BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: TRIẾT HỌC Họ và tên: MSSV: 460423 ĐỀ BÀI: Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận về quan hệ giữa vật chấ
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI THI KẾT THÚC HỌC
PHẦN MÔN: TRIẾT HỌC
Họ và tên:
MSSV: 460423
ĐỀ BÀI:
Vận dụng nội dung và ý nghĩa phương pháp luận
về quan hệ giữa vật chất và ý thức để lý giải một vấn đề của thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
A NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 4
I Nội dung 4
1 Khái niệm vật chất và ý thức 4
2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 5
II Ý nghĩa phương pháp luận 6
B VẬN DỤNG NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ “TẢO HÔN – THỰC TRẠNG,NGUYÊN NHÂN, HỆ LỤY VÀ GIẢI PHÁP”.7 I Khái niệm tảo hôn 7
II Thực trạng tảo hôn ở Việt Nam 7
III Nguyên nhân của thực trạng tảo hôn 8
1 Do những quan niệm, thành kiến, những hủ tục tập quán lạc hậu 8
2 Do điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém 9
3 Do trình độ dân trí thấp, người dân thiếu hiểu biết 10
IV Những hệ lụy từ tảo hôn 10
1 Những hệ lụy đối với bản thân 10
2 Những hệ lụy đối với xã hội 11
V Những giải pháp giảm tình trạng tảo hôn 11
1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức đến cho người dân 11
2 Cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt là người dân miền núi, vùng sâu vùng xa 11
3 Nâng cao trách nhiệm, năng lực quản lý của các cấp chính quyền 12
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3MỞ ĐẦU
Ngày nay, xã hội đang ngày một phát triển, hiểu biết của người dân ngày càng được cải thiện Những quan niệm, hủ tục lạc hậu đang dần được xóa bỏ Tuy nhiên có những hủ tục lỗi thời, lạc hậu vẫn còn tồn tại kìm hãm sự phát triển văn hóa – kinh tế Tảo hôn là minh chứng cho điều này
Tảo hôn hay còn được hiểu là kết hôn trẻ em là hôn nhân trong đó một hoặc cả hai người đều dưới 18 tuổi Theo UNFPA (Quỹ dân số Liên Hợp Quốc), mỗi ngày có hàng ngàn trẻ em gái trở thành cô dâu Hơn 650 triệu phụ nữ và trẻ em gái đã kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng trước sinh nhật lần thứ 18 Trong bối cảnh của đại dịch COVID-19, dự kiến đến năm 2030, có đến 13 triệu trẻ em gái có thể buộc trở thành cô dâu
Tại Việt Nam, theo kết quả cuộc Điều tra các mục tiêu phát triển bền vững về trẻ
em và phụ nữ năm 2021 (gọi tắt là điều tra SDGCW Việt Nam 2020-2021), do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc, UNFPA và Tổng cục Thống kê thực hiện cho thấy có 7,4% phụ nữ và nam giới từ 20-24 tuổi được điều tra, có 14,64% nữ giới tảo hôn trước 18 tuổi so với 1,9% nam giới tảo hôn trước 18 tuổi
Hiện nay, tình trạng tảo hôn ở Việt Nam diễn ra thường xuyên ở những nơi có có
sở hạ tầng, điều kiện kinh tế, chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí thấp Bằng
sự hiểu biết của mình về nội dung và phương pháp luận mối quan hệ về vật chất
và ý thức, em sẽ giải quyết vấn đề thực tiễn: “Tảo hôn ở Việt Nam hiện nay -thực trạng, nguyên nhân, hệ lụy và giải pháp”
Trang 4A NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1 Khái niệm vật chất và ý thức
a Vật chất
Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen và tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX và từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, Lê-nin đã hoàn thiện một định nghĩa hết sức khoa học về vật chất: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại lệ thuộc vào cảm giác”
- Trước hết, Lê-nin đã phân biệt được vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên Theo Lê-nin, vật chất với tư cách là phạm trù triết học dùng để chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra cũng không mất đi
