HƯ TỪ TIẾNG VIỆT THẾ KỈ XIV TRONG BẢN VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGÔN NGỮ HỌC ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ HƯ TỪ TIẾNG VIỆT TRONG BẢN GIẢI NGHĨA THIỀN TÔNG KHOÁ HƯ NGỮ LỤC Người thực hiện ThS Vũ T.
Lịch sử vấn đề …
2.1 Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt lịch sử
Ngay từ đầu thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu chữ Nôm đã được thực hiện thông qua các văn bản chữ Nôm nói chung Đến ba bốn mươi năm gần đây, nghiên cứu chữ Nôm thu hút sự quan tâm và chú ý đặc biệt, đánh dấu bước phát triển đáng kể của lĩnh vực này Đầu tiên phải kể đến công trình của Đào Duy Anh với cuốn Chữ Nôm, một công trình tiên phong mở đường cho việc hệ thống hóa và nhận diện nguồn chữ Nôm trong nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Trong lĩnh vực nghiên cứu chữ Nôm và văn bản cổ Việt Nam, công trình Nôm – Cấu tạo – Diễn biến (1975) mở đầu cho việc phân tích cấu trúc và sự diễn biến của hệ chữ Nôm Tiếp nối là Trần Xuân Ngọc Lan với nghiên cứu Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa (1985), nhằm làm rõ giải nghĩa và chuẩn hóa hệ âm chữ Nôm Hoàng Thị Ngọ đóng góp với Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (1999), phân tích nội dung và ngữ cảnh Phật giáo gắn với chữ Nôm Hoàng Hồng Cẩm trong Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (2000) bổ sung giải nghĩa và chú thích cho tác phẩm Truyền kỳ mạn lục bằng chữ Nôm Gần đây, Nguyễn Thị Hường thực hiện nghiên cứu Văn bia chữ Nôm, mở rộng phạm vi khảo cứu chữ Nôm trên văn bia và di tích lịch sử.
(2005), Nguyễn Thị Lâm nghiên cứu về Thiên Nam ngữ lục (2006), Nguyễn Tuấn Cường trong nghiên cứu về Đoạn trường tân thanh (2003),
Các công trình được nêu gồm Thi Kinh giải âm (2012) và Tứ thư ước giải (2012), Phạm Thị Chuyền trong nghiên cứu về Lê triều ngự chế quốc âm thi (2007), Nguyễn Thị Tú Mai trong nghiên cứu về Thiên Chúa thánh giáo khải mông (2012), Nhiếp Tân trong nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục (2012) cho thấy xu hướng phân tích nguồn gốc, nội dung và bối cảnh của các tác phẩm Việt Nam cổ điển, từ văn bản chữ quốc ngữ và thi ca đến văn bản tôn giáo và truyền kỳ; những nghiên cứu này đóng vai trò là tài liệu tham khảo quan trọng cho nghiên cứu, giảng dạy và bổ sung hiểu biết về lịch sử văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam.
2.2 Nghiên cứu về hư từ trong các văn bản Nôm
Nghiên cứu hư từ tiếng Việt trong các văn bản Nôm đã thu hút sự quan tâm của các nhà Việt ngữ học Các công trình tiêu biểu như bài của N Stankievitch mang tựa Vài nhận xét về các hư từ tiếng Việt thế kỷ XVI (Tư liệu rút từ Truyền kỳ mạn lục giải âm) [26] Trong bài viết này, tác giả đã phân tích vai trò và đặc điểm của các hư từ trong văn bản Nôm thế kỷ XVI, từ đó làm sáng rõ quá trình Việt hóa chữ Hán và sự ảnh hưởng của Nôm đối với hệ thống từ vựng cổ.
Giáo sư chủ yếu tập trung vào những hư từ đính kèm bên cạnh động từ
Vũ Đức Nghiệu trong bài viết Hư từ tiếng Việt thế kỷ XV trong
Quốc âm thi tập và Hồng Đức Quốc âm thi tập đã thống kê, khảo sát và chỉ ra hiện tượng cú pháp cũng như tần số xuất hiện của các hư từ trong hai tác phẩm trên [18] Cùng tác giả Vũ Đức Nghiệu, trong bài Hư từ trong bản giải âm Truyền kỳ mạn lục [19] cũng đã có những phân tích và nhận xét sau khi quan sát lớp hư từ trong Tân biên Truyền kỳ mạn lục nói chung, nhằm góp phần tìm hiểu làm rõ hơn diện mạo của lớp từ công cụ đó
Bùi Duy Dương, Tìm hiểu hư từ gốc Hán trong Thiên Nam ngữ lục, đăng trên tạp chí Ngôn ngữ đã rút ra một số nhận xét: như hư từ gốc
Trong Thiên Nam ngữ lục, Hán được sử dụng tích cực, cho thấy diện mạo và vai trò của các hư từ gốc Hán trong cấu tạo các ngữ danh từ và các ngữ vị từ, gồm động ngữ và tính ngữ Phân tích cho thấy các hư từ gốc Hán đóng vai trò then chốt trong hình thành cú pháp và nghĩa của ngữ liệu, đồng thời làm phong phú hệ thống ngữ pháp và sự diễn đạt của ngôn ngữ miền Nam.
Đề tài cấp Viện năm 2014 về hiện tượng chuyển dịch hư từ Hán văn sang tiếng Việt (thế kỉ XVI) thông qua trường hợp Tân biên Truyền kỳ mạn lục cho thấy, khi đánh giá cách dịch hư từ từ Hán sang Nôm trong tác phẩm này, tiếng Việt có một kho hư từ phong phú đảm nhận chức năng ngữ pháp tương đương với các từ Hán Nghiên cứu cũng cho thấy sự linh hoạt trong cách dùng ngôn ngữ của người Việt thế kỉ XVI–XVII và cho thấy một ngôn ngữ tồn tại nhiều hư từ, từ vựng phong phú và có chức năng ngữ pháp tương đối ổn định, chứng minh ngôn ngữ Việt đã phát triển đáng kể.
2.3 Nghiên cứu về Thiền tông khoá hư ngữ lục
Nhận thức được giá trị của Thiền tông khoá hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh, văn bản này không chỉ có giá trị lớn về Thiền học và văn học mà còn là một tư liệu quý về chữ Nôm và tiếng Việt lịch sử, từ đó đã thu hút nhiều nghiên cứu đề cập đến văn bản này.
Nguyễn Huệ Chi từng nhắc đến Thiền tông khoá hư ngữ lục trong phần khảo luận của cuốn Thơ văn Lý Trần, cho thấy sự quan tâm của ông đối với Thiền tông và hệ thống ngôn ngữ cổ trong văn học thời Lý-Trần Tuy nhiên, ông chưa nghiên cứu sâu phần dịch và chữ Nôm của tác phẩm này.
Trong công trình nghiên cứu Tuệ Tĩnh và nền y dược cổ truyền Việt
Nam (1976) và Tuệ Tĩnh toàn tập (1977) cho thấy Lê Trần Đức đã đề cập đến bản giải nghĩa Khoá hư lục, và ông cũng đồng quan điểm với Đào Duy Anh khi cho rằng Tuệ Tĩnh sống vào đời Trần.
Trong nhiều công trình nghiên cứu chữ Nôm của các học giả Lê Văn Quán, Nguyễn Ngọc San, Trần Xuân Ngọc Lan và Hoàng Thị Ngọ, Thiền tông khoá hư ngữ lục được nhắc đến như một tài liệu cổ có giá trị, đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu chữ Nôm và lịch sử tiếng Việt.
Vào năm 2011, Nguyễn Thanh Tùng đã bắt đầu so sánh hai phương pháp giải nghĩa và giải âm Khoá hư lục nhằm làm rõ cách tiếp cận khác nhau trong việc hiểu và phát âm bản text Tác giả đã phân tích số lượng hư từ giữa hai bản để ghi nhận sự khác biệt giữa phương pháp giải âm và giải nghĩa Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn chưa đi vào chi tiết, thiếu tính hệ thống và còn ở mức sơ khởi.
Trong Nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt qua các bản dịch Khoá hư lục (2012), Trần Trọng Dương cho rằng bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh được sáng tác vào cuối thế kỷ XIV, dựa trên chứng tích ngôn ngữ và văn tự Điều này cho thấy Tuệ Tĩnh đã giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục trong giai đoạn này Ông khẳng định các chứng tích ngôn ngữ—ngữ âm, hư từ cổ và từ vựng tiếng Việt cổ—trong văn bản cho thấy khả năng thuộc về tiếng Việt cổ (thế kỷ XIII–XVI) Thiền tông khoá hư ngữ lục có thể được sáng tác trước Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập, và đây là tư liệu quý hiếm để nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt lịch sử.
