1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập cá NHÂN môn KINH tế QUỐC tế đề bài tác động của COVID 19 đến kinh tế estonia và giải pháp với việt nam

38 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 538,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính tất yếu của việc lựa chọn đề tài (0)
  • 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu khác (0)
  • 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu (9)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (9)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID – 19 (10)
    • 1.1. DIỄN BIẾN CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 TRÊN THẾ GIỚI (10)
    • 1.2. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN KINH TẾ THẾ GIỚI (12)
      • 1.2.1. Về phía cung (12)
      • 1.2.2. Về phía cầu (13)
      • 1.2.3. Tác động của đại dịch COVID – 19 đến các nền kinh tế lớn trên thế giới (13)
        • 1.2.3.1. Tác động của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế Hoa Kỳ (13)
        • 1.2.3.2. Tác động của đại dịch COVID – 19 đối với nền kinh tế Châu Âu (15)
        • 1.2.3.3. Tác động của đại dịch COVID – 19 đến nền kinh tế Trung Quốc (17)
  • CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN NỀN KINH TẾ ESTONIA (18)
    • 2.1.1. Đất nước Estonia............................................................................................... 13 2.1.2. Nền kinh tế Estonia (18)
    • 2.2. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN NỀN KINH TẾ ESTONIA (19)
      • 2.2.1. Nền kinh tế Estonia giai đoạn trước đại dịch COVID – 19 (19)
      • 2.2.2. Tác động của đại dịch COVID – 19 đến nền kinh tế Estonia… (19)
      • 2.2.3. Các phản ứng chính sách của Estonia đối với đại dịch COVID – 19 (0)
  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM (24)
    • 3.1. NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID – 19 (24)
    • 3.2. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM (28)
    • 3.3. GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM (29)
      • 3.3.1. Định hướng chính sách (29)
        • 3.3.2.1. Chính sách tài khoá (30)
        • 3.3.2.2. Chính sách tiền tệ (30)
        • 3.3.2.3. Một số giải pháp dài hạn (31)
  • KẾT LUẬN (33)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (34)

Nội dung

Các quốc gia trên toàn cầu đang ngày càngthực hiện các biện pháp y tế công cộng nghiêm ngặt để ứng phó vớidịch bệnh.Đại dịch COVID – 19 đang càn quét khốc liệt trên toànthế giới, tác độn

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích thực trạng kinh tế toàn cầu và những tác động của đại dịch COVID-19, đồng thời xem xét Estonia như một trường hợp điển hình để rút ra bài học cho Việt Nam Bài viết đánh giá mức độ suy giảm, xu hướng phục hồi và các yếu tố liên quan như chuỗi cung ứng, thương mại và đầu tư trong bối cảnh hậu đại dịch Từ kinh nghiệm của Estonia, rút ra các bài học về quản lý khủng hoảng, chuyển đổi số và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế Trên cơ sở so sánh, đề xuất các giải pháp nhằm phục hồi và hỗ trợ nền kinh tế Việt Nam, bao gồm chính sách tài khóa và tiền tệ phù hợp, cải cách thể chế, tăng cường thương mại và đầu tư, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, kỹ năng số và chuyển đổi số, cũng như đầu tư cho phát triển kinh tế xanh và bền vững.

3.2 Nhiệm vụ Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Thứ nhất, làm rõ bối cảnh quốc tế, tác động của COVID-19 đến kinh tế thế giới.

Đánh giá diễn biến kinh tế Estonia trong quá trình đại dịch COVID-19 cho thấy cả dấu hiệu phục hồi và những thách thức nội tại Bài viết phân tích các tác động tích cực của các biện pháp vĩ mô Estonia đã thực hiện để đối phó với COVID-19, đặc biệt là chính sách tài khóa và tiền tệ Đồng thời nêu rõ những tồn tại và hạn chế của các chính sách này, nhằm làm rõ hiệu quả cũng như giới hạn của chiến lược ứng phó kinh tế trong bối cảnh đại dịch và hướng tới ổn định kinh tế Estonia về dài hạn.

Thứ ba, đề xuất định hướng và giải pháp về kinh tế đối phó với đại dịch COVID – 19 tại Việt Nam.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng: Tác động của đại dịch COVID – 19 đối với nền kinh tế

4.2 Phạm vi: Tác động của đại dịch COVID -19 đến kinh tế Estonia và giải pháp với Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu

Do giới hạn về phạm vi không gian và thời gian, các phân tích và đánh giá được thực hiện bằng cách tiếp cận tổng hợp và mô tả thống kê Đồng thời, phân tích thông tin và dữ liệu từ các nguồn báo cáo và nghiên cứu có sẵn ở trong nước và nước ngoài nhằm giải quyết vấn đề đã đặt ra.

Số liệu được thu thập từ các nguồn chính thống của Việt Nam, bao gồm Tổng cục Thống kê (TCTK), Bộ Tài chính (BTC), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Những nguồn này cung cấp dữ liệu kinh tế - xã hội đáng tin cậy, phục vụ cho phân tích sâu về tăng trưởng, ngân sách, tiền tệ và thị trường lao động Việc tham chiếu từ TCTK, NHNN, BTC, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giúp đảm bảo tính chính xác, minh bạch và phù hợp với chuẩn mực báo cáo của Việt Nam, từ đó nâng cao độ tin cậy của người đọc và tối ưu hóa hiệu quả SEO cho các từ khóa liên quan đến nguồn dữ liệu chính thống Việt Nam.

Xã hội,…) và các tổ chức quốc tế (Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Ngân hàng Thế giới (WB),…)

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết thúc, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được trình bày trong 3 chương:

TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID – 19

DIỄN BIẾN CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 TRÊN THẾ GIỚI

Đại dịch COVID-19 trên thế giới hiện nay được gây ra bởi SARS-CoV-2, một loại virus có khả năng lây nhiễm cao và gây bệnh đường hô hấp nghiêm trọng Ca lây nhiễm đầu tiên được xác định tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc vào tháng 12 năm 2019, mở đầu cho cuộc đại dịch toàn cầu Từ đó, SARS-CoV-2 đã lây lan trên quy mô lớn, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của hàng triệu người, đồng thời thúc đẩy các nỗ lực y tế, nghiên cứu vaccine và các biện pháp dự phòng như đeo khẩu trang, rửa tay và tiêm chủng để kiểm soát sự lây lan.