- Thứ hai, Lê-nin khẳng định vật chất là thực tại khách quan, chúng có thể tồn tại ở dạng này hoặc dạng khác nhưng chúng đều có chung một thuộc tính đó là tồn tại khách quan, độc lập bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức
Định nghĩa của Lê-nin cũng chỉ ra vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trực tiếp tác động lên giác quan con người; cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất
Ngoài ra chủ nghĩa duy vật biện chứng còn chứng minh rằng vận động là
“thuộc tính cố hữu của vật chất”, là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính không thể tách rời vật chất Đồng thời vật chất cũng tồn tại trong không gian và thời gian Không một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài không gian
và thời gian Ngược lại cũng không thể có thời gian và không gia nào ở ngoài vật chất
Như vậy định nghĩa vật chất của Lê-nin đã bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ được học thuyết không thể biết; khắc phục được những hạn chế trong các quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất
b Ý thức
Trang 5Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao, là sự phản ánh của thế giới vật chất, là hình ảnh mang tính chủ quan của thế giới vật chất Ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất
Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc con người Bộ óc con người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc là nguồn gốc tự nhiên của
ý thức Nguồn gốc tự nhiên rất quan trọng tuy nhiên chưa đủ để quyết định sự ra đời của ý thức Nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định đến sự ra đời và phát triển của ý thức là nguồn gốc xã hội Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người, phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Do đó ý thức được coi là sản phẩm xã hội là một hiện tượng xã hội
Về bản chất của ý thức:
- Thứ nhất ý thức là sự phản ánh, là cái phản ảnh còn vật chất là cái được phản ánh Cái được phản ánh tức vật chất tồn tại khách quan bên ngoài độc lập với cái phản ánh là ý thức
- Thứ hai, ý thức là sự phản ánh có tính năng động sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội do nó ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới
- Thứ ba, ý thức là quá trình phản ánh đặc biệt, là sự thống nhất giữa 3 mặt: một là, trao đổi thông tinh giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản ánh (núi, sông, ) Hai là con người mô hình hóa (vẽ lại, lắp ghép lại ) đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Ba là, thông qua các hoạt động thực tiễn biến quan niệm thành các dạng vật chất trong cuộc sống
Như vậy, ý thức ra đời và tồn tại gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ các quy luật sinh học mà còn là quy luật xã hội do nhu cầu giao tiếp xã hội cũng như các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định
2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a Vật chất quyết định ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức thì: vật chất có trước ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc quyết định ý thức Vì vật chất là cái tồn tại khách quan trong không gian, thời gian; còn ý thức là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện ở chỗ:
Trang 6- Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
- Vật chất quyết định nội dung của ý thức
- Vật chất quyết định bản chất của ý thức
- Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức
Ví dụ: Hoạt động của ý thức diễn ra bình thường dựa trên hoạt động sinh lý thần kinh của con người Nhưng khi bộ não con người bị tổn thương thì hoạt động ý thức cũng bị rối loạn
b Ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Ý thức có tính độc lập tương đối, mặc dù được sinh ra từ vật chất nhưng nó không phụ thuộc vào vật chất mà có quy luật vận động, phát triển riêng Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức không phải mối quan hệ một chiều mà là mối quan hệ tác động qua lại
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng:
- Theo hướng tích cực: ý thức có thể trở thánh động lực thúc đẩy vật chất phát triển
- Theo hướng tiêu cực: ý thức có thể là lực cản phá vỡ sự vận động và phát triển của vật chất khi ý thức phản ánh không đúng, làm sai lệch các quy luật vận động khách quan của vật chất
Ví dụ: Hiểu được tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở nhiệt độ 10000 độ
C con người tạo ra các nhà máy để sản xuất thép thay thế cho các phương pháp thủ công ngày xưa
1 Tôn trọng khách quan
Do vật chất có trước ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
vì vậy con người phải tôn trọng khách quan
Tôn trọng khách quan là tôn trọng tính khách quan của sự vật, của các quy luật tự nhiên và xã hội Điều này đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và thực tiễn con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn
cứ cho mọi hoạt động, không được chạy theo ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế
2 Phát huy tính năng động
Trang 7Nếu ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn thì con người phải phat huy tính năng động chủ quan Phát huy tính năng động chủ quan tức là chủ quan tức là phát huy vai trò tích cực của ý thức, vai trò tích cực của nhân tố con người Phải biết vận dụng đúng đắn quy luật của khách quan, trên
cơ sở những tri thức về quy luật khách quan con người cần xác định mục tiêu đúng đắn, đề ra phương hướng giải hoạt động phù hợp Đồng thời con người cũng cần khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại
B VẬN DỤNG NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
“TẢO HÔN – THỰC TRẠNG,NGUYÊN NHÂN, HỆ LỤY VÀ GIẢI PHÁP”
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn, cụ thể
nhiều nơi trên thế giới không riêng gì Việt Nam
Hành vi tảo hôn là hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Những hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn đều bị coi là vi phạm quy định của pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
Những năm gần đây với sự tuyên truyền giáo dục về luật hôn nhân và gia đình, người dân nhận thức, ý thức hơn trong việc kết hôn nhất là ý thức thực hiện quy định về độ tuổi kết hôn Nhờ công tác tuyên truyền, phổ biên rộng rãi
ấy, theo khảo sát của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, trong 5 năm từ năm 2005 đến 2010, tình trạng tảo hôn ở các dân tộc thiểu số giảm từ 80%
nước
Tình trạng tảo hôn là tình trạng phổ biến diễn ra ở các dân tộc thiểu số Tất cả
53 dân tộc thiểu số đều có tình trạng tảo hôn Theo kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2015 cho thấy tỉ lệ tảo hôn chung của 53 dân tộc thiểu số là 26,6%, trong đó tỉ lệ tảo hôn cao nhất thuộc các dân tộc thiểu
số sống ở vùng có điều kiện rất khó khăn như: Mông 59,7%, Xing Mun 56,3%,
La Ha 52,7%, Gia Rai 42% Trong đó có 13 dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn từ 40-50% trở lên, 6 dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn từ 50-60% trở lên Các dân
1 Khoản a điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
2 Theo trang web của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Trang 8tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn cao gấp 6 lần so với dân tộc Kinh và gấp gần 3,5 lần
so với tỷ lệ chung cả nước
