1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUÁ TRÌNH HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG lối CÁCH MẠNG dân tộc dân CHỦ NHÂN dân từ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ đầu TIÊN đến CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM

71 250 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 397,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN MỞ ĐẦU

  • PHẦN NỘI DUNG

  • Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

  • Chương 2 LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945)

  • 2.1. Luận cương chính trị

    • 2.1.1. Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị

    • 2.1.2. Nội dung của Luận cương chính trị

  • 2.2. Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945

    • 2.2.1. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939

    • 2.2.2. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940

    • 2.2.3. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 05/1941

  • Chương 3 CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN

  • 3.1. Bối cảnh lịch sử và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam

    • 3.1.1. Bối cảnh lịch sử

    • 3.1.2. Nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam

  • 3.2. Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân

    • 3.2.1. Nội dung bổ sung, hoàn chỉnh

    • 3.2.2. Giá trị thực tiễn

  • TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

    • Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân đã cho ta thấy được sự khắc phục và bổ sung của Đảng trong đánh giá thực tiễn về các khía cạnh: tính chất xã hội Việt Nam, đối tượng của cách mạng, nhiệm vụ cách mạng, lực lượng cách mạng, và các giai đoạn phát triển của cách mạng so với Cương lĩnh, Luận cương đồng thời khẳng định lại tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Từ đó Đảng đã đưa ra những chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi. Bên cạnh đó, đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân đã mang lại những giá trị thực tiễn không những đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc (1930-1975) mà còn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.

  • PHẦN KẾT LUẬN

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Trong quá trình đó, do còn hạn chế trong đánh giá thực tiễn của xã hội thuộc địa với những tàn tích phongkiến còn nặng nề ở Việt Nam, ảnh hưởng hưởng bởi những nhận thức không đúng về cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Giảng viên hướng dẫn: Đào Thị Bích Hồng

SINH VIÊN THỰC HIỆN

Trang 2

Thành phố Hồ Chí Minh, 07/2022

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NHÓM TRƯỞNG

(Ký và ghi rõ họ, tên)

Nguyễn Thị Bích Loan

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 1

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ, KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG 1 1.1 Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời 1

1.1.1 Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp 1

1.1.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930 1

1.1.3 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam

………

……….………3

1.2 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên 5

1.2.1 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 5

1.2.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam 8

Chương 2 LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945) 12

2.1 Luận cương chính trị 12

2.1.1 Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị 12

2.1.2 Nội dung của Luận cương chính trị 12

2.2 Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945 16

2.2.1 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939 16

2.2.2 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1940 18

2.2.3 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 05/1941 19

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 21

Trang 5

Chương 3 CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI

CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN 22

3.1 Bối cảnh lịch sử và nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 22

3.1.1 Bối cảnh lịch sử 22

3.1.2 Nội dung Chính cương Đảng Lao động Việt Nam 26

3.2 Sự bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân 30

3.2.1 Nội dung bổ sung, hoàn chỉnh 30

3.2.2 Giá trị thực tiễn 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 36

PHẦN KẾT LUẬN 37

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

PHỤ LỤC 40

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

Việt Nam đã có sự biến đổi rất quan trọng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Dướichính sách cai trị và khai thác, bóc lột của thực dân Pháp đã làm thay đổi cả về chính trị,kinh tế, xã hội Với hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là giữa nôngdân và địa chủ phong kiến; với toàn thể dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp Trước tìnhthế ấy, hàng loạt các phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tưsản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930 đã diễn ra nhưng đều thất bại Từ đó đặt ranhững yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam là phải phải tìm một con đường cứunước mới Trước yêu cầu cấp thiết giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, với nhiệthuyết cứu nước, với nhãn quan chính trị sắc bén, vượt lên trên hạn chế của các bậc yêunước đương thời, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dântộc Sau khi xác định được con đường cách mạng theo khuynh hướng vô sản, Nguyễn ÁiQuốc tiếp tục khảo sát, tìm hiểu để hoàn thiện nhận thức về đường lối cách mạng vô sản,

để đất nước ta tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa

Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn

bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Sự kiện Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời là sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng tronglịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triểncủa dân tộc ta Để có đường lối lãnh đạo đúng đắn, Đảng Cộng sản đã trải qua một quátrình nhận thức thực tiễn và vận dụng, phát triển lý luận cách mạng Trong quá trình đó,

do còn hạn chế trong đánh giá thực tiễn của xã hội thuộc địa với những tàn tích phongkiến còn nặng nề ở Việt Nam, ảnh hưởng hưởng bởi những nhận thức không đúng về cácnước thuộc địa ở phương Đông của Quốc tế Cộng sản đã đưa đến sự thiếu quyết đoánxung quanh hai quan điểm về chiến lược đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, hạn chếnày của Đảng đã khắc phục qua từng kì Đại hội để đi tới khẳng định đường lối chiến lượcgiải phóng dân tộc và định hướng con đường phát triển của cách mạng Việt Nam

Để làm rõ hơn quá trình Đảng hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủNhân dân từ đó khẳng định con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Hồ Chí Minh và nhân

Trang 7

dân Việt Nam đã lựa chọn là con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, đó làcon đường dẫn tới thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, dẫn tới dân giàu, nước

mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhóm chọn chọn đề tài: “Quá trình hoàn

chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên đến Chính cương Đảng Lao động Việt Nam” làm bài tập lớn để kết thúc môn học

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhiệm vụ của đề tài:

Một là, làm rõ được đặc điểm kinh tế, xã hội Việt Nam dưới chính sách thống trị,

khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và nội dung Cương lĩnh chính trị đầu tiên củaĐảng

Hai là, phân tích được nội dung của Luận cương chính trị với những ưu điểm và

hạn chế và quá trình khắc phục hạn chế về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc củaĐảng

Ba là, làm rõ nội dung của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam và sự hoàn

chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng

Bốn là, làm rõ giá trị của việc hoàn chỉnh đường lối cách mạng Dân tộc Dân chủ

Nhân dân đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

BỐI CẢNH LỊCH SỰ VIỆT NAM DƯỚI CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ,

KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG 1.1 Bối cảnh lịch sử trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

1.1.1 Việt Nam dưới chính sách thống trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp

Tình hình Việt Nam: Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trí địa chính trị quan

trọng của châu Á, Việt Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thựcdân Pháp Sau một quá trình điều tra thám sát lâu dài, thâm nhập kiên trì của các giáo sĩ

và thương nhân Pháp (ngày 19/1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, từngbước xâm lược Việt Nam Đó là thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam (dưới triều đạiphong kiến nhà Nguyễn) đã lâm vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng Trước hành độngxâm lược của Pháp, triều đình nhà Nguyễn từng bước thỏa hiệp (Hiệp ước 1862, 1874,1885) và đến ngày 6/6/1884 với Hiệp ước Patonốt dã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp,Việt Nam trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nộ, Tổ quốc ta bị giầy xéodưới gót sắt của kẻ thù hung ác”

Tuy triều đình nhà Nguyễn dã đầu hàng thực dân Pháp, nhưng nhân dân Việt Namkhông chịu khuất phục, phong trào đấu tranh nổ ra liên tục, khắp các địa phương Thựcdân Pháp phải dùng vũ lực để bình định, đàn áp sự nổi dậy của nhân dân Thực dân Pháptiến hành xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa bên cạnh việc duy trì chính quyềnphong kiến bản xứ làm tay sai Pháp thực hiện chính sách “chia để trị” nhằm phá vỡ khốiđoàn kết cộng đồng quốc gia dân tộc: chia ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) với cácchế độ chính trị khác nhau nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp được thành lậpngày 17/10/1887 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt

Trang 9

đầu tiến hành các cuộc khai thác thuộc địa lớn Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất(1897 – 1914) và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929) Mưu đồ của thực dânPháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung thành thị trưởng tiêu thụhàng hóa của chính quốc, đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạtcủa người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề Chế độ cai trị, tóc lột hà khắccủa thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là “chế độ độc tài chuyên chế nhất, nó vôcùng khả ố và khủng khiếp hơn cả chế độ chuyên chế của nhà nước quân chủ châu Á đờixưa” Năm 1862, Pháp đã lập nhà tù ở Côn Đảo để giam cầm những người Việt Nam yêunước chống Pháp.