Trong công trình nghiên cứu của mình, Trần Trọng Dương đã thống kê sơ bộ hư từ trong bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục và chỉ ra chức năng ngữ pháp của các hư từ này, bao gồm hư từ từ pháp, hư từ cú pháp và hư từ phụ trợ Tuy nhiên, đây chỉ là những phác thảo ban đầu về hệ thống hư từ trong Thiền tông khoá hư ngữ lục, cho thấy sự phân loại và vai trò ngữ pháp của từng loại hư từ, mở đường cho các nghiên cứu sâu hơn về ngôn ngữ học và văn bản học thiền tông.
Mục đích nghiên cứu
Với quan điểm ngôn ngữ - văn tự, bài viết phân tích hư từ trong văn bản Thiền tông khoá hư ngữ lục, đặc biệt nhấn mạnh hư từ cổ nhằm xác nhận sự xuất hiện và niên đại của tác phẩm Đồng thời, chúng tôi so sánh các hư từ Hán trong nguyên bản để làm sáng tỏ quá trình Việt hóa ngữ liệu Hán văn của Tuệ Tĩnh, từ đó cho thấy bước đầu hình thành văn học chữ Nôm của tiếng Việt.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê hư từ trong bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh
Đề tài tập trung phân tích và đánh giá các hư từ trong bản giải nghĩa, nhằm làm rõ sự sai lệch ngữ nghĩa và đề xuất biện pháp khắc phục Nghiên cứu sẽ so sánh các hư từ này với một số văn bản Nôm cổ thời trung đại để làm sáng tỏ nguồn gốc chữ Nôm, cấu trúc ngữ pháp và sự biến đổi theo thời gian Qua đó, mục tiêu là rút ra các quy tắc giải thích và chuẩn hóa cách hiểu các hư từ trong các bản giải nghĩa Nôm cổ, góp phần nâng cao chất lượng giải mã và bản dịch Đề tài sẽ tiến hành các bước như khảo sát nguồn tư liệu liên quan, phân tích minh hoạ bằng ví dụ cụ thể và tổng hợp dữ liệu để xây dựng khung tham chiếu cho nghiên cứu.
1/ Cơ sở lý thuyết về hư từ Hán cổ và hư từ Nôm.
2/ Khảo sát những hư từ cổ thông dụng.
Phần 3 tập trung xác định đó là hư từ Việt cổ hay hư từ gốc Hán; với mỗi hư từ được nêu ra, chúng tôi sẽ bổ sung thêm một số ví dụ từ các tác phẩm cùng thời để làm rõ nguồn gốc và vai trò ngữ pháp của từng hư từ.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là nhận diện, thống kê, so sánh, phân tích các ngữ liệu.
Những đóng góp mới của đề tài
Tìm hiểu những hư từ trong bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục giúp nhận diện các giá trị của lịch sử từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt thời trung đại, từ đó làm sáng tỏ vai trò và đặc trưng của hư từ nói riêng cũng như của ngôn ngữ thế kỷ XIV - XV Qua đó, người đọc có thể nắm được ý nghĩa và chức năng của những hư từ này trong văn bản, góp phần làm phong phú hiểu biết về tiến trình phát triển ngữ học Việt Nam.
Cấu trúc của đề tài
Cấu trúc của đề tài gồm 3 phần:
2/ Phần nội dung gồm 2 chương: Chương 1 và Chương 2
CỞ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HƯ TỪ
Ở Trung Quốc, việc nghiên cứu hư từ cổ Hán ngữ có lịch sử hơn một nghìn năm và trước thế kỷ XIX thuộc phạm vi ngữ văn học, cho tới khi cuốn Mã thị văn thông ra đời mở ra thời kỳ mới của ngôn ngữ học hiện đại Trước thời Mã thị văn thông, nghiên cứu hư từ trải qua hai giai đoạn: từ Tiên Tần đến Đường Tống là giai đoạn nghiên cứu ở mức độ nhỏ lẻ, sang thời Nguyên mở đầu cho nghiên cứu hư từ một cách chuyên môn và hệ thống hơn, đến đời Thanh phát triển đến đỉnh cao của truyền thống nghiên cứu hư từ nhưng sự phân biệt thực từ và hư từ chỉ dựa vào ý nghĩa từ vựng, nên không thuộc phạm trù từ loại của ngữ pháp học mà thuộc về tu từ học và huấn hỗ học Khởi nguồn sâu xa của truyền thống nghiên cứu hư từ có thể chia làm hai phương diện: tồn tại và phát triển nhờ nội dung giải thích ý nghĩa trong câu, và nhờ hư từ trong văn chương Thế kỷ XX, ngữ pháp Hán ngữ học phát triển nhanh, ngữ pháp Hán ngữ hiện đại tiếp thu phương pháp và lý luận từ phương Tây để hình thành hệ thống mới, mở rộng cho nghiên cứu và nâng cao lịch sử ngữ pháp phương ngôn Hán ngữ, song nghiên cứu hư từ cổ Hán ngữ vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống huấn hỗ Đây là những nét phác thảo sơ bộ về tình hình nghiên cứu hư từ Hán ngữ cổ đại Trung Quốc; ở Việt Nam, nghiên cứu hư từ tiếng Việt dù không mới bắt đầu nhưng vẫn còn khiêm tốn, với nhiều học giả như A de Rhodes, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Maspéro, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Ngọc San, N Stankievic, Vũ Đức Nghiệu đã đề cập đến hư từ, song việc dịch và giải âm từ Hán ngữ cổ sang tiếng Việt chưa nhận được sự quan tâm đặc biệt, vậy hư từ là gì và nó là thành phần nào trong câu có ý nghĩa quan trọng đối với ngôn ngữ của các dân tộc?
Khái niệm chung về hư từ
Người đầu tiên nêu ra sự phân biệt và định nghĩa tương đối rõ ràng về thực từ và hư từ có lẽ là Mã Kiến Trung; trong sách Mã thị văn thông, ông đã trình bày sự phân biệt này và nhấn mạnh vai trò chức năng của từng loại từ, từ đó xây dựng nền tảng cho phân tích ngữ nghĩa và ngữ pháp Sự phân biệt giữa thực từ và hư từ giúp làm rõ cách từ ngữ đóng góp vào ý nghĩa câu và cấu trúc văn bản, đồng thời mở lối cho các nghiên cứu ngôn ngữ cổ đại và ứng dụng giảng dạy ngôn ngữ hiện đại Qua đó, Mã Kiến Trung đã khắc họa một cách tương đối rõ ràng tầm quan trọng của hai nhóm từ trong hệ thống ngôn ngữ.
Trong quan niệm của Mã Kiến Trung, các từ có sự lý và có thể giải thích được được xem là thực từ; còn những từ không thể giải thích mà chỉ dùng để bổ sung tình thái cho thực từ thì được gọi là hư từ Cụ thể, ông viết: "Phàm tự hữu sự lý khả giải giả, viết thực tự; vô giải nhi duy dĩ trợ thực tự chi tình thái giả, viết hư tự" (phàm những chữ có sự lý, có thể giải được gọi là thực từ Không giải được mà chỉ dùng để bổ sung tình thái cho thực từ, gọi là hư từ) [5, 6].
Hư từ là lớp từ công cụ ngữ pháp quan trọng giúp đọc hiểu và dịch các văn bản Hán ngữ ở mọi phong cách từ cổ đại đến hiện đại Chúng không biểu thị ý nghĩa thực tại mà có vai trò chủ yếu là biểu thị quan hệ ngữ pháp, là công cụ để thực từ kết nối thành ngữ hoặc câu Tác dụng của hư từ là liên kết các thành phần ngữ pháp, tạo nên cấu trúc câu và làm rõ quan hệ giữa từ ngữ Tuy không tự mình tạo thành câu hay mang ý nghĩa nội tại, hư từ vẫn là yếu tố thiết yếu của ngữ pháp và câu Hiểu rõ hư từ sẽ nâng cao khả năng đọc và dịch văn bản Hán ngữ ở mọi thời kỳ.
