Tuy nhiên, trong thực tế đờisống pháp luật, có nhiều giao dịch dân sự được xác lập nhưng có thể sẽ bị tuyên bố là vôhiệu hoặc sẽ vô hiệu về nguyên tắc chung giao dịch dân sự vô hiệu sẽ k
Trang 1PHẦN I: LỜI CẢM ƠN.
Kết thúc 04 năm học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Thủ Dầu Một, tỉnhBình Dương, rất may mắn khi tôi đã nhận được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình củaquý thầy cô, đặc biệt là quý thầy cô khoa Khoa học quản lý đã truyền đạt cho tôinhững kiến thức về lý thuyết và thực hành trong suốt thời gian học tập tại trường Vàđặc biệt trong học kỳ này, tôi may mắn được làm báo cáo tốt nghiệp kết thúc quãngđời sinh viên và may mắn trên hết là trong suốt quá trình thực hiện báo cáo tốt nghiệp,tôi đã nhận được sự quan tâm, chỉ bảo và giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè và đặc biệt
là sự chỉ bảo giúp đỡ tận tình của giảng viên Thạc sĩ Ung Thị Ngọc Nhung, người đãtrực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên Thạc sĩ Ung Thị Ngọc Nhung đã nhiệttình hướng dẫn tôi hoàn thành tốt bài báo cáo thực tập, đồng thời tôi cũng xin gửi lờicảm ơn chân thành đến Ban Lãnh Đạo, các phòng ban của Chi nhánh số 1- Công tyLuật TNHH MTV Việt Nguyễn Hoàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tìmhiểu thực tiễn trong suốt quá trình thực tập tại công ty
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng trong quá trình nghiên cứu và trình bày bàibáo cáo thực tập, có thể còn nhiều hạn chế và thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận đượcnhững ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô để bài báo cáo được hoàn thiện và bảnthân tôi có thêm nhiều kinh nghiệm
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2PHẦN II: LỜI MỞ ĐẦU
2.1 Lý do chọn đề tài.
Xã hội ngày càng phát triển, sự phân công lao động ngày càng thể hiện rõ rệt, theo đó mỗingười chỉ có thể đảm trách một mảng công việc nhỏ trong xã hội Trong khi đó, nhu cầucủa con người về vật chất, tinh thần ngày càng tăng và để thỏa mãn nhu cầu đó thì các chủthể phải tham gia các giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch dân sự Và lịch sử xã hộiloài người cũng đã chứng minh rằng một xã hội sẽ không phát triển nếu chỉ có sự trao đổihàng hóa trong một phạm vi hạn hẹp Ngày nay, với sự phát triển như vũ báo của đời sốngkinh tế - xã hội, các giao dịch nói chung và giao dịch dân sự nói riêng là phương tiện hữuhiệu và cần thiết để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Mục đích của Pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thường ngày của mỗi conngười, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã hội của Nhà Nước Nảysinh từ nhu cầu sản xuất, nhu cầu kinh doanh cũng như các nhu cầu khác, Nhà nước thấycần thiết phải có những phương tiện pháp lý nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng
đó của con người Giao dịch dân sự chính là một trong những phương tiện pháp lý quantrọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc chuyển dịch tài sản và cung ứng dịch vụ,nghĩa là giao dịch dân sự tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia vào đời sống pháp lý đểnhằm đáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi phục vụ cho những mục đích nhất định từ cuộcsống con người Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứlàm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, trong thực tế đờisống pháp luật, có nhiều giao dịch dân sự được xác lập nhưng có thể sẽ bị tuyên bố là vôhiệu hoặc sẽ vô hiệu (về nguyên tắc chung giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phátsinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập) và việc tuyên bố giao dịch dân sự
vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý ki giao dịch dân sự vô hiệu vẫn là vấn đề phức tạp.Theo quy định của pháp luật, không phải giao dịch nào cũng đương nhiên có hiệu lực màgiao dịch đó phải tuân thủ các điều kiện luật định mới không bị vô hiệu Thực tế cho thấy,đôi khi cũng có những chủ thể đã xác lập, thực hiện một giao dịch dân sự nhưng lại khôngđạt được lợi ích mà mình mong muốn mặc dù khi tham gia giao dịch họ thực hiện đầy đủnhững nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật với tinh thần thiện chí ngay thẳng,trung thực nhưng họ không biết hoặc không thể biết giao dịch mà mình xác lập là không
có căn cứ pháp luật, và hệ quả tất yếu là các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầy,hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Vì vẫn còn trường hợp tài sản được chuyển giaothông qua một giao dịch dân sự vô hiệu và sau đó được chuyển tiếp cho một người thứ ba
Trang 3bằng một giao dịch dân sự hợp pháp; người thứ 3 này tham gia giao dịch một cách thiệnchí, ngay thẳng, trung thực và đặc biệt không biết hoặc không thể biết tài sản mà họ nhậnđược đã được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự không hợp pháp trước đó Thôngthường, dưới góc độ pháp luật các chủ thể này được xác định là người thứ ba ngay tìnhkhi giao dịch dân sự vô hiệu Vậy nên vấn đề được đặt ra là quyền lợi của người thứ banày khi tham gia giao dịch được bảo vệ như thế nào? Giao dịch dân sự ban đầu vô hiệu thìcác giao dịch sau tiếp sai đó có vô hiệu hay không? Người thứ ba này có quyền giữ lại tàisản hay phải trả lại cho chủ sở hữu ban đầu? Và khi quyền lợi của người thứ ba này đượcbảo vệ thì quyền lợi của chủ sở hữu ban đầu sẽ ra sao? Và thực trạng áp dụng vấn đề nàytrên thực tế được thực hiện như thế nào tại Chi nhánh số 1 - Công ty Luật TNHH MTVLuật Việt Nguyễn Hoàng?