Vào ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức ghi nhận dịch này là đại dịch toàn cầu Tính đến 17h ngày 30/3/2020, dịch đã lan ra gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 735.000 ca nhiễm và hơn 34.000 người tử vong, trong khi Mỹ trở thành vùng dịch lớn nhất thế giới với tổng số mắc trên 140.000 ca.

Covid-19 và hơn 2.000 trường hợp tử vong, trong đó, thành phố New York có số ca tử vong nhiều nhất nước Mỹ với hơn 700 ca chiếm khoảng 1/3 nước Mỹ.

Hiện nay, WHO xếp 4 biến thể SARS-CoV-2 vào nhóm đáng quan ngại là Alpha, Beta, Gamma và Delta, được phát hiện lần đầu tại Anh, Nam Phi, Brazil và Ấn Độ Trong số này, biến thể Delta được đánh giá là nguy hiểm nhất và là chủng lây nhiễm thống trị trên toàn cầu nhờ khả năng lây lan cao.

Hình 1.1 Diễn biến số ca nhiễm COVID – 19 tại một số nước

Tính đến ngày 3 tháng 9 năm 2021, trên thế giới đã có 218.946.836 trường hợp xác nhận của COVID-19, trong đó có 4.539.723 trường hợp tử vong Tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2021 , có tổng số5.289.724.918 liều vắc xin đã được tiêm (theo báo cáo của WHO).Tại Estonia, ngày 15 tháng 12 năm 2021 có 230.524 ca nhiễm và1.870 ca tử vong.

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN KINH TẾ THẾ GIỚI

Đại dịch COVID-19 trên toàn cầu đang ở mức báo động và khiến các nước áp dụng biện pháp cách ly, giãn cách xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sản xuất do thiếu nguồn lao động; điều này đặc biệt nghiêm trọng với các hoạt động sản xuất dựa trên chuỗi cung ứng toàn cầu, khi sự phụ thuộc lẫn nhau về nguồn cung, sản xuất và phân phối trên phạm vi quốc tế khiến chuỗi cung ứng bị đứt gãy Việc đóng cửa biên giới ở một số nước để ngăn chặn lây lan dịch bệnh đã làm gián đoạn nguồn cung đầu vào và tác động tiêu cực đến sản xuất tại nhiều quốc gia Tradeshift – nền tảng quản lý chuỗi cung ứng toàn cầu – cho biết mức độ ảnh hưởng lớn của đại dịch đối với thương mại và nhu cầu; cụ thể, Trung Quốc đã giảm 56% thương mại nội địa và quốc tế kể từ giữa tháng 2/2021, trong khi Mỹ, Anh và châu Âu ghi nhận mức giảm 26% vào đầu tháng 4 và tiếp tục giảm 17% vào cuối tháng 4 Tại các vùng tâm dịch, nhiều nước đóng cửa các hoạt động không thiết yếu, hạn chế đi lại và thực hiện giãn cách xã hội tối đa, khiến nhiều hoạt động sản xuất ngừng trệ và có thể dẫn đến đóng cửa doanh nghiệp do ngân sách eo hẹp và thiếu nguồn lao động trầm trọng Mặc dù gây thiệt hại nghiêm trọng cho phía cung, các tác động bất lợi này được dự báo sẽ sớm dịu đi khi tình hình dịch bệnh được kiểm soát ở các quốc gia.

1.2.2 Về phía cầu Ảnh hưởng của đại dịch COVID – 19 tới phía cầu của nền kinh tế rất khó dự đoán do sự phụ thuộc của nó vào nhiều yếu tố như thu nhập của người tiêu dùng, tâm lý, thị hiếu của người tiêu dùng, kỳ vọng thị trường… mà những yếu tố này hầu hết đều bị tác động tiêu cực bởi đại dịch COVID – 19 Các biện pháp cách ly, giãn cách xã hội của các quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến phía cầu Khi người dân được khuyến cáo nên hạn chế ra ngoài, lượng người mua hàng tại các của hàng và trung tâm thương mại cũng từ đó mà giảm, mặc dù các hoạt động thương mại điện tử có thể khắc phục được một phần nào đó của hiện tượng trên, những những ảnh hưởng của việc giãn cách xã hội đến nhu cầu là rất lớn Không chỉ vậy, các hoạt động sản xuất bị ngưng trệ, các doanh nghiệp tạm dừng hoạt động dẫn đến việc người lao động bị mất việc làm dẫn đến sự mất mát trong thu nhập làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm Ngoài ra, đại dịch COVID – 19 còn ảnh hưởng đến tâm lý của người tiêu dùng một cách tiêu cực, khiến cho họ có xu hướng trì hoãn tiêu dùng và đầu tư.

