1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG lối CÁCH MẠNG dân tộc dân CHỦ NHÂN dân từ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ đầu TIÊN đến CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

73 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 93,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG. 1 1.1. Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (0)
    • 1.1.1. Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp (10)
    • 1.1.2. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ (13)
    • 1.1.3. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam (17)
    • 1.2. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên (22)
      • 1.2.1. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (22)
      • 1.2.2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam (24)
  • Chương 2 LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945) (0)
    • 2.1. Luận cương chính trị (30)
      • 2.1.1. Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị (30)
      • 2.1.2. Nội dung của Luận cương chính trị (32)
    • 2.2. Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945 (36)
      • 2.2.1. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 (36)
      • 2.2.2. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940 (38)
      • 2.2.3. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 05/1941 (40)
    • 3.1. Bối cảnh lịch sử và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (45)
      • 3.1.1. Bối cảnh lịch sử (45)
      • 3.1.2. Nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (50)
    • 3.2. Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân (55)
      • 3.2.1. Nội dung bổ sung, hoàn chỉnh (55)
      • 3.2.2. Giá trị thực tiễn (60)
  • PHỤ LỤC (70)

Nội dung

Trong quá trình đó, do còn hạn chế trong đánh giá thực tiễn của xã hội thuộc địa với những tàn tích phongkiến còn nặng nề ở Việt Nam, ảnh hưởng hưởng bởi những nhận thức không đúng về cá

BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG 1 1.1 Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

Việt Nam, một quốc gia ở Đông Nam Á với vị trí địa chính trị quan trọng, đã trở thành mục tiêu của mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp; sau quá trình điều tra thám sát lâu dài và sự thâm nhập kiên trì của các giáo sĩ, thương nhân Pháp, ngày 19/1858 thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu chu kỳ xâm lược Việt Nam và đẩy chế độ phong kiến Nhà Nguyễn vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng; trước hành động xâm lược, triều đình Nhà Nguyễn ngày càng thỏa hiệp, thể hiện qua các hiệp ước 1862 và 1874.

Đến ngày 6/6/1884, sau Hiệp ước Patonôt, Việt Nam đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp và trở thành một xứ thuộc địa; dân ta bị coi là vong quốc nộ và Tổ quốc bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác.

Cho dù triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam không chịu khuất phục và phong trào đấu tranh lan rộng khắp các địa phương Pháp dùng vũ lực để bình định và đàn áp, đồng thời xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, duy trì chính quyền phong kiến bản xứ làm tay sai và thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khối đoàn kết dân tộc Việt Nam bị chia thành ba kỳ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, với các chế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp được thành lập ngày 17/10/1887 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lớn Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất

Trong các giai đoạn 1897–1914 và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919–1929), thực dân Pháp mưu đồ biến Việt Nam và Đông Dương thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của chính quốc, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên và bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản địa thông qua nhiều hình thức thuế khóa nặng nề Chế độ cai trị của thực dân Pháp tại Việt Nam được coi là chế độ độc tài chuyên chế nhất, vô cùng khủng khiếp và khắc nghiệt hơn cả chế độ quân chủ cổ đại ở châu Á Năm 1862, Pháp đã lập nhà tù ở Côn Đảo để giam cầm những người Việt Nam yêu nước chống Pháp.

Về kinh tế, sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mang lại sự khởi sắc cho đất nước, nhưng thực dân vẫn duy trì quan hệ phong kiến lạc hậu để thu lợi từ các nước thuộc địa Cốt lõi nền kinh tế Việt Nam vẫn là nông nghiệp, lạc hậu và phụ thuộc, vì chúng muốn kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, làm cho kinh tế không tự chủ và lệ thuộc vào chúng để dễ cai trị và khai thác.

Trong thời kỳ khai thác thuộc địa và thống trị của thực dân Pháp, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm nặng nề, tiến triển chậm chạp và trở nên què quặt, phiến diện, đồng thời chịu lệ thuộc vào nền kinh tế Pháp.

Về văn hóa - xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân để dễ cai trị, xây dựng nhiều nhà tù thay cho trường học, đồng thời du nhập các giá trị phản văn hóa và duy trì tệ nạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến, thậm chí tạo ra nhiều tệ nạn mới Chúng dùng rượu và thuốc phiện như công cụ đầu độc thế hệ người Việt Nam và ra sức tuyên truyền tư tưởng nhằm khuếch đại ảnh hưởng, củng cố quyền lực và kiểm soát xã hội.

“khai hoá văn minh" của nước “Đại Pháp”

Chế độ thực dân Pháp gây ra sự phân hoá mạnh của các tầng lớp xã hội Việt Nam thông qua áp bức về chính trị, bóc lột kinh tế và nô dịch văn hóa, làm biến đổi sâu sắc tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước Các giai cấp cũ bị phân hóa, xuất hiện các giai cấp và tầng lớp mới với địa vị kinh tế khác nhau, từ đó hình thành thái độ chính trị đa dạng và khác nhau đối với vận mệnh của dân tộc.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Dưới chế độ phong kiến, hai giai cấp cơ bản của xã hội Việt Nam là địa chủ và nông dân; khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bắt đầu phân hoá mạnh, tạo thành nhiều tầng lớp với mức độ giàu nghèo khác nhau Sự phân hoá này bị thúc đẩy bởi hệ thống thực dân, thuế khóa và sự kiểm soát kinh tế của Pháp, khiến quan hệ địa chủ—nông dân ngày càng căng thẳng, và nông dân chịu áp lực lao động, cắt xén ruộng đất và lệ thuộc vào quyền lợi của giới chủ mới.

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, một bộ phận địa chủ cấu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho việc đàn áp phong trào yêu nước, đồng thời bóc lột nông dân; ngược lại, một bộ phận địa chủ nêu cao tinh thần dân tộc, khởi xướng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp và bảo vệ chế độ phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương; một số trở thành lãnh đạo phong trào nông dân chống thực dân và phong kiến phản động; còn lại một bộ phận nhỏ chuyển sang hoạt động kinh doanh theo lối tư bản.

Giai cấp nông dân chiếm trên 90% dân số, là giai cấp bị bóc lột nặng nề, đối diện mâu thuẫn với giai cấp địa chủ và thực dân xâm lược; tinh thần cách mạng của nông dân không chỉ gắn với ruộng đất và đời sống hàng ngày mà còn gắn với quê hương, đất nước và nền văn hóa nghìn năm của dân tộc Đây là lực lượng hùng hậu, có ý chí đấu tranh kiên cường cho độc lập tự do và khao khát giành lại ruộng đất cho dân cày, sẵn sàng đứng lên làm cách mạng lật đổ thực dân phong kiến khi có lãnh đạo tiên phong Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành trong bối cảnh khai thác thuộc địa, khi thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng và khu đồn điền; ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, công nhân Việt Nam có đặc điểm riêng do ra đời trong một nước thuộc địa nửa phong kiến, phần lớn xuất thân từ nông dân, lực lượng chủ yếu là công nhân khai thác mỏ và đồn điền, tuy còn nhỏ bé nhưng đã nhanh chóng tiếp nhận tư tưởng tiến bộ của thời đại và từ tự phát chuyển sang tự giác, cho thấy đây là giai cấp có năng lực lãnh đạo cách mạng.

Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân và phân hoá thành hai khu vực rõ rệt: một bộ phận có lợi ích gắn với tư bản Pháp tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính quyền thực dân và trở thành tầng lớp tự sản mại bản; một bộ phận là tư sản dân tộc bị thực dân Pháp chèn ép, kiềm hãm, lệ thuộc và yếu về kinh tế Phần lớn tư sản dân tộc tuy có tiềm năng phát triển nhưng vẫn chịu sự áp đặt của chế độ thuộc địa, thiếu tự chủ kinh tế và gặp khó khăn trong cạnh tranh với nguồn lực do Pháp kiểm soát.

Dân tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc cao và lòng yêu nước sâu sắc, nhưng vẫn chưa có khả năng tập hợp các giai tầng xã hội để tiến hành một cuộc cách mạng; sự đoàn kết giữa các tầng lớp chưa đủ mạnh để hình thành lực lượng lãnh đạo và sự đồng thuận cần thiết cho một phong trào đổi mới.

Tiểu tư sản gồm tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên và các nhóm tương đồng bị đế quốc và hệ thống tư bản đè nén và coi thường, dù vẫn thể hiện tinh thần dân tộc và yêu nước, rất nhạy cảm với biến động chính trị và thời cuộc Tuy vậy, vì địa vị kinh tế bấp bênh và sự dao động thiếu kiên định, tầng lớp tiểu tư sản không thể đảm nhận vai trò lãnh đạo cách mạng.

Trong hệ thống sĩ phu phong kiến, sự phân hóa tư tưởng thể hiện rõ: một bộ phận theo hướng tư tưởng dân chủ tư sản hoặc cổ vũ các phong trào yêu nước và vô sản; một số người khác khởi xướng các phong trào yêu nước và có ảnh hưởng lớn.