Về kinh tế, có sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tuy có lợi là

làm cho đất nước ngày càng khởi sắv, nhưng bọn thực dân vẫn giữ mối quan hệ phongkiến lạc hậu để chúng có thể thu được lọi ích từ các nước thuộc địa Và căn bản nước tavẫn là nước có nền kinh tế nông nghiệp, lạc lậu, phụ thuộc vì chúng muốn kìm hãm sựphát triển cỉa Việt Nam, làm cho kinh tế không phát triển và lệ thuộc vào chúng để dể bềcai trị và khai thác

Dưới chính sách khai thác và thống trị của chúng, nền kinh tế Việt Nam bị kìmhãm nặng nề, tiến triển chậm chạp, què quặt, phiến diện và lệ thuộc vào nền kinh tế Pháp

Về văn hoá - xã hội, thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” để dễ cai trị,

lập nhà tù nhiều hơn trường học, đồng thời du nhập những giá trị phản văn hóa, duy trì tệnạn xã hội vốn có của chế độ phong kiến và tạo nên nhiều tệ nạn xã hội mới, dùng rượucồn và thuốc phiện để đầu độc các thế hệ người Việt Nam, ra sức tuyên truyền tư tưởng

“khai hoá văn minh" của nước “Đại Pháp”

Về sự phân hóa các tầng lớp giai cấp trong xã hội, chế độ áp bức về chính trị, bóc

lột về kinh tế, nô dịch về văn hóa của thực dân Pháp đã làm biến đổi tình hình chính trị,kinh tế, xã hội Việt Nam Các giai cấp cũ phân hóa, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện vớiđịa vị kinh tế khác nhau và do đó cũng có thái độ chính trị khác nhau đối với vận mệnhcủa dân tộc

Trang 10

Dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ và nông dân là hai giai cấp cơ bản trong

xã hội, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, giai cấp địa chủ bị phân hóa

Một bộ phận địa chủ cấu kết với thực dân Pháp và làm tay sai đắc lực cho Pháptrong việc ra sức đàn áp phong trào yêu nước và bóc lột nông dân; một bộ phận khác nêucao tinh thần dân tộc, khởi xướng và lãnh đạo các phong trào chống Pháp và bảo vệ chế

độ phong kiến, tiêu biểu là phong trào Cần Vương: một số trở thành lãnh đạo phong tràonông dân chống thực dân Pháp và phong kiến phản động; một bộ phận nhỏ chuyển sangkinh doanh theo lối tư bản

Giai cấp nông dân chiếm số lượng đông đảo nhất (khoảng hơn 90% dân số), đồngthời là một giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất Do vậy, ngoài mâu thuẫn giai cấp vốn có vớigiai cấp địa chủ, nông dân còn có mâu thuẫn sâu sắc với thực dân xâm lược “Tinh thầncách mạng của nông dân không chỉ gắn liền với ruộng đất, với đời sống hằng ngày của

họ, mà còn gắn bó một cách sâu sắc với tình cảm quê hương đất nước, với nền văn hóahàng nghìn năm của dân tộc” Đây là lực lượng hùng hậu, có tinh thần đấu tranh kiêncường bất khuất cho nền độc lập tự do của dân tộc và khao khát giành lại ruộng đất chodân cày, khi có lực lượng tiên phong lãnh đạo, giai cấp nông dân sẵn sàng vùng dậy làmcách mạng lật đổ thực dân, phong kiến Giai cấp công nhân Việt Nam được hình thànhgắn với các cuộc khai thác thuộc địa, với việc thực dân Pháp thiết lập các nhà máy, xínghiệp, công xưởng, khu đồn điền Ngoài những đặc điểm của giai cấp công nhân quốc

tế, giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng vì ra đời trong hoàn cảnh mộtnước thuộc địa nửa phong kiến, chủ yếu xuất thân từ nông dân, cơ cấu chủ yêu công nhânkhai thác mỏ, đồn điền, lực lượng còn nhỏ bé, nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởngtiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển từ “tự phát” đến “tự giác”, thể hiện là giaicấp có năng lực lãnh đạo cách mạng

Giai cấp tư sản Việt Nam xuất hiện muộn hơn giai cấp công nhân Một bộ phận cólợi ích gắn liền với tư bản Pháp, tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của chính quyềnthực dân Pháp, trở thành tầng lớp tự sản mại bản Một bộ phận là giai cấp tư sản dân tộc,

họ bị thực dân Pháp chèn ép, kìm hãm, bị lệ thuộc, yếu ớt về kinh tế Phần lớn tư sản dân

Trang 11

tộc Việt Nam có tinh thần dân tộc, yêu nước nhưng không có khả năng tập hợp các giaitầng để tiến hành cách mạng.

Tầng lớp tiểu tư sản (tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên, ) bị đế quốc, tư bản chèn ép,khinh miệt, họ có tinh thần dân tộc, yêu nước, rất nhạy cảm về chính trị và thời cuộc Tuynhiên, do địa vị kinh tế bấp bênh, hay dao động thiếu kiên định, do đó tầng lớp tiểu tư sảnkhông thể lãnh đạo cách mạng

Các sĩ phu phong kiến cũng có sự phân hóa: một bộ phận hướng sang tư tưởng dânchủ tư sản hoặc tư tưởng xướng các phong trào yêu nước, vô sản; một số người khởixướng các phong trào yêu nước,có ảnh hưởng lớn

Nhận xét, có thể nhận cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có sự biến

đổi rất quan trọng cả về chính trị, kinh tế, xã hội Chính sách cai trị và khai thác, bóc lộtcủa thực dân Pháp đã làm phân hóa những giai cấp (địa chủ, nông dân), đồng thời hìnhthành giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản) với thái độ chính trịkhác nhau Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc này đều mang thân phậnngười dân mất nước, ở những mức độ khác nhau đều bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột.Những mâu thuẫn mới trong xã hội Việt Nam xuất hiện, trong đó mâu thuẫn giữa toàn thểdân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủyếu nhất và ngày càng gay gắt Tính chất Việt Nam từ xã hội phong kiến thuần túychuyển biến thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Với hai mâu thuẫn cơ bản trong xãhội Việt Nam lúc bấy giờ là giữa nông dân và địa chủ phong kiến; với toàn thể dân tộcViệt Nam và để quốc Pháp

Trước tình thế ấy, thực tiễn đã đặt ra yêu cầu cho đất nước Việt Nam là phải đánhđuổi được bọn thực dân xâm lược Pháp, giành độc lập tự do cho dân tộc; và xóa bỏ chế độphong kiến giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là vấn đề ruộng đất Trong đónhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu

1.1.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930

Trang 12

a Phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930

Ngay từ khi Pháp xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp củanhân dân Việt Nam đã diễn ra liên tục, rộng khắp cả nước Đến năm 1884, mặc dù triềuđình phong kiến nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng một bộ phận phong kiến yêu nước đãcùng với nhân dân vẫn tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp, như phong trào CầnVương do vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng (1886 - 1896) Hưởng ứng lờikêu gọi Cần Vương cứu nước, các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoa), Bãi Sậy (HưngYên), Hương Khê (Hà Tĩnh) diễn ra sôi nổi, thể hiện tinh thần quật cường chống ngoạixâm của các tầng lớp nhân dân Nhưng ngọn cờ phong kiến lúc đó không còn là ngọn cờtiêu biểu để tập hợp một cách rộng rãi toàn thể các tầng lớp nhân dân, không có khả năngliên kết các trung tâm kháng Pháp trên toàn quốc nữa Cuộc khởi nghĩa của Phan ĐìnhPhùng thất bại (1896) cũng là dấu mốc chấm dứt vai trò lãnh đạo của giai cấp phong kiếnđối với phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở Việt Nam

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở vùng miền núi và trung du phíaBắc, phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang) nổ ra dưới sự lãnh đạo của Hoàng HoaThám Nghĩa quân đã xây dựng lực lượng chiến đấu, lập căn cứ và đấu tranh kiên cườngchống thực dân Pháp suốt gần 30 năm Phong trào của Hoàng Hoa Thám vẫn mang nặng

“cốt cách phong kiến”, không có khả năng mở rộng hợp tác và thống nhất tạo thành mộtcuộc cách mạng giải phóng dân tộc, do vậy cũng bị thực dân Pháp đàn áp