2.2 Mục tiêu đề tài.
Đề tài giúp tìm hiểu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợingười thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu; tìm hiểu các quy định trong phápluật Dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt độngbảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình Bên cạnh đó, chỉ ra những thiếu sót đồng bộ,chưa hợp lý về các quy định của pháp luật Dân sự, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằmnâng cao hiệu quả của trong hoạt động bảo vệ quyền lợi người thứ ba ngay tình khi giaodịch dân sự vô hiệu
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật và thực tiễn về việc áp dụngpháp luật trong việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vôhiệu trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của người thứ bangay tình trong các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu và chỉ ra những bất cập khi cácquy định này được áp dụng vào thực tiễn Cuối cùng là đưa ra những giải pháp và kiếnnghị để góp phần hòan thiện quy định cùa pháp luật
2.4 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học duy vật lịch sử của chủ nghĩaMác-Lênin Bên cạnh đó, còn sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:Phân tích, chứng minh, tổng hợp, diễn giải, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu
Trang 4PHẦN III: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU.
1.1 Một số khái niệm.
1.1.1 Khái niệm giao dịch dân sự.
Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, phápnhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự nhằmthoả mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản xuất, kinh doanh Giao dịchdân sự càng có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, giao dịch dân sự được xem là công
cụ thông dụng và có hiệu quả nhất đảm bảo cho các quan hệ dân sự được thực hiện tronghành lang pháp lý nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển Chế định giao dịch dân sựlần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995, sau đó được sửa đổi, bổ sungtrong BLDS năm 2005 và tiếp tục được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015 Giao dịchdân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh quan hệ phápluật dân sự
Theo Điều 116, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa
Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự trong đó thể hiện ý chí của một bênnhằm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Thông thường, hành vipháp lý đơn phương do một chủ thể thực hiện (ví dụ: lập di chúc … ), nhưng cũng có thểnhiều chủ thể cùng thực hiện ý chí trong giao dịch đó ( ví dụ: tổ chức cùng tuyên bố hứathưởng…) Trong nhiều trường hợp, hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quảpháp lý khi có những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa cho người khác
Trang 5Những người này phải đáp ứng được các điều kiện đó mới làm phát sinh nghĩa vụ củangười xác lập giao dịch.
Nếu hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự thể hiện ý chí của một bên chủ thểthì hợp đồng dân sự ngược lại là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi haychấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biếnnhất trong đời sống hàng ngày Thông thường trong hợp đồng dân sự có hai bên tham giatrong đó thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua bán,cho thuê…) nhưng cũng có những hợp đồng có nhiều bên tham gia
Tất cả các loại giao dịch dân sự đều có một điểm chung là sự thống nhất ý chí và sự bày
tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Giao dịch dân sự là hành vi có ý thức của chủ thểnhằm mục đích nhất định cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thểtham gia giao dịch Ý chí của chủ thể tham gia giao dịch là nguyện vọng, mong muốn chủquan bên trong con người mà nội dung của nó được xác định bởi nhu cầu nhất định củabản thân họ Ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải được thể hiện ra bên ngoàidưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác biết được nội dung, mục đích và động
cơ cụ thể của giao dịch dân sự Bởi vậy, giao dịch dân sự là sự thống nhất ý chí của cácbên chủ thể và sự bày tỏ ý kiến của chủ thể tham gia giao dịch Điều này đúng với cácgiao dịch dân sự có chủ thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Người thay mặtcủa các chủ thể pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác khi tham gia giao dịch dân sự phải thểhiện được ý chí của chủ thể trong phạm vi, thẩm quyền thay mặt của họ.Giao dịch dân sự
là phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong việc chuyển dịch tài sản và cung ứng dịch
vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên trong xã hội
1.1.2 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu.