1.2.3 Tác động của đại dịch COVID – 19 đến các nền kinh tế lớn trên thế giới

1.2.3.1 Tác động của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế Hoa Kỳ Theo các báo cáo kinh tế quý I năm 2020 của Hoa Kỳ, tác động của COVID-19 và các biện pháp ngăn chặn đã được nhìn thấy trong ước tính cuối cùng cho quý đầu tiên của năm 2020 (giảm 5%) và về số lượng việc làm và sản lượng của nhà máy Ước tính trước về tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý II cho thấy mức giảm32,9% Đại dịch đã dẫn đến việc các công ty phá sản, suy giảm đầu tư tư nhân, giảm khả năng tích hợp vào chuỗi giá trị và xói mòn khả năng sản xuất và nguồn nhân lực Khoảng thời gian tạo việc làm dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, 113 tháng liên tiếp, đã đột ngột dừng lại vào tháng 3/2020, khi 870.000 việc làm bị mất do hậu quả của đại dịch Vào tháng 4/2020, nền kinh tế Hoa Kỳ đã mất gần 21 triệu việc làm, cho đến nay là mức giảm lớn nhất trong kỷ lục và hơn gấp đôi mức thiệt hại tích lũy trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 Tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên 14,7%, tăng từ 4,4% vào tháng 3/2020 và mức thấp nhất trong 50 năm là 3,5%, theo cơ sở dữ liệu từ Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ (BLS) Đại dịch COVID-19 đã gây ra một cú sốc nghiêm trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu Tại Hoa Kỳ, thị trường chứng khoán đã công bố vào tháng 3/2020 những khoản lỗ tồi tệ nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008–2009 Các diễn biến của COVID-19, mâu thuẫn với Trung Quốc theo chiều hướng tốt hơn trong Quý 3/2020 cùng kì vọng vào việc sản xuất vắc-xin COVID giúp cải thiện niềm tin kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất tại Hoa Kỳ trong quý Tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ cũng đã giảm xuống còn 6,7% vào tháng 12/2020, cải thiện rất nhiều so với con số 14,7% của tháng 3/2020 Phản ứng chính sách kinh tế của Hoa Kỳ Chính sách tiền tệ Ủy ban Thị trường Mở Liên bang của Cục Dự trữ Liên bang (FOMC), cơ quan thiết lập chính sách tiền tệ quốc gia, đã tổ chức hai cuộc họp đột xuất vào ngày 3/3/2020 và ngày 15/3/2020 đã thống nhất việc cắt giảm lãi suất khẩn cấp lần lượt là 0,5% và 1% Vì vậy, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đã giảm lãi xuất xuống mức 0–0,25% vào tháng 3/2020 và dự dịnh giữ nguyên mức lãi suất này đến hết năm 2022 Ngoài ra, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) bắt đầu lại chương trình nới lỏng định lượng của mình vào ngày 15/3/2020, thông báo rằng họ sẽ tăng lượng nắm giữ chứng khoán kho bạc lên ít nhất 500 tỷ đô la Mỹ và nắm giữ chứng khoán được bảo đảm bằng thế chấp của cơ quan ít nhất 200 tỷ đô la

Trong những tháng tới, Mỹ sẽ triển khai các biện pháp tài khóa nhằm hỗ trợ hoạt động trơn tru của thị trường chứng khoán Kho bạc và các chứng khoán được bảo đảm bằng thế chấp, vốn là trục trọng tâm của dòng tín dụng cho hộ gia đình và doanh nghiệp Đạo luật ưu tiên hộ gia đình ứng phó với Coronavirus (Families First Coronavirus Response Act, FFCRA, ngày 18 tháng 3 năm 2020) cung cấp nghỉ ốm có lương, hỗ trợ lương thực cho các nhóm dễ bị tổn thương và trợ giúp tài chính cho xét nghiệm COVID-19; nó cũng mở rộng Medicaid, tăng bảo hiểm thất nghiệp và cấp thêm tiền cho phiếu thực phẩm để xây dựng mạng lưới an toàn khi COVID-19 lan rộng và gây sa thải Đạo luật hỗ trợ, cứu trợ và đảm bảo an ninh kinh tế trước tác động của Coronavirus (CARES Act, ngày 27 tháng 3 năm 2020) mang đến hơn 2 nghìn tỷ đô la Mỹ (khoảng 11% GDP) cho chi tiêu mới và giảm thuế, trở thành gói giải cứu lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

1.2.3.2 Tác động của đại dịch COVID – 19 đối với nền kinh tế Châu Âu

Do tác động của đại dịch COVID-19, năm 2020, tăng trưởng kinh tế khu vực EU chịu mức sụt giảm mạnh nhất trong nhiều thập kỷ: Eurozone ghi nhận mức giảm 3,8% ở quý I/2020 và 14,6% ở quý II/2020, đây là mức giảm theo quý lớn nhất kể từ năm 1995 Trong hai quý cuối năm 2020, tình hình kinh tế có tiến triển khi mức giảm chỉ còn trung bình 4,6% theo quý, và tính chung cả năm 2020, GDP của Eurozone giảm 7,4%.

2020 ghi nhận mức giảm 2,7% và sụt giảm mạnh nhất vào quý II-

Trong năm 2020, kinh tế khu vực châu Âu giảm 13,8%, mức giảm mạnh nhất kể từ năm 1995; hai quý cuối năm ghi nhận mức giảm trung bình 4,4% và tính cả năm 2020, tăng trưởng kinh tế sụt 6,4% Nền kinh tế châu Âu tiếp tục bước vào cuộc suy thoái trong ba tháng đầu năm 2021, với GDP của Eurozone giảm 0,6% trong quý I-2021 và giảm 0,4% trên toàn EU Để ứng phó với đại dịch COVID-19, vào tháng 4/2020 Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã bổ sung thêm 120 tỷ EUR vào chương trình mua tài sản (APP) đến cuối năm 2020 và mở rộng chương trình mua khẩn cấp đại dịch (PEPP).

Đến tháng 6/2020, ECB bổ sung 600 tỷ EUR cho chương trình Mua sắm khẩn cấp vì đại dịch (PEPP), nâng tổng giá trị PEPP lên 1.350 tỷ EUR Tính đến hết tháng 9/2020, ECB giữ lãi suất ở mức từ âm 0,5% đến 0% và tiếp tục tái đầu tư các khoản thanh toán gốc từ chứng khoán đáo hạn được mua theo APP để duy trì điều kiện thanh khoản thuận lợi và sự phong phú của tiền tệ Về chính sách tài khóa, trong chín tháng đầu năm, lãnh đạo các nước châu Âu đã thống nhất đưa ra các gói hỗ trợ tổng trị giá 540 tỷ EUR dưới dạng các khoản vay cho các nước thành viên để hỗ trợ thị trường lao động và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Cuối tháng 9/2020, Ủy ban châu Âu thông qua gói tài trợ 87,4 tỷ EUR cho các nước thành viên để bảo vệ thị trường lao động Theo thông báo mới nhất ngày 10/12/2020, ECB quyết định chi thêm 500 tỷ EUR vào gói tài trợ của chương trình mua sắm khẩn cấp cho đại dịch (PEPP), nâng tổng giá trị kế hoạch lên 1,85 nghìn tỷ EUR và dự kiến kéo dài chương trình ít nhất đến hết tháng.