Nguyên nhân dẫn đến thất bại của các cuộc khởi nghĩa: là do chủ trương chỉ đạo

chưa hợp lí Với yêu cầu thực tiễn đặt ra là cần chống thực dân giải quyết quyền tự quyếtcủa dân tộc, xóa bỏ chế độ phong kiến, xóa bỏ triều đại phong kiến và điều quan trọng làphải tập hợp được lực lượng để tiến hành cuộc khởi nghĩa triệt để trên toàn nước Nhưngthực tiễn những cuộc khởi nghĩa ấy đứng trên hệ tư tưởng phong kiến chống Pháp, không

đủ sức quy tụ được lực lượng trong khi xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa các tầng lớpgiai cấp Cho nên các cuộc khởi nghĩa ấy không còn vai trò tiên phong, đại diện được toànthể nhân dân giải quyết vấn đề dân tộc Và các phong trào chủ yếu tập trung lực lượng là

Trang 13

nông dân, tuy lực lượng có hùng hậu nhưng không có hệ tư tưởng nào khác ngoài hệ tưtưởng phong kiến Và nông dân đứng lên chống Pháp để khôi phục lại chế độ phong kiến,

nó đã không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của Việt Nam lúc bấy giờ, diễn ra lẻ tẻ và rảirác sau đó là bị đàn áp Tuy các cuộc khởi nghĩa ấy bị thực dân Pháp đàn áp nhưng nócũng có ảnh hưởng đến các phong trào yêu nước cứu quốc sau này, điều đó cho thấy rằnggiai cấp nông dân là lực lượng mạnh có thể tạo nên sự liên kết trên toàn quốc để đi tớicuộc khởi nghĩa thắng lợi nhưng phải có giai cấp khác với tư tưởng tiến bộ để dẫn dắt

b Phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930

Từ những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước Việt Nam chịu ảnh hưởng, tácđộng của trào lưu dân chủ tư sản, tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, xuhướng cải cách của Phan Châu Trinh và sau đó là phong trào tiểu tư sản trí thức của tổchức Việt Nam Quốc dân Đảng (12/1927 - 2/1930) tiếp tục diễn và rộng khắp các tỉnhBắc Kỳ nhưng tất cả đều không thành công

Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu tổ chức, lãnh đạo Chủ trương tập hợp lựclượng với phương pháp bạo động chống Pháp, xây dựng chế độ chính trị như ở Nhật Bản.Phong trào theo xu hướng này tổ chức đưa thanh niên yêu nước Việt Nam sang Nhật Bảnhọc tập (gọi là phong trào Đông Du) Đến năm 1908 Chính phủ Nhật Bản câu kết vớithực dân Pháp trục xuất lưu học sinh Việt Nam và những người đứng đầu phong trào Saukhi phong trào Đông Du thất bại, với sự ảnh hưởng của Cách mạng Tân Hợi (1911) ởTrung Quốc, Phan Bội Châu lập tổ chức Việt Nam Quang phục Hội với tôn chỉ là vũtrang đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước cộng hòa dân quốcViệt Nam Tuy nhiên chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội thiếu rõ ràng Cuối năm

1913, Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam tại Trung Quốc cho tới dầu năm 1917 vàsau này bị quản chế tại Huế cho đến khi ông mất (1940) Ảnh hưởng xu hướng bạo độngcủa tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội đối với phong trào yêu nước Việt Nam đến đâychấm dứt

Trang 14

Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh: Phan Châu Trinh và những người cùngchỉ hướng muốn giành độc lập cho dân tộc nhưng không đi theo con đường bạo động nhưPhan Bội Châu, mà chủ trương cải cách đất nước Phan Châu Trinh cho rằng “bất bạođộng, bạo động tắc tử”; phải “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, phải bãi bỏ chế độquân chủ, thực hiện dân quyền, khai thông dẫn trí, mở mang thực nghiệp Để thực hiệnđược chủ trương ấy, Phan Châu Trinh đã đề nghị nhà nước “bảo hộ” Pháp tiến hành cảicách Đó chính là sự hạn chế trong xu hướng cải cách để cứu nước, vì Phan Châu Trinh

đã “đặt vào lòng độ lượng của Pháp cái hy vọng cải tử hoàn sinh cho nước Nam, Cụkhông rõ bản chất của đế quốc thực dân” Do vậy, khi phong trào Duy Tân lan rộng khắp

cả Trung Kỳ và Nam Kỳ, đỉnh cao là vụ chống thuế ở Trung Kỳ (1908), thực dân Pháp đãđàn áp dã man, giết hại nhiều sĩ phu và nhân dân tham gia biểu tình Nhiều sĩ phu bị bắt,

bị đày đi Côn Đảo, trong đó có Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng NguyênCẩn Phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bị thực dân Pháp dập tắt, cùng với sự kiện tháng12/1907 thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa Trường Đông Kinh Nghĩa Thục phản ánh sự kếtthúc xu hướng cải cách trong phong trào cứu nước của Việt Nam

Phong trào của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng: Khi thực dân Pháp đẩy mạnhkhai thác thuộc địa lần thứ hai, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dânPháp càng trở nên gay gắt, các giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội Việt Nam đều bước lên

vũ đài chính trị Trong đó, hoạt động có ảnh hưởng rộng và thu hút nhiều học sinh, sinhviên yêu nước ở Bắc Kỳ là tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnhđạo Trên cơ sở các tổ chức yêu nước của tiểu tư sản trí thức, Việt Nam Quốc dân Đảngđược chính thức thành lập tháng 12/1927 tại Bắc Kỳ

Mục đích của Việt Nam Quốc dân Đảng là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược,giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ cộng hòa tư sản, với phương pháp đấu tranh vũtrang nhưng theo lối manh động, ám sát cá nhân, lực lượng chủ yếu là binh lính, sinhviên Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở một số tỉnh, chủ yếu và mạnh nhất là ở Yên Bái (2/1930),tuy oanh liệt nhưng nhanh chóng bị thất bại

Trang 15

Nguyên nhân dẫn đến thất bại: các phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản

tuy có các tri thức phong kiến tiếp thu hệ tư tưởng tư sản là điểm tích cực nhưng do khônghiểu rõ bản chất của đế quốc và thực tiễn đặt ra đã dẫn đến sự thất bại của các phong trào.Trong đó vẫn chưa tập hợp được lực lượng, không nhìn thấy được sức mạnh của giai cấpcông nhân và nông dân Từ đó không thể giải quyết được vấn đề dân tộc

Nhận xét: Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tiếp tục truyền thống

yêu nước, bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, các phong trào yêu nước theo ngọn cờphong kiến, ngọn cờ dân chủ tư sản của nhân dân Việt Nam đã diễn ra quyết liệt, liên tục

và rộng khắp Dù với nhiều cách thức tiến hành khác nhau song đều hưởng tới mục tiêugiành độc lập cho dân tộc Tuy nhiên, “các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vươngđến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại” Nguyênnhân thất bại của các phong trào đó là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn để giải quyếttriệt để những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của xã hội, chưa có một tổ chức vững mạnh đểtập hợp, giác ngộ và lãnh đạo toàn dân tộc, chưa xác định được phương pháp đấu tranhthích hợp để đánh đổ kẻ thù Tuy thất bại song các phong trào yêu nước đã góp phần cổ

vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước ViệtNam, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiêntiến chọn lựa một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thếcủa thời đại Nhiệm vụ lịch sử cấp thiết đặt ra cho thế hệ yêu nước đương thời là cần phải

có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dântộc

1.1.3 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản và những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam

Trong bối cảnh đó, những luồng tư tưởng ở bên ngoài như: tư tưởng Cách mạng tưsản Pháp 1789, phong trào Duy Tân Nhật Bản năm 1868, cuộc vận động Duy Tân tạiTrung Quốc năm 1898, Cách mạng Tân Hơi của Trung Quốc năm 1911 , đặc biệt làCách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã tác động mạnh mẽ, làm chuyển biến phongtrào yêu nước những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Năm 1919, trên chiến hạm của

Trang 16

Pháp ở Húc Hải (Biển Đen), Tôn Đức Thắng tham gia đấu tranh chống việc can thiệp vàonước Nga Xôviết Năm 1923, luật sư Phan Văn Trường từ Pháp về nước và công bố tácphẩm: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (The Manifesto of the Communist Party) của C.Mác và Ph Angghen đăng trên báo La Cloche Fêlée, số ra từ ngày 29/3 đến ngày20/4/1926 tại Sài Gòn, góp phần tuyên truyền tư tưởng vô sản ở Việt Nam.