Xét theo địa bàn cư trú thì vùng trung du, miền núi phía Bắc (đặc biệt là vùng Tây Bắc) và Tây Nguyên có tỷ lệ tảo hôn cao hơn so với các vùng khác: miền núi phía Bắc 18,9%; Tây Nguyên 15,8%; đồng bằng sông Hồng 7,9% và Đông Nam Bộ 8,1% Các tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao nhất trong cả nước gồm Lai Châu,
Hà Giang, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Kạn, Kon Tum, Gia Lai, Xét về nhóm tuổi thì tỷ lệ tảo hôn, kết hôn sớm của cả nam và nữ ở nhóm tuổi từ 15 đến 19 tuổi đều có xu hướng gia tăng, từ 2,4% và 8,4% năm 2011 đến 3,1% và 11,2% năm 2013 Phụ nữ, trẻ em gái có xu hướng kết hôn sớm hơn và ở nhóm tuổi dưới 15 đến dưới 18 thì tỷ lệ tảo hôn ở nữ dân tộc thiểu số cao hơn gần 3 lần so với nam dân tộc thiểu số Tỷ lệ tảo hôn ở nam giới các dân tộc thiểu
số cao xấp xỉ 6 lần so với nam giới dân tộc Kinh và gấp 3 lần so với tỉ lệ chung
cả nước (tỷ lệ tương ứng lần lượt là 18,0% so với 3,3% và 5,8%)
Như vậy có thể thấy, ở những khi vực có đồng bào dân tộc thiểu số như vùng sâu vùng xa, tình trạng tảo hôn vẫn còn xảy ra rất phổ biến với tỷ lệ cao Tuy nhiên đây không phải vấn đề của riêng từng địa phương mà còn là vấn đề chung của cả nước
III Nguyên nhân của thực trạng tảo hôn
1 Do những quan niệm, thành kiến, những hủ tục tập quán lạc hậu
“Bồng bồng cõng chồng đi chơi / Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng / Chị
em ơi cho tôi mượn cái gàu sòng / Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên” Câu ca dao như một lời châm biếm về hủ tục tảo hôn lỗi thời, lạc hậu Cho con cái kết hôn ngày từ tuổi vị thành niên là một tập tục cổ xưa ở phương Đông Với người phương Đông xưa, trong hôn nhân và gia đình, tình yêu đóng vai trò thứ yếu, nam nữ kết hôn phần nhiều không phải vì tình yêu mà tất cả do bố mẹ sắp đặt
“cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Người ta quan niệm rằng tình yêu đến sau, trong quá trình ở với nhau bền vững hơn tình cảm ngẫu nhiên ban đầu Việc cho con cái kết vợ kết chồng trước tuổi thành niên cũng vậy Quan niệm này đã đi sâu vào tiềm thức của người Việt Nam Cho đến nay, với sự phát triển về ý thức, quan niệm này phần lớn đã được xóa bỏ, song nó vẫn còn tồn tại ở những dân tộc thiểu số, vì vậy hiện nay tình trạng tảo hôn vẫn còn là vấn đề nhức nhối Em Vàng Thị Hoa, dân tộc Mông, đang học lớp 9 trường dân tộc nội trú huyện ở tỉnh Hà Giang thì bố mẹ gọi về để gả cho A Sum cùng bản Sum cũng chỉ hơn
Trang 9Hoa có 2 tuổi Như vậy cả hai em đều chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật
Không chỉ chịu ảnh hưởng của quan niệm cổ hủ xưa, nạn tảo hôn cũng bắt nguồn từ tập tục bắt vợ Tục “bắt vợ” đã có từ xa xưa Để thoát khỏi tình trạng hôn nhân cận huyết và duy trì giống nòi, thì người các thị tộc khác để tìm vợ để
“bắt vợ” Dấu ấn cổ xưa ấy đã lưu lại ở một số tộc người trở thành tập tục, văn hóa mang dấu ấn của tộc người đó Sùng Thị Mỷ, ở bản Dốc Giữa, huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) bị bắt về làm vợ ngay trong ngày khai giảng năm học mới Hay như gần đây, sự việc “bắt vợ” tại Mèo Vạc, Hà Giang ngày 7/3, một bé gái
đi chơi xuân đã bị một nam thanh niên còn khá trẻ khống chế, giằng co giữa đường Đây chính là hủ tục bắt vợ của người Mông Vụ việc tại Hà Giang chưa kịp lắng xuống thì tiếp tục một vụ việc bắt vợ ở Sa Pa, Lào Cai Tập tục này tồn tại và đang dần bị biến tướng ở nhiều nơi, đẩy nhiều bé gái vào hôn nhân không tình yêu và bi kịch Điều đáng nói ở đây là những bé gái này đều rất nhỏ, chưa
đủ tuổi để gả vợ gả chồng Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian TS Nguyễn Hùng
Vĩ, nguyên giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho hay, tục “bắt vợ” là một hình thái đặc biệt của hôn nhân cổ xưa
2 Do điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém
Khó khăn về kinh tế là một yếu tố rõ rãng dẫn đến tình trạng tảo hôn ở các dân tộc thiểu số Điều kiện kinh tế ở những vùng dân tộc thiểu số còn kém phát triển, điều kiện tự nhiên không thuận lợi việc phát triển sinh kế dẫn đến tình trạng đói nghèo Chính vì vậy “tảo hôn trở thành một “chiến lược” về an toàn
Các dân tộc có tỷ lệ tảo hôn cao cũng thường rơi vào các dân tộc sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa Tỉnh Thái Nguyên
có khoảng 34.758 người tảo hôn chiếm 2,96% dân số tỉnh Trong đó nam giới có 19.675 người, nữ giới là 15.083 người, nhiều nhất là dân tộc Tày (11.390 người),
cuộc sống cùng với thói quen ở vùng núi, nhà nào cũng có tâm lý muốn sớm có
3 iSEE Việt Nam, 2019 Kết hôn trẻ em ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Một phân tích từ góc nhìn nhân học
4 Báo cáo hội thảo quốc gia về Phòng ngừa, chấm dứt tảo hôn và kết hôn trẻ em: Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, trang 8, 9 Ủy ban Dân tộc và UN Woman, tháng 6 năm 2017
5 Theo kết quả điều tra số liệu về 53 dân tộc thiểu số tính đến thời điểm tháng 8/2015
Trang 10con đàn cháu đống, thêm lao động cho gia đình để tăng thêm thu nhập Nhà nào
có con gái thì muốn gả sớm để bớt miệng ăn, nhà nào có con trai thì muốn cưới
vợ sớm để lo toan cuộc sống Do đó nhiều cặp vợ chồng lấy nhau khi chưa đủ tuổi cho phép Kon Tum là một tỉnh miền núi, biên giới nằm ở Bắc Tây Nguyên, kinh tế còn chưa được đầu tư phát triển Chỉ tính riêng trong năm 2018 trên địa bàn tỉnh có 172 cặp kết hôn khi chưa đủ tuổi cho phép
3 Do trình độ dân trí thấp, người dân thiếu hiểu biết
Tình trạng tảo hôn đa phần diễn ra ở những dân tộc thiểu số Họ sống ở những vùng điều kiện địa lý lẫn điều kiện về kinh tế - xã hội còn khó khăn Họ chưa được tiếp cận với internet, các phương tiện truyền thông đại chúng Họ cũng không được đi học, có những người còn không biết chữ Tỷ lệ vị thành niên và thanh niên dân tộc thiểu số biết chữ là 83.2% thấp hơn đáng kể so với tỷ
lệ này của nữ kinh-Hoa là 99.1% Tỷ lệ trẻ em gái dân tộc thiểu số đi học đúng tuổi bậc tiểu học năm 2014 là 92.1% so với tỉ lệ này của nhóm dân tộc Kinh-Hoa là 98.9%; các số liệu tương ứng ở bậc trung học cơ sở là 76.64% so với
như luật hôn nhân và gia đình Bên cạnh đó, như đã nói ở trên, họ chịu nhiều ảnh hưởng từ những hủ tục lạc hậu cổ xưa Những quan niệm, phong tục lỗi thời
ấy đã ăn sâu, thậm chí cắm rễ trong tiềm thức của họ Họ chưa được mở mang đầu óc, những kiến thức về văn hóa – pháp luật còn hạn chế Họ cũng chưa được tuyên truyền giáo dục một cách đầy đủ về chế độ hôn nhân và gia đình; về hậu quả, tác động tiêu cực của tảo hôn Tình trạng học sinh bỏ học kết hôn vẫn tái diễn nhất là ở những vùng đặc biệt khó khăn do đi lại vất vả Tỷ lệ bỏ học giữa chừng của học sinh dân tộc thiểu số còn cao: tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số học lên cấp trung học phổ thông mới chỉ đạt 41.8% tương đương 58.2% học sinh dân tộc thiểu số dừng lại việc học ở cấp trung học cơ sở Đây cũng là độ tuổi phổ biến của tảo hôn vùng dân tộc thiểu số
1 Những hệ lụy đối với bản thân
Đối tượng tảo hôn đều là những nam, nữ còn rất trẻ Việc kết hôn sớm khi chưa đến tuổi sẽ làm mất đi cơ hội về học tập, xa hơn sau này là mất đi cơ hội có việc làm tốt, mất đi cơ hội phát triển bản thân Nhiều trẻ em đang ngồi trên ghế nhà trường đã phải bỏ học để lấy vợ lấy chồng Sau khi tảo hôn, khoảng thời
6 Tổng cục Thống kê, Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ, 2014