03/2022, thông qua cấp thêm các khoản vay giá rẻ cho các ngân hàng để khuyến khích cho vay.

1.2.3.3 Tác động của đại dịch COVID – 19 đến nền kinh tế Trung Quốc

Quý I/2020, nền kinh tế Trung Quốc lần đầu suy giảm sau nhiều thập kỷ do Covid-19 buộc đóng cửa nhà máy và doanh nghiệp; theo dữ liệu công bố ngày 16/4/2020, GDP quý I/2020 giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy nền kinh tế bị đình trệ khi nước này áp dụng phong tỏa và xét nghiệm quy mô lớn để ngăn chặn dịch vào cuối tháng 1/2020 Số liệu tháng 7/2021 do Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc (NBS) công bố cho thấy nền kinh tế tiếp tục sụt giảm trong tháng 7/2021: doanh thu bán lẻ tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 12,1% của tháng 6; sản xuất công nghiệp tăng 6,4% so với năm trước, sau khi tăng 8,3% trong tháng 6; tỷ lệ thất nghiệp (không bao gồm số liệu của hàng chục triệu lao động nhập cư) ở mức 5,1% trong tháng 7.

Trong năm 2020, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) thực hiện ba lần cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc tại các ngân hàng thương mại, tổng mức cắt giảm gần 1%, và đồng thời cung cấp khoảng 1,8 nghìn tỷ RMB cho hệ thống ngân hàng để đảm bảo nguồn vốn cho nền kinh tế.

Vào năm 2020, Chính phủ Trung Quốc thông qua gói kích thích tài khóa trị giá khoảng 1,3 nghìn tỷ RMB nhằm tăng chi tiêu cho công tác phòng chống và kiểm soát dịch bệnh, đồng thời đẩy nhanh sản xuất trang thiết bị y tế Gói hỗ trợ này cũng tập trung đẩy nhanh giải ngân bảo hiểm thất nghiệp và triển khai các ưu đãi như giảm thuế và miễn đóng bảo hiểm xã hội để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn.

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN NỀN KINH TẾ ESTONIA

Đất nước Estonia 13 2.1.2 Nền kinh tế Estonia

Estonia, tên chính thức là Cộng hòa Estonia (tiếng Estonia: Eesti Vabariik), là một quốc gia nằm ở khu vực Bắc Âu Estonia giáp Liên bang Nga ở phía đông, Latvia ở phía nam, vịnh Phần Lan ở phía bắc và Biển Baltic ở phía tây Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số Estonia khoảng 1.315.912 người, mật độ dân số khoảng 30 người/km² Estonia có địa hình tương đối thấp với nhiều sông và hồ, cùng diện tích rừng đáng kể Khí hậu Estonia ôn hòa, mang tính chất chuyển tiếp từ khí hậu hải dương sang khí hậu lục địa.

Estonia là một quốc gia nhỏ ở Bắc Âu và vùng Baltic, nhưng lại gây ấn tượng mạnh trên trường quốc tế nhờ xây dựng thành công một xã hội số và công nghệ cao Quốc gia có dân số hơn 1,3 triệu người đã thu hút sự chú ý của các nhà lãnh đạo thế giới, các học giả và các nhà đầu tư nhờ mô hình kinh tế thị trường và sự đổi mới liên tục Đây là một trong những nước có mức thu nhập đầu người cao hơn mức trung bình ở Đông Âu và vùng Baltic Tính đến năm 2016, GDP của Estonia cho thấy vị thế kinh tế ngày càng nổi bật của nước này.

Với mức thu nhập 23.476 USD, Estonia xếp hạng 105 thế giới và 34 ở châu Âu Estonia là một nước thành viên mới của WTO, có nền kinh tế thị trường hiện đại và mức thu nhập cao, với các mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với phương Tây Estonia gia nhập Liên minh Châu Âu (EU) vào năm 2004 Với trình độ công nghệ phát triển và nền kinh tế năng động, Estonia đang chuyển đổi nhanh chóng Sự phát triển kinh tế của các nước như Phần Lan, Thụy Điển và Đức có ảnh hưởng lớn đến kinh tế Estonia vì đây là ba đối tác thương mại chính của nước này Thâm hụt cán cân thanh toán hiện nay vẫn ở mức cao Nền kinh tế Estonia có mức tăng trưởng rất cao, lên tới 10% mỗi năm, đứng đầu trong Liên minh Châu Âu.

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID – 19 ĐẾN NỀN KINH TẾ ESTONIA

2.2.1 Nền kinh tế Estonia giai đoạn ESTONIA

Estonia là một thành viên mới của WTO với nền kinh tế thị trường hiện đại và thu nhập cao, có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với Tây phương Estonia gia nhập Liên minh châu Âu (EU) vào năm 2004, có trình độ công nghệ phát triển và nền kinh tế năng động, chuyển đổi nhanh Sự phát triển kinh tế của các nước như Phần Lan, Thụy Điển và Đức, ba đối tác thương mại chính của Estonia, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nước này Mặc dù thâm hụt cán cân thanh toán vẫn ở mức cao, Estonia có tốc độ tăng trưởng rất cao, lên tới khoảng 10% mỗi năm và từng đứng đầu EU GDP dự kiến tăng 1,6% trong năm 2016, trong khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao 13,5% và lạm phát (giá tiêu dùng) khoảng 2,4%, nợ công 7,7% GDP, nợ nước ngoài khoảng 25,13 tỷ USD (2009 so với 25,56 tỷ USD trước đó) Estonia gia nhập Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vào tháng 5 năm 2010 và trở thành thành viên khu vực euro từ ngày 1 tháng 1 năm 2011.