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com a Phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930

Ngay từ khi Pháp xâm lược, phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam diễn ra phổ biến và quyết liệt khắp cả nước Dù năm 1884 triều đình nhà Nguyễn đã chịu hàng, một bộ phận phong kiến yêu nước vẫn cùng nhân dân tiến hành đấu tranh vũ trang chống Pháp, nổi bật là phong trào Cần Vương do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng (1886-1896) Hưởng ứng lời kêu gọi Cần Vương cứu nước, các cuộc khởi nghĩa tại Ba Đình (Thanh Hóa), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh) diễn ra sôi nổi, thể hiện ý chí quật khởi của các tầng lớp nhân dân trước ngoại xâm Tuy vậy, ngọn cờ phong kiến lúc đó không còn là biểu tượng thống nhất để tập hợp toàn diện mọi tầng lớp và không thể liên kết được các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc Cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng thất bại (1896) đánh dấu sự suy yếu và chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp phong kiến trong phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam.

Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, ở vùng núi và trung du phía Bắc, phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) nổ ra dưới sự lãnh đạo của Hoàng Hoa Thám Nghĩa quân đã xây dựng lực lượng chiến đấu, mở rộng căn cứ và kiên trì đấu tranh chống thực dân Pháp suốt gần ba thập kỷ Tuy đạt được ý chí kiên cường và tổ chức tự lực, phong trào mang nặng dấu ấn cốt cách phong kiến nên chưa có khả năng mở rộng liên kết và hợp tác để hình thành một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thống nhất, do đó sự đàn áp của thực dân Pháp vẫn tiếp tục.

Nguyên nhân thất bại của các cuộc khởi nghĩa là do chủ trương chỉ đạo chưa hợp lý Trong khi yêu cầu thực tiễn là chống thực dân, bảo đảm quyền tự quyết của dân tộc, xóa bỏ chế độ phong kiến và triều đại phong kiến, đồng thời tập hợp lực lượng để tiến hành một cuộc khởi nghĩa triệt để trên toàn quốc, thực tiễn lại dựa trên hệ tư tưởng phong kiến chống Pháp và thiếu khả năng quy tụ lực lượng giữa xã hội Việt Nam đã phân hoá thành các tầng lớp giai cấp Vì vậy các cuộc khởi nghĩa đó không còn vai trò tiên phong, đại diện cho toàn thể nhân dân để giải quyết vấn đề dân tộc Thay vào đó, các phong trào chủ yếu tập trung lực lượng vào một vài khu vực, một số tầng lớp xã hội nhất định.

Trong lịch sử phong trào yêu nước Việt Nam, lực lượng nông dân dù có quy mô hùng hậu nhưng thiếu hệ tư tưởng tiến bộ ngoài khuynh hướng phong kiến, nên các cuộc khởi nghĩa chống Pháp nhằm khôi phục chế độ phong kiến diễn ra lẻ tẻ, rải rác và bị đàn áp Dẫu vậy, những sự kiện này vẫn để lại ảnh hưởng cho các phong trào yêu nước cứu quốc sau này, cho thấy giai cấp nông dân là lực lượng mạnh có thể liên kết trên toàn quốc để tiến tới một cuộc khởi nghĩa thắng lợi, nếu được dẫn dắt bởi giai cấp có tư tưởng tiến bộ khác Phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930 mở ra những con đường mới cho cuộc đấu tranh giành độc lập và tiến bộ xã hội.

Vào đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng của trào lưu dân chủ tư sản, thể hiện qua xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, sự cải cách của Phan Châu Trinh, và sau đó là phong trào tiểu tư sản trí thức của Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ) từ 12/1927 đến 2/1930, phát triển rộng khắp các tỉnh Bắc Kỳ, nhưng tất cả các khuynh hướng này đều không thành công.

Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu tổ chức và lãnh đạo nhằm tập hợp lực lượng bằng phương pháp bạo động chống Pháp, xây dựng một chế độ chính trị như ở Nhật Bản; phong trào này đưa thanh niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bản học tập và được biết đến với phong trào Đông Du Đến năm 1908, Nhật Bản câu kết với thực dân Pháp trục xuất lưu học sinh Việt Nam và những người đứng đầu phong trào Đông Du Sau khi phong trào Đông Du thất bại, chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang phục Hội với tôn chỉ là vũ trang đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục Việt Nam và thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam Tuy nhiên chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội thiếu rõ ràng Cuối năm

Vào năm 1913, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam tại Trung Quốc và bị giam giữ cho đến đầu năm 1917, sau đó bị quản chế tại Huế cho đến khi ông mất vào năm 1940 Sự ảnh hưởng của xu hướng bạo động do tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội đối với phong trào yêu nước Việt Nam cho đến đây đã chấm dứt.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Phan Châu Trinh và các người cùng chí hướng mong giành độc lập cho dân tộc theo đường cải cách đất nước, không đi theo con đường bạo động như Phan Bội Châu Ông cho rằng bất bạo động là nền tảng, và muốn khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh; đồng thời kêu gọi bãi bỏ chế độ quân chủ, thực hiện dân quyền, khai thông dẫn trí và mở mang thực nghiệp Để thực hiện chủ trương ấy, Phan Châu Trinh đề nghị nhà nước bảo hộ Pháp để tiến hành cải cách; đây là sự hạn chế của xu hướng cải cách nhằm cứu nước, bởi ông đã đặt niềm tin vào lòng độ lượng của Pháp để cứu nước Nam mà chưa nắm được bản chất của đế quốc thực dân Do vậy, khi phong trào Duy Tân lan rộng khắp Trung Kỳ và Nam Kỳ, đỉnh cao là vụ chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, thực dân Pháp đã đàn áp dã man, giết hại nhiều sĩ phu và nhân dân tham gia biểu tình Nhiều sĩ phu bị bắt, bị đày ra Côn Đảo, trong đó có Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bị Pháp dập tắt, và sự đóng cửa Trường Đông Kinh Nghĩa Thục vào tháng 12/1907 phản ánh sự kết thúc xu hướng cải cách trong phong trào cứu nước của Việt Nam.

Khi thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa lần thứ hai, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp ngày càng gay gắt, đẩy các giai cấp và tầng lớp mới lên sân khấu chính trị Trong bối cảnh này, phong trào có ảnh hưởng rộng và thu hút đông đảo học sinh, sinh viên yêu nước ở Bắc Kỳ là Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo Dựa trên cơ sở các tổ chức yêu nước của tiểu tư sản trí thức, Việt Nam Quốc dân Đảng được chính thức thành lập tháng 12 năm 1927 tại Bắc Kỳ.

Việt Nam Quốc dân Đảng nhằm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc và xây dựng một chế độ cộng hòa tư sản; với phương pháp đấu tranh vũ trang nhưng mang tính manh động, có yếu tố ám sát cá nhân, và lực lượng chủ yếu là binh lính, sinh viên Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở một số tỉnh, mạnh nhất ở Yên Bái vào tháng 2 năm 1930; tuy oai hùng và quyết liệt, nhưng nó nhanh chóng bị thất bại.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Nguyên nhân dẫn đến thất bại của các phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản là do dù có tiếp nhận hệ tư tưởng tư sản và có một số tri thức phong kiến xem đây là điểm tích cực, họ vẫn không hiểu đúng bản chất của đế quốc và thực tiễn đặt ra Vì vậy phong trào chưa tập hợp được lực lượng và thiếu nhận thức về sức mạnh của giai cấp công nhân và nông dân, từ đó không thể giải quyết các vấn đề dân tộc một cách hiệu quả.

Những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước ở Việt Nam tiếp tục mạnh mẽ, kiên định, nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chống ngoại xâm trên mọi lớp tầng lớp xã hội; dù với nhiều phương thức khác nhau, đều hướng tới một mục tiêu chung là giải phóng dân tộc Tuy nhiên, các phong trào cứu nước từ phong trào Cần Vương đến các khuynh hướng tư sản và tiểu tư sản đều lần lượt thất bại vì thiếu một đường lối chính trị đúng đắn giải quyết những mâu thuẫn căn bản của xã hội, thiếu một tổ chức vững mạnh tập hợp và lãnh đạo toàn dân, và chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đẩy lùi kẻ thù Dẫu thất bại, các phong trào yêu nước đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân, bồi đắp cho chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam, và đặc biệt thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến, tìm ra một con đường mới, một giải pháp cứu nước phù hợp với xu thế của thời đại Nhiệm vụ lịch sử cấp thiết đặt ra cho thế hệ yêu nước lúc bấy giờ là xây dựng một tổ chức cách mạng tiên phong với đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.

Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam

Trong bối cảnh ấy, các luồng tư tưởng từ bên ngoài như Cách mạng tư sản Pháp 1789, phong trào Duy Tân Nhật Bản năm 1868, cuộc vận động Duy Tân tại Trung Quốc năm 1898 và Cách mạng Tân Hơi của Trung Quốc năm 1911 đã tác động mạnh mẽ, làm chuyển biến phong trào yêu nước những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã tiếp thêm động lực và ảnh hưởng sâu rộng tới các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và dân chủ trên thế giới.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Pháp ở Húc Hải (Biển Đen) và việc Tôn Đức Thắng tham gia đấu tranh chống sự can thiệp vào nước Nga Xôviết cho thấy ảnh hưởng của bối cảnh cách mạng quốc tế đối với Việt Nam Năm 1923, luật sư Phan Văn Trường từ Pháp về nước và công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (The Manifesto of the Communist Party) của C Mác và Ph Angghen, sau đó được đăng trên báo La Cloche Fêlée, số ra từ ngày 29/3 đến ngày 20/4/1926 tại Sài Gòn, góp phần tuyên truyền tư tưởng vô sản ở Việt Nam a Quá trình lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc.

Trước yêu cầu cấp thiết của nhân dân Việt Nam về giải phóng dân tộc, Nguyễn Tất Thành mang nhiệt huyết cứu nước và nhãn quan chính trị sắc bén Vượt lên mọi hạn chế của các bậc yêu nước đương thời, ông nhận thức được con đường đúng đắn để cứu nước Năm 1911, với quyết tâm mãnh liệt, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước, nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước.

Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tác động mạnh mẽ tới nhận thức của Nguyễn Tất Thành Người từ nước Anh trở lại nước Pháp và tham gia các hoạt động chính trị hướng về tìm hiểu con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, về V.I. Lênin. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Pháp, một chính đảng tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp Tháng 6/1919, tại Hội nghị của các nước thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất hợp ở Versailles (Vécxây, Pháp), Tổng thống Mỹ Uynxơn (Woodrow Wilson) tuyên bộ bảo đảm về quyền dân tộc tự quyết cho các nước thuộc địa Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước ở Pháp gửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam (gồm tám điểm đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam) ngày 18/6/1919 Những người Việt Nam tiêu biểu cho tinh thần yêu nước ở Pháp, gồm: Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Ái Quốc Những yêu sách đó dù không được Hội nghị đáp ứng, nhưng đã tạo nên tiếng vang lớn trong dư luận quốc tế và Nguyễn Ái Quốc càng hiểu rõ hơn bản chất của đế quốc, thực dân.

Tháng 7/1920, V.I Lênin công bố bản Sơ thảo lần thứ nhất về những luận cương liên quan đến vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, được đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo), số ra ngày 16 và 17/7/1920 Những luận điểm của Lênin về dân tộc và thuộc địa làm rõ quyền tự quyết của các dân tộc và mối liên hệ giữa quyền này với sự nghiệp giải phóng dân tộc và chống chủ nghĩa đế quốc Bài viết nhằm khẳng định vai trò của cách mạng vô sản trong giải quyết vấn đề dân tộc và thuộc địa, đồng thời cổ vũ sự đoàn kết của các dân tộc bị áp bức trên bình diện thế giới.

TIEU LUAN MOI download và địa chỉ email skknchat123@gmail.com giải đáp những vấn đề cơ bản, đồng thời chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Lý luận của V.I Lênin và lập trường đúng đắn của Quốc tế Cộng sản về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa là nền tảng để Nguyễn Ái Quốc xác định thái độ ủng hộ việc gia nhập Quốc tế Cộng sản tại Đại hội XVIII của Đảng Xã hội Pháp (tháng 12 năm 1920) họp ở Tours Tại đại hội này, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III do V.I Lênin sáng lập.

Ngay sau đó, Nguyễn Ái Quốc cùng với những người vừa bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản đã tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản – tức là Đảng Cộng sản Pháp Với sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của ông Trong giai đoạn 1919–1921, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp Albert Sarraut nhiều lần gặp Nguyễn Ái Quốc để mua chuộc và đe dọa Ngày 30/6/1923, Nguyễn Ái Quốc tới Liên Xô và làm việc tại Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva, tham gia nhiều hoạt động, đặc biệt là dự và đọc tham luận tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6–8/7/1924), và làm việc trực tiếp ở Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.

Sau khi xác định con đường cách mạng đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục khảo sát và tìm hiểu để hoàn thiện nhận thức về đường lối cách mạng vô sản, đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam và chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cũng như tổ chức cho sự ra đời của Đảng; Nguyễn Ái Quốc cũng chuẩn bị các điều kiện về chính trị và tư tưởng cho việc thành lập Đảng.

Về tư tưởng, từ giữa năm 1921 tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số nhà cách mạng của các nước thuộc địa đã tham gia thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa và sau đó sáng lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ); từ đây ông đã viết nhiều bài trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp chí Cộng sản và Tập san Thư tín quốc tế, góp phần lan tỏa tư tưởng cách mạng, cổ vũ phong trào giải phóng và quyền lợi của người lao động.

Vào năm 1922, Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp được thành lập và Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương; ông vừa nghiên cứu lý luận vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản và công nhân.

Nguyễn Ái Quốc tích cực tố cáo, lên án bản chất áp bức, bóc lột và nô dịch của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh và đấu tranh giải phóng Người đã làm rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân, xác định nó là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới Đồng thời, Người tiến hành tuyên truyền tư tưởng về con đường cách mạng vô sản, con đường cách mạng theo lý luận Mác - Lênin, và xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng thế giới và đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã kế thừa và phát triển quan điểm của V.I Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc; ông khẳng định con đường của các dân tộc bị áp bức là đồng thời giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, và cả hai cuộc cách mạng giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản; đường lối chính trị của một Đảng cách mạng phải nhằm mục tiêu giành độc lập cho dân tộc, mang lại tự do và hạnh phúc cho đồng bào, đồng thời xây dựng một nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích của nhân dân.

Nguyễn Ái Quốc cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, và giữa chúng tồn tại mối quan hệ chặt chẽ cũng như sự hỗ trợ lẫn nhau giữa cách mạng ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc Tuy nhiên, phong trào giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa không phụ thuộc vào sự phát triển của cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc và có thể giành thắng lợi trước, qua đó đóng góp tích cực vào sự thúc đẩy của cách mạng vô sản ở chính quốc.

Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh về vai trò của Đảng Cộng sản: trước hết phải có một đảng cách mạng kiên định để ở trong nước vận động và tổ chức quần chúng, đồng thời ở ngoài liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản trên khắp thế giới Sự vững mạnh của đảng quyết định thành công của cuộc cách mạng, cũng như người cầm lái chỉ có một con thuyền vững mới có thể chạy được.

Về tổ chức, sau khi lựa chọn con đường cứu nước – con đường cách mạng vô sản cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc khẳng định phải đi vào quần chúng, thức tỉnh họ và phát huy vai trò của quần chúng như nền tảng của mọi phong trào Ông nhấn mạnh việc xây dựng một tổ chức cách mạng dựa trên sự gắn kết với dân, từ đó tập hợp và đào tạo cán bộ, mở rộng lực lượng đấu tranh Đi vào quần chúng không chỉ là tuyên truyền mà còn là phát hiện hạt nhân, giáo dục ý thức và nâng cao tinh thần tự lực cho nhân dân Nhờ đó, phong trào cách mạng có tổ chức sẽ trưởng thành, kết nối các tầng lớp xã hội và dẫn tới sự đổi đời của đất nước Đây là nguyên tắc cốt lõi trong tư duy của Nguyễn Ái Quốc về tổ chức và lực lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc khỏi áp bức và nô lệ.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên

1.2.1 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Với sự nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc cùng các hoạt động tích cực của các cấp bộ trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trên khắp cả nước, phong trào yêu nước Việt Nam được đẩy mạnh theo khuynh hướng cách mạng vô sản, nâng cao ý thức giác ngộ và hình thành lực lượng cách mạng của giai cấp công nhân; những cuộc đấu tranh của phong trào công nhân và phong trào yêu nước khắp ba kỳ được tăng nhịp và quy mô, nội dung chính trị ngày càng sâu sắc Đến năm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng VN, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn thích hợp và đủ sức lãnh đạo phong trào; trước tình hình đó, tháng 3/1929, các lãnh đạo Kỳ bộ Bắc Kỳ (Trần Văn Cung, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu…) họp tại số 5D, phố Hàm Long, Hà Nội, quyết định thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam.

Trước ảnh hưởng của Đông Dương Cộng sản Đảng, những thanh niên yêu nước ở Nam Kỳ lần lượt hình thành các chi bộ cộng sản Tháng 11 năm 1929, trên cơ sở các chi bộ ở Nam Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập tại Khánh Hội, Sài Gòn.