a Quá trình lựa chọn con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc

Trước yêu cầu cấp thiết giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, với nhiệt huyếtcứu nước, với nhãn quan chính trị sắc bén, vượt lên trên hạn chế của các bậc yêu nướcđương thời, năm 1911, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước, giảiphóng dân tộc

Năm 1917, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tác động mạnh mẽ tớinhận thức của Nguyễn Tất Thành Người từ nước Anh trở lại nước Pháp và tham gia cáchoạt động chính trị hướng về tìm hiểu con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, về V.I.Lênin

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Pháp, một chính đảng tiến bộnhất lúc đó ở Pháp Tháng 6/1919, tại Hội nghị của các nước thắng trận trong chiến tranhthế giới thứ nhất hợp ở Versailles (Vécxây, Pháp), Tổng thống Mỹ Uynxơn (WoodrowWilson) tuyên bộ bảo đảm về quyền dân tộc tự quyết cho các nước thuộc địa Nguyễn TấtThành lấy tên là Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước ở Phápgửi tới Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam (gồm tám điểm đòi quyền tự do chonhân dân Việt Nam) ngày 18/6/1919 Những người Việt Nam tiêu biểu cho tinh thần yêunước ở Pháp, gồm: Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn ThếTruyền và Nguyễn Ái Quốc Những yêu sách đó dù không được Hội nghị đáp ứng, nhưng

đã tạo nên tiếng vang lớn trong dư luận quốc tế và Nguyễn Ái Quốc càng hiểu rõ hơn bảnchất của đế quốc, thực dân

Tháng 7/1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đềdân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo), số rangày 16 và 17/7/1920 Những luận điểm của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã

Trang 17

giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giảiphóng dân tộc Lý luận của V.I Lênin và lập trường đúng dắn của Quốc tế Cộng sản vềcách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc xác định thái độủng hộ việc gia nhập Quốc tế Cộng sản tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp(12/1920) họp ở thành phố Tua (Tours) Tại Đại hội này, Nguyễn Ái Quốc đã hỏ phiếután thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản do V.I Lênin thành lập)

Ngay sau đó, Nguyễn Ái Quốc cùng với những người vừa bỏ phiếu tán thành Quốc

tế Cộng sản đã tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản - tức là ĐảngCộng sản Pháp Với sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những người sánglập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bướcchuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc.Trong những năm 1919 – 1921, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp Anbe Xarô (Albert Sarraut)nhiều lần gặp Nguyễn Ái Quốc mua chuộc và đe dọa Ngày 30/6/1923, Nguyễn Ái Quốctới Liên Xô và làm việc tại Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva, tham gia nhiều hoạt động, đặcbiệt là dự và đọc tham luận tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (17/6 - 8/7/1924), làm việctrực tiếp ở Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản

Sau khi xác định được con đường cách mạng đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc tiếp tụckhảo sát, tìm hiểu để hoàn thiện nhận thức về đường lối cách mạng vô sản, đồng thời tíchcực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổchức cho sự ra đời của Đảng

b Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện về chính trị, tư tưởng cho việc thành lập Đảng

Về tư tưởng: Từ giữa năm 1921, tại Pháp, cùng một số nhà cách mạng của các

nước thuộc địa khác, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa, sau đósáng lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) Người viết nhiều bài trên các báo: Nhân đạo,Đời sống công nhân, Tạp chí Cộng sản, Tập san Thư tín quốc tế,

Năm 1922, Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp được thành lập,Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương Vừa nghiêncứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản và công nhân

Trang 18

quốc tế, dưới nhiều phương thức phong phú Nguyễn Ái Quốc tích cực tố cáo, lên án bảnchất áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa

và kêu gọi, thức tỉnh đấu tranh giải phóng Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân,xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp côngnhân và nhân dân lao động trên thế giới Đồng thời, Người tiến hành tuyên truyền tưtưởng về con đường cách mạng vô sản, con đường cách mạng theo lý luận Mác - Lênin,xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp vớicác nước thuộc địa và phụ thuộc

Về chính trị: Xuất phát từ thực tiễn cách mạng thế giới và đặc điểm của phong trào

giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, kế thừa và phát triển quan điểm của V.I Lênin

về cách mạng giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng vềcách mạng giải phóng dân tộc Người khẳng định: con đường cách mạng của các dân tộc

bị áp bức là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể

là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản Đường lối chính trị của Đảng cách mạng phải hướngtới giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào, hướng tới xây dựng nhànước mang lại quyền và lợi ích cho nhân dân

Nguyễn Ái Quốc xác định, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa làmột bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở cácnước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗtrợ cho nhau, nhưng cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa không phụ thuộc vàocách mạng vô sản ở “chính quốc” mà có thể thành công trước cách mạng vô sản ở “chínhquốc”, góp phần tích cực thúc đẩy cách mạng vô sản ở “chính quốc”

Về vấn đề Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trước hết phải có đảngcách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị

áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng nhưngười cầm lái có vững thuyền mới chạy”

Về tổ chức: Sau khi lựa chọn con đường cứu nước - con đường cách mạng vô sản

cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc khẳng định phải “đi vào quần chúng, thức tỉnh

Trang 19

họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập” Vìvậy, sau một thời gian hoạt động ở Liên Xô để tìm hiểu, khảo sát thực tế về cách mạng vôsản, tháng 11/1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc), nơi có đông người Việt Namyêu nước hoạt động, để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập Đảng Cộng sản Tháng2/1925, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộngsản đoàn

Tháng 6/1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niêntại Quảng Châu (Trung Quốc), nòng cốt là Cộng sản đoàn Hội đã công bố chương trình,điều lệ của Hội, mục đích: để làm cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp giành độc lập cho

xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ sản)

Hệ thống tổ chức của Hội gồm 5 cấp: trung ương bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ hay thành bộ, huyện

bộ và chi bộ Tổng bộ là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ đại hội Trụ sở đặt tạiQuảng Châu

Sau khi thành lập, Hội tổ chức các lớp huấn chính trị do Nguyễn Ái Quốc trực tiếpphụ trách, phải người về nước vận động lựa chọn và đưa một số thanh niên tích cực sangQuảng Châu để đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị

Sau sự biến chính trị ở Quảng Châu (4/1927), Nguyễn Ái Quốc trở lại Mátxcơva

và sau đó được Quốc tế Cộng sản cử đi công tác ở nhiều nước châu Âu Năm 1928,Người trở về châu Á và hoạt động ở Xiêm (tức Thái Lan)

Ở trong nước, từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách Thanh niên đã bắt đầu pháttriển cơ sở, đến năm 1927 các kỳ bộ được thành lập Hội còn chú trọng xây dựng Việtkiều ở Xiêm (Thái Lan) Hội Việt Nam Cách Thanh niên chưa phải là chính đảng cộngsản, nhưng chương trình hành động đã thể hiện quan điểm, lập trường của giai cấp côngnhân, là tổ chức tiền thân dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam Hội là tổchức trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và cũng là sự chuẩn bị quantrọng về tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam.Những hoạt động của Hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong

Trang 20

trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam những năm 1928 - 1929 theo xu hướngcách mạng vô sản Đó là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

1.2 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên

1.2.1 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Với sự nỗ lực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân vàphong trào yêu nước Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc và những hoạt động tích cực của cáccấp bộ trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trên cả nước đã có tác dụngthúc đẩy phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản, nâng cao

ý thức giác ngộ và lập trưởng cách mạng của giai cấp công nhân Những cuộc đấu tranhcủa thơ thuyền khắp ba kỳ với nhịp độ, quy mô ngày càng lớn, nội dung chính trị ngàycàng sâu sắc

Đến năm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng Việt Nam,

tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn thích hợp và đủ sức lãnh đạophong trào Trước tình hình đó, tháng 3/1929, những người lãnh đạo Kỳ bộ Bắc Kỳ (TrầnVăn Cung, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh Trịnh Đình Cửu ) họp tại số nhà 5D, phốHàm Long, Hà Nội, quyết danh lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam

Trước ảnh hưởng của Đông Dương Cộng sản Đảng, những thanh niên yêu nước ởNam Kỳ theo xu hướng cộng sản lần lượt tổ chức những chi bộ cộng sẵn Tháng 11/1929,trên cơ sở các chi bộ cộng sản ở Nam Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập tạiKhánh Hội, Sài Gòn