2.2.2 Tác động của đại dịch COVID – 19 đến nền kinh tế Estonia

Ngoài những thiệt hại trực tiếp về con người và xã hội do đại dịch COVID-19, việc đóng cửa các hoạt động kinh tế và xã hội ở Estonia để chống dịch sẽ gây ra hậu quả kinh tế nghiêm trọng Tuy nhiên, việc tạm dừng hoạt động của một số ngành kinh tế trong nước hai đến ba tháng không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới các ngành bị tác động mà còn gây ra hiệu ứng gợn sóng trên toàn nền kinh tế qua chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế, đồng thời làm giảm nhu cầu cuối cùng do thu nhập giảm và tỷ lệ thất nghiệp tăng Estonia là một nước kinh tế mở nhỏ có cấu trúc sản xuất và dịch vụ rất phức tạp với mạng lưới quan hệ kinh tế quốc tế và nội địa dày đặc, do đó tác động cấp số nhân từ các biện pháp ứng phó đại dịch COVID-19 được dự báo sẽ rất lớn Tất cả các tổ chức dự báo kinh tế vĩ mô tại Estonia đều dự đoán nền kinh tế sẽ rơi vào suy thoái nghiêm trọng.

Nền kinh tế Estonia rơi vào suy thoái do sự bùng phát của COVID-19 Vào năm 2020, Estonia đối mặt với một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất lịch sử nước này khi đóng cửa biên giới, kiểm dịch kéo dài và tạm ngừng nhiều hoạt động kinh tế khiến nhu cầu trong nước giảm, sản lượng thấp và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao; đại dịch cũng tác động mạnh đến sức khỏe và kinh tế thông qua tác động tiêu cực lên cung và cầu Trước đó, năm 2019, tăng trưởng GDP của Estonia đạt 4.61%, trong khi năm 2020 giảm mạnh xuống -3.24%, cho thấy ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Đại dịch ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh tế Estonia, gây đình trệ tăng trưởng do giảm đầu tư tư nhân, hạn chế tiêu dùng và sản xuất, và hậu quả của thất nghiệp làm yếu thêm cân bằng cung-cầu.

GDP bình quân đầu người của Estonia năm 2020 đạt 23.312 USD/người, và tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong năm này ở mức -3.24% So với năm 2019, GDP bình quân đầu người Estonia đã giảm 406 USD/người, từ 23.718 USD/người xuống còn 23.312 USD/người.

Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy trong giai đoạn 2010-2020 GDP bình quân đầu người của Estonia đạt:

 đỉnh cao nhất vào năm 2019 với 23.718 USD/người

 thấp nhất vào năm 2010 với 945 USD/người.

2.2.2.1 Tác động đến thị trường lao động và nợ công Ảnh hưởng của việc đóng cửa thị trường lao động sẽ rất lớn Các giả định dự báo ngụ ý rằng một phần đáng kể các công ty sẽ sử dụng các biện pháp làm việc trong thời gian ngắn do chính phủ hỗ trợ thay vì sa thải, nhưng ngay cả trong kịch bản này, tỷ lệ thất nghiệp được dự đoán sẽ tăng lên khoảng 10,5% vào năm 2020 trong trường hợp của thời gian ngừng hoạt động trong 9 tuần, tăng

So với mức năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng 3 điểm phần trăm Việc ngừng hoạt động kéo dài đến giữa tháng 6 khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên khoảng 11% vào năm 2020 Đây là hậu quả của cuộc khủng hoảng COVID-19.

Việc phong tỏa kéo dài sẽ gây căng thẳng nghiêm trọng cho tài chính của chính phủ Các kịch bản dự báo nợ công trên GDP cho thấy nợ công có thể tăng hơn 4 điểm phần trăm và lên gần 65% GDP vào cuối năm 2020 nếu ngừng hoạt động kéo dài chín tuần Ảnh hưởng lâu dài phụ thuộc thời gian áp dụng các biện pháp hạn chế: nếu các hạn chế vẫn được duy trì đến giữa tháng 5, nợ chính phủ sẽ ở mức 60,4% GDP vào cuối năm 2022, tương đương mức năm 2019, nhưng tỷ lệ thất nghiệp sẽ vẫn cao hơn trước khủng hoảng hơn một điểm phần trăm Ngược lại, nếu các hạn chế được duy trì đến giữa tháng 6, cả tỷ lệ thất nghiệp và nợ công sẽ không trở lại mức trước khủng hoảng trước khi kết thúc năm 2022.

Ngành du lịch và giải trí là lĩnh vực có vai trò chi phối lớn đối với nền kinh tế Estonia, đóng góp trên 15% GDP (du lịch 8,4% và giải trí 7% vào năm 2018); trong nửa đầu mùa đông 2019-2020, việc mở cửa biên giới nhằm vực dậy kinh tế hậu COVID-19 mang lại kết quả tích cực với lưu trú qua đêm tăng 3,2% và lượng khách đến tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách nước ngoài tăng 3,9% và khách nội địa tăng 3,1%; do đó sự sụt giảm của ngành du lịch được cho là có thể rõ ràng ở nửa sau mùa đông và có thể kéo dài sang mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10), mặc dù thông thường doanh thu mùa đông vẫn cao hơn một chút so với mùa hè, khoảng 51% so với 49%.