Hư từ là một lớp từ dùng để biểu đạt các quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa giữa các thực từ Tuy không mang nghĩa từ vựng riêng, nhưng ở tiếng Việt một số hư từ lại được hình thành từ thực từ, đặc biệt là các phó từ, giới từ, liên từ và các từ chỉ không gian, thời gian hay sự sở hữu, như thật, không, bằng, về, với, của, nếu, giá, cho, để, đặng, trên, dưới, trước, sau Khi tham gia tổ chức câu, hư từ mang vào câu các nghĩa bổ sung, được gọi là nghĩa tình thái Muốn hiểu nghĩa của từ, ta có thể tra từ điển, nhưng để diễn đạt đúng đòi hỏi nắm vững nguyên tắc ngữ pháp và các phương tiện liên kết tổ chức câu Hư từ và các kết cấu hư từ đảm nhận chức năng liên kết câu, giúp câu văn mạch lạc như các khớp xương của một cơ thể.
Hư từ là những từ không thể độc lập làm thành phần câu, được dùng để biểu thị mối quan hệ ý nghĩa và cú pháp giữa các thực từ hoặc bổ sung các ý nghĩa ngữ pháp cho từ Vì thế đối với Hán cổ, việc phiên dịch hư từ sao cho hợp lý là một vấn đề đặt ra, đòi hỏi sự cân nhắc giữa giữ nguyên nghĩa và điều chỉnh cấu trúc câu cho tiếng Việt Ví dụ điển hình cho quá trình này là việc chuyển dịch hư từ trong bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh, bản giải âm Tân biên Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Thế Nghi, và Khoá hư quốc âm của hòa thượng Phúc Điền, cho thấy sự biến đổi tương đối linh hoạt của ngôn ngữ Việt Trung đại khi chuyển từ hư từ Hán sang hư từ Nôm Từ đó có thể rút ra rằng phân tích và so sánh các phương thức phiên dịch hư từ giúp hiểu rõ quá trình thích ứng ngôn ngữ cổ với hệ chữ Nôm và bảo tồn chức năng cú pháp giữa các thực từ trong văn bản Hán cổ.
Thông qua thống kê, phân tích và đánh giá hư từ trong các văn bản Nôm, có thể thấy tiếng Việt thời trung đại sở hữu một hệ thống hư từ phong phú, đảm nhận các chức năng ngữ pháp tương đương với các cấu trúc ngữ pháp của tiếng Hán Việc tồn tại nhiều hư từ và sự ổn định tương đối của chức năng ngữ pháp cho thấy ngôn ngữ này đã phát triển, giàu có và phong phú về mặt từ vựng Đồng thời, điều đó phản ánh sự linh hoạt trong cách dùng ngôn ngữ của người Việt cổ Trong cổ văn, hư từ chiếm một vị trí quan trọng và có nhiều khả năng biểu đạt ngữ pháp, mang ý nghĩa ngữ pháp rõ nét hơn ý nghĩa từ vựng.
Giải thích ý nghĩa ngữ pháp cho các hư từ văn ngôn trong sự đa dạng của cách dùng là một đặc điểm và nội dung chủ yếu của môn ngữ pháp văn ngôn Để làm rõ vấn đề ngữ pháp của Hán cổ, các nhà ngữ pháp căn cứ vào ý nghĩa khái quát của từ và chia chúng thành hai loại lớn: thực từ và hư từ.
Phân biệt thực từ và hư từ
Mã Kiến Trung là người đầu tiên có định nghĩa khá rạch ròi về hư từ và thực từ, ông đã chia thực từ ra làm năm loại là danh từ, đại từ, động từ, tính từ và trạng từ; chia hư từ ra làm bốn loại là giới từ, liên từ, trợ từ và thán từ Sau Mã Kiến Trung, nhà ngữ học Dương Thụ Đạt khi soạn quyển Từ thuyên xếp cả phó từ, đại từ và vài loại động từ đặc biệt vào loại hư từ Song các nhà nghiên cứu Trung Quốc đều thống nhất là có năm loại hư từ là phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ và thán từ.
Trong văn ngôn, nhiều từ vừa có thể đóng vai thực từ (từ mang nghĩa nội dung) vừa có thể là hư từ (từ dùng để kết nối hay tạo khung câu); do đó việc giải thích ý nghĩa ngữ pháp cho các hư từ với cách dùng đa dạng là một đặc điểm và nội dung cốt lõi của ngữ pháp văn ngôn Ngữ pháp là tập hợp các quy tắc về từ và cách dùng từ để sắp xếp thành câu hay lời nói, và nếu không nắm vững ngữ pháp thì ta khó nói đúng, khó dịch đúng và khó đọc hiểu Hán ngữ một cách thấu đáo Về ngữ pháp Hán ngữ, các nhà ngữ pháp học Trung Quốc xưa nay vẫn chưa có sự thống nhất về cách trình bày, dẫn đến thiếu sự nhất trí về khái niệm hoặc thuật ngữ Họ thường căn cứ vào ý nghĩa khái quát của từ để chia từ Hán thành hai loại lớn: thực từ và hư từ; ở đây bài viết chỉ đề cập tới một số hư từ, song vẫn cần xem xét các quan niệm của các nhà ngữ pháp về thực từ và hư từ Thông thường, phân loại thực từ nên dựa trên chủng loại khái niệm, còn phân loại hư từ nên dựa trên chức vụ cụ thể của chúng trong câu: bất cứ từ nào có thể biểu thị một khái niệm thì là thực từ; còn nếu từ đó chỉ đóng vai trò công cụ kết nối ngữ nghĩa và cấu trúc câu thì đó là hư từ.
Trần Văn Chánh cho biết hiện có quan điểm chia từ vựng thành 11 loại theo ngữ pháp; trong đó 6 thực từ là danh từ, đại từ, động từ, hình dung từ, số từ và lượng từ; hư từ gồm các loại như phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ và thán từ (một số hệ thống cũng kể cả tượng thanh từ) Dù phân loại có khác nhau về nhãn hiệu, nguyên tắc quan trọng là dùng từ đúng nghĩa và đúng chức năng; vì vậy trong văn bản vẫn có nhiều từ vừa có thể đóng vai trò thực từ vừa có thể là hư từ tùy ngữ cảnh, và việc xác định chức năng của từ mới là yếu tố then chốt cho diễn đạt.
HƯ TỪ TRONG BẢN GIẢI NGHĨA THIỀN TÔNG KHOÁ HƯ NGỮ LỤC
Hư từ trong Thiền tông khoá hư ngữ lục
Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi trong bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục, có 150 hư từ được xác định và phân tích với tần suất xuất hiện cụ thể, được trình bày ở phần sau Nghiên cứu này giúp làm rõ vai trò của các hư từ trong cách diễn đạt giáo lý Thiền tông, từ đó hỗ trợ độc giả nắm bắt cấu trúc ngữ nghĩa và ý nghĩa sâu hơn của khoá hư ngữ lục Việc công bố tần số xuất hiện chi tiết tạo điều kiện tối ưu hóa nội dung cho SEO với các từ khóa liên quan như Thiền tông, khoá hư ngữ lục, hư từ và tần số xuất hiện, đồng thời tăng tính thuyết phục và hữu ích cho người đọc quan tâm đến triết học và thực hành thiền.
TT Hư từ Tần số TT Hư từ Tần số
TT Hư từ Tần số TT Hư từ Tần số
39 Đến nhẫn 8 114 Suốt rốt đáy 1
TT Hư từ Tần số TT Hư từ Tần số
Trong bài viết này, chúng tôi tiến hành khảo sát các hư từ trong Thiền tông khoá hư ngữ lục ở nhiều góc độ khác nhau, bao gồm phân loại hư từ, chỉ ra nguồn gốc các hư từ và phân tích chức năng ngữ pháp của hư từ nhằm làm rõ vai trò và đặc điểm của hư từ trong ngữ liệu của Thiền tông và hệ thống ngữ pháp nói chung Việc phân loại hư từ giúp nhận diện các loại hư từ và cách chúng tác động đến nghĩa và cú pháp của câu Chúng tôi cũng trình bày nguồn gốc của từng hư từ để phác thảo quá trình hình thành và biến đổi của chúng trong khoá hư ngữ lục Phân tích chức năng ngữ pháp của hư từ cho thấy vai trò của chúng trong liên kết các thành phần câu, xác định vị trí và chức năng của chúng trong ngữ pháp thiền tông và tác động của chúng đến ngữ điệu và nghĩa văn bản Bài khảo sát này cung cấp dữ liệu đáng tin cậy cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và ngữ văn Thiền tông và đồng thời tối ưu hóa nội dung cho SEO với các từ khóa như hư từ, Thiền tông, khoá hư ngữ lục, ngữ pháp, phân loại hư từ, nguồn gốc hư từ và nghĩa.