Tại Trung Kỳ, Tân Việt Cách mạng Đảng (là một tổ chức thanh niên yêu nước có

cả Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai ) chịu tác động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cáchmạng Thanh niên dã đi theo khuynh hướng cách mạng vô sản

Sự ra đời ba tổ chức cộng sản trên cả nước diễn ra nửa cuối năm 1929 đã khẳngđịnh bước phát triển về chất của phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cáchmạng vô sản, phù hợp với xu thế và nhu cầu bức thiết của lịch sử Việt Nam Tuy nhiên,

sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở ba miền đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng sản, kêu gọi

Trang 21

Quốc tế Cộng sản thừa nhận tổ chức của mình và đều tự nhận là đảng cách mạng chânchính, không tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thông nhất về tổ chức trên cảnước

Sự chuyển biến mạnh mẽ các phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân ngàycàng lên các nhu cầu thành lập một chính đảng cách mạng có dù khả năng tập hợp lựclượng toàn dân tộc và dảm nhiệm vai trò lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc ngày càngtrở nên bức thiết đối với cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ

Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với tư cách là pháiviên của Quốc tế Cộng sản, ngày 23/12/1929, Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông (TrungQuốc) triệu tập đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đếnhọp tại Cửu Long (Hồng Kông) để tiến hành hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thànhmột chính đảng duy nhất của Việt Nam

Hội nghị diễn ra từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930 Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộngsản, ngày 18/2/1930, Hội nghị thảo luận, tán thành ý kiến chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc,

thông qua các văn kiện quan trọng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo: Chánh cương

vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị xác định rõ tôn chỉ mục đích của Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam tổchức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốcchủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản” Quy định điều kiện vào Đảng là nhữngngười tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng háitranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấutrong một bộ phân đảng”

Hội nghị chủ trương: các đại biểu về nước phải tổ chức một Trung ương lâm thời

để lãnh đạo cách mạng Việt Nam Hệ thống tổ chức Đảng từ chi bộ, huyện bộ, thị bộ haykhu bộ, tỉnh bộ, thành bộ hoặc đặc biệt bộ và Trung ương

Trang 22

Ngoài ra, Hội nghị còn quyết định chủ trương xây dựng các tổ chức cộng hội, nôngnội cứu tế, tổ chức phản đế và xuất bản một tạp chí lý luận và ba tờ bảo tuyên truyền củaĐảng Đến ngày 24/2/1930, việc thông nhất các tổ chức cộng sản thành một chính dángduy nhất được hoàn thành với Quyết nghị của Lâm thời chấp ủy Đảng Cộng sản ViệtNam, chấp nhận Đông Dương Công sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

có giá trị như một Đại hội Đảng

1.2.2 Cương lĩnh chính trị đầu tiên

Nội dung bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Trong các văn kiện do lãnh

tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, có hai vănkiện, đó là: Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng đã phản ánh vềđường hướng phát triển và những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược của cáchmạng Việt Nam Hai văn kiện trên là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sảnViệt Nam

Cương lĩnh chính trị đầu tiên xác định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam: Từ việc phân tích thực trạng và mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam - một xã hội

thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam trong đó có công nhân, nôngdân với đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết, đi đến xác định đường lối chiếnlược của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địacách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trongCương lĩnh đầu tiên của Đảng đã chia ra phương hướng chiến lược cách mạng Việt Namgồm có ba giai đoạn rõ ràng và cần tiến hành riêng từng giai đoạn Trong đó cuộc cáchmạng thổ địa không nằm trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền Ba giai đoạn ấy đượcchia thành:

- Giai đoạn thứ nhất: tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền

- Giai đoạn thứ hai: tiến hành cuộc thổ địa cách mạng

- Giai đoạn thứ ba: tiến tới xã hội cộng sản

Trang 23

Ta có thể thấy rằng, tuy vấn đề dân tộc quan trọng nhưng với xã hội Việt Nam lúcbấy giờ thành phần chính vẫn là nông dân, vậy đối với người nông dân không có gì quantrọng hơn miếng cơm manh áo Lúc này Đảng có thể hoàn toàn có thể đặt nhiệm vụ cáchmạng ruộng đất lên thực hiện đầu tiền, hơn cả nhiệm vụ dân tộc; nhưng đây là điểm sángsuốt của Cương lĩnh khi đã xác định rõ ràng được thực trạng xã hội Việt Nam lúc bấy giờ

đó chính là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam trong

đó có công nhân, nông dân với đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết, trong đó cóhai mâu thuẫn chính trong xã hội lúc bấy giờ là giữa nông dân và địa chủ và giữa toàn thểdân tộc Việt Nam Trong đó mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ tuy diễn ra đã lâu nhưngkhông có gay gắt, có thể điều hòa được Bằng chứng là khi có giặc xâm lược đến, họ sẵnsàng bỏ qua lợi ích cá nhân mà cùng nhau chung tay đánh đuổi giặc ngoại xâm Địa chủViệt Nam cũng không có quá nhiều lợi ích khi nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp nhưngcũng không mấy phát triển Còn mâu thuẫn lớn nhất lúc bấy giờ là giữa toàn thể nhân dânViệt Nam và thực dân xâm lược Pháp vì tất cả các tầng lớp đều bị bọn thực dân chèn ép

và chiếm buộc hết lợi ích Cho nên đây là đặc điểm lớn nhất và quan trọng nhất để Cươnglĩnh có thể xác định được nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất nên được tiến hành đầutiên đó chính là tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền

Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam dược xác định là: “Đánh đổ

đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”1.Cương lĩnh đã xác định: Chống đế quốc và chống phong kiến là nhiệm vụ cơ bản để giànhđộc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày, trong đó chống đế quốc, giành độc lập chodân tộc được đặt ở vị trí hàng đầu Tập trung chống đế quốc sau đó mới tiến hành xóa bỏquyền thống trị của phong kiến Vì lúc này phong kiến Việt Nam đã suy yếu, không cònquyền lực để thống trị

- Về phương diện xã hội, Cương lĩnh xác định rõ: “a) Dân chúng được tự do tổ chức; b)Nam nữ bình quyền, v.v.; c) Phổ thông giáo dục theo công nông hoá”2

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.2.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.2.

Trang 24

- Về phương diện kinh tế, Cương lĩnh xác định: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; thâu hếtsản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủnghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; thâu hết ruộng đất của đếquốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo;

mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm tám giờ

Theo đó đã cho ta thấy được, ở Cương lĩnh chỉ đề ra chủ trương thâu hết ruộng đấtcủa đế quốc chủ nghĩa chứ không đề ra chủ trương tịch thu ruộng đất của phong kiến Qua

đó cho ta thấy được Cương lĩnh đã đặt cuộc cách mạng tư sản dân quyền ra khỏi cáchmạng tư sản dân quyền, chỉ chống phong kiến về mặt chính trị, không chống phong kiến

về mặt kinh tế Còn đối với bọn thực dân xâm lược, Cương lĩnh đã nêu rõ cần chốngchúng ở cả mặt kinh tế lẫn chính trị

Những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam về phương diện xã hội và phương diệnkinh tế nêu trên vừa phản ánh đúng tình hình kinh tế, xã hội cần được giải quyết ở ViệtNam, vừa thể hiện tính cách mạng, toàn diện, triệt để là xóa bỏ tận gốc ách thống trị, bóclột hà khắc của ngoại bang, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xãhội, đặc biệt là giải phóng cho hai giai cấp công nhân và nông dân

Xác định lực lượng cách mạng: phải đoàn kết công nhân, nông dân - đây là lực

lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời chủ trương đoàn kết tất cảcác giai cấp, các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai Dovậy, Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình phải thu phục cho đượcđại bộ phận dân cày, hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông để kéo họ đivào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam

mà chưa rõ mặt phản c.m thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập”1 Đây là

cơ sở của tư tưởng chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết rộngrãi các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và các tổ chức yêu nước, cách mạng, trên

cơ sở đánh giá đúng đắn thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.4

Trang 25

Về phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, Cương lĩnh khẳng định

phải bằng con đường bạo lực cách mạng của quần chúng, trong bất cứ hoàn cảnh nàocũng không được thỏa hiệp, “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà

đi vào đường thỏa hiệp”1 Có sách lược dấu tranh cách mạng thích hợp để lôi kéo tiểu tưsản, trí thức, trung nông về phía giai cấp vô sản, nhưng kiên quyết: “bộ phận nào đã ramặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ”2

Xác định tinh thần đoàn kết quốc tế, Cương lĩnh chỉ rõ: trong khi thực hiện nhiệm

vụ giải phóng dân tộc, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức

và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp Cương lĩnh nêu rõ cách mạngViệt Nam liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới: “trong khituyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hànhliên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”3 Như vậy, ngay từ khi thànhlập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao chủ nghĩa quốc tế và mang bản chất quốc tế củagiai cấp công nhân

Xác định vai trò lãnh đạo của Đảng: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp

phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạođược dân chúng”4 “Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản gồm một số lớn của giaicấp công nhân và làm cho họ có đủ năng lực lãnh đạo quần chúng”5

Nhận xét: Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã chỉ rõ những mâu thuẫn cơ

bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là việc đánh giá đúng đắn, sát thực thái độcác giai tầng xã hội đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc Từ đó, văn kiện đã xác địnhđường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác định phương

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật , Hà Nội, tr.3.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật , Hà Nội, tr.3.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia – sự thật , Hà Nội, tr.3.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.4.