2.3 Mô tả định tính các biện pháp và chính sách phục hồi kinh tế của Estonia

Trong hơn một năm qua, đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới và ở Estonia đã được định hình bởi đại dịch COVID-

19 Để giảm bớt tác động đến người dân và doanh nghiệp tốt nhất có thể, chính phủ liên bang thực hiện một loạt các các biện pháp hỗ trợ chính sách kinh tế Ngày 5/10 Ủy ban châu Âu (EC) đã thông qua một gói tài chính trị giá 969,3 triệu euro (1,12 tỷ USD) cho Estonia nhằm giúp nước này phục hồi sau đại dịch và chuyển đổi nền kinh tế trở nên xanh hơn và hướng tới nền kinh tế kỹ thuật số trong những năm tới Theo kế hoạch này, Estonia sẽ nhận được khoản tài trợ 969,3 triệu euro từ Liên minh châu Âu (EU) cho đến năm 2026 EC cho biết 42% tổng số tiền này sẽ được chi cho các biện pháp giảm lượng khí thải CO2 và 22% số tiền để giúp nước này sẵn sàng cho kỷ nguyên kỹ thuật số Kế hoạch này, sau khi được EC thông qua, sẽ được chuyển đến các Bộ trưởng tài chính EU và một khi được “bật đèn xanh,” Estonia sẽ nhận được khoản tài trợ trước trị giá 126 triệu euro Khoản tài trợ này là một phần của sáng kiến mà theo đó tất cả 27 quốc gia thành viên của khối sẽ nhận tài trợ từ chương trình phục hồi trị giá 800 tỷ euro (943 tỷ USD) của EU.

Viện trợ kinh tế được thiết kế để cấp thanh khoản cho các công ty và tăng cường vốn chủ sở hữu nhằm tồn tại trong khủng hoảng và từ đó bảo đảm nhiều việc làm Mục tiêu cơ bản của chính sách kinh tế và nguyên tắc chỉ đạo mọi biện pháp hỗ trợ là duy trì tiềm năng sản xuất Dù bị ảnh hưởng ở mức trên trung bình do đại dịch, đặc biệt do vai trò kinh tế của du lịch và các dịch vụ cá nhân, các biện pháp này đã mang lại sự ổn định Điều này được thể hiện qua các hoạt động ngắn hạn của Kế hoạch Corona, với cam kết bảo đảm lên tới 1,2 triệu việc làm vào năm 2020 Theo đó, mức giảm GDP và sự giảm lương tổng thể vẫn ở mức vừa phải so với năm 2019 từ góc độ ngân sách Chương tiếp theo trình bày tổng quan các biện pháp hỗ trợ chính để đối phó với khủng hoảng COVID-19.

Chương trình làm việc ngắn hạn Corona tiếp tục được gia hạn thêm ba tháng từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 6 năm 2021, dù sức khỏe được cải thiện và tình hình kinh tế quý 2/2021 có dấu hiệu tốt Trong giai đoạn 4 (tháng 4–6/2021), chương trình duy trì tỷ lệ thay thế ròng ở 80–90% và thời gian làm việc tối thiểu ở 30% theo quy tắc, có thể thấp hơn trong các trường hợp cá nhân Nếu tình hình sức khỏe và kinh tế cho phép, một giai đoạn rút dần khỏi kế hoạch làm việc ngắn hạn của Corona dự kiến bắt đầu từ tháng 7 năm 2021.

Kể từ tháng 3 năm 2020, khả năng hoãn thuế và giảm các khoản thanh toán thuế thu nhập và thuế doanh nghiệp đã được tăng cường nhằm đảm bảo tính thanh khoản cho các doanh nghiệp Theo nghị định hiện hành, thời gian hoãn thuế sẽ tiếp tục kéo dài đến ngày 30 tháng 6 năm 2021.

GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID – 19

tế Về kinh tế, hầu hết các quốc gia rơi vào suy thoái nghiêm trọng,kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm mạnh, trong đó có Việt

Năm 2020 được xem là một năm đầy khó khăn và thách thức đối với kinh tế thế giới, khi đại dịch COVID-19 khiến nền kinh tế toàn cầu suy thoái nghiêm trọng và tăng trưởng của các nền kinh tế lớn giảm sâu Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng với mức tăng trưởng GDP ước tính đạt 2,91%.

Mặc dù tăng trưởng GDP năm 2020 đạt thấp nhất trong giai đoạn

2011 – 2020 nhưng trước những tác động tiêu cực của dịch COVID –

Đây là thành công của đất nước với tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới; Việt Nam, cùng với Trung Quốc và Myanmar, là một trong ba nước ở châu Á có mức tăng trưởng tích cực trong năm 2020 Theo kết quả điều tra đột xuất của Tổng cục Thống kê về tác động của dịch COVID-19 tới doanh nghiệp lần đầu, tính đến ngày 20/4/2020 có 126.565 doanh nghiệp tham gia trả lời (chiếm 20% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất—kinh doanh tại thời điểm khảo sát), trong đó có 51/66 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn Kết quả cho thấy 85,7% doanh nghiệp được hỏi trên toàn quốc bị tác động bởi dịch.

COVID-19 đã để lại ảnh hưởng lớn lên các nhóm ngành ở nước ta, khi khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ chịu mức tác động cao nhất với lần lượt 86,1% và 85,9% doanh nghiệp bị ảnh hưởng, trong khi khu vực nông, lâm, thủy sản ít bị ảnh hưởng hơn với 78,7% Đáng chú ý, một số ngành ghi nhận tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác động tiêu cực rất cao như ngành hàng không 100%, dịch vụ lưu trú 97,1%, dịch vụ ăn uống 95,5%, hoạt động của các đại lý du lịch 95,7%, giáo dục và đào tạo 93,9%, sau đó là dệt may, sản xuất da và các sản phẩm từ da, sản xuất các sản phẩm điện tử, sản xuất ô tô đều trên 90% Dịch vụ và du lịch là ngành phản ánh rõ nét nhất các ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19.

