùng với người khác (kể cả các thành viên trong gia đình, họ hàng, vợ/chồng, bạn tình)
Thu thập qua phỏng vấn
Tên biến số Khái niệm biến số Giá trị của biến số
Cách thức thu thập biến số
Là tình trạng hoạt động lao động của một người để tạo ra các loại sản phẩm, đáp ứng được những nhu cầu nhất định của xã hội
Biến phân loại (thất nghiệp, làm bán thời gian…)
Thu thập qua phỏng vấn và hồ sơ bệnh án
Là khả năng/độ tự chủ của kinh tế bản thân
(tự chủ, dựa hoàn toàn vào gia đình…)
Thu thập qua phỏng vấn
Tuổi bắt đầu sử dụng chất gây nghiện
Tính theo năm dương lịch, là độ tuổi bắt đầu sử dụng chất gây nghiện
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Loại chất gây nghiện đã từng sử dụng
Là loại chất gây nghiện đã từng sử dụng
(Ma tuý tổng hợp, cần sa…)
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
10 Đường dùng ma tuý đã sử dụng
Là đường dùng đã từng sử dụng để đưa ma tuý vào cơ thể
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Xem xét trong quá khứ đối tượng đã từng có tiền án/tiền sự nào hay chưa
Biến phân loại (Có/Không)
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Thời gian điều trị methadone
Là thời gian kể từ lúc bắt đầu điều trị methadone đến thời điểm nghiên cứu, tính theo đơn vị năm
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Tên biến số Khái niệm biến số Giá trị của biến số
Cách thức thu thập biến số
Tác dụng phụ khi sử dụng methadone
Là tác dụng ngoài ý muốn trong quá trình sử dụng thuốc methadone
Biến phân loại (Có/Không)
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Các tác dụng phụ khi sử dụng methadone
Là các tác dụng ngoài ý muốn trong quá trình sử dụng thuốc methadone
(táo bón, tăng tiết mồ hôi…)
Thu thập qua phỏng vấn và hồ sơ bệnh án
Là có hay không mắc ít nhất 1 bệnh lây nhiễm
Biến phân loại (Có/Không)
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Là bệnh lây nhiễm đang mắc tại thời điểm khảo sát
Biến phân loại (HIV/AIDS, lao, viêm gan B/C)
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Là người bệnh có hay không đang được điều trị cai nghiện bằng ARV tính đến thời điểm nghiên cứu
Biến phân loại (Có/Không)
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Xét nghiệm chất dạng thuốc phiện
Là kết quả khi xét nghiệm CDTP trong nước tiểu của người bệnh; Ghi nhận kết quả xét nghiệm gần nhất
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Liều điều trị methadone hiện tại
Là liều điều trị methadone đang uống tại thời điểm nghiên cứu
Biến dạng số (mg/ngày)
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
Tên biến số Khái niệm biến số Giá trị của biến số
Cách thức thu thập biến số
Bỏ liều methadone trong 03 tháng qua
Là có hay không bỏ bất kỳ liều methadone nào trong vòng 03 tháng trở lại đây
Biến phân loại (Có/Không)
Thu thập qua hồ sơ bệnh án
21 Lý do bỏ liều methadone
Là lý do mà người bệnh bỏ liều trong vòng 01 tháng trở lại đây
Biến phân loại (Vấn đề cá nhân, kinh tế…)
Thu thập qua phỏng vấn
Công thức tính cỡ mẫu ước lượng 1 trung bình: n = Z ((1 ∝
$ σ $ d $ n: Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu α: Xác suất sai lầm loại I, với α = 0,05
Z: Trị số từ phân phối chuẩn, Z ((1 ∝
" ) = 1,96 d: Sai số biên σ: Độ lệch chuẩn của điểm hỗ trợ xã hội
Dựa vào nghiên cứu "Hỗ trợ xã hội trên bệnh nhân điều trị methadone và các yếu tố liên quan tại cơ sở điều trị Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Lê Yến Nhi, năm 2018 [10], cỡ mẫu cho từng lĩnh vực được tính toán nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy cho kết quả phân tích trong nghiên cứu này.
Bảng 2.4 Ước lượng cỡ mẫu theo thang đo MOS - SSS
Lĩnh vực TB ± ĐLC b Sai số d Cỡ mẫu
Tương tác xã hội tích cực 3,19 ± 1,23 0,174 192
Tình cảm 3,52 ± 1,01 0,174 130 b trung bình ± độ lệch chuẩn
Theo kết quả tính toán được, cỡ mẫu tối thiểu là 192 người bệnh
Trên thực tế, nghiên cứu đã lấy mẫu dư 20% so với cỡ mẫu tối thiểu, tương đương 230 bệnh nhân, do đối tượng nghiên cứu là nhóm nhạy cảm (những người từng nghiện các chất dạng thuốc phiện và từng có tiền án tiền sự) Vì tính nhạy cảm này, khó tránh khỏi sự không hợp tác trong quá trình nghiên cứu.
2.2.3.2 Phương pháp lựa chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện được thực hiện bằng cách phỏng vấn các bệnh nhân đến khám và điều trị tại cơ sở điều trị methadone ở giai đoạn duy trì, nhằm xây dựng danh sách 237 người tham gia nghiên cứu tại Trung tâm Y tế quận Long Biên trong thời gian nghiên cứu Việc lựa chọn dựa trên sự sẵn lòng tham gia và khả năng tiếp cận, đảm bảo đại diện cho nhóm bệnh nhân methadone ở khu vực này và tăng tính khả thi của quá trình thu thập dữ liệu.