5 Đảng Cộng sản Việt Nam (200), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.6.

Trang 26

pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lốichiến lược và sách lược đã đề ra Từ đây đã phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơbản của cách mạng Việt Nam; thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trongviệc đánh giá đặc điểm, tính chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam trong nhữngnăm 20 của thế kỷ XX.

TIẾU KẾT CHƯƠNG 1

Từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có sự biến đổi rất quan trọng cả

về chính trị, kinh tế, xã hội Với chính sách cai trị và khai thác, bóc lột của thực dân Pháp

đã làm phân hóa những giai cấp (địa chủ, nông dân), đồng thời hình thành giai cấp, tầnglớp mới (công nhân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản) với thái độ chính trị khác nhau Tính chấtViệt Nam từ xã hội phong kiến thuần túy chuyển biến thành xã hội thuộc địa, nửa phongkiến Với hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là giữa nông dân và địachủ phong kiến; với toàn thể dân tộc Việt Nam và để quốc Pháp Thực tiễn đã đặt ra yêucầu cho đất nước Việt Nam là phải đánh đuổi được bọn thực dân xâm lược Pháp, giànhđộc lập tự do cho dân tộc; và xóa bỏ chế độ phong kiến giành quyền dân chủ cho nhândân, chủ yếu là vấn đề ruộng đất Trong đó nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lànhiệm vụ hàng đầu Trước hoàn cảnh đó, hàng loạt các phong trào yêu nước theo khuynhhướng chính trị phong kiến và tư sản từ cuối thế kỷ XIX đến đầu năm 1930 đã diễn ranhưng đều thất bại Từ đó đặt ra những yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam làphải phải tìm một con đường cứu nước mới Trước yêu cầu cấp thiết giải phóng dân tộccủa nhân dân Việt Nam, với nhiệt huyết cứu nước, với nhãn quan chính trị sắc bén, vượtlên trên hạn chế của các bậc yêu nước đương thời, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìmđường cứu nước, giải phóng dân tộc Sau khi xác định được con đường cách mạng theokhuynh hướng vô sản, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục khảo sát, tìm hiểu để hoàn thiện nhậnthức về đường lối cách mạng vô sản, để đất nước ta tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa

Trang 27

Sự ra đời ba tổ chức cộng sản trên cả nước diễn ra nửa cuối năm 1929 đã khẳngđịnh bước phát triển về chất của phong trào yêu nước Việt Nam theo khuynh hướng cáchmạng vô sản, phù hợp với xu thế và nhu cầu bức thiết của lịch sử Việt Nam Tuy nhiên,

sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở ba miền đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng sản, kêu gọiQuốc tế Cộng sản thừa nhận tổ chức của mình và đều tự nhận là đảng cách mạng chânchính, không tránh khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thông nhất về tổ chức trên cảnước

Như vậy, trước yêu cầu của lịch sử, cách mạng Việt Nam cần phải thống nhất các

tổ chức cộng sản trong nước, chấm dứt sự chia rẽ bất lợi cho cách mạng với uy tín chínhtrị và phương thức hợp nhất phù hợp, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời triệu tập và chủ trì hợpnhất các tổ chức cộng sản Những văn kiện được thông qua trong Hội nghị hợp nhất dù

“vắt tắt”, nhưng đã phản ánh những vấn đề cơ bản trước mắt và lâu dài cho cách mạngViệt Nam, đưa cách mạng Việt Nam sang một trang sử mới Hội nghị hợp nhất được xemnhư là đại hội đầu tiên của Đảng đã thông qua các chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt,điều lệ tóm tắt của Đảng Đó là các văn kiện của Cương lĩnh cách mạng đầu tiên củaĐảng cộng sản Việt Nam Sự ra đời của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã xác định nhữngvấn đề cơ bản về chiến học và sách lược của cách mạng Việt Nam Từ đó, văn kiện đã xácđịnh đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, đồng thời xác địnhphương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiệnđường lối chiến lược và sách lược đã đề ra

Trang 28

Chương 2

LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG

GIẢI PHÓNG DÂN TỘC (1930 - 1945) 2.1 Luận cương chính trị

2.1.1 Bối cảnh ra đời Luận cương chính trị

Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua Hội nghị thành lập Đảng xác địnhnhiều nội dung quan trọng, phù hợp với đặc điểm và thực trạng Việt Nam lúc bấy giờ, đó

là một quốc gia với xã hội thuộc địa tàn dư phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Namtrong đó có công nhân và nông dân với đế quốc ngày càng gay gắt cần phải giải quyết, điđến xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam là “chủ trương là chủ nghĩadân quyền cách mạng thổ địa và cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”1 Như vậy, Cươnglĩnh đã đưa ra rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù của cách mạng vô

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.2.

Trang 29

sản Với nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là đánh đổ là đế quốc, giành quyền độc lập cho dântộc, phát huy dân chủ Trong đó, Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã nêu rõ ra nhiệm vụ cấpbách lúc bây giờ là chống đế quốc về mặt chính trị lẫn kinh tế, chỉ chống phong kiến vềmặt chính trị là phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam lúc bấy giờ

Tuy nhiên, những quan điểm đúng đắn của Cương lĩnh lại chưa được Quốc tếCộng sản công nhận Quốc tế Cộng sản đã cho rằng mâu thuẫn chủ yếu của nước ta cũnggiống như mâu thuẫn giữa các nước phương Tây – đã trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa

là mối quan hệ giữa địa chủ và nông dân vô cùng gay gắt, không thể điều hòa về mặt lợiích, giai cấp tư sản là giai cấp bóc lột công nhân cho nên đối tượng chính cần được đánh

đổ là địa chủ, tư bản và đế quốc Vì thế đã tạo ra chia rẽ trong lực lượng cách mạng Bêncạnh đó, ruộng đất là tài sản là quý giá của nông dân, cho nên Quốc tế Cộng sản cho rằngnên thực hiện thổ địa cách mạng cùng lúc với cách mạng tư sản dân quyền, không nêntách rời ra thành từng giai đoạn rồi giải quyết Đồng thời, nhiệm vụ chống đế quốc là trêntoàn Đông Dương, cho nên họ chỉ công nhận một Đảng duy nhất tại Đông Dương, đóchính là Đảng Cộng sản Đông Dương Sau khi đánh đổ đế quốc và giành được độc lập thìtiến hành chính phủ liên bang Đông Dương mà không phải là chính phủ riêng lẻ cho từngquốc gia Tuy đây là một văn kiện đúng đắn với thực trạng hiện tại, nhưng nó trái vớiquan điểm của Quốc tế Cộng sản

Trước tình thế ấy, tháng 4/1930, theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Trần Phúđược cử từ Liên xô về nước Tháng 7/1930, Trần Phú được bầu vào Ban chấp hành Trungương lâm thời và được giao nhiệm vụ cùng với một số đồng chí soạn thảo Luận cươngchuẩn bị cho hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Tuân theo kim chỉ nam của Quốc

tế Cộng sản, từ ngày 14-30/10/1930, Hội nghị ban chấp hành Trung ương họp lần thứ 1tại Hương Cảng (Trung Quốc) do Trần Phú chủ trì Hội nghị đã thông qua nghị quyết vềtình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, thảo luận Luận cương chính trị của Đảng, điều lệĐảng và điều lệ các tổ chức quần chúng