19 Các lĩnh vực như: du lịch, vận tải (nhất là vận tải hàng không) có mức sụt giảm mạnh, chủ yếu do việc hạn chế đi lại và giãn cách xã hội Trong 6 tháng đầu năm 2020, lượng khách quốc tế giảm tới -55,8% so với cùng kỳ năm trước (quý 1 giảm -18%); khách du lịch trong nước cũng giảm tới -27,3% (quý 1 giảm 6%) Doanh thu toàn ngành giảm -77,8%, cao hơn nhiều so với mức giảm -11% của quý 1/2020 Theo Hiệp hội Vận tải hàng không Quốc tế (IATA), đại dịch COVID –19 khiến doanh thu ngành hàng không giảm 80% trong nửa đầu năm 2020, trong khi vẫn phải trang trải các chi phí liên quan đến phi hành đoàn, hoạt động bảo trì, nhiên liệu, phí sân bay và bảo quản máy bay Theo dự báo của IATA, các hãng tại Việt Nam mất đi doanh thu khoảng 4 tỉ USD, Vietnam Airlines giảm doanh thu 50.000 tỉ đồng, dự kiến lỗ 29.000 tỉ đồng, thâm hụt 16.000 tỉ đồng, sẽ rơi vào trạng thái mất thanh khoản nếu không có hỗ trợ của Chính phủ.Tuy nhiên, kể từ quý 3/2020, các khu vực kinh tế đều có dấu hiệu phục hồi và khởi sắc hơn, bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện bình thường mới Theo số liệu của Tổng cục Thống kê,tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 4/2020 ước tính tăng 4,48% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất của quý 4 các năm trong giai đoạn 2011-2020.Tiếp tục đà tăng trưởng kể từ quý 3/2020, kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng bất chấp dịch COVID –

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, GDP 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%, cao hơn 1,82% so với cùng kỳ năm 2020 nhưng thấp hơn mức tăng 7,05% và 6,77% của 6 tháng đầu năm 2018 và 2019; trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,82%, đóng góp 8,17% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,36%, đóng góp 59,05%; khu vực dịch vụ tăng 3,96%, đóng góp 32,78%.

Hiện tại, nền kinh tế Việt Nam vẫn ổn định trước các thách thức từ đại dịch COVID-19, cho thấy khả năng phục hồi và điều hành vĩ mô linh hoạt Tuy nhiên, nguy cơ còn tồn tại và tiềm ẩn nhiều bất ổn nếu dịch bệnh tái bùng phát, ảnh hưởng đến sản xuất, chuỗi cung ứng và dòng vốn Đại dịch COVID-19 kéo dài trên toàn cầu tiếp tục là nguy cơ lớn nhất đe dọa triển vọng tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của Việt Nam.

MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Qua nghiên cứu tác động của đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Chile nói riêng, cùng với các phản ứng chính sách của một số quốc gia, ta rút ra bài học cho Việt Nam: ưu tiên tối đa cho hoạt động chống dịch, vì mỗi đồng chi cho công tác phòng, chống dịch có thể mang lại ngoại ứng tích cực vô cùng lớn và sự thành công trong kiểm soát dịch là điều kiện căn bản để hồi phục sản xuất và kinh tế; thực hiện các chính sách tài khóa để ổn định đời sống người dân trong thời kỳ đại dịch, với hình thức hỗ trợ trực tiếp bằng tiền nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu và duy trì hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ duy trì khả năng thanh toán và trả lương cho người lao động trong thời gian ngừng việc; và thứ ba, thực hiện các chính sách tiền tệ để ngăn ngừa sự đổ vỡ tài chính ngắn hạn, vì còn có độ trễ nên chỉ phát huy tác dụng khi quốc gia đã kiểm soát được dịch và bắt đầu hồi phục, với vai trò chủ yếu là đảm bảo hệ thống tài chính vận hành thông suốt, duy trì thanh khoản của các tổ chức tài chính và hỗ trợ khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Tính chất của đại dịch COVID-19 cho thấy việc dự báo tác động lên nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới là rất khó khăn; mức độ kết nối cao của Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu và các biện pháp cách ly xã hội do nhiều nước áp dụng đồng nghĩa với việc ngay cả khi dịch được kiểm soát ở Việt Nam, nền kinh tế cũng khó phục hồi nhanh nếu diễn biến vẫn tiếp diễn ở nước ngoài Điều này đòi hỏi xây dựng nhiều kịch bản chính sách kinh tế từ ngắn hạn đến dài hạn nhằm ứng phó với tình hình dịch ở cả Việt Nam và trên thế giới Vì vậy, việc ban hành các chính sách trong bối cảnh này cần đảm bảo các định hướng sau:

Ưu tiên chính sách nên hướng vào việc đảm bảo an ninh lương thực và phòng chống sự lây lan của bệnh dịch.

Các chính sách nhằm cải thiện khả năng thanh khoản, kéo dài khả năng chống đỡ của doanh nghiệp và đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động được ưu tiên; đặc biệt quan tâm tới các khu vực dễ bị tổn thương, như người lao động và các DNNVV trong ngắn hạn, nhất là ở những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, nhưng đồng thời cũng cần áp dụng các biện pháp để tránh sự đổ vỡ của các doanh nghiệp lớn, đầu tàu nhằm ngăn lan tác động tiêu cực sang các khu vực khác.

Các chính sách kích thích tổng cầu chủ yếu được thực hiện thông qua tăng đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng nhằm kích thích tăng trưởng và tạo việc làm Đầu tư công vào hạ tầng mang lại tác động kích thích ngắn hạn và xây dựng nguồn lực dài hạn cho nền kinh tế Đồng thời, cần tránh lạm dụng chính sách tiền tệ vì điều này có thể gây ra các bất ổn kinh tế vĩ mô kéo dài và ảnh hưởng đến sự ổn định Do đó, chiến lược kích thích tổng cầu nên ưu tiên đầu tư công có trách nhiệm, đồng bộ với quản lý công cụ tiền tệ để đảm bảo tăng trưởng bền vững và ổn định kinh tế lâu dài.

Hình thành rõ các gói chính sách hỗ trợ trong ngắn hạn và các gói chính sách giải cứu nền kinh tế trong dài hạn.