Ở Trung Kỳ, Tân Việt Cách mạng Đảng là một tổ chức thanh niên yêu nước có sự tham gia của các lãnh tụ tiêu biểu như Trần Phú và Nguyễn Thị Minh Khai Tổ chức này chịu sự tác động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và từ đó dần đi theo khuynh hướng cách mạng vô sản.

Ba tổ chức cộng sản trên toàn quốc hình thành vào nửa cuối năm 1929 đã khẳng định bước phát triển về chất của phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản, phù hợp với xu thế và nhu cầu cấp thiết của lịch sử nước ta Tuy nhiên, dù ở ba miền, các tổ chức này đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng sản và kêu gọi sự đoàn kết, hợp tác quốc tế nhằm đẩy mạnh cuộc đấu tranh cách mạng.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Quốc tế Cộng sản thừa nhận tổ chức của mình và tự nhận là một đảng cách mạng chân chính Tuy vậy, họ không tránh khỏi sự phân tán lực lượng và thiếu sự thống nhất trong tổ chức trên khắp đất nước.

Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đã chuyển biến mạnh mẽ, làm nổi lên nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng có khả năng tập hợp lực lượng toàn dân tộc và đảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Nhu cầu ấy ngày càng trở nên bức thiết đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ, khi một đảng cách mạng đủ sức tập hợp mọi lực lượng và dẫn dắt phong trào tiến tới thắng lợi.

Nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, Nguyễn Ái Quốc, với tư cách phái viên của Quốc tế Cộng sản, đến Hồng Kông ngày 23/12/1929 để triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng dự họp tại Cửu Long nhằm tiến hành hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất của Việt Nam.

Hội nghị diễn ra từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930 và được ghi trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18/2/1930 Tại hội nghị, các đại biểu thảo luận và tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, thông qua các văn kiện quan trọng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo gồm Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị đã xác định rõ tôn chỉ mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức để lãnh đạo quần chúng lao động làm giai cấp tranh đấu nhằm tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa và thúc đẩy thực hiện xã hội cộng sản Điều kiện vào Đảng được nêu rõ là những người tin theo chủ nghĩa cộng sản, chấp nhận chương trình của Đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu, dám hy sinh và phục tùng mệnh lệnh Đảng, đóng kinh phí và phấn đấu trong một bộ phận đảng.

Trong Hội nghị chủ trương, các đại biểu về nước được quyết định tổ chức một Trung ương lâm thời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hệ thống tổ chức Đảng được xác định từ chi bộ, huyện bộ, thị bộ hay khu bộ, tỉnh bộ, thành bộ hoặc đặc biệt bộ và Trung ương.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Hội nghị quyết định xây dựng các tổ chức cộng hội, nông nội cứu tế, tổ chức phản đế và xuất bản một tạp chí lý luận cùng ba ấn phẩm tuyên truyền của Đảng Đến ngày 24/2/1930, việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất đã hoàn tất với Quyết nghị của Lâm thời chấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam, chấp nhận Đông Dương Công sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được coi là một Đại hội Đảng có giá trị lịch sử.

1.2.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên

Đây là nội dung bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Bản cương lĩnh bao gồm hai văn kiện ngắn gọn là Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng, phản ánh đường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam Hai văn kiện này được coi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam bằng cách phân tích thực trạng xã hội thuộc địa nửa phong kiến và mâu thuẫn giữa dân tộc, công nhân, nông dân với đế quốc, từ đó nêu rõ đường lối “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng” để đi tới xã hội cộng sản; mục tiêu chiến lược được chia thành ba giai đoạn rõ ràng, mỗi giai đoạn tiến hành riêng, và đặc biệt nhấn mạnh rằng cuộc cách mạng thổ địa không nằm trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, các giai đoạn được phân định một cách cụ thể.

- Giai đoạn thứ nhất: tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền.

- Giai đoạn thứ hai: tiến hành cuộc thổ địa cách mạng.

- Giai đoạn thứ ba: tiến tới xã hội cộng sản.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Ta có thể thấy rằng dù vấn đề dân tộc rất quan trọng, xã hội Việt Nam lúc ấy chủ yếu là nông dân, nên đối với họ miếng cơm manh áo là ưu tiên hàng đầu Vì vậy Đảng có thể đặt nhiệm vụ cách mạng ruộng đất lên hàng đầu, thậm chí vượt qua mục tiêu dân tộc, và đây là điểm sáng suốt của Cương lĩnh khi đã nhận diện rõ thực trạng xã hội thuộc địa nửa phong kiến với hai mâu thuẫn chính: giữa nông dân và địa chủ, và giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ đã có từ lâu nhưng chưa gay gắt và có thể điều hòa được; chứng minh cho điều này là khi giặc xâm lược đến, địa chủ sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để cùng nhân dân kháng chiến Địa chủ Việt Nam cũng không có quá nhiều lợi ích trong nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nhưng vẫn tồn tại Tuy nhiên mâu thuẫn lớn nhất là giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp, bởi mọi tầng lớp đều bị đè nén và chiếm đoạt lợi ích Vì vậy, đặc điểm quan trọng nhất để Cương lĩnh xác định nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất là tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền.

Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến để nước Nam được hoàn toàn độc lập Cương lĩnh xác định hai nhiệm vụ cơ bản: chống đế quốc và chống phong kiến nhằm giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc được đặt ở vị trí hàng đầu Tập trung chống đế quốc sau đó mới tiến hành xóa bỏ quyền thống trị của phong kiến, vì lúc này phong kiến Việt Nam đã suy yếu và không còn quyền lực để thống trị.

- Về phương diện xã hội, Cương lĩnh xác định rõ: “a) Dân chúng được tự do tổ chức; b) Nam nữ bình quyền, v.v.; c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá” 2

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.2.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.2.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945)

Luận cương chính trị

2.1.1 Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị

Cương lĩnh chính trị đầu tiên được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã xác định các nội dung trọng tâm phù hợp với đặc điểm và thực trạng Việt Nam lúc bấy giờ: một nước có xã hội thuộc địa còn tàn dư phong kiến, với mâu thuẫn gay gắt giữa dân tộc Việt Nam, trong đó có công nhân và nông dân, với đế quốc; từ đó đi tới đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là chủ trương dân quyền cách mạng thổ địa và cách mạng để đi tới xã hội cộng sản Nhờ vậy, cương lĩnh đã chỉ rõ nội dung của cuộc cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô sản.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.2.

Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam, nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là đánh đổ đế quốc, giành quyền độc lập cho dân tộc và phát huy dân chủ; cương lĩnh chính trị đầu tiên đã nêu rõ nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ là chống đế quốc về mặt chính trị và kinh tế, đồng thời cho rằng chống phong kiến chỉ về mặt chính trị là phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam lúc đó.

Tuy nhiên, những quan điểm đúng đắn trong Cương lĩnh vẫn chưa được Quốc tế Cộng sản công nhận Theo Quốc tế Cộng sản, mâu thuẫn cơ bản của nước ta giống với giai đoạn tư bản chủ nghĩa ở phương Tây, ở đó mối quan hệ giữa địa chủ và nông dân rất căng thẳng và giai cấp tư sản khai thác công nhân, nên đối tượng chính cần bị đánh đổ là địa chủ, tư bản và đế quốc Điều này gây chia rẽ trong lực lượng cách mạng Hơn nữa, đất đai là tài sản quý giá của nông dân, nên Quốc tế Cộng sản cho rằng thổ địa cách mạng phải được thực hiện đồng thời với cách mạng tư sản dân quyền, không nên tách rời thành các giai đoạn Nhiệm vụ chống đế quốc được nhìn ở phạm vi Đông Dương, vì vậy chỉ công nhận một Đảng duy nhất ở Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương Sau khi lật đổ đế quốc và giành độc lập, cần thành lập chính phủ liên bang Đông Dương thay vì các chính phủ riêng lẻ cho từng quốc gia Dù văn kiện này phù hợp với thực tế, nó lại đi ngược quan điểm của Quốc tế Cộng sản.

Trước tình hình ấy, tháng 4/1930, theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Trần Phú được cử từ Liên Xô về nước Tháng 7/1930, Trần Phú được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và được giao nhiệm vụ cùng với một số đồng chí soạn thảo Luận cương chuẩn bị cho hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tuân theo kim chỉ nam của Quốc tế Cộng sản, từ ngày 14–30/10/1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương họp lần thứ 1 tại Hương Cảng (Trung Quốc) do Trần Phú chủ trì Hội nghị đã thông qua nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, thảo luận Luận cương chính trị của Đảng, điều lệ Đảng và điều lệ các tổ chức quần chúng.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

2.1.2 Nội dung của Luận cương chính trị

Luận cương xác định mâu thuẫn cơ bản ở ba nước Đông Dương là mâu thuẫn giai cấp giữa thợ thuyền, nông dân và các lao động nghèo với địa chủ phong kiến, tư bản và thực dân đế quốc Tuy nhiên, nó không nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam: dù nông dân có mâu thuẫn với địa chủ phong kiến, đây là mối quan hệ lâu dài và không gay gắt, có thể điều hòa được Trong khi đó, tất cả các tầng lớp dân tộc Việt Nam đều có mâu thuẫn với thực dân Pháp, và khi giặc xâm lược, họ sẵn sàng đứng lên đấu tranh bỏ qua lợi ích cá nhân vì vấn đề dân tộc Đồng thời, luận cương xếp giai cấp tư sản và đế quốc, cho rằng chỉ một bộ phận nhỏ tư sản phản quốc, còn phần lớn tư sản vẫn có mâu thuẫn với thực dân về vấn đề dân tộc.