Trong khoa học pháp lý thuật ngữ “giao dịch dân sự vô hiệu” được sử dụng rấtrộng rãi, tuy nhiên chưa có một tài liệu chính thống nào nêu ra khái niệm khoa học cụ thểnày Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không mang lại kết quả”
Theo Điều 122, Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “ Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp bộ luật này có quy định khác” Cụ thể là:
“Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
Trang 6a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân
sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.
Khi vi phạm các điều khoản tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 thì giao dịch sẽkhông có giá trị pháp lý ngay từ thời điểm ký kết nêu giao dịch chưa được thực hiện hoặcđang thực hiện thì không còn được thực hiện nữa, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu
và hoàn trả cho nhau những điều đã nhận Tính vô hiệu của nó là không làm phát sinhquyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch Trường hợp các bên đã thực hiệnhoặc thực hiện được một phần của giao dịch thì vẫn không được công nhận về mặt pháp
lý và mọi cam kết không có giá trị bắt buộc đối với bên kể từ thời điểm các bên giao kếtgiao dịch dân sự Như vậy, việc pháp luật quy định về giao dịch dân sự vô hiệu là rất cầnthiết nhằm đảm bảo sự ổn định trong giao lưu dân sự đồng thời giúp bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Qua đó, có thể thấy một sốđặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu:
Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu là khi vi phạm một trong những điều kiện cóhiệu lực của giao dịch dân sự: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự; Chủ thể tham giagiao dịch hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điềucấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện cóhiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định Như vậy, một giao dịchkhi không thỏa mãn một trong các điều kiện trên có thể sẽ vô hiệu Thứ hai, khi giao dịchdân sự vô hiệu các bên sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định Thứ ba, việcquy định giao dịch dân sự vô hiệu thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc kiểm soát cácgiao dịch dân sự nhất định nếu thấy cần thiết vì lợi ích của Nhà nước và lợi ích côngcộng Như vậy ta khẳng định rằng chỉ những giao dịch dân sự hợp pháp mới làm phát sinhquyền và nghĩa vụ của các bên và được nhà nước bảo đảm thực hiện Những quy định về
sự vô hiệu của gia dịch dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỷ cương
xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và nhà nước; bảo đảm
an toàn pháp lý chủ cho các chủ thể trong giao lưu dân sự
Trang 71.1.3 Khái niệm người thứ ba ngay tình và người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân
sự vô hiệu.