Phân loại hư từ
Năng lực hoạt động của các hư từ trong tiếng Việt rất đa dạng, thể hiện qua sự khác nhau về tần suất xuất hiện Có những hư từ xuất hiện với số lần lên tới hàng trăm như chưng (240), chẳng (187), những (116), mà (190), thửa (105)… cho thấy vai trò đa dạng và quan trọng của chúng trong cấu trúc câu Ngược lại, có những hư từ chỉ xuất hiện một vài lần như hễ (1) và một số hư từ có tần suất rất thấp khác, cho thấy sự phân bố không đồng đều của các hư từ trong ngôn ngữ.
(2), lăm (2), ốc là (1), vả (2), xiết (2),…
Theo bảng thống kê hư từ từ góc độ phát triển ngôn ngữ, hư từ được phân thành 3 loại chính: hư từ cổ là những từ đã mất hoặc gần như không xuất hiện trong đời sống ngôn ngữ hiện nay; hư từ còn tồn tại cho đến ngày nay nhưng đã có sự biến đổi về nghĩa và chức năng; và hư từ không biến đổi từ thế kỉ XIV cho tới nay Dưới đây chúng tôi sẽ đi vào phân tích cụ thể từng loại hư từ.
2.1 Hư từ cổ trong Thiền tông khoá hư ngữ lục
Hư từ cổ nói riêng và từ cổ nói chung, Đào Duy Anh trong cuốn
Chữ Nôm – nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến [1] gọi đó là từ xưa Hoàng
Theo Hoàng Xuân Hãn, từ ngữ cổ là những từ ngày nay không còn dùng nữa, hoặc còn dùng ở một địa phương, hoặc còn sót lại trong một thành ngữ nào đó, hoặc còn dùng với nghĩa khác nhưng có liên hệ với nghĩa gốc Quan điểm này cho thấy Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần đóng vai trò quan trọng trong việc nhận diện và lưu giữ các từ cổ qua các ngữ cảnh địa phương và thành ngữ, từ đó làm sáng tỏ sự biến đổi của ngôn ngữ Việt Nam theo thời gian (Hoàng Xuân Hãn, Văn Nôm và chữ Nôm đời Trần – Lê: Phái).
Trúc lâm Yên Tử, Khoa học xã hội (Paris), tái bản, 1998)
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng từ cổ là các từ ngữ biểu thị đối tượng trong tiếng Việt cổ và trong tiếng Việt hiện đại vẫn có các từ đồng nghĩa tương ứng; sự xuất hiện của những từ đồng nghĩa này khiến các từ cổ trở nên lỗi thời Ông phân loại từ cổ thành hai loại: một là những từ cổ đã hoàn toàn biến mất khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại, hai là những từ ngữ còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa của chúng đã bị lu mờ vì không được dùng độc lập nữa (Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985)
Theo Vương Lộc, từ cổ là những từ ngữ chỉ còn gặp trong các tác phẩm cổ chứ không còn tồn tại trong tiếng Việt hiện đại; có từ gặp trong tiếng Việt hiện đại nhưng đã thay đổi ít nhiều về ngữ âm; có từ vẫn gặp trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ do chúng không còn được dùng độc lập; và có từ gặp trong tiếng Việt hiện đại nhưng khả năng kết hợp với các yếu tố khác đã khác so với ngày trước Những quan sát này được trình bày trong công trình của Vương Lộc, Henri Maspéro và các nghiên cứu liên quan.
Nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt – các âm đầu, “Giao lưu văn hoá và ngôn ngữ Việt – Pháp, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.)
Theo Nguyễn Ngọc San, từ cổ là các từ được lưu lại trong văn bản cổ và trong văn bản miệng cổ (ca dao, tục ngữ), nhưng hiện nay phần lớn không còn được sử dụng trong tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Ngọc San, Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003)
Còn theo Trần Trọng Dương thì từ cổ có thể xuất hiện trong:
1 Văn bản Nôm; 2 Văn bản chữ quốc ngữ từ đầu thế kỷ XX trở về trước;
3 Văn bản truyền miệng (ca dao, tục ngữ, văn học truyền khẩu…);
4 Phương ngữ hoặc một số phương ngữ bảo thủ.
Tóm lại, từ cổ nói chung, trong đó có hư từ cổ, là những từ ngữ xuất hiện trong các văn bản cổ từ thời Việt tiền cổ đến tiếng Việt cận đại, nhưng nay đã không còn được sử dụng trong tiếng Việt hiện đại ở các khía cạnh văn tự, ngữ âm, nghĩa, cấu trúc từ pháp và khả năng kết hợp; người hiện đại thường khó hiểu các từ cổ nếu không tra cứu bằng các loại từ điển hoặc đối chiếu với nguyên tác Hán văn để giải nghĩa và giải âm Từ cổ có thể có nguồn gốc khác nhau: gốc Việt, gốc Hán hoặc sự giao thoa Hán–Việt.
Theo thống kê, mật độ hư từ cổ trong bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục dày đặc, gồm khoảng 100 hư từ cổ xuất hiện với tần số cao Đây là những hư từ đã vắng bóng trong tiếng Việt hiện đại, cho thấy sự phong phú của ngữ liệu cổ và sự biến mất dần của chúng theo thời gian Ví dụ điển hình gồm bui, mựa, phô, thửa, cả chi, cả hoà, chưng, chỉn, hoà, ngõ, đòi, khá, ghín, khuở, khứng, xá, xảy, tua, tây, ghê, lăm, tuồng, nhẫn, xiết, sốt rốt đáy, ốc là, thửa chưng, thiết tua, theo đòi, song le, hà huống, phương chi, nhẫn đến, rốt ráo, khôn khôn, đà hầu Việc nhận diện và phân tích các hư từ cổ này góp phần làm sáng tỏ mối liên hệ giữa ngữ liệu Thiền tông cổ và tiếng Việt hiện đại, hỗ trợ nghiên cứu ngôn ngữ học, văn hóa và sự phát triển của Việt ngữ.
Sau đây chúng tôi sẽ tiến hành phân tích một số cách dùng hư từ cổ trong Thiền tông khoá hư ngữ lục.
1/ Bui là từ Việt cổ gốc Hán, dịch chữ duy 唯 với nghĩa là chỉ.
- Kẻ trong thế gian chưng rất hơn ấy bui có một vàng ngọc ấy.
- Muốn khỏi quanh vần chưng lục đạo bui có một đường chưng thẳng tới (26a)
2/ Mựa (từ Việt cổ) nghĩa là chớ.
- Trong mình ta chỉn mựa ra chưng lòng tuyết bỏ (25a)
- Chỉn tua sớm sớm trồng hột tốt, mựa chớ cạy cạy tìm quả dữ (34a)
3/ Phô (từ Việt cổ) với nghĩa là nhiều, những.
- Những phô tội nghiêp dường ấy, chẳng lường được, chẳng biết là biên nào (36a)
- Họp ba ba những giống bạn rượu chè, kết song song phô đoàn hoa nguyệt (42a)
4/ Thửa: (Từ Việt cổ gốc Hán) vốn viết là 唯 sở (đứng trước danh từ khác có chức năng danh hoá từ đó, ví dụ sở ái, sở ố, sở đắc…) Có khi thửa dịch từ quyết (đại từ: đó, kia); có khi thửa chỉ là từ đệm giữa câu.
- Mỗ giáp nay theo đòi thửa phép Phật mà mừng rỡ, hôm sớm dốc lòng tín kính mà lễ Phật sám hối (42b)
- Xin đam thửa công đức ấy đến nhẫn chưng chúng sinh (42a)
5/ Cả chi: dịch chữ na cá, nghĩa là cái đó Cả chi chỉ xuất hiện 1 lần trong bản giải nghĩa.
Ai ngõ rốt sau một câu này: xá nói, bèn nay gọi làm cả chi (26b)
6/ Cả hoà: giống như từ cả và, nghĩa là: cả, tất cả Cả hoà xuất hiện
2 lần trong bản giải nghĩa.