Phương hướng chiến lược cách mạng được xác định là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền có tính chất thổ địa và phản đế quốc, sau khi giành thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa và tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa Theo Luận cương, cách mạng Đông Dương được chia thành hai giai đoạn rõ ràng: giai đoạn một là tiến hành đồng thời cuộc cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng theo đúng mô hình của Quốc tế Cộng sản; giai đoạn hai sau khi giai đoạn một thành công sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa để tiến tới cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Cả hai văn bản đều xác định con đường cách mạng là kết hợp giữa cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, sau đó bỏ qua chế độ tư bản để tiến lên xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, Cương lĩnh phân chia cuộc cách mạng thành ba giai đoạn rõ ràng, và ở đó thổ địa cách mạng được đưa ra khỏi cuộc cách mạng tư sản dân quyền Xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, Cương lĩnh nhấn mạnh rằng giữa vấn đề quốc gia và ruộng đất thì vấn đề dân tộc vẫn quan trọng hơn Có bằng chứng cho thấy dù giữa giai cấp nông dân và địa chủ tồn tại mâu thuẫn, song mâu thuẫn ấy có thể gác lại và mọi tầng lớp cùng chung tay chống giặc ngoại xâm, như đã có nhiều minh chứng trong quá khứ Vì vậy, Cương lĩnh xác định rõ ràng phương hướng chiến lược nên chia thành ba giai đoạn, với giai đoạn đầu tiên.

Trong bài viết này, nhiệm vụ cấp bách là đánh đổ đế quốc trước, sau đó giải quyết vấn đề ruộng đất và tiến tới xây dựng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, nhận thức chưa đúng về thực tế Việt Nam và sự tuân theo Quốc tế Cộng sản đã khiến Cương lĩnh lúc đó xác định nên tiến hành cách mạng tư sản dân quyền song song với thổ địa và phản đế quốc, sau đó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, nhiệm vụ cách mạng là đấu tranh để đánh đổ di tích phong kiến và các hình thức bóc lột theo lối tiền tư bản, đồng thời kiên quyết thực hành thổ địa cách mạng để triệt để Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và giành độc lập cho Đông Dương là mục tiêu song hành Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau, trong đó thổ địa cách mạng là cái cốt của cuộc cách mạng tư sản dân quyền.

Trong cả Cương lĩnh và Luận cương, hai nhiệm vụ trọng yếu là đánh đổ đế quốc Pháp và xóa bỏ phong kiến; tuy nhiên, Cương lĩnh mô tả đúng thực trạng Việt Nam lúc bấy giờ khi kẻ thù nguy hiểm cần tập trung tiêu diệt trước là bọn thực dân xâm lược, sau đó mới tiến hành xóa bỏ quyền thống trị của phong kiến Ta phải chống đế quốc về mặt kinh tế và chính trị, còn phong kiến chỉ bị đấu tranh trên lĩnh vực chính trị vì phong kiến Việt Nam đã suy yếu và không còn thực sự nắm quyền lực Trái lại, Luận cương chính trị nhấn mạnh nhiệm vụ đánh đổ phong kiến là trọng tâm, sau đó mới thực hiện cách mạng ruộng đất triệt để để giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân; thổ địa là lõi của cách mạng dân quyền Điều này cho thấy đất đai, ruộng đất được đặt ưu tiên cao trong Luận cương so với vấn đề dân tộc, nhưng đồng thời vô tình đẩy một bộ phận phong kiến yêu nước có tinh thần cách mạng ra khỏi khối đại đoàn kết dân tộc, trong khi không phải mọi tầng lớp phong kiến đều phản cách mạng (xem phụ lục 1).

Với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, Cương lĩnh đã xác định rõ ràng rằng đánh để đế quốc Pháp để nước Việt Nam hoàn toàn độc lập Ở bản Luận cương này, đã xác định rõ nhiệmh vụ đánh đổ đế quốc Pháp sau đó tiến tới toàn thể Đông Dương hoàn toàn độc lập. Đây cũng là một hạn chế trong Luận cương, vì để toàn Đông Dương được độc lập thì phạm vi cuộc khởi nghĩa rất lớn, không khai thác được quyền tự quyết của từng dân tộc.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Đồng thời phạm vi quá lớn sẽ dẫn tới lực lượng bị phân tán, không thể tập trung được tốt nhất để có thể đi tới thắng lợi.

Thứ tư, lực lượng cách mạng: Giai cấp vô sản và nông dân là lao động chính.

Trong Cương lĩnh và Luận cương, giai cấp vô sản là động lực chính và mạnh nhất của cách mạng, còn giai cấp tư sản (tư sản thương nghiệp và tư sản công nghiệp) bị coi là phe đế quốc và phải bị đánh đổ; giai cấp tiểu tư sản với những thợ thủ công do dự, tiểu thương không tán thành cách mạng hoặc trí thức nhiệt tình chống đế quốc ở thời kỳ đầu thì không nên tham gia lực lượng cách mạng, nhưng công nhân và nông dân là tầng lớp bị áp bức nặng nề nhất và là lực lượng cách mạng chủ chốt Tuy nhiên, Cương lĩnh cho rằng tiểu tư sản, trí thức, trung nông nên được vận động lôi kéo về phe vô sản, còn các giai cấp chưa rõ mặt phản cách mạng nên được kiềm chế ở mức trung lập để hạn chế họ theo phe đế quốc; còn Luận cương thì quy định rõ chỉ có giai cấp vô sản mới được tham gia vào thành phần cách mạng, còn lại các giai cấp khác theo phe đế quốc, hoặc có thái độ do dự và chỉ tham gia ban đầu thì không nên xem là lực lượng cách mạng.

Thứ năm, lãnh đạo cách mạng: Đảng Cộng sản lãnh đạo là điều kiện cốt yếu để thắng lợi của cách mạng Đông Dương Đảng đại diện cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương và đấu tranh vì mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản Vì vậy, cần có một Đảng Cộng sản với đường lối chính trị đúng đắn, kỷ luật nghiêm ngặt, tính tập trung cao và liên lạc mật thiết với quần chúng, đồng thời qua quá trình đấu tranh mà trưởng thành.

Phương pháp cách mạng từng được xem là sử dụng bạo lực để giành chính quyền, xem võ trang bạo động như một nghệ thuật và phải tuân theo khuôn pháp nhà binh; đây là một quan điểm gây tranh cãi trong lịch sử tư tưởng, bị phê phán vì tính phi pháp và rủi ro cho an ninh, và được phân tích dưới nhiều góc độ pháp lý và xã hội.

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình Lịch sử Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr 76,77.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com đối không được nhượng bộ mà đi vào con đường thỏa hiệp bán đứng lợi ích của công nông.

Thứ bảy, quan hệ với cách mạng thế giới: Là một bộ phận của cách mạng thế giới.

Giai cấp vô sản Đông Dương phải gắn bó đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp.

Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945

2.2.1 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939

Đầu tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ khi Đức tấn công Ba Lan ngày 1/9/1939, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức Sau khi Pháp tham chiến, chính phủ Pháp tăng cường đàn áp lực lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa, khiến Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ và Đảng Cộng sản Pháp bị đặt ngoài vòng pháp luật Ở Đông Dương, bộ máy đàn áp được củng cố và lệnh thiết lập quân luật được ban bố Ngày 28/9/1939, Toàn quyền Đông Dương ban nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm họp và tụ tập nơi đông người.

Tình hình Việt Nam: Do tham dự vào Chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền

Pháp thi hành chính sách thời chiến ở Đông Dương một cách thô bạo, vì đây là thuộc địa mang lại lợi ích kinh tế hàng đầu cho Pháp nên Đông Dương càng bị bóc lột ghê gớm trong thời chiến Chúng thực hiện chính sách kinh tế thời chiến, phát xít hóa bộ máy thống trị và thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng, đồng thời tăng cường vơ vét sức người và sức lực để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng kịp thời rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn và đồng thời chú trọng các đô thị.

Nội dung Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939

Thứ nhất, nhiệm vụ cách mạng: Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu ở Đông

Trong giai đoạn này, mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương trở nên sâu sắc, thúc đẩy cách mạng Đông Dương đi tới một lựa chọn chiến lược quan trọng Hội nghị đã xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương và làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.