Một người bình thường khi tham gia giao dịch mua bán hay chuyển nhượng tài sảnkhó có thể biết chính xác được liệu người bán hay người chuyển giao tài sản cho họ cóphải là chủ sở hữu đích thực của tài sản hay không Trên thực tế có rất nhiều giao dịch màbên chuyển giao tài sản không phải là chủ sở hữu đích thực của tài sản đó mặc dù họ đangnắm giữ tài sản và cả giấy tờ Thông thường sau những giao dịch như vậy, chủ sở hữuđích thực của tài sản sẽ kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu tài sản không hợp pháp
Pháp luật Việt Nam không đưa định nghĩa về “người thứ ba ngay tình” mà chỉ đưa
ra định nghĩa “Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình”, đó
là “người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không
có căn cứ pháp luật” Nhưng khi sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005 thì định nghĩa này đã được
bỏ đi và thay vào đó là định nghĩa về “Chiếm hữu ngay tình” Theo Điều 180 Bộ luật Dân
sự 2015, chiếm hữu ngay tình là “việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tinrằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu” Như vậy hiểu một cách chung nhất,người thứ ba ngay tình là người chiếm hữu tài sản nhưng không biết hoặc không thể biếtrằng việc chiếm hữu tài sản của mình là không có căn cứ pháp luật Họ không biết rằng
họ đang thực hiện giao dịch với một người không có quyền định đoạt đối với tài sản đangđược giao dịch
Từ cách hiểu đó, chúng ta có thể rút ra được căn cứ để xác định một chủ thể tronggiao dịch dân sự là “người thứ ba ngay tình” Thứ nhất, trước khi người thứ ba tham giavào một giao dịch dân sự thì đã có một giao dịch dân sự khác được thực hiện với cùngmột đối tượng giao dịch nhưng giao dịch dân sự này bị vô hiệu Giao dịch dân sự vô hiệukhi không thỏa mãn một trong bốn điều kiện hiệu lực được quy định tại Điều 117 Bộ luậtDân sự 2015 Thứ hai, người thứ ba tham gia vào giao dịch dân sự phải “ngay tình”, cónghĩa là họ thực hiện giao dịch một cách ngay thẳng, trung thực, tin tưởng tuyệt đối vàođối tác Họ không biết hoặc không thể biết rằng mình đang giao dịch với người không cóquyền sở hữu tài sản hợp pháp Tuy nhiên, đối với những trường hợp là tài sản phải đăng
ký như xe máy, ô tô… thì thông thường khi tham gia giao dịch người thứ ba buộc phảibiết tài sản có thuộc chính chủ sở hữu hay không do hai bên phải thực hiện những thủ tụcsang tên, đổi chủ và để hoàn thành những thủ tục đó cần phải có giấy tờ chứng nhậnquyền sở hữu Lúc này, người thứ ba trong giao dịch sẽ không được xem là người thứ bangay tình
Trang 81.2 Hậu quả pháp lý liên quan đến quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
Người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự là chủ thể tham gia giao dịch trên cơ sở tựnguyện, bình đẳng, tuân thủ các quy định của pháp luật mà không biết và không thể biếtđối tượng của giao dịch là tài sản bất minh, do chủ sở hữu xác lập trước đó bởi một giaodịch dân sự vô hiệu Sự không biết và không buộc phải biết còn thể hiện ở việc đối vớimột người bình thường thì không thể biết được tài sản đưa vào giao dịch là tài sản xuấtphát từ một giao dịch vô hiệu nên pháp luật không đòi hỏi trường hợp này họ buộc phảibiết
Khi xem xét hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu có người thứ ba tham gia giaodịch cần được bảo vệ phải xem xét một số yếu tố, đó là:
Một là, xem xét tính có hiệu lực của giao dịch do người thứ ba xác lập
Hai là, đánh giá khả năng nhận thức hành vi, tính có lỗi của các bên tham gia giao dịch vàngười thứ ba phải có nghĩa vụ chứng minh khi tham gia giao dịch họ hoàn toàn ngay tình
Ba là, xem xét đánh giá tài sản hiện có
Việc đánh giá này căn cứ vào đặc điểm, tính chất của các loại tài sản hiện có và so sánhvới tài sản trước đó, căn cứ vào các quy định của pháp luật điều chỉnh đối với loại giaodịch này và đồng thời các quy định khác của pháp luật liên quan đến tài sản có tranh chấp.Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu khi có người thứ ba ngay tình cần được bảo
vệ được quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015:
“Điều 133 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.
2 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.
Trang 9Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ
sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.
3 Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ
ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại”.
1.3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân
sự vô hiệu.
Về nguyên tắc, khi giao dịch bị tuyên bố vô hiệu thì giao dịch không có giá trịpháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Hậu quả pháp lý của giaodịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; bên cạnh đó các bên khôi phục lại tìnhtrạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trường hợp không trả được bằng hiệnvật thì trị giá thành tiền để hoàn trả; Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức khôngphải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó; Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường; Việc giảiquyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này,luật khác có liên quan quy định Hay nói cách khác, khi một hợp đồng bị tuyên bố vô hiệuthì quyền và nghĩa vụ của những người liên quan cũng không còn và đương nhiên hợpđồng với người thứ ba sẽ bị vô hiệu theo Vấn đề sẽ không có gì phức tạp nếu người thứ
ba không ngay tình, lúc đó quyền lợi của người thứ ba sẽ không được pháp luật bảo vệ, vìvậy việc hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu ban đầu là điều đương nhiên Tuy nhiên, hậuquả pháp lý trong trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu lại được quy định khác khi có sựxuất hiện của người thứ ba ngay tình và nếu giải quyết như vậy sẽ hoàn toàn không thỏađáng Đây là trường hợp một chủ thể tham gia giao dịch dân sự, chiếm hữu được tài sảnnhưng không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ phápluật Điều này có nghĩa họ không biết và không thể biết rằng giao dịch mình tham gia cóthể đã vô hiệu Họ tin tưởng người xác lập giao dịch với mình là chủ sở hữu hợp pháp củatài sản mà họ được nhận chuyển giao và khi tham gia giao dịch họ hoàn toàn thiện chí và
Trang 10trung thực Vì vậy, pháp luật công nhận giao dịch của người thứ ba ngay tình này vẫn cóhiệu lực trong một số trường hợp đặc biệt và việc bảo vệ họ như vậy là cần thiết.
Việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệunhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia giao dịch Pháp luật ưu tiênbảo vệ quyền lợi và lợi ích chủ sở hữu nhưng những quy định về bảo vệ quyền lợi củangươi thứ ba ngay tình tạo một cơ chế điều hòa lợi ích giữa chủ sở hữu và người thứ bangay tình Việc cân đối quyền lợi giữa chủ sở hữu và người thứ ba ngay tình có mục đíchbảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu hợp pháp trên tài sản, quyền lợi chính đáng, hợp lý hợppháp của các bên tham gia giao dịch đồng thời xem xét đến việc đảm bảo tính ổn định củaquan hệ dân sự, tránh những xáo trộn không cần thiết, khuyến khích các chủ thể tự bảo vệquyền lợi của mình, góp phần xây dựng ý thức pháp luật của các bên trong quan hệ dânsự
1.4 Quy định pháp luật dân sự việt nam về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1.4.1 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là một trong những nội dung cơ bản,quyết định sự ổn định, tính hợp lý, tính hiệu quả của các giao dịch trong giao lưu dân sựnói chung và trong hoạt động thương mại nói riêng Nếu pháp luật không có những quyđịnh cụ thể, rành mạch sẽ làm cho các chủ thể hoang mang và không tự tin khi tham giagiao dịch dân sự, thương mại, gây ra những hậu quả khó lường đối với nền kinh tế – xãhội và có thể tạo ra sự tùy tiện không đáng có trong quá trình áp dụng pháp luật của cácchủ thể có liên quan
Giao dịch dân sự được hình thành dựa theo sự thỏa thuận và thống nhất ý chí củacác bên chủ thể, với hình thức là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý nhằm phát sinh, thay đổihoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, không phải giao dịch nào có sự thỏathuận, thống nhất ý chí của chủ thể cũng làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của chủ thể thamgia giao dịch Vì vậy, để qiao dịch dân sự có hiệu lực pháp lý thì cần đáp ứng các điềukiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định vềđiều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:
“Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
Trang 11a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
Theo đó, Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là
Thứ nhất, theo như pháp luật dân sự, để có thể thực hiện được giao dịch dân sự thìbạn phải có những năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp Vì theopháp luật quy định, không phải cá nhân nào cũng đầy đủ năng lực pháp luật và hành vidân sự Có những cá nhân chưa hình thành, có những cá nhân mất và có những cá nhânhạn chế năng lực pháp luật và hành vi dân sự Do đó để thực hiện giao dịch dân sự và bảnthân nhận thức đầy đủ về giao dịch mình chuẩn bị thực hiện thì cá nhân phải có nhữngnăng lực pháp luật và hành vi phù hợp với những giao dịch đó
Thứ hai, Chủ thể phải thực hiện giao dịch tự nguyện Đây là một biện pháp bảo vệquyền lợi và lợi ích liên quan của những chủ thể có vai trò trong giao dịch dân sự Trongthực tế, nhiều trường hợp có những cá nhân không tự nguyện và bị cưỡng ép hay uy hiếp
để thực hiện dân sự do đó để tránh những hành vi đó nên pháp luật tôn trọng sự tự nguyện
và vô hiệu hóa các giao dịch dân sự không có sự tự nguyện
Thứ ba, giao dịch dân sự phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật , khôngđược vi phạm pháp luật và trái đạo đực xã hội Có thể mục đích hoặc phương thức củagiao dịch dân sự vi phạm điều này
Ví dụ: Mang thai hộ, buôn bán các chất cấm, …
Thứ tư, trong một số trường hợp pháp luật có quy định thì hình thức cũng là Điềukiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Ví dụ: trong một số giao dịch pháp luật yêu cầu phải có văn bản công chứng chứngthực cho giao dịch Tuy nhiên trong một số trường hợp giao dịch dân sự có thể thỏa thuậnbằng miệng hoặc văn bản có chữ kí hai bên Do đó trong những trường hợp này hình thứctrở thành một trong các Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Trang 121.4.2 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu.