2.2.4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Phỏng vấn người bệnh được thực hiện bằng bộ câu hỏi cấu trúc soạn sẵn, kèm giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu để đảm bảo sự đồng thuận tham gia của người bệnh Quá trình phỏng vấn được thực hiện trực tiếp (face-to-face) tại phòng khám sau khi người bệnh đồng ý tham gia và được bác sĩ cho phép, đồng thời việc hồi cứu hồ sơ bệnh án cũng được thực hiện khi có sự đồng ý của người bệnh và sự cho phép của bác sĩ Thời gian phỏng vấn trung bình từ 7 đến 10 phút cho mỗi đối tượng.
Tỷ lệ phản hồi = #ố 56ườ9 :; 0,05).
3.2.1.4 Sự khác biệt giữa điểm hỗ trợ xã hội với sự tuân thủ điều trị methadone Bảng 3.19 Sự khác biệt giữa điểm số hỗ trợ xã hội với sự tuân thủ điều trị methadone Đặc điểm Số lượng Hữu hình a Cảm xúc thông tin a
Tương tác xã hội tích cực a
Bỏ l iề u 3 th án g Có
4,23 (3,58–5,00) 4,87 (4,31–5,00) Đặc điểm Số lượng Hữu hình a Cảm xúc thông tin a
Tương tác xã hội tích cực a
XN nư ớ c ti ểu th ấy C D TP Âm tính
Tu ân th ủ đ iề u tr ị Tuân thủ
4,50 (3,88–4,88) 4,31 (3,54–4,91) 0,397 c a Trung vị (Khoảng tứ phân vị) c kiểm định Wilcoxon d kiểm định Kruskal-Wallis
Nhận xét từ bảng kết quả 3.19 cho thấy nghiên cứu chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa sự tuân thủ điều trị methadone và từng khía cạnh của điểm số hỗ trợ xã hội cũng như toàn thang đo MOS – SSS ở người bệnh đang điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng methadone tại Trung tâm Y tế quận Long Biên (p > 0,05).
3.2.1.5 Mối tương quan giữa điểm số hỗ trợ xã hội với tuổi sử dụng ma tuý lần đầu, thời gian điều trị methadone và số người thân – bạn thân
Bảng 3.20 trình bày mối tương quan giữa điểm số hỗ trợ xã hội và các yếu tố liên quan đến nghiện ma túy, bao gồm độ tuổi lần đầu sử dụng ma tuý, thời gian điều trị methadone và số người thân – bạn thân trong mạng lưới xã hội Kết quả cho thấy hỗ trợ xã hội được phân thành ba đặc điểm: hữu hình, cảm xúc và thông tin, và mỗi yếu tố này có mức liên hệ khác nhau với các biến trên Cụ thể, mức độ hỗ trợ hữu hình và cảm xúc có sự liên hệ với tuổi bắt đầu sử dụng và thời gian điều trị methadone, trong khi hỗ trợ thông tin cho thấy mối liên hệ mạnh với số người thân – bạn thân Những phát hiện này nhấn mạnh vai trò của mạng lưới hỗ trợ xã hội trong quá trình điều trị và phục hồi cho người dùng ma túy, đồng thời có thể được dùng để tối ưu hóa các chiến lược can thiệp và chăm sóc liên tục.
Tương tác xã hội tích cực
Tuổi sử dụng ma túy lần đầu r - 0,033 - 0,084 - 0,092 0,087 - 0,068 p 0,611 e 0,198 e 0,161 e 0,184 e 0,297 e
Thời gian điều trị methadone r - 0,135 - 0,112 - 0,108 - 0,116 - 0,124 p 0,038 e 0,084 e 0,097 e 0,075 e 0,056 e
Số người thân – bạn thân r 0,207 0,275 0,285 0,217 0,300 p 0,001 e < 0,001 e < 0,001 e < 0,001 e < 0,001 e e hệ số tương quan Spearman
Nhìn vào bảng 3.20, nghiên cứu chưa tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm số của từng khía cạnh hỗ trợ xã hội và tổng thang đo MOS-SSS với tuổi sử dụng ma tuý lần đầu và thời gian điều trị methadone Ngược lại, có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa số lượng người thân – bạn thân với điểm số từng khía cạnh và với tổng thang đo MOS-SSS; tuy nhiên, các mối tương quan này là yếu, với |r| lần lượt là 0,207; 0,275; 0,285; 0,217; 0,2996 và p < 0,05.
3.2.1.6 Mối tương quan giữa điểm số hỗ trợ xã hội với liều điều trị và số lần bỏ liều trong 3 tháng qua
Bảng 3.21 Mối tương qua giữa điểm số hỗ trợ xã hội với liều điều trị và số lần bỏ liều trong 3 tháng qua Đặc điểm Hữu hình
Tương tác xã hội tích cực Tình cảm Thang đo
3 tháng qua r - 0,083 -0,078 - 0,110 - 0,029 - 0,086 p 0,202 e 0,230 e 0,090 e 0,661 e 0,185 e e hệ số tương quan Spearman