3.3.2 Một số giải pháp cụ thể

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần tiếp tục được thực thi theo hướng tập trung hơn, đúng đối tượng và thực chất, bám sát nhu cầu của doanh nghiệp Cần có sự phân loại ngành nghề để hỗ trợ dựa trên đánh giá tác động nhanh của dịch COVID-19 và có điều kiện, tiêu chí rõ ràng Với chính sách thuế, tác động của các gói gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất hiện nay là nhỏ, do đó cần cho phép kéo dài thời gian giãn, hoãn thuế và mở rộng đối tượng gia hạn để giúp doanh nghiệp giảm gánh thanh toán chi phí Các chính sách an sinh xã hội như chi trả bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ người bị tạm ngừng việc, trợ cấp cho người nghèo và người mất sinh kế cần ưu tiên nguồn lực và thực hiện nhanh chóng, đặc biệt khi bệnh dịch tái bùng phát trong nước Các chính sách hỗ trợ phải bao phủ nhóm lao động dễ bị tổn thương—trong đó người lao động có trình độ thấp và khu vực phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn—vì họ dễ bị tổn thương nhất và thu nhập suy giảm nhanh khi nền kinh tế suy thoái.

Chính sách tiền tệ, cụ thể là công cụ lãi suất, đang cho thấy hiệu quả hạn chế trong bối cảnh hiện nay Khi dịch bệnh vẫn còn tồn tại, một số nhu cầu đặc thù sẽ không quay trở lại, khiến nhiều ngành dịch vụ liên quan gặp khó khăn dù lãi suất giảm, do đó động lực để doanh nghiệp vay vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh bị suy giảm Vì vậy, với phần lớn doanh nghiệp, yếu tố lãi suất chưa phải là động lực quyết định hành vi đầu tư hoặc mở rộng quy mô Chính sách hỗ trợ tín dụng nên ưu tiên cho các doanh nghiệp ít bị ảnh hưởng hoặc có khả năng chuyển đổi hiệu quả, đồng thời cần cải thiện môi trường thể chế và chính sách ngành để tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi và phát triển kinh doanh.

3.3.2.3 Một số giải pháp dài hạn

Bên cạnh các giải pháp ngắn hạn nhằm ứng phó với COVID-19, Chính phủ cần triển khai các biện pháp dài hạn để xây dựng và chuẩn bị những điều kiện căn bản cho sự phát triển bền vững sau đại dịch.

3.3.2.3.1 Đổi mới các mô hình tăng trưởng theo hướng dựa trên sáng tạo và đổi mới công nghệ

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mang lại cơ hội lớn và thách thức cho Việt Nam Trong thời gian đại dịch, khi mọi hoạt động sống và học tập bị gián đoạn, công nghệ và internet trở thành công cụ thiết yếu giúp duy trì nhịp sống và kinh tế số, đồng thời nêu bật vai trò của sáng tạo Đây là thời điểm để Việt Nam thể hiện năng lực sáng tạo đúng xu thế toàn cầu: xây dựng nền kinh tế dựa trên khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo thay vì phụ thuộc vốn, tài nguyên và lao động Việt Nam có thể tận dụng chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các giải pháp công nghệ để thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

3.3.2.3.2 Phát triền nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng của sự phát triển bền vững của đất nước, đóng vai trò then chốt trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Trong bối cảnh này, việc cải cách toàn diện hệ thống giáo dục từ phổ thông lên đại học, chuyển từ đào tạo thụ động sang tôn trọng và khuyến khích tư duy phản biện cùng kỹ năng giải quyết vấn đề là rất cần thiết Đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng tăng thực hành, đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong hội nhập Phát triển năng lực người lao động theo hướng đa kỹ năng giúp họ thích ứng với các điều kiện và yêu cầu công việc khác nhau Khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn lớn và doanh nghiệp đa quốc gia, tăng cường đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực quốc gia thông qua quan hệ đối tác công tư Đồng thời tạo điều kiện thu hút nhà giáo, nhà khoa học tài năng và kinh nghiệm từ nước ngoài, cùng người Việt ở nước ngoài tham gia đào tạo nhân lực tại Việt Nam.

Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế, bằng cách đẩy mạnh cải cách theo hướng thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn và tin cậy Nhờ đó, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên và hiệu quả xúc tiến, mời gọi đầu tư từ nước ngoài được tăng cường Việc nâng cao chất lượng môi trường đầu tư sẽ thu hút nguồn vốn FDI, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững.

COVID-19 đã phơi bày sự mong manh của chuỗi cung ứng toàn cầu, vì vậy Việt Nam cần xây dựng các chính sách thu hút đầu tư để tăng cường cả chuỗi cung ứng, kể cả các ngành công nghiệp phụ trợ của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam Việc thu hút không chỉ các doanh nghiệp lớn mà còn các đối tác tham gia vào quá trình sản xuất sẽ mang lại nhiều lợi ích về chuyển giao công nghệ cho Việt Nam Theo đó, cần xem xét áp dụng ưu đãi thuế doanh nghiệp thống nhất cho tất cả các công ty trong chuỗi cung ứng, đặc biệt đối với các ngành công nghệ cao và các dự án đáp ứng đủ điều kiện như vượt qua một ngưỡng đầu tư nhất định.

Tiêm vaccine đầy đủ cho người dân là biện pháp then chốt để giảm thiểu tối đa nguy cơ lây nhiễm COVID-19 và đưa nền kinh tế trở lại hoạt động bình thường Vì đại dịch COVID-19 vẫn luôn là mối nguy cơ trong tương lai, tiêm chủng toàn diện đóng vai trò thiết yếu trong bảo vệ cộng đồng và thúc đẩy phục hồi kinh tế Theo Cổng thông tin tiêm chủng quốc gia cập nhật đến trưa ngày 2/9/2021, đã có trên 20,5 triệu liều vaccine COVID-19 được tiêm trên cả nước.

Ngày đăng: 17/08/2022, 17:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w