- Cả hoà trong một trời rạng tốt, xóm đều liễu xanh hoa đỏ (8b)
- Tiếng chuông Phạn âm đánh vỡ cả hoà nhà cùng điếc (75b)
7/ Chưng là một hư từ cổ hoạt động rất tích cực trong các văn bảnNôm cổ Trong bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục đã sử dụng tới
Theo các nguồn dữ liệu cổ, từ "chưng" xuất hiện tổng cộng 240 lần Cụ thể, Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập gặp 45 lần, Truyền kì mạn lục giải âm 276 lần, và Thiên Nam ngữ lục 61 lần Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chỉ gặp từ "chưng" trong một vài cách nói giả cổ như vì chưng, bởi chưng và hay chưng.
Chúng ta có thể bắt gặp vì chưng trong một câu ca dao:
Vì chưng bác mẹ em nghèo Cho nên em phải băm bèo thái khoai.
Chưng cũng là một hư từ gốc Hán được dịch từ chi, ư, phù, hồ, phàm, phù, tại, vi…
- Chưng trong bản giải nghĩa được dùng nhiều nhất làm ngữ khí từ, ví dụ:
Nguyên chưng vốn không chẳng có tứ đại, tứ đại là địa, thuỷ, hoả, phong (6a)
- Chưng đứng trong câu làm trợ từ kết cấu, ví dụ:
Hoặc có bậc thì sinh ra làm đấng thánh cùng đấng hiền với đấng ngu cùng đấng trí chưng trong tam giới (6b)
- Chưng làm hư từ đệm giữa câu, ví dụ: Đã trái chưng trong nghĩa vô sinh vô hoá bèn mãi làm chưng sự luân hồi hữu hoá hữu sinh (6a)
Ngoài hư từ chưng, hư từ là từ Việt cổ gốc Hán được đọc theo âm Tiền-Hán Việt; nguyên viết là 唯 chỉ Khi âm đọc biến đổi, nó được ghi bằng 唯 (唯) chẩn trong các văn bản Nôm Chỉn cũng là hư từ cổ thường đi kèm trước động từ, thể hiện nghĩa chỉ / chỉ có / duy chỉ, và đôi khi đóng vai hư từ đệm giữa câu Trong các văn bản giải âm và giải nghĩa, hư từ chỉn có thể được dịch từ các hư từ Hán văn như: 已但, chỉ凡, thái凡, cánh凡, tiện凡, chỉ凡, cố凡, chính凡, lương凡, 凡 đệ, … Hiện nay, hư từ chỉn đã bị hư từ chỉ thay thế hoàn toàn.
- Bằng mình lấy thân ấy làm thân thực, chỉn ấy nhận thằng giặc bảo làm con mình (13a)
- Biết chưng trăm ngày tháng đều chỉn ở nơi mảy phút, chỉn thực bốn đại ấy là thân dối (21b)
9/ Đòi, theo đòi (từ Việt cổ) nghĩa là theo, dõi theo, bắt chước, chạy theo.
- Mỗ giáp nay theo đòi thửa phép Phật mà mừng rỡ, hôm sớm dốc lòng tín kính mà lễ Phật sám hối (43a)
- Mùi lan đà hầu phai cùng mùi xạ đà hầu tan, bui những hằng chuyện tìm đòi (48b)
- Con mắt, lỗ tai còn theo đòi đường thanh sắc; lỗ mũi, đầu lưỡi hằng đuổi tìm chưng sự mùi hương (34a)
Người mang nghiệp căn lỗ tai ấy ghét nghe thửa chính pháp mà lại ham nghe lời tà; vì vậy họ quên mất tính vốn chân như và theo đòi những lòng ngoài dối trá.
10/ Hà huống (từ Hán), dịch từ chữ phương chi xuất hiện 1 lần trong bản giải nghĩa với nghĩa là huống chi, huống hồ là.
Trong ban nửa ngày trong lẻo còn chưa biết đường chốn nào, hà huống lọ là đến ban đêm sau lại quên sảy nhà mình (47b)
11/ Khá với nghĩa là có thể.
- Mình vóc chẳng khá lâu, giàu sang khá hay trì giữ mãi (41a)
- Dầu có sức khoẻ, oai mạnh khá hay được chưng nơi vô thường đến bắt (11b)
12/ Khôn: (từ cổ) với nghĩa là khó, khó có thể, không
- Khi trên giường khôn biết lúc dưới giường; biết chưng đêm nay há biết chưng đêm mai (56a)
- Xem lại đều thực những sự quanh quất Rốt ráo thì cũng khôn trốn được chưng sự sinh tử (7b)
13/ Mấy với nghĩa là vài
- Rừng mau cây khóm xanh, một trận gió may thổi đến, mấy khóm bèn nên xơ xác (11b)
- Trong đường tía chưng những giống bụi bụi đều yên; mấy trận mây gió sinh ra chưng muôn dặm (62b)
14/ Ngõ: (từ Việt cổ) nghĩa là hiểu.
- Bằng chưa thông ngõ chưng lòng Phật cùng lòng Tổ; vả trước hãy cứ cầm giới pháp mà tụng kinh niệm Phật (17a)
- Những người chưa ngõ, lòng chấp trước phân biệt kể làm ba đạo, những bậc đà ngõ được gốc chỉn pháp, thì cũng chẳng qua một lòng.
15/ Ghín được sử dụng 5 lần thường đứng trước động từ với nghĩa là kính, kính cẩn:
- Ghín nhớ khuở bấy chừ, lấy làm chưng lễ sơ dạ chầu Bụt (56b)
- Ghín nhờ trời bấy chừ, lấy lễ nửa ngày chầu Bụt (41b)
Từ ghín còn thấy trong câu: Hoặc ở trong nước người, chẳng hay ghín nắm, phải người mưu lừa (Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, 19b)
16/ Khuở (từ Việt cổ) âm xưa của thuở, 41 xuất hiện lần.
- Chưng khuở điềm bay phớ, ngỡ vốn nẻo tự nhiên tan ra (38b)
- Khuở trẻ chẳng tu làm nhân lành, thì ngày khác đày về chốn khổ.
17/ Khứng xuất hiện 8 lần, thường đi kèm với động từ, nghĩa là có thể:
- Đều chẳng khứng lui bước mà trở đầu lại (14a)
- Ông Chấn Vũ chẳng khứng làm vua, bui một chuộng chuyên tu hạnh (24b)
- Chẳng khứng về soi đèn lòng trong nhà mình (60b)
Ta còn có thể thấy từ khứng trong: Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ - Trời ban tối ước về đâu (Ức Trai thi tập – Nguyễn Trãi, 8a)
18/ Tây là từ cổ nghĩa là trộm, riêng Trong bản giải nghĩa này, tây xuất hiện 6 lần thường đi kèm với nghe Ngày nay, chúng ta chỉ còn thể bắt gặp từ tây trong riêng tây.
- Tây nghe: gà gáy đà hầu sôi, bóng thỏ vừa hầu lặn, chưng khuở non nước khói chằm vừa mới phân (33b)
- Tây nghe: mây đỏ đà hầu suốt núi, mặt trời vừa khi gác non.
- Tây nghe: Lầu kèn thốt sơ nghẹn, trong nhà cấm trống canh mới gióng (55b)
19/ Ốc là là từ cổ, nghĩa là là Trong bản giải nghĩa này, ốc là chỉ xuất hiện 1 lần:
Ngửi mùi sen ốc là kẻ trộm, nghe thửa khí thì đà nên sự dâm (49b)
20/ Ghê xuất hiện 2 lần với nghĩa là nhiều:
- Bệnh tật trầm trệ ghê tháng mà chưa thấy hèn (11a)
- Xót thương thay những lũ mê muội ghê lần gặp vào đường tối tăm (47b)
21/ Lăm là từ Việt cổ, xuất hiện 2 lần thường đi kèm trước động từ, nghĩa là định, toan, chực:
- Nay bèn lăm làm chưng tựa tứ sơn, mặc mà để mãi chưng đời sau (7a)
- Tuy rằng sáng láng khôn ngoan cũng khôn trốn được chưng ngày hạn cả lăm đến (11b)
22/ Tuồng là từ Việt cổ, xuất hiện 1 lần, nghĩa là đại khái, dường như:
Tuồng bởi lòng vọng niệm dấy cùng nghiệp duyên giao hội, ngũ uẩn hợp nên (ngũ uẩn là : sắc, thụ, tưởng, hành, thức) (13a)
Tuồng cũng xuất hiện trong Ta còn lãng đãng làm chi nữa – Tuồng có trời bày đặt vay (Ức Trai thi tập – Nguyễn Trãi, 18a)
23/ Xiết là từ cổ, xuất hiện 2 lần với nghĩa là hết:
- Ví bằng số cát trần sa, kể đấy cũng chẳng có xiết (60a)
- Ân ái dầu ghẽ lìa, thương chẳng xiết (53b)
24/ Suốt rốt đáy được dịch nghĩa từ đáo để, nghĩa là cuối cùng, cuối cùng thì Từ này chỉ xuất hiện 1 lần trong bản giải nghĩa:
Suốt rốt đáy chỉn cùng một nhẽ mặc khôn lọt (17a)
25/ Tua (từ cổ), nghĩa là nên, âm cổ Hán Việt của tu.