Chủ trương được nêu ra là tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” để tập trung vào khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho vay nặng lãi và tịch thu ruộng đất của đế quốc cùng địa chủ phản bội dân tộc, chia cho dân cày Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương.

Hội nghị tháng 11 năm 1939 tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên bằng cách nhận định mâu thuẫn chủ yếu là giữa đế quốc và toàn thể dân tộc bị áp bức bóc lột Trước lợi ích của dân tộc và của cá nhân, hội nghị nhấn mạnh rằng vấn đề dân tộc quan trọng hơn và sau khi đánh đổ đế quốc xâm lược thì vấn đề ruộng đất sẽ được giải quyết Đồng thời, hội nghị bổ sung một điểm quan trọng so với Cương lĩnh: tịch thu ruộng đất địa chủ phản bội dân tộc và chia cho nông dân, một bổ sung phù hợp với tình hình xã hội lúc bấy giờ Trong Cương lĩnh ban đầu chỉ quy định tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho người nghèo, không đề cập đến tịch thu ruộng đất của phong kiến, dù không phải tất cả ruộng đất đều ở trong tay đế quốc; các thế lực phản cách mạng đã lợi dụng để vơ vét sức lao động của nhân dân Vì vậy, sự bổ sung tịch thu ruộng đất địa chủ phản bội dân tộc ở Hội nghị tháng 11/1939 là điểm mới, hoàn chỉnh và phù hợp với tình hình thời bấy giờ.

Lực lượng cách mạng gồm liên minh công-nông là hai lực lượng chính để đoàn kết tất cả các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc và cá nhân yêu nước ở Đông Dương nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai Tại Hội nghị tháng 11/1939, lực lượng chủ chốt của cuộc cách mạng được khẳng định là công nhân và nông dân; mọi cá nhân yêu nước đều có thể tham gia, không phân biệt giai cấp hay đảng phái, chỉ trừ những phần tử phản quốc Đây là quan điểm đúng đắn và xác nhận tính đúng đắn của Cương lĩnh.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Thứ tư, phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc là trên toàn Đông Dương Đây là điểm hạn chế so với Cương lĩnh, bởi tình hình kháng chiến ở các nước Đông Dương là khác nhau; nếu tiến hành trên phạm vi lớn sẽ khó có thể tập hợp lực lượng một cách triệt để và không khai thác được hết quyền tự quyết của từng dân tộc.

Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 đã khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng 10/1930 bằng cách làm rõ mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ phản đế và thổ địa, nhấn mạnh nhiệm vụ phản đế là yếu tố then chốt và làm sáng tỏ tính khăng khít giữa hai nhiệm vụ này nhưng vẫn không tiến hành đồng thời một cách máy móc Nghị quyết của hội nghị đánh dấu bước phát triển quan trọng về lý luận và đường lối cách mạng của Đảng, thể hiện sự nhạy bén về chính trị và khả năng sáng tạo của Đảng Đồng thời, nghị quyết góp phần làm phong phú kho tàng lý luận về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và khẳng định lại tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên 2/1930 Tuy nhiên, phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc vẫn còn trên toàn Đông Dương, phạm vi lớn khiến lực lượng dễ bị phân tán và chưa thực hiện quyền tự quyết của từng dân tộc Dẫu vậy, hội nghị đáp ứng đúng yêu cầu khách quan của lịch sử, đưa nhân dân bước vào thời kỳ trực tiếp vận động giải phóng dân tộc.

2.2.2 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940

Tháng 6 năm 1940, Pháp, một cường quốc thực dân châu Âu, bị Đức chiếm đóng Ở Phương Đông, phát xít Nhật nổi lên và trở thành thành viên quan trọng của trục phát xít Nhật Bản đặt mục tiêu nhanh chóng chiếm đoạt các thuộc địa và bán thuộc địa rộng lớn của các nước đế quốc như Trung Quốc, Đông Dương và các nước Đông Nam Á Đến tháng 9 năm 1940, đế quốc Pháp cam chịu đầu hàng để quân Nhật chiếm Đông Dương.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Tình hình Việt Nam: Chiến tranh thế giới thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt

Ở Việt Nam, thực dân Pháp áp dụng chính sách thống trị thời chiến phản động bằng cách phát xít hóa bộ máy cai trị, ban hành lệnh tổng động viên và thực hiện kinh tế chỉ huy; vào ngày 22/9/1940, phát xít Nhật đã xâm nhập Việt Nam, và chỉ sau đó một ngày, 23/9/1940, Pháp đầu hàng Nhật và câu kết để thống trị, bóc lột nhân dân Việt Nam, đẩy người Việt vào cảnh một cổ hai tròng Vì vậy, đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực và mâu thuẫn giữa nhân dân với phát xít Pháp-Nhật ngày càng gay gắt.

Hai đế quốc phát xít Pháp và Nhật, kẻ thù của dân tộc ta, dù có mâu thuẫn sâu sắc nhưng trước mắt tạm thời nhẫn nhịn để đạt được mục đích riêng Nhật Bản lợi dụng Pháp để Pháp “làm con chó giữ nhà”, sau đó có dịp sẽ hất Pháp ra và chiếm trọn Đông Dương Còn Pháp coi việc đóng góp vào cuộc chiến tranh của Nhật như cái giá để cho Pháp còn chỗ bấu víu vào Đông Dương.

Trong Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940, các nhiệm vụ được xác định trong hoàn cảnh mới là phải đồng thời tiến hành cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa, không thể làm trước hay sau; dù khẩu hiệu cách mạng phản đế và giải phóng dân tộc cao hơn và thiết thực hơn, nhưng nếu không làm được cách mạng thổ địa thì cách mạng phản đế sẽ khó thành công; tình thế hiện tại không làm thay đổi tính chất căn bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền Đông Dương.

Về lực lượng cách mạng, tại Hội nghị xác định giai cấp công nhân, nông dân và phần tử lao động không giống như giai cấp phong kiến, tư sản và tiểu tư sản Vì vậy, sự khác biệt này vô tình tạo ra phân biệt trong lực lượng, khiến việc thống nhất toàn dân tham gia kháng chiến càng trở nên khó khăn.

Nhận xét cho thấy tại Hội nghị Trung ương 11/1940, Trung ương Đảng vẫn còn trăn trở và chưa thực sự dứt khoát với chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc, chống đế quốc lên hàng đầu như đề ra tại Hội nghị tháng 11/1939 Do sự phân chia các giai cấp trong xã hội, Hội nghị Trung ương 11/1940 vô tình làm rạn nứt khối đại đoàn kết và không tạo được sự đồng thuận cần thiết để thực hiện đường lối cách mạng.

Bối cảnh lịch sử và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam

Trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình kinh tế – xã hội toàn cầu đã có những biến đổi sâu sắc: hệ thống tư bản chủ nghĩa suy yếu do thất bại của các nước Phát xít và sự rút khỏi hệ thống của nhiều quốc gia, đồng thời hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa bao trùm ở châu Âu và châu Á, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ Số lượng quốc gia độc lập mới xuất hiện ngày càng nhiều, phản ánh xu hướng tự quyết và thiết lập chủ quyền cho các dân tộc Sau chiến tranh, dựa trên các nghị quyết của các nước đồng minh và các hiệp ước hòa bình, biên giới của một số nước đã có những thay đổi nhất định.

Trong khuôn khổ Hội nghị Potsdam diễn ra từ ngày 17-7 đến 2-8-1945 tại Đức, các lãnh đạo Liên Xô, Anh và Mỹ đã thảo luận và thông qua nhiều quyết định quan trọng liên quan đến Chiến tranh thế giới thứ hai và Đông Dương Theo quyết định này, quân đội Trung Hoa Dân quốc sẽ vào giải giáp quân Nhật ở Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở ra; từ vĩ tuyến 16 trở vào sẽ do Bộ tư lệnh tối cao lực lượng Đồng minh khu vực Đông Nam Á dưới sự chỉ huy của Đô đốc Louis Mountbatten (Anh) đảm nhiệm Ngày 13/8/1945, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Anh yêu cầu Mountbatten nhanh chóng triển khai lực lượng để kiểm soát tổng hành dinh đạo quân Phương Nam của Nhật tại Sài Gòn và tiến hành thỏa thuận với Thống chế Terauchi Hisaichi về việc Nhật đầu hàng, sau đó tiến hành giải giáp và hồi hương quân Nhật; đồng thời phóng thích và hồi hương toàn bộ tù binh Đồng minh bị bắt và giam giữ tại miền Nam Việt Nam.