Trang 30

2.1.2 Nội dung của Luận cương chính trị

Thứ nhất, Luận cương xác định mâu thuẫn cơ bản của 3 nước Đông Dương là mâu

thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổvới một bên là địa chủ phong kiến, tư bản và đế quốc Tuy nhiên, nó đã không nêu rõ mâuthuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam, tuy rằng nông dân có mâu thuẫn với địa chủ phongkiến nhưng đó là mối quan hệ lâu dài và không gay gắt có thể điều hòa được, còn tất cảcác tầng lớp dân tộc Việt Nam đều mâu thuẫn với thực dân Pháp, khi có giặc xâm lược họsẵn sàng đứng lên đấu tranh bỏ qua lợi ích cá nhân vì vấn đề dân tộc; đồng thời xếp giaicấp tư sản cùng đế quốc, chỉ một bộ phận nhỏ phản quốc chứ không phải tất cả tư sản đềuphản quốc, tư sản vẫn có mâu thuẫn với thực dân về vấn đề dân tộc

Thứ hai, phương hướng chiến lược cách mạng: là cuộc cách mạng tư sản dân

quyền, có tính chất thổ địa và phản đế quốc, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tưbản mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa Ta có thể thấy rằng, trong Luậncương đã xác định cách mạng Đông Dương được chia làm hai giai đoạn rõ ràng Giaiđoạn thứ nhất là tiến hành cuộc cách mạng tư sản dân quyền cùng lúc với thổ địa cáchmạng theo đúng như Quốc tế Cộng sản, giai đoạn thứ hai là sau khi tiến hành thành cônggiai đoạn thứ nhất sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa mà tiến tới cáchmạng xã hội chủ nghĩa

So với Cương lĩnh, ta thấy rằng cả hai đều xác định con đường để tiến hành cáchmạng là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng, sau đó bỏ qua chế độ tư bản

mà tiến lên xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, ở Cương lĩnh lại chia ra làm ba giai đoạn rõ ràng,

mà ở đó thổ địa cách mạng là được đặt ra khỏi cuộc cách mạng tư sản dân quyền Do xuấtphát từ thực tiễn xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, Cương lĩnh đã xác định được rằng giữa vấn

đề quốc gia và ruộng đất thì vấn đề dân tộc vẫn quan trọng hơn Bằng chứng cho thấyrằng, giữa giai cấp nông dân và địa chủ tuy có mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn hoàn toàn cóthể gác lại và tất cả các tầng lớp cùng chung tay chống giặc ngoại xâm, có rất nhiều minhchứng trong quá khứ đã cho thấy điều này Vì thế ở Cương lĩnh đã xác định rõ ràng rằngphương hướng của chiến lược nên chia rõ ràng làm ba giai đoạn, với giai đoạn đầu tiên

Trang 31

cấp bách chính là đánh đổ đế quốc sau đó mới tiến hành giải quyết vấn đề ruộng đất vàsau đó tiến tới xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, do nhận thức không đúng về thực tiễn tìnhhình Việt Nam, và tuân theo Quốc tế Cộng sản nên lúc này Cương lĩnh đã xác định rằngnên tiến hành cách mạng tư sản dân quyền cùng lúc với thổ địa và phản đế quốc sau đótiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, nhiệm vụ cách mạng: Tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh

đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bản và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để.Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụnày có quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau Trong đó, vấn đề thổ địa cách mạng

là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền

Trong cả Cương lĩnh và Luận cương đều xác định rõ hai nhiệm vụ đánh đổ đế quốcPháp và đánh đổ phong kiến Tuy nhiên trong Cương lĩnh đã xác định đúng hơn về thựctrạng Việt Nam lúc bấy giờ, kẻ thù nguy hiểm cần tập trung đánh đổ lúc bấy giờ là bọnthực dân xâm lược, sau đó mới tiến hành xóa bỏ quyền thống trị của phong kiến Chúng taphải chống đế quốc về mặt kinh tế lẫn chíng trị, trong đó chỉ chống phong kiến về mặtchính trị Trong khi đó, phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn suy yếu không thực sự cóquyền thống trị về mặt chính trị Còn với bản Luận cương chính trị đã đặt nhiệm vụ đánh

đổ phong kiến là nhiệm vụ quan trọng hơn, sau đó là tiến hành cách mạng ruộng đất triệt

để, giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tưsản dân quyền Điều này đã xác định rằng, ở bản Luận cương chính trị đã đặt vấn đềruộng đất quan trọng hơn cả vấn đề dân tộc, nhưng cũng vô tình đẩy một bộ phận phongkiến yêu nước có tinh thần cách mạng ra khỏi khối đại đoàn kết dân tộc, trong khi khôngphải tất cả các tầng lớp phong kiến đều phản cách mạng (xem thêm phụ lục 1)

Với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, Cương lĩnh đã xác định rõ ràng rằng đánh để đếquốc Pháp để nước Việt Nam hoàn toàn độc lập Ở bản Luận cương này, đã xác định rõnhiệmh vụ đánh đổ đế quốc Pháp sau đó tiến tới toàn thể Đông Dương hoàn toàn độc lập.Đây cũng là một hạn chế trong Luận cương, vì để toàn Đông Dương được độc lập thìphạm vi cuộc khởi nghĩa rất lớn, không khai thác được quyền tự quyết của từng dân tộc

Trang 32

Đồng thời phạm vi quá lớn sẽ dẫn tới lực lượng bị phân tán, không thể tập trung được tốtnhất để có thể đi tới thắng lợi.

Thứ tư, lực lượng cách mạng: Giai cấp vô sản và nông dân là lao động chính.

Trong đó giai cấp vô sản là động lực chính và mạnh Giai cấp tư sản như tư sản thươngnghiệp, tư sản công nghiệp thì lại bị cho rằng đứng về phía phe đế quốc, cần nên đánh đổ.Giai cấp tiểu tư sản: đối với những thủ công nghiệp có thái độ do dự, hoặc những tiểu tưsản thương gia không tán thành cách mạng hay những tiểu tư sản tri thức chỉ hăng háitham gia chống đế quốc thời kỳ đầu thì không nên tham gia vào lực lượng cách mạng

Điểm chung của Cương lĩnh và Luận cương đã nêu lên rằng tầng lớp đông đảo và

bị áp bức bóc lột nặng nề nhất chính là công nhân và nông dân chính là lực lượng cáchmạng chính Nhưng ở Cương lĩnh đã nêu lên rằng đối với những tầng lớp như tiểu tư sản,trí thức, trung nông,…thì nên lôi kéo họ vào phe vô sản; còn với những giai cấp chưa rõmặt phản cách mạng thì ít nhất nên lợi dụng làm cho họ về phe trung lập, hạn chế hết nhất

có thể họ theo phe để quốc Còn với Luận cương thì cho ràng chỉ có giai cấp mới đượctham gia vào thành phần cách mạng, còn lại tất cả các giai cấp còn lại đều theo phe đếquốc, không thì có thái độ do dự hoặc chỉ tham gia hăng hái ngay ban đầu thì không nêntham gia vào lực lượng cách mạng

Thứ năm, lãnh đạo cách mạng: Đảng cộng sản lãnh đạo là điều kiện cốt yếu cho

thắng lợi của cách mạng Đông Dương Đảng là đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp

vô sản ở Đông Dương, đấu tranh để đạt mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản Vì thếcần có “Đảng Cộng sản có một đường chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liênlạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành”1

Thứ sáu, phương pháp cách mạng: sử dụng bạo lực cách mạng, xem võ trang bạo

động để giành chính quyền là một nghệ thuật, phải tuân theo khuôn pháp nhà binh Tuyệt

gia sự thật, Hà Nội, tr 76,77.

Trang 33

đối không được nhượng bộ mà đi vào con đường thỏa hiệp bán đứng lợi ích của côngnông

Thứ bảy, quan hệ với cách mạng thế giới: Là một bộ phận của cách mạng thế giới.