- Tua tìm thầy ăn ngay, ở ngay, mặt thấy cho ngay, chớ tin nghe những kẻ thầy ở tà hạnh (26a)
- Những giống đàn con Bụt, tua xét mình tới đường trước mà bước lên, mựa cưu gối cao mà đánh giấc nằm dài (55a)
26/ Thiết tua xuất hiện 1 lần, dịch nghĩa từ thiết tu với nghĩa là tất thảy nên:
Thiết tua kéo mũi lôi lại; mựa cho luông lòng buông đi (47b)
27/ Song le từ Việt cổ, xuất hiện 2 lần trong bản giải nghĩa với nghĩa là nhưng mà.
- Tuy rằng sợ đêm qua nơi díp giấc nằm ngủ, song le trọn đời mình chưa tỉnh mà mở con mắt (71a)
Trong thế gian, người ta thường khoe của cải vàng ngọc như đỉnh cao của thành công Tuy nhiên, khi cân nhắc sự trọng yếu của mọi việc, ta nhận ra những điều đáng tiếc và những giá trị đích thực còn vượt xa vật chất Dù vậy, những giá trị ấy vẫn không thể sánh bằng thân thể và đời sống của chính mình.
28/ Hà huống: (từ Hán) với nghĩa huống hồ là
Trong ban nửa ngày trong lẻo còn chưa biết đường chốn nào, hà huống lọ là đến ban đêm sau lại quên sảy nhà mình (47b)
29/ Phương chi: (Từ Việt cổ) xuất hiện 3 lần trong bản giải nghĩa, nghĩa là huống hồ.
- Ấy là vật loài còn hơi lĩnh ngộ thửa đạo lý, phương chi lọ là người sao chẳng hay hồi tâm về đạo (25b)
- Phương chi là giống kim ngọc của cải chưng rất hèn lại sao nên khá tiếc vậy thay (21a)
30/ Nhẫn đến (từ Việt cổ) với nghĩa đến, cho đến, đến cả xuất hiện
2 lần trong bản giải nghĩa.
Sống lâu mong hưởng mãi nhẫn đến trăm năm (12a)
Chẳng những vàng ngọc mà mới nên tội nặng, nhẫn đến cái cỏ, mũi kim, ắt nên nghiệp kẻ trộm (65a)
31/ Khôn khôn xuất hiện 1 lần với nghĩa là khó khó:
Tuy rằng, nói đà như dường ấy, chỉn thực khôn khôn vậy (18a)
32/ Đà, đà hầu: từ cổ nghĩa là sắp.
- Mùi lan đà hầu phai cùng mùi xạ đà hầu tan, bui những hằng chuyện tìm đòi (49a)
- Cầm giơ châu sáng mà soi vào mọi chốn tối Tây mắng : đồng hồ đà gióng năm điểm, con gà vàng vừa gáy ba lần (70a)
33/ Xá: từ Việt cổ nghĩa là hãy, xuất hiện 3 lần trong bản giải nghĩa.
- Bày lòng tín kính chưng trước bảo toạ Nay xá đốt hương lòng chưng lò vàng (38a)
- Xá trỏ tịnh độ ở trước mặt, nhìn lại biết tính Di đà ở nơi tâm tạng (71a)
34/ Xảy vậy, nghĩa là thoắt cái, dịch chữ thúc hốt, chỉ xuất hiện 1 lần trong bản giải nghĩa.
Xảy vậy, bóng hoa phép lại hầu đà xế (44b)
Chức năng ngữ pháp của các hư từ
3.1 Hư từ chuyên dùng cho đoản ngữ danh từ , như: thửa, phô, các, những, chúng, hầu, đà, đang,… Ví dụ:
- Mình chẳng hay nghỉ xấu thửa trong ấy, lại tới trong cả ấy mà đam chưng lòng dục (14b)
- Những phô tội nghiệp dường ấy, chẳng lường được, chẳng biết là biên nào (36a)
Chúng con thành kính ngưỡng các thầy Đại giác từ khắp mười phương, cùng với ba đời chư Phật; nhờ ánh sáng tuệ giác các Ngài mở rộng mà trí tuệ của chư Phật tỏa sáng khắp mọi nơi, soi rọi đến từng căn tối của chúng sinh.
- Chúng tôi về lòng nương mình cùng các chúng thánh, cặn kẽ rập đầu xuống đất mà lễ Bụt từ tôn (43b)
- Lỗ mũi ngửi phải khói hôi khai, trong lưỡi ăn những khối sắt nung (17a)
- Tây nghe: mây đỏ đà hầu suốt núi, mặt trời vừa khi gác non Trên đầu thành mà giốc vẽ trỗi khúc thương (46b)
- Kính mặc khí thái dương đang nắng soi nửa ngày, bóng linh ảnh giãi mặt trời chong (38a)
3.2 Hư từ cú pháp thể hiện quan hệ ngữ pháp giữa các bộ phận của câu với nhau hoặc quan hệ giữa câu với câu , như: bui, lọ, luống,song le, bởi chưng, nhẫn dầu, ví dầu,…
- Làm bèn tàn hại những giống tứ sinh, chẳng cóc ấy cũng là một thân ta, dốc lòng bui muốn mà giết (46b)
- Ấy là vật loài còn hơi lĩnh ngộ thửa đạo lý, phương chi lọ là người sao chẳng hay hồi tâm về đạo (25b)
- Núi xanh đang diềm dà, mai sơ mưa móc luống thơ thới thảy hoá ra rụng rời (12a)
- Tuy rằng sợ đêm qua nơi díp giấc nằm ngủ, song le trọn đời mình chưa tỉnh mà mở con mắt (71a)
- Buồn rối chưng tấc lòng, đều bởi chưng lòng tam độc là tham, sân, si (72a)
- Ví dầu có được làm người lại phải báo thân thông manh , bằng chẳng sám hối, tu lại được, khôn mặc mòn mỏi chưng tội ấy (36a)
3.3 Hư từ phụ trợ biểu thị các nghĩa tình thái thể hiện quan hệ giữa phát ngôn và thực tại , như: thay, vậy, vậy thay, ôi,…
- Mình sợ thay! Nước đồng đều rưới khắp; lòng ghê cay ghê vạc dầu hằng ném vào nấu nướng (17a)
Tuy rằng, nói đà như dường ấy, chỉn thực khôn khôn vậy (18a)
- Mà trong chưng áo giáp kim bào há có mật vía nom lại vậy thay (19a)
- Ôi! Một làng mười nhà cũng còn có người ngay tín Rặt cả trong đấng thế gian há là chẳng có người sáng thông khôn ngoan ấy vậy ôi (21a)
Tuy nhiên, trong Thiền tông khoá hư ngữ lục, không thấy các hư từ tình thái tá, ru, vay,… điều này giống với tác phẩm Thiên Nam ngữ lục.
Có lẽ đây là hai tác phẩm “ngữ lục” nên không mang nhiều sắc thái văn chương, bình giá và cảm thán.
4 Nguồn gốc các hư từ
Qua bảng thống kê, chúng tôi nhận định rằng tiếng Việt cổ đã vay mượn một lượng lớn hư từ gốc Hán trong quá trình dịch thuật Nói cách khác, dịch thuật các kinh điển tôn giáo trở thành con đường trực tiếp đưa khối hư từ của tiếng Hán sang Việt ngữ, từ đó làm phong phú các phương thức diễn đạt Đây được coi là một quá trình nâng cấp của tiếng Việt, giúp ngôn ngữ này có khả năng diễn đạt các ý niệm tư tưởng và triết học một cách sâu sắc hơn.