1.4.2.1 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức
xã hội.
Việc giao dịch vi phạm những điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội là khimục đích, nội dung của pháp luật vi phạm những điều pháp luật không cho phép, cấmthức hiện và những điều trái với tiêu chuẩn đạo đức, trái luân thường đạo lý Giao dịchdân sự trong trường hợp này đương nhiên bị vô hiệu kể cả khi các bên chủ thể đã thỏathuận và thống nhất ý chí trong giao dịch Ngoài ra, khi giao dịch đã được thực hiện thì tàisản trong giao dịch và lợi tức trong giao dịch có thể bị sung quỹ nhà nước và chủ thể cóliên quan có thể phải chịu trách nhiệm dân sự Pháp luật quy định về trường hợp giaodịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội tại Điều 123 Bộluật dân sự 2015:
“Điều 123 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức
xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức
xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”
Ví dụ: Giao dịch mua bán và vận chuyển vũ khí vô hiệu do vi phạm điều cấm củapháp luật, cụ thể là vi phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phéphoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại Điều
304 Bộ luật hình sự 2015
1.4.2.2 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.
Giao dịch dân sự giả tạo đặc biệt hơn so với các loại dân sự khác là khi các chủ thểtham gia giao dịch dân sự đều chấp nhận xác lập giao dịch song lại không thể hiện đúng ýchí và mong muốn của bản thân mình (có sự từ nguyện thực hiện giao dịch nhưng khôngthống nhất ý chí với nhau) Pháp luật quy định về trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu dogiả tạo tại Điều 124 Bộ luật dân sự 2015:
“Điều 124 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Trang 131 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
2 Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”
Ví dụ: A bán cho B một căn nhà, các bên thỏa thuận giá trị của ngôi nhà là1.500.000.000 đồng Nhưng hai bên đã lập một hợp đồng trong đó chỉ ghi giá trị của ngôinhà là 1.000.000.000 đồng để gian lận việc nộp phí trước bạ sang tên Như vậy, hợp đồngghi giá trị ngôi nhà là 1.000.000.000 đồng bị coi là hợp đồng giả tạo
1.4.2.3 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện.
“Điều 125 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
1 Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải
do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2 Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân
sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
Trang 14c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”
Ví dụ: Anh A bị tâm thần do tai nạn từ tháng 9/2015 Ngày 15/06/2016, do biết anh
A có sở hữu một mảnh đất ngay trung tâm thành phố nên anh B (bạn anh A) đã lợi dụng
và dụ dỗ anh A ký vào hợp đồng mua bán mảnh đất đó Biết được sự việc, gia đình anh Ađến gặp anh B để nói chuyện nhưng anh B không những không hủy hợp đồng mà còn dọa
sẽ kiện lại gia đình anh A Trong trường hợp này, mặc dù hợp đồng mua bán quyền sửdụng đất có chữ ký của chủ sở hữu là anh A, nhưng anh A là người mất năng lực hành vidân sự nên hợp đồng vô hiệu Mảnh đất vẫn thuộc quyền sở hữu của anh A
1.4.2.4 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn.
Nhầm lẫn trong giao dịch dân sự là do một hoặc cả hai bên hình dung sai về nộidung của giao dịch song vẫn tham gia giao dịch dẫn đến thiệt hại cho mình hoặc bên kia
Sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sựviệc Pháp luật quy định về trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn tại Điều
126 Bộ luật dân sự 2015:
“Điều 126 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2 Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.”
Ví dụ: A kí hợp đồng mua 100 bộ chén của B, hai bên đã có sự thỏa thuận về giá cả
và thời điểm giao hàng Đến ngày giao hàng, do khác biệt về ngôn ngữ vùng miền nênthay vì nhận được chén (là loại bát nhỏ dùng ăn cơm theo cách gọi của người miền Nam)thì A lại nhận được 100 bộ chén uống trà (theo cách gọi chén của người miền Bắc ) từ B.Trong trường hợp này, A và B có thể khắc phục bằng cách giữ nguyên hàng hóa và thốngnhất lại đối tượng của giao dịch Nếu cả 2 bên không đồng ý điều này, giao dịch bị tuyên
bố vô hiệu
Trang 151.4.2.5 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép.
Lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể,tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó Đe dọa
là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm bên kia sợ hãi phải xác lập, thực hiệngiao dịch dân sự Cưỡng ép là sử dụng sức mạnh vật chất hoặc tinh thần một cách bất hợppháp hoặc buộc người khác phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc tráivới ý chí hoặc mong muốn của họ Pháp luật quy định về trường hợp giao dịch dân sự vôhiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép tại Điều 127 Bộ luật dân sự 2015:
“Điều 127 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì
có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.”
Ví dụ: Anh A được bố mẹ mua cho 1 chiếc xe máy đời mới với giá 200 triệu đồng.Sau 1 tháng, anh B ngỏ ý muốn mua lại với giá 100 triệu nhưng anh A không đồng ý Anh
B dọa nếu không bán cho anh ta với giá này, anh ta sẽ nói chuyện bố anh A ngoại tình vớimọi người Anh A sợ ảnh hưởng đến gia đình nên đã bán chiếc xe cho anh B với giá 100triệu Trong trường hợp này, giao dịch bán xe vô hiệu vì anh A không tự nguyện thực hiệnhợp đồng Anh A bán xe do anh B đe dọa đưa thông tin cá nhân làm ảnh hưởng xấu đếngia đình anh A ra ngoài
1.4.2.6 Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
Một trong các điều kiện của giao dịch dân sự có hiệu lực là tính tự nguyện tronggiao dịch Vì vậy, khi người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mìnhthì đồng nghĩa với việc khi xác lập giao dịch sẽ không có sự thống nhất ý chí của các bên
Trang 16chủ thể Pháp luật quy định về trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lậpkhông nhận thức và làm chủ được hành vi của mình tại Điều 128 Bộ luật dân sự 2015:
“Điều 128 Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.”
Ví dụ: Trong khi say rượu A đã ký hợp đồng với B bán quyền sử dụng đất mà Ađang sở hữu cho B với giá chỉ bằng 1/3 giá thị trường tại thời điểm đó Trong trường hợpnày, giao dịch vô hiệu do tại thời điểm xác lập giao dịch, A không nhận thức và làm chủđược hành vi của mình
1.4.2.7 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức.
Theo nguyên tắc chung thì các chủ thể được tự do lựa chọn hình thức của mình.Tuy nhiên có một số trường hợp, pháp luật quy định chặt chẽ về hình thức của giao dịch
và khi các chủ thể không tuân thủ về hình thức của giao dịch thì giao dịch đó bị xem là vôhiệu Pháp luật quy định về trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quyđịnh về hình thức tại Điều 129 Bộ luật dân sự 2015:
“Điều 129 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1 Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2 Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
Ví dụ: A góp vốn vào công ty của B bằng quyền sử dụng đất của mình Tuy nhiên,hợp đồng góp vốn kinh doanh chỉ có chữ ký của 2 bên mà không được chứng thực Trong
Trang 17trường hợp này, hợp đồng góp vốn vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức tạiđiểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai 2013: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thếchấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phảiđược công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tạiđiểm b khoản này” Vậy, để đảm bảo được quyền lợi của mình cũng như tránh các rủi ro
có thể gặp sau này, A cần phải công chứng/ chứng thực hợp đồng này
1.4.3 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu 1.4.3.1 Điều kiện để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
Các điều kiện để người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi khi giao dịch dân
sự vô hiệu theo BLDS 2015:
Thứ nhất, trước khi người thứ ba tham gia vào giao dịch dân sự thì đã có một giaodịch dân sự trước được xác lập, thực hiện những giao dịch dân sự trước đó đã bị vô hiệu
Ví dụ: vợ chồng ông A chết lập di chúc để lại di sản là 500m2 đất vườn và căn nhàtrên đất cho anh B (con duy nhất của vợ chồng ông A) Sau đó anh B chuyển nhượngquyền sử dụng đất và căn nhà trên đất trên cho bà C Thời gian sau có anh D là con riêngcủa ông A yêu cầu chia di sản Như vậy, di chúc của vợ chồng ông A bị vô hiệu một phần.Lúc này, bà C là người thứ ba ngay tình trong giao dịch nhận chuyển nhượng quyền sửdụng đất với anh B