Giai cấp vô sản Đông Dương phải gắn bó đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới, trước hết

là giai cấp vô sản Pháp

Nhận xét: Luận cương chính trị 10/1930 ra đời đã có những ưu điểm nổi bật,

khẳng định lại tính đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên 2/1930 như: xác địnhphương hướng chiến lược của cách mạng là đánh đổ đế quốc, đi lên con đường xã hội chủnghĩa Xác định đúng thực tiễn hiện trạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chính là đánh đổ đếquốc và phong kiến, trong đó chống đế quốc về cả kinh tế lẫn chính trị Xác định đúng lựclượng chính của cuộc cách mạng là giai cấp nông dân và công nhân Xác định đúngphương thức cách mạng chính là bạo lực cách mạng, không sử dụng các biện pháp hòahoãn để tiến hành cách mạng triệt để Quan hệ với cách mạng thế giới: là một bộ phận củacách mạng thế giới, gắn bó đoàn kết với giai cấp vô sản thế giới

Tuy nhiên, Luận cương cũng có một số nhược điểm như: không xác định rõ mâuthuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam, dẫn tới việc không đoàn kết được tất cả các tầng lớptrong xã hội tham gia kháng chiến, đồng thời đặt vấn đề thổ địa lên hàng đầu và khôngtách rời với nhiệm vụ đánh đổ đế quốc, chưa xác định rõ được nhiệm vụ cấp thiết trướcmắt Và cuối cùng là giải quyết vấn đề ở phạm vi quá rộng - trên toàn Đông Dương.Không khai thác được quyền tự quyết của từng dân tộc cũng như làm lực lượng bị phântán

Do còn hạn chế trong đánh giá thực tiễn của xã hội thuộc địa với những tàn tíchphong kiến còn nặng nề ở Việt Nam, ảnh hưởng hưởng bởi những nhận thức không đúng

về các nước thuộc địa ở phương Đông của Quốc tế Cộng sản, nên Hội nghị lần thứ nhấtcủa Đảng đã không thừa nhận những quan điểm đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầutiên, thậm chí phê bình gay gắt những quan điểm của Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Namcách mạng Thanh niên tại Hội nghị thành lập Đảng, đồng thời ra Án nghị quyết thủ tiêu

Trang 34

Cương lĩnh chính trị đầu tiên Đây là quyết định không đúng của Đảng lúc bấy giờ Hạnchế này của Đảng cần có thời gian khắc phục.

2.2 Sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945

2.2.1 Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939

Tình hình thế giới: Đầu tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cụ thể

là ngày 1/9/1939, Đức tấn công Ba Lan Anh và Pháp tuyên chiến với Đức Sau khi Pháptham gia chiến tranh, chính phủ Pháp đàn áp lực lượng dân chủ trong nước và phong tràocách mạng ở các nước thuộc địa Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ, Đảng Cộng sản Pháp bịđặt ra ngoài vòng pháp luật Ở Đông Dương, bộ máy đàn áp được tăng cường, lệnh thiếtlập quân luật được ban bố Ngày 28/9/1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấmtuyên truyền cộng sản, đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải táncác hội, đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập nơi đông người,

Tình hình Việt Nam: Do tham dự vào Chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền

Pháp thực thi chính sách thời chiến một cách thô bạo ở Đông Dương Là thuộc địa đemlại lợi ích kinh tế hàng đầu cho Pháp, trong chiến tranh, Đông Dương càng bị thực dânPháp bóc lột ghê gớm Chúng thực hiện chính sách kinh tế thời chiến, phát xít hóa bộ máythống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng; thực hiện chính sách tăng cường vơ vétsức người, sức của để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc Ngay sau khi Chiến tranh thếgiới thứ hai diễn ra, Đảng kịp thời rút vào hoạt động bí mất, chuyển trọng tâm công tác vềnông thôn, đồng thời chú trọng các đô thị

Nội dung Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 11/1939

Thứ nhất, nhiệm vụ cách mạng: Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu ở Đông

Dương lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương, hội nghị xác địnhmục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai,giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hội nghị

Trang 35

chủ trương tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất”, thay bằng khẩu hiệu chống địa tôcao, chống cho vay nặng lãi, tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội dân tộcchia cho dân cày Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đếĐông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ Đông Dương nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và taysai, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương.

Hội nghị tháng 11/1939 tiếp tục khẳng định lại tính đúng đắn của Cương lĩnh chínhtrị đầu tiên khi nhận định rõ mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa đế quốc và toàn thể dântộc bị áp bức bóc lột Đứng trước lợi ích của dân tộc và lợi ích của cá nhân, Hội nghị đãnhận định rõ rằng là vấn đề ruộng đất tuy quan trọng nhưng vấn đề dân tộc vẫn quan trọnghơn, khi đã đánh đổ được đế quốc xâm lược thì vấn đề ruộng đất cũng sẽ được giải quyết.Đồng thời trong Hội nghị này đã bổ sung một điểm quan trọng so với Cương lĩnh, đóchính là tịch thu ruộng đất địa chủ phản bội dân tộc chia cho dân cày Đây là điểm bổsung hoàn chỉnh và rất phù hợp với tình hình hiện tại bấy giờ của xã hội Vì trong Cươnglĩnh chỉ xác định tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công và chia chongười nghèo không đề ra chủ trương tịch thu ruộng đất của phong kiến, tuy nhất khôngphải tất cả ruộng đất đều tập trung trong tay đế quốc Chúng sử dụng một bộ phận phảncách mạng để tiến hành vơ vét sứa người sức của, nhận thấy được thực tiễn lúc bấy giờHội nghị tháng 11/1939 đã bổ sung là tịch thu ruộng đất địa chủ phản bội dân tộc, đây làđiểm mới và đã bổ sung so với Cương lĩnh

Thứ hai, lực lượng cách mạng: Liên minh công- nông là "hai lực lượng chính của

cách mạng" để đoàn kết tất cả các giai cấp các đảng phái, các dân tộc và cá nhân yêu nước

ở Đông Dương nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai

Ở Hội nghị tháng 11/1939 vẫn khẳng định lại lực lượng chính của cuộc cách mạng này làcông nhân và nông dân, và khẳng định rằng chỉ cần là các cá nhân yêu nước đều có thểtham gia, không phân biệt giai cấp đảng phái, chỉ trừ những những phần tử phản quốc thìđều có thể tham gia vào lực lượng cuộc cách mạng này Đây là quan điểm đúng đắn vàkhẳng định được tính đúng đắn của Cương lĩnh

Ngày đăng: 17/08/2022, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Giáo dục và đào tạo (2005), Giáo trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2005
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, "Gửi các tổ chức Đảng," in Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, pp. 73-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gửi các tổ chức Đảng
Nhà XB: NXBChính trị Quốc gia
[7] Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, tr.699-701, NXB Chính trị Quốc gia, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
[9] Lịch sử 80 năm ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010), Nhà xuất bản chính trị- sự thật, trang 198-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 80 năm ngành Tuyên giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010)
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị- sự thật
[10] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, nguồn bài viết: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-ii/chinh-cuong-dang-lao-dong-viet-nam-1448, truy cập ngày 05/07/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính cương Đảng Lao động Việt Nam
Tác giả: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2018
[11] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), nguồn bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
Nhà XB: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2018
[13] Sự kiện và nhân chứng (2021), Kẻ "nối giáo" cho quân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, nguồn bài viết: https://sknc.qdnd.vn/ho-so-tu-lieu/ke-noi-giao-cho-quan-phap-tro-lai-xam-luoc-viet-nam-502355 , truy cập ngày 05/07/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kẻ "nối giáo" cho quân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam
Năm: 2021
[15] Nguyễn Thị Tâm (2019), Cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam 1939-1945, nguồn bài viết: https://www.laocai.gov.vn/1299/31180/65534/362910/chuyen-de/cuoc-van-dong-giai-phong-dan-toc-viet-nam-1939-1945-hoc-ki-ii-nam-hoc-2018-2019-nguyen-thi-tam, truy cập ngày 05/07/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam 1939-1945
Tác giả: Nguyễn Thị Tâm
Năm: 2019
[12] Khám phá các nước trên thế giới, Bản đồ chính trị thế giới trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nguồn bài viết: https://cacnuoc.vn/tin/ban-chinh-tri-gioi-trong-va-sau-chien-tranh-gioi-thu-hai/ , truy cập ngày 05/07/2022 Link
[2] Bộ Giáo dục và đào tạo (2021), Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội Khác
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Đảng toàn tập – tập 5 – 1935, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
[6] ] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập – tập 12 – 1951, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
[8] Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, tr.663-667, NXB Chính trị Quốc gia, 2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w