Xét về nguồn gốc của hư từ trong Thiền tông Khoá hư ngữ lục, đại đa số hư từ có nguồn gốc Hán, gồm cả cổ Hán Việt, Hán Việt và Hán Việt Việt hoá Các hư từ này thuộc nhóm phó từ, giới từ, liên từ, trợ từ và ngữ khí từ, có thể đứng ở đầu, giữa hoặc cuối câu; mỗi loại mang ý nghĩa và chức năng ngữ pháp riêng, và vị trí của hư từ trong câu làm thay đổi nghĩa Nét nghĩa của hư từ gốc Hán phần lớn được bảo toàn khi được diễn giải sang các hư từ Nôm Theo Bùi Duy Dương, tiếng Việt trung đại vay không chỉ thực từ mà còn hư từ; những hư từ này cung cấp cho tiếng Việt một bộ công cụ ngữ pháp thiết yếu, giúp ngôn ngữ thể hiện đầy đủ các quan hệ và ý nghĩa ngữ pháp.
Có thể thấy, từ Thiền tông khoá hư ngữ lục (thế kỷ XIV) cho đến
Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập (thế kỷ XV), cùng Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Thiên Nam ngữ lục, Tân biên Truyền kỳ mạn lục, là những nguồn cổ điển đã làm nổi bật và hình thành hệ thống công cụ ngữ pháp hư từ của tiếng Việt Hiện nay, hệ thống này vừa phát triển vừa hoàn thiện, góp phần làm phong phú tiếng Việt về năng lực biểu đạt nội dung, ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp, đồng thời gia tăng cả số lượng hư từ được sử dụng.
5 Cặp hư từ kết hợp
Ngoài ý nghĩa và chức năng mà hư từ biểu thị, hư từ còn được thể hiện trong bản giải nghĩa ở dạng kết hợp thành các cặp hư từ để tạo nên các cấu trúc ngôn ngữ phức tạp và thể hiện các liên hệ ngữ pháp đa tầng Việc ghép nối này cho phép diễn đạt các mối quan hệ giữa các thành tố câu ở mức độ sâu, từ sự liên kết về thời gian đến các liên hệ thể loại và câu pháp Do đó, hư từ đóng vai trò then chốt trong việc hình thành cấu trúc ngôn ngữ phức tạp và nâng cao khả năng diễn đạt trong ngữ pháp Ví dụ, việc ghép các hư từ với nhau cho phép diễn đạt thời gian, khẳng định/phủ định và các liên hệ cú pháp phức tạp khác.
- Trong lòng đà được nghĩa vô sinh vô hoá ấy, thì chưng sau chẳng có hoá lại chẳng có sinh (6a)
- Đến lúc lảu biết rồi, Bụt chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải (17b) 2/ Chẳng… thì
- Những phô chúng tôi nay, bởi tự vô thuỷ kiếp chẳng lường, thì kiếp kiếp mà đến bây chừ (47b)
- Bằng trước sá chẳng rửa ráy đi, thì sau chỉn khôn theo ăn năn (48a) 3/ Ví dầu…thì
- Ví dầu được sinh làm người, thì lại phải báo chưng rấp mũi (49b)
- Ví dầu có được làm người thì lại phải nghịu báo (58a)
Cơm thì ít, nước thì nhiều, khác nào người có bệnh gượng mà ăn lấy cháo [57a]
- Tám xin, dầu có người nào khoét con mắt ắt cũng chẳng giận (67b)
- Dầu người trí dầu người ngu ắt đều đà có phận (17a)
- Hoặc thân xuất nam thân [hoặc nữ thân, hoặc xấu] hoặc nên cái tướng tốt lành, đều ấy luông cái lòng vả buông ra (13b)
- Hoặc khi vào Tam bảo Phật tiền, hoặc lúc vào nơi Tĩnh địa, Già lam, thấy người ta tụng kinh ở trước Phật tiền ắt chẳng tỉnh nghe xem (35b)
Vì chẳng rộng nửa ngày cầm ở, bèn trước mặt Bụt mà kính lễ (38a) 8/ Khi… thì
- Người ta chưng khi già thì năm dụ làm khuở mùa hạ (9b)
- Chỉn trọn sắc thân ta nay chưng khi trước chưa vào bào thai, neo chốn nào thì có thân ta đấy (13a)
- Hoặc nhân say rượu mà nằm nơi điện Bụt am thầy, hai lỗ mũi nước nghỉ chảy sa, hun thửa kinh giáo, xông lên tượng Phật (49a)
- Nương nhờ nhân hơn này mà nên đạo chính giác Hồi hướng đoạn rồi Ghi lòng về mệnh mà lễ mười phương vô thượng tam bảo (51a)
Đến nay, một số cặp hư từ đã thay đổi hoặc ít được dùng đến; theo thống kê, các cặp như dầu… ắt, ví dầu… thì, nhân… mà đã có sự biến đổi, trong khi số còn lại vẫn đang hoạt động trong ngôn ngữ tiếng Việt và vẫn giữ nguyên ý nghĩa cũng như chức năng ngữ pháp.
Trong chương này, chúng tôi tiến hành thống kê sơ bộ hư từ tiếng Việt trong bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục và từ đó xác định tần số xuất hiện của các hư từ Bản giải nghĩa xuất hiện nhiều hư từ cổ mà những hư từ này không thấy xuất hiện trong các văn bản Nôm cùng thời, tạo nên một đặc điểm khá thú vị của văn bản Chúng tôi phân tích đặc điểm ngữ pháp của các hư từ, chỉ ra nguồn gốc của chúng và các cặp hư từ quan hệ.
Có thể thấy hệ thống công cụ ngữ pháp hư từ của tiếng Việt đang không ngừng phát triển và hoàn thiện, mang lại sự phong phú về cả khả năng biểu thị nội dung, ý nghĩa và các quan hệ ngữ pháp, đồng thời mở rộng số lượng mẫu và biến thể ngữ pháp Quá trình này nâng cao hiệu quả phân tích cú pháp và diễn đạt, giúp người dùng nắm bắt ý nghĩa câu chữ một cách rõ ràng và chính xác hơn Nhờ đó, hệ thống ngày càng phù hợp với nhu cầu của người viết và biên tập, đồng thời tối ưu hóa nội dung cho SEO tiếng Việt Tóm lại, sự tiến bộ liên tục của hệ thống công cụ ngữ pháp hư từ tiếng Việt làm giàu nội dung lẫn cấu trúc ngữ pháp, mở rộng số lượng mẫu và biến thể để đáp ứng sự đa dạng của nhu cầu sử dụng.
Từ những thống kê sơ bộ và phân tích trên đây có thể rút ra một số kết luận như sau:
Hư từ trong Thiền tông khoá hư ngữ lục có khoảng 150 đơn vị/ tổng số 2.169 đơn vị, xuất hiện với tần khá dày đặc Hư từ cổ có khoảng
100 đơn vị, xuất hiện với tần số 1.441 lần.
Hư từ trong bản Thiền tông khoá hư ngữ lục hoạt động rất tích cực.
Phân tích này cho thấy hư từ tiếng Việt thế kỷ XIV có sự phong phú cả về số lượng lẫn chất lượng, đồng thời có khả năng biểu thị ý nghĩa và đảm nhận chức năng ngữ pháp của ngôn ngữ Điều này cho thấy hệ thống hư từ Việt cổ ở thế kỷ XIV có vai trò quan trọng trong việc diễn đạt sắc thái nghĩa và tổ chức câu, phản ánh mức độ phát triển của ngữ pháp tiếng Việt cổ.
Kể từ thế kỷ XIV cho tới ngày nay, số lượng hư từ trong hệ thống ngôn ngữ đã biến đổi đáng kể Nhiều hư từ cổ biến mất và được thay thế bằng các hư từ mới có ý nghĩa và chức năng tương đương, ví dụ như hoà/và, chưng/ở, tại, bởi, chỉn/chỉ, mựa/chớ, đừng Một số hư từ bị thu hẹp phạm vi ý nghĩa và chức năng, trong khi phần lớn hư từ khác lại được mở rộng thêm nghĩa, nhưng cả thảy hư từ vẫn tồn tại và hoạt động đến ngày nay Do đó, khi đọc các ví dụ trong bản giải nghĩa Thiền tông khóa hư ngữ lục, ta sẽ thấy nhiều hư từ đã có hoặc chưa có ý nghĩa và chức năng ngữ pháp như hiện nay, cho thấy sự tiến hóa liên tục của ngữ hệ và tầm quan trọng của hư từ trong ngữ liệu cổ.