Thứ hai, người thứ ba xác lập giao dịch dân sự phải ngay tình Nghĩa là, người thứ
ba không biết hoặc không thể biết những giao dịch trước đó bị vô hiệu bởi bất cứ lý donào, họ có căn cứ tin rằng đối tượng và chủ thể giao dịch với mình đủ điều kiện mà phápluật quy định Thường những trường hợp như thế này xảy ra đối với tài sản là động sảnkhông phải đăng ký quyền sở hữu như: Gia súc, gia cầm, vàng, điện thoại di động… Đốivới những trường hợp tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì đa phần ngườithứ ba buộc phải biết tài sản có minh bạch hay không Lúc này, người thứ ba tham giagiao dịch nếu không ngay tình và phải trả lại tài sản
Ví dụ: A và B giao dịch thông qua hợp đồng mua bán xe máy B giao cho A xe máynhưng không có đăng ký, bảo hiểm xe và những giấy tờ liên quan… A vẫn chấp nhận việcgiao dịch diễn ra giữa hai bên Trong trường hợp này, A không là người thứ ba ngay tìnhkhi có tranh chấp xảy ra bởi đối với những loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì bắtbuộc khi trở thành đối tượng của một giao dịch dân sự bắt buộc hai bên chủ thể phải thựchiện những thủ tục như sang tên, đổi chủ giấy tờ xe… mà xe không có giấy tờ sẽ không
Trang 18hoàn tất được thủ tục này Chính vì vậy, giao dịch mua bán không có hiệu lực pháp luật và
bị vô hiệu Khi xảy ra tranh chấp giữa chủ sở hữu xe máy đó và B thì A không được phápluật bảo vệ vì không ngay tình và phải trả lại tài sản nếu chủ sở hữu tiến hành việc kiệnđòi lại tài sản
Thứ ba, tài sản đưa ra giao dịch phải được phép giao dịch: Bộ luật Dân sự khôngquy định về tài sản được phép giao dịch nhưng căn cứ khoản 10 Điều 3 Nghị định163/2006/NĐ-CP quy định về giao dịch đảm bảo có nếu “tài sản được phép giao dịch làtài sản không bị cấm giao dịch theo quy định của pháp luật tại thời điểm xác lập giao dịchđảm bảo” Qua quy định này có thể hiểu “tài sản được phép giao dịch là tài sản không bịcấm giao dịch theo quy định của pháp luật” Đối với các loại tài sản mà pháp luật quyđịnh cấm lưu thông, được xác định dựa trên tính chất của nó, sự dịch chuyển của nó trênthực tế nếu được tự do lưu thông thì sẽ làm ảnh hưởng đến chính trị – kinh tế – văn hóa –
xã hội (ma túy, động vật hoang dã quý hiếm…) thì người thứ ba buộc phải biết và việcxác lập giao dịch đối với loại tài sản này đều bất hợp pháp, không được pháp luật bảo vệ.Còn đối với loại tài sản mà pháp luật quy định hạn chế lưu thông (ngoại tệ, vũ khí) thì khimuốn tham gia vào các giao dịch dân sự thì cần phải được sự chấp nhận của cơ quan Nhànước có thẩm quyền Nếu không có sự chấp nhận mà người thứ ba vẫn cố tình trao đổi thìkhi xảy ra những vấn đề liên quan hoàn toàn không được pháp luật bảo vệ quyền lợi Tức
là, chỉ khi đảm bảo các điều kiện ràng buộc kèm theo thì giao dịch dân sự đó mới có hiệulực pháp luật
Ví dụ: anh C mua 1 gói ma túy của anh B Dù anh C không biết gói ma túy đó doanh B trộm cắp mà có thì giao dịch của anh C và anh B là bất hợp pháp và có thể bị truycứu trách nhiệm hình sự do hành vi vi phạm pháp luật
Thứ tư, người thứ ba có được tài sản thông qua giao dịch dân sự có đền bù như:mua bán, vay, thuê khoán…Đó là những giao dịch mà trong đó một bên sau khi thực hiệnnghĩa vụ của mình đối với bên kia thì sẽ nhận được những lợi ích vật chất từ phía bên kia.Khi đó, giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực Tuy nhiên, với những loại tài sản bịlấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu thì giaodịch với người thứ ba bị vô hiệu và chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản đó Trường hợpgiao dịch dân sự với người thứ ba đối với tài sản là động sản mà thông qua một giao dịchkhông có đền bù (tặng cho, thừa kế…) thì lúc này, người thứ ba mặc dù ngay tình nhưngcũng không được pháp luật bảo vệ quyền lợi và phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hayngười chiếm hữu hợp pháp Đối với trường hợp tài sản là bất động sản, mặc dù thông qua