Tình hình cuộc kháng chiến của Nhân dân Việt Nam (1946-1950): Đất nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách Theo thỏa thuận giữa các nước đồng minh

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội Tưởng Giới Thạch vào đóng ở miền Bắc Việt Nam, còn quân Anh (sau đó là quân Pháp) vào đóng ở miền Nam Việt Nam để giải giáp quân Nhật, lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới Tuy nhiên, các lực lượng nước ngoài này đều nuôi mưu đồ tiêu diệt lực lượng cách mạng và Đảng Cộng sản Đông Dương, nhằm thành lập một chính quyền phản động tay sai tại Việt Nam.

Với dã tâm cướp nước ta một lần nữa, ngày 23/9/1945 được sự giúp đỡ của quân đội Anh, thực dân Pháp tiến công Sài Gòn mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai Tiếp đó, từ tháng 10/1945 - 1/1946, quân Pháp tiếp tục đánh chiếm nhiều địa bàn quan trọng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, từng bước thiết lập hệ thống kìm kẹp tại cơ sở. Trong bối cảnh đó, để tránh phải đương đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một mặt nhân nhượng cho quân đội Tưởng Giới Thạch một số quyền lợi ở miền Bắc (nhận cung cấp lương thực, nhận tiêu tiền "quan kim", "quốc tệ" đã mất giá ), mặt khác kiên quyết phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến, đưa hàng vạn cán bộ, chiến sĩ vào Nam chiến đấu, trực tiếp góp phần làm thất bại âm mưu

"đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp.

Do gặp khó khăn ở chiến trường miền Nam, thực dân Pháp không đủ khả năng chiếm được miền Bắc nên phải đàm phán với Tưởng Giới Thạch để tìm lối thoát Cuối tháng 2/1946, Hiệp ước Hoa-Pháp được ký kết, trong đó Pháp nhượng cho Tưởng Giới Thạch một số quyền lợi kinh tế, chính trị và văn hóa, nhưng đồng thời quân Pháp sẽ ra miền Bắc thay Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp Nhật, thực chất là đợi viện binh để phát động chiến tranh Để nhanh chóng đẩy Tưởng về nước và có điều kiện chuẩn bị tiềm lực, ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện Chính phủ Pháp (Xanhtơni) bản Hiệp định sơ bộ cho quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp Nhật Tiếp đó, ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh ký với Pháp bản Tạm ước nhượng bộ cho Pháp thêm một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa ở Việt Nam Nhân dân ta tranh thủ thời gian hòa hoãn, ra sức xây dựng lực lượng; ngày 22/5/1946, Chính phủ ra sắc lệnh quy định Vệ quốc đoàn chính thức trở thành Quân đội quốc gia nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là chuỗi bước đi đánh dấu việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuẩn bị lực lượng và tạo tiền đề cho cuộc đấu tranh giành độc lập.

Gần một triệu đội viên thuộc lực lượng dân quân tự vệ được phân bổ khắp các tỉnh thành trên cả nước, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ an ninh quốc gia trong những chặng đường phía trước Sự đoàn kết và sức mạnh tập thể của lực lượng dân quân tự vệ đóng vai trò then chốt, tăng cường an ninh địa phương, ổn định xã hội và đóng góp vào chiến lược phát triển bền vững của đất nước Độc giả có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan trên các nền tảng học thuật như TIEU LUAN MOI download để tối ưu hóa hiệu quả tiếp cận thông tin và SEO.

Cuối năm 1946, sau khi có thêm viện binh, thực dân Pháp liên tục tiến hành các hành động khiêu khích Tháng 11/1946, chúng chiếm đóng Hải Phòng, Lạng Sơn, chính thức gây ra cuộc chiến tranh xâm lược miền Bắc Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946, quân Pháp liên tục dùng đại bác, súng cối bắn phá vào nhiều khu phố tàn sát dân thường đưa quân chiếm một số trụ sở cách mạng Đặc biệt, ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp đã liên tiếp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải phá bỏ công sự trong thành phố, giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng.

Trước âm mưu và hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ độc lập, tự do Ngày 18 và 19/12/1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội), Ban Thường vụ Trung ương Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì họp mở rộng đã đề ra đường lối và quyết định cho cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Với tư cách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển tới các đơn vị lực lượng vũ trang mật lệnh về ngày và giờ của cuộc giao chiến trên toàn quốc Khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, tín hiệu bắt đầu kháng chiến toàn quốc được phát ra, mở màn cho sự tham gia của quân và dân Thủ đô vào cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do.

Sáng 20/12/1946, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát đi khắp đất nước Đó là lời hịch cứu nước, thể hiện ý chí quyết tâm sắt đá của cả dân tộc, khơi dậy sức mạnh của lòng yêu nước và truyền thống anh hùng bất khuất.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật , Hà Nội, tr.534.

Động viên, thôi thúc và cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta bước vào cuộc kháng chiến nhằm giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc Lịch sử đã chứng minh rằng tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và sự quyết tâm của toàn dân có thể làm nên chiến thắng và bảo vệ nền độc lập của đất nước Mỗi người dân là một mắt xích trong chuỗi sức mạnh dân tộc, và mọi nỗ lực dù nhỏ nhất cũng góp phần to lớn vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Hãy lan tỏa thông điệp này, khuyến khích thế hệ trẻ tiếp bước và đóng góp cho đất nước, để tiếp tục vun đắp nền độc lập, tự do và sự bình yên cho Tổ quốc Thông tin tham khảo có thể được liên hệ qua email skknchat123@gmail.com.

Trong thu đông năm 1947, Pháp huy động khoảng 15.000 quân, gồm lục quân, hải quân và không quân, mở ba mũi tiến công chủ yếu lên vùng ATK Việt Bắc Để đối phó, ngày 15/10/1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp, nêu rõ quyết tâm của quân và dân ta, vạch ra thế yếu của địch và đề ra các nhiệm vụ quân sự cho các chiến trường là phát động mạnh mẽ cuộc chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, chặt đứt giao thông, bao vây để địch không tiếp tế hay liên lạc tiếp ứng, tổ chức cuộc chiến tranh nhân dân và đồng loạt tấn công địch trên mọi hướng tiến công cả đường bộ và đường sông Sau 75 ngày đêm chiến đấu kiên cường, đến ngày 21/12/1947 quân và dân ta lần lượt bẻ gãy mọi mũi tiến công nguy hiểm của địch, loại bỏ khỏi vùng chiến đấu hàng ngàn tên địch, phá hủy hàng trăm xe cơ giới, bắn chìm nhiều tàu xuồng và phương tiện chiến tranh khác, bảo toàn cơ quan đầu não và căn cứ địa kháng chiến, đánh bại âm mưu và kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Phát huy thắng lợi, Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn diện để làm thất bại âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” của thực dân Pháp Nhiều loại hàng hóa cần thiết cho đời sống của bộ đội và nhân dân được sản xuất và tự cấp, tự túc kịp thời, như vải vóc, giấy, thuốc chữa bệnh, nông cụ,… trong vùng bị tạm chiếm, Đảng chỉ đạo tiếp tục phát triển mạnh chiến tranh du kích để “biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta”. Nhân dân cùng lực lượng vũ trang đã tiến hành chiến dịch tổng phá tề, trừ gian ở vùng sau lưng địch, phá hệ thống kìm kẹp của địch, đánh phá bộ máy chính quyền bù nhìn cơ sở của địch ở nhiều vùng rộng lớn, lập chính quyền của ta; tổ chức chống càn quét, chống đi phu, bắt lính, chống nộp thuế cho địch Tại nhiều địa phương, quân và dân đã phối hợp hiệp đồng chiến đấu, tổ chức đánh phục kích tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và giành được thắng lợi giòn giã, điển hình như trận La Ngà (3/1948), Nghĩa Lô (3/1948), Tầm Vu (4/1948), Đông Dương (4/1948).

Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân

3.2.1 Nội dung bổ sung, hoàn chỉnh

Một là, về tính chất xã hội Việt Nam

Cương lĩnh chính trị đầu tiên (đầu năm 1930) đã xác định thực trạng nước ta là xã hội thuộc địa nửa phong kiến Nền tảng của xã hội này là nền kinh tế nông nghiệp, phần lớn mang tính kinh tế tự nhiên Ruộng đất là của vua quan và địa chủ phong kiến.

Luận cương chính trị (10/1930) cũng như Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã xác định thực trạng của nước ta là xã hội thuộc địa nửa phong kiến.

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951): có ba tính chất dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến.

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam dựa trên thực tế xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là một xã hội phức tạp và phát triển không đồng đều, bởi Việt Nam là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc Pháp trong một thời gian dài và đã từng làm cách mạng dân tộc và dân chủ nhưng lại bị thực dân Pháp xâm lược trở lại Trong hoàn cảnh đó đất nước bị chia cắt thành hai miền, Chính cương đã xác định rõ tính chất ở vùng tự do và vùng bị chiếm đóng: vùng tự do mang tính chất dân chủ nhân dân, vùng bị chiếm đóng mang tính chất một phần thuộc địa, và cả hai vùng đều chịu ảnh hưởng của tính chất nửa phong kiến.

TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com

Hai là, về đối tượng của cách mạng

Cương lĩnh chính trị đầu tiên (đầu năm 1930): đã xác định đối tượng chính cần đánh đổ là đế quốc Pháp và sau đó là phong kiến.

Luận cương chính trị (10/1930): cùng lúc thực hiện đánh đổ địa chủ, phong kiến, tư bổn và đế quốc chủ nghĩa.

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951) nêu rõ đối tượng chính của cuộc cách mạng là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc ấy là thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ; đồng thời đối tượng phụ của cách mạng là phong kiến, đặc biệt là phong kiến phản động.

So với Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam cho thấy sự nhận định rõ ràng về việc phải đánh đổ sự can thiệp của Mỹ – kẻ thù tiềm tàng của Việt Nam; đối tượng phong kiến cần bị lật đổ cụ thể là bọn phong kiến phản động như đại địa chủ phần lớn phản cách mạng gắn lợi ích với đế quốc, và tư sản mại bản gắn với quyền lợi của đế quốc mang tính chất phản động, xem thêm ở phụ lục 1 để biết chi tiết.

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam khắc phục hạn chế của Luận cương chính trị bằng cách xác định rõ đối tượng đối đầu đầu tiên là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là thực dân Pháp, và sau khi đánh đổ đế quốc mới tiến hành đánh đổ phong kiến Không nên tiến hành cùng lúc đánh đổ cả hai, vì cần xác định kẻ thù nguy hiểm nhất để tập trung đánh đổ trước Chính cương còn bổ sung rằng chỉ nên đánh đổ các phong kiến phản động: đại địa chủ phần lớn phản cách mạng, theo đế quốc, chứ không phải tất cả địa chủ đều có cùng lợi ích với đế quốc (xem phụ lục 1).

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam đã khắc phục hạn chế của Luận cương bằng cách xác định rõ đối tượng cần đánh đổ trước tiên là đế quốc; sau khi giành được quyền độc lập cho dân tộc và phát huy được dân chủ, sẽ tiến hành đánh đổ phong kiến, cụ thể là phong kiến phản động, chứ không đồng nhất với địa chủ, phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa cùng một phe Không nên cùng một lúc đánh đổ đế quốc và phong kiến Bổ sung và hoàn chỉnh so với Cương lĩnh là nhận diện phong kiến như một thành phần riêng, cho thấy phong kiến nên được xử lý ở giai đoạn sau của cuộc cách mạng.

Trong bài viết TIEU LUAN MOI download, nội dung cho thấy phong kiến phản động có thể bị đánh đổ, nhưng cần nhận thức rằng không phải mọi giai cấp phong kiến đều phản cách mạng; chi tiết phân tích và chứng cứ được trình bày thêm ở phụ lục 1, và người đọc có thể liên hệ qua skknchat123@gmail.com để tải tài liệu đầy đủ.

Ba là, về nhiệm vụ cách mạng

Cương lĩnh chính trị đầu tiên (đầu năm 1930) xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến để nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; thành lập Chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội công nông để bảo vệ chính quyền cách mạng Đồng thời tiến hành tịch thu các tài sản lớn của tư bản đế quốc chủ nghĩa và giao cho Chính phủ công nông binh; tịch thu toàn bộ ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa thành của công và chia cho nông dân nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo.

Luận cương chính trị (10/1930) nêu rõ nhiệm vụ cốt lõi của cách mạng tư sản dân quyền là tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, phá bỏ các hình thức bóc lột theo lối tư bản và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để; đồng thời phải đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp để Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụ chiến lược này có mối quan hệ khăng khít với nhau và không thể tách rời Tuy nhiên, Luận cương cũng nhấn mạnh rằng hai nhiệm vụ này phải được tiến hành song song và gắn bó chặt chẽ với nhau nhằm đạt được mục tiêu độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

“Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền”, nhấn mạnh vấn đề thổ địa hơn vấn đề dân tộc.

Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951) nêu rõ mục tiêu đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc Việt Nam Đồng thời, nó nhấn mạnh xoá bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến để người cày có ruộng đất, và phát triển chế độ dân chủ nhân dân làm nền tảng để gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.

Dựa vào tính chất của xã hội Việt Nam, Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (2/1951) đã nhận diện tình hình khách quan và đề ra mục tiêu căn bản: san phẳng mọi rào cản ngăn bước tiến của xã hội Việt Nam, kiên quyết giải quyết mâu thuẫn giữa chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam và các lực lượng phản động, để chế độ ấy phát triển mạnh mẽ và thuận chiều tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Đối tượng của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ được xác định rõ là chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến Chính cương Đảng Lao động Việt Nam đã nhấn mạnh rằng kẻ thù chính của thời kỳ ấy là hai thế lực áp bức này, từ đó đặt ra mục tiêu lật đổ chế độ phong kiến và chế độ thực dân để giải phóng dân tộc Nhờ định hướng này, cách mạng Việt Nam tập trung vào xây dựng một xã hội mới do nhân dân làm chủ, nhằm tiến tới độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tiêu đề bài luận moi download: skknchat123@gmail.com nêu rõ đế quốc Pháp là đối thủ chính và đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất Kẻ thù phụ được mô tả là thế lực phong kiến, hiện nay là phong kiến phản động, và cụ thể là các hạng bù nhìn làm chó săn cho đế quốc Bài viết nhấn mạnh sự đối đầu giữa chế độ thực dân và lực lượng đấu tranh giành độc lập, đồng thời phê phán vai trò của phong kiến trong việc duy trì sự áp bức và phụ thuộc cho đế quốc.

Nhiệm vụ dân tộc và nhiệm vụ dân chủ gắn bó chặt chẽ với nhau, nhưng hiện nay phải tập trung mọi lực lượng để kháng chiến và hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc; đây là trọng tâm của cách mạng ở giai đoạn hiện tại Nhiệm vụ dân chủ cũng phải được hoàn thành, nhưng sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

Bốn là, về lực lượng cách mạng

Cương lĩnh chính trị đầu tiên (đầu năm 1930) nêu mục tiêu tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, dựa vào nông dân nghèo và lãnh đạo nông dân tham gia cách mạng ruộng đất; đồng thời hết sức liên lạc với tiểu tư sản, tri thức, trung nông, Thanh niên và Tân Việt để kéo họ về phe giai cấp vô sản Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam chưa rõ mặt phản cách mạng, cần lợi dụng họ trong một thời gian ngắn để họ trung lập, rồi dần chuyển họ về phía liên minh với giai cấp vô sản Cương lĩnh nhấn mạnh xây dựng khối đại đoàn kết rộng rãi giữa các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và các tổ chức yêu nước, cách mạng, trên cơ sở đánh giá đúng đắn thái độ của các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.

Ngày đăng: 18/08/2022, 16:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, "Gửi các tổ chức Đảng," in Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, pp. 73-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gửi các tổ chức Đảng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
[11] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), nguồn bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
Tác giả: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2018
[13] Sự kiện và nhân chứng (2021), Kẻ "nối giáo" cho quân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, nguồn bài viết: https://sknc.qdnd.vn/ho-so-tu-lieu/ke-noi-giao-cho-quan-phap-tro-lai-xam-luoc-viet-nam-502355 , truy cập ngày 05/07/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nối giáo
Tác giả: Sự kiện và nhân chứng
Năm: 2021
[15] Nguyễn Thị Tâm (2019), Cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam 1939-1945, nguồn bài viết: https://www.laocai.gov.vn/1299/31180/65534/362910/chuyen-de/cuoc-van-dong-giai-phong-dan-toc-viet-nam-1939-1945-hoc-ki-ii-nam-hoc-2018-2019-nguyen-thi-tam, truy cập ngày 05/07/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam 1939-1945
Tác giả: Nguyễn Thị Tâm
Năm: 2019
[10] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, nguồn bài viết: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-ii/chinh-cuong-dang-lao-dong-viet-nam-1448, truy cập ngày 05/07/2022 Link
[12] Khám phá các nước trên thế giới, Bản đồ chính trị thế giới trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nguồn bài viết: https://cacnuoc.vn/tin/ban-chinh-tri-gioi-trong-va-sau-chien-tranh-gioi-thu-hai/ , truy cập ngày 05/07/2022 Link
[1] Bộ Giáo dục và đào tạo (2005), Giáo trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội Khác
[2] Bộ Giáo dục và đào tạo (2021), Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Khác
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Đảng toàn tập – tập 5 – 1935, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2008 Khác
[6] ] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập – tập 12 – 1951, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
[7] Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, tr.699-701, NXB Chính trị Quốc gia, 2008 Khác
[8] Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, tr.663-667, NXB Chính trị Quốc gia, 2008 Khác
[9] Lịch sử 80 năm ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010), Nhà xuất bản chính trị- sự thật, trang 198-199 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w