Các chứng tích ngôn ngữ (ngữ âm, hư từ cổ và từ vựng tiếng Việt cổ) trong văn bản Thiền tông khoá hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh cho thấy rõ khả năng thuộc về tiếng Việt cổ thế kỷ XIII–XVI Nghiên cứu cho rằng tác phẩm này có thể sáng tác trước Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập, từ đó được xem là tác phẩm có ý nghĩa không chỉ về Thiền học và văn học mà còn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử tiếng Việt.
Thiền tông khoá hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh, cùng với Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh và các bài phú Nôm đời Trần, được xem là những văn bản cổ nhất có bản sắc dân tộc và lưu giữ nhiều hiện tượng tiếng Việt cổ, đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.
Cặp hư từ kết hợp
Ngoài ý nghĩa và chức năng mà hư từ thể hiện, hư từ trong bản giải nghĩa còn được sử dụng theo các cặp kết hợp với nhau để xây dựng các cấu trúc ngôn ngữ phức tạp, thể hiện các liên hệ ngữ pháp tinh vi; việc phân tích các cặp hư từ này giúp làm rõ vai trò liên kết và sự tương tác giữa các thành phần câu, từ đó nâng cao khả năng diễn đạt và hiểu ngữ nghĩa Ví dụ về các cặp hư từ phổ biến có thể cho thấy quan hệ thời gian, quan hệ bổ ngữ hoặc phạm vi nghĩa của phần câu được nhấn mạnh.
- Trong lòng đà được nghĩa vô sinh vô hoá ấy, thì chưng sau chẳng có hoá lại chẳng có sinh (6a)
- Đến lúc lảu biết rồi, Bụt chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải (17b) 2/ Chẳng… thì
- Những phô chúng tôi nay, bởi tự vô thuỷ kiếp chẳng lường, thì kiếp kiếp mà đến bây chừ (47b)
- Bằng trước sá chẳng rửa ráy đi, thì sau chỉn khôn theo ăn năn (48a) 3/ Ví dầu…thì
- Ví dầu được sinh làm người, thì lại phải báo chưng rấp mũi (49b)
- Ví dầu có được làm người thì lại phải nghịu báo (58a)
Cơm thì ít, nước thì nhiều, khác nào người có bệnh gượng mà ăn lấy cháo [57a]
- Tám xin, dầu có người nào khoét con mắt ắt cũng chẳng giận (67b)
- Dầu người trí dầu người ngu ắt đều đà có phận (17a)
- Hoặc thân xuất nam thân [hoặc nữ thân, hoặc xấu] hoặc nên cái tướng tốt lành, đều ấy luông cái lòng vả buông ra (13b)
- Hoặc khi vào Tam bảo Phật tiền, hoặc lúc vào nơi Tĩnh địa, Già lam, thấy người ta tụng kinh ở trước Phật tiền ắt chẳng tỉnh nghe xem (35b)
Vì chẳng rộng nửa ngày cầm ở, bèn trước mặt Bụt mà kính lễ (38a) 8/ Khi… thì
- Người ta chưng khi già thì năm dụ làm khuở mùa hạ (9b)
- Chỉn trọn sắc thân ta nay chưng khi trước chưa vào bào thai, neo chốn nào thì có thân ta đấy (13a)
- Hoặc nhân say rượu mà nằm nơi điện Bụt am thầy, hai lỗ mũi nước nghỉ chảy sa, hun thửa kinh giáo, xông lên tượng Phật (49a)
- Nương nhờ nhân hơn này mà nên đạo chính giác Hồi hướng đoạn rồi Ghi lòng về mệnh mà lễ mười phương vô thượng tam bảo (51a)
Đến nay, một số cặp hư từ đã thay đổi hoặc ít được dùng đến Theo thống kê, các cặp như dầu… ắt, ví dầu… thì, nhân… mà đã thay đổi; phần còn lại vẫn đang hoạt động trong tiếng Việt và vẫn giữ nguyên ý nghĩa cũng như chức năng ngữ pháp của chúng.
Trong chương này, chúng tôi thực hiện thống kê sơ bộ các hư từ tiếng Việt xuất hiện trong bản giải nghĩa Thiền tông thuộc khoá hư ngữ lục, từ đó làm nổi bật tần số xuất hiện của các hư từ Bản giải nghĩa chứa nhiều hư từ cổ mà những hư từ này lại không thấy xuất hiện trong các văn bản Nôm cùng thời, đây là một đặc điểm rất thú vị của văn bản Chúng tôi phân tích đặc điểm ngữ pháp của các hư từ, chỉ ra nguồn gốc của chúng và các cặp hư từ quan hệ.
Có thể thấy hệ thống công cụ ngữ pháp hư từ của tiếng Việt đang vừa phát triển vừa hoàn thiện, đồng thời làm phong phú thêm năng lực biểu đạt nội dung, ý nghĩa và các quan hệ ngữ pháp, cũng như mở rộng số lượng yếu tố ngữ pháp mà hệ thống có thể xử lý.
Từ những thống kê sơ bộ và phân tích trên đây có thể rút ra một số kết luận như sau:
Hư từ trong Thiền tông khoá hư ngữ lục có khoảng 150 đơn vị/ tổng số 2.169 đơn vị, xuất hiện với tần khá dày đặc Hư từ cổ có khoảng
100 đơn vị, xuất hiện với tần số 1.441 lần.
Hư từ trong bản Thiền tông khoá hư ngữ lục hoạt động rất tích cực.
Phân tích hư từ trong tiếng Việt thế kỷ XIV cho thấy sự phong phú đáng kể về cả số lượng lẫn chất lượng Các hư từ cổ này không chỉ tồn tại dày đặc mà còn có năng lực biểu thị ý nghĩa và đảm nhận chức năng ngữ pháp của ngôn ngữ, giúp hình thành các cấu trúc câu và diễn đạt ý nghĩa một cách linh hoạt Nhờ đó, hệ thống hư từ của tiếng Việt cổ thể hiện sự đa dạng và phát triển, khẳng định vai trò quan trọng của hư từ trong ngữ pháp và nghĩa của ngôn ngữ cổ Việt Nam.
Từ thế kỷ XIV đến nay, số lượng hư từ trong hệ thống ngôn ngữ đã biến đổi theo nhiều hướng: nhiều hư từ cổ biến mất và được thay thế bằng hư từ mới có chức năng và ý nghĩa tương đương, như hòa/và; chưng/ở, tại, bởi; chỉn/chỉ; mựa/chớ, đừng Song song đó, một số hư từ bị thu hẹp ý nghĩa và chức năng, trong khi phần lớn vẫn tồn tại và hoạt động cho đến ngày nay Vì vậy, khi đọc các ví dụ trong bản giải nghĩa Thiền tông khoá hư ngữ lục, ta có thể thấy nhiều hư từ đã có hoặc chưa có ý nghĩa, chức năng ngữ pháp như hiện nay.
Các chứng tích ngôn ngữ (ngữ âm, hư từ cổ và từ vựng tiếng Việt cổ) trong văn bản Thiền tông khoá hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh được chứng minh là có khả năng thuộc vào tiếng Việt cổ thế kỷ XIII - XVI Tác phẩm này có thể được sáng tác trước Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập Vì vậy đây được coi là tác phẩm không chỉ có ý nghĩa về Thiền học, văn học mà còn có ý nghĩa về mặt lịch sử tiếng Việt.
Thiền tông khoá hư ngữ lục của Tuệ Tĩnh, cùng với Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh và các bài phú Nôm đời Trần, là những văn bản cổ có bản sắc dân tộc mạnh mẽ và lưu giữ nhiều hiện tượng tiếng Việt cổ Những tác phẩm này cho thấy sự giao thoa giữa thiền tông và Phật giáo, đồng thời phản ánh đời sống tâm linh cũng như ngôn ngữ Việt thời Trần Với giá trị lịch sử và ngôn ngữ đặc sắc, chúng được xem như nguồn cổ nhất bảo tồn bản sắc dân tộc và đóng góp to lớn cho nghiên cứu chữ Nôm, cổ ngữ và sự phát triển của tiếng Việt cổ Việc sưu tầm và phân tích chúng giúp nhận diện các hiện tượng ngữ âm, từ vựng và cách diễn đạt đặc thù của thời kỳ, từ đó làm sáng rõ quá trình hình